1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số huyện bắc trà my tỉnh quảng nam

87 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 646,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả xây dựng các giải pháp khá hợp lý và cụ thể, góp phần nâng cao công tác giải quyết việc làm cho lao động là người đồng báo dân tộc thiểu số khá khoa học.Tác giả chưa kiến nghị cá

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC

TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TRUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN BẮC

TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN HÙNG

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả có tham khảo, kế thừa và

sử dụng những thông tin, số liệu từ một số tài liệu như: sách chuyên ngành, luận văn, tạp chí, bài tham luận… theo danh mục tài liệu tham khảo

Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình và chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Tác giả luận văn

Nguyễn Đình Trung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU

SỐ 8

1.1 Một số khái niệm liên quan 81.2 Nội dung quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu

số 121.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS 201.4 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM 29

2.1 Tổng quan về huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam 292.2 Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam 352.3 Đánh giá chung về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động đồng bào dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam …… 49

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU

SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC TRÀ MY – TỈNH QUẢNG NAM 56

3.1 Định hướng và quan điểm của huyện Bắc Trà My 563.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam 613.3 Một số kiến nghị 74

KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

9 LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội

10 NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội

Trang 6

Bảng thống kê tỷ lệ lao động DTTS trong cơ cấu lao động

2.3

Bảng thống kê tỷ lệ lao động DTTS tham gia vào các

thành phần kinh tế giai đoạn 2014-2018 36

2.4

Bảng thống kê lao động thất nghiệp của huyện Bắc Trà

2.5

Báo cáo kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn và

lao động dân tộc thiểu số giai đoạn 2013- 2018 40

2.6

Bảng thống kê kết quả cho vay giải quyết việc làm tại

Ngân hàng CSXH huyện Bắc Trà My giai đoạn 2014

2.7

Bảng thống kê số lượng lao động tham gia xuất khẩu lao

động huyện Bắc Trà My giai đoạn 2014 -2018 44

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động là một trong những vấn đề quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội (KT- XH) của mỗi quốc gia Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở nước ta trong những năm trở lại đây luôn là chủ

đề nóng và được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm sâu sắc Điều này được thể hiện thông qua các văn kiện của Đại hội Đảng qua các thời kỳ Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII khẳng định "Giải quyết tốt lao động, việc làm

và thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội” [1, tr 18]

Hiện nay, vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam chiếm 2/3 diện tích tự nhiên của cả nước, là địa bàn cư trú chủ yếu của 53 dân tộc thiểu số với gần 13,4 triệu người, chiếm trên 14% dân số cả nước (năm 2017) Đây là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng an ninh, có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, đây cũng là địa bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng yếu kém; xuất phát điểm và trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, mặt bằng dân trí thấp, thường bị ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt Cuộc sống và việc làm của người dân vùng dân tộc dễ rơi vào tình trạng bấp bênh, không ổn định, khó duy trì, trình độ dân trí thấp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ về mất ổn định an ninh, chính trị Huyện Bắc Trà My là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam có địa hình rất phức tạp, địa thế núi cao, đất dốc hiểm trở, có nhiều sông suối chằng chịt, có núi rừng trùng điệp Lao động người DTTS chiếm tỷ trọng gần 52% dân số toàn huyện Đa số người lao động người DTTS tại đây sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm nghiệp Cùng với xu thế đô thị hóa làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp

đã khiến cho thời gian nông nhàn của người lao động tăng cao Lao động

Trang 9

người DTTS bị đẩy vào thị trường lao động khi chưa trang bị đầy đủ những yêu cầu cần thiết để đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động hiện nay Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động người DTTS nói riêng vẫn còn một số hạn chế nhất định Việc triển khai các văn bản hướng dẫn liên quan đến công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động và các văn bản pháp luật liên quan đến việc làm cho lao động chưa được thực hiện đầy đủ Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động người DTTS chưa thực sự phù hợp với thực tiễn tại địa phương, coi trọng về số lượng hơn chất lượng đào tạo Nhiều lao động người DTTS được đào tạo nghề nhưng không tìm được việc làm Tỷ lệ lao động là người DTTS thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng gia tăng, kéo theo các hệ lụy về các tệ nạn xã hội

Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý Nhà nước

về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế cho bản thân

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Quản lý Nhà nước về việc làm và tạo việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động người DTTS nói riêng làm một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Vấn đề này được đề cập rất nhiều trong các văn kiện của Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà nước và các Nghị định của Chính phủ Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan về vấn đề này Cụ thể như sau:

- Bob Baulch và Vũ Hoàng Đạt (2012) phân tích vai trò của đặc điểm (đặc điểm nhân khẩu hộ gia đình, trình độ học vấn, sở hữu đất, đặc điểm xã hội…) và hiệu quả thu nhập của các đặc điểm (do ảnh hưởng của các yếu tố không quan sát được qua điều tra mức sống, ví dụ như: chất lượng đất, chất lượng giáo dục, các rào cản văn hóa, định kiến và kỳ thị với đồng bào DTTS…) đến sự khác biệt về thu nhập/chi tiêu giữa nhóm dân tộc đa số và

Trang 10

các nhóm dân tộc thiểu số, dựa trên số liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS 2010) (cập nhật một nghiên cứu tương tự trước đó dựa trên số liệu VHLSS 2006) Nghiên cứu cho thấy, chính thu nhập từ việc làm là yếu tố cơ bản làm nên sự khác biệt về đời sống của các nhóm dân tộc Tuy nhiên, việc làm của lao động vùng DTTS, đặc biệt là người DTTS chưa tạo ra thu nhập cao, số lao động có hợp đồng lao động còn rất hạn chế

- Nguyễn Hoàng Hiệp (2013), “Quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Long An Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện hành chính Quốc gia Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm và công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn trong tỉnh Trên cơ sở lý luận trong chương 1, tác giả đã đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Long An Trên cơ sở những vấn đề còn tồn tại, hạn chế của vấn đề nghiên cứu Tác giả xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Long An Song các giải pháp còn mang tính định hướng, chưa thực hiện việc dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương trong thời gian đến, chưa thực hiện việc điều tra khảo sát để đánh giá trình độ, tay nghề của thanh niên để có các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong điều kiện mới

- Ngô Thị Hồng Nhung (2010), “Nhìn lại một năm đào tạo nghề và giải

quyết việc làm cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ”.Tác giả đã đưa ra đánh giá tổng quan sau một năm

thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề giải quyết việc làm cho nông thôn Bài viết đưa ra những kết quả đã đạt được, đồng thời cũng phản ánh những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện

Đề án Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị để nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện đề án, tổ chức đào tạo nghề hiệu quả, hợp lý góp phần tạo công ăn việc làm cho nông dân

Trang 11

- Trần Văn Tùng (2014) “Nghiên cứu giải pháp giải quyết việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn” Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế của Học viện Nông nghiệp Việt Nam Luận văn đã trình bày khái quát những lý luận liên quan đến công tác giải quyết việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số, trên cơ sở lý luận đã trình bày, tác giả tiến hành chọn mẫu điều tra nghiên cứu bằng phương pháp định lượng, phân tích công tác giải quyết việc làm cho lao động người DTTS tỉnh Lạng Sơn Căn cứ vào những vấn để tồn tại trong công tác giải quyết việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn Tác giả xây dựng các giải pháp khá hợp

lý và cụ thể, góp phần nâng cao công tác giải quyết việc làm cho lao động là người đồng báo dân tộc thiểu số khá khoa học.Tác giả chưa kiến nghị các cấp các ngành có liên quan trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động người dân tộc thiểu số nói riêng

Trên cơ sở các công trình nghiên cứu có liên quan, tác giả nhận thấy cơ bản các đề tài nêu trên chỉ tập trung vào công tác giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và người dân tộc thiểu số nói riêng Chưa có công trình nghiên cứu về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho người cho lao động người DTTS một cách cụ thể Đề tài tác giả lựa chọn không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn để đánh giá đúng

về thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My - tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua Trên

cơ sở những vấn đề còn hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My Tác giả xây dựng phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về việc làm

Trang 12

cho lao động người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động người dân tộc thiểu

số nói riêng tại huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam

+ Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2014 - 2018

+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý Nhà nước về việc làm cho

lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam

- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Bắc Trà My - Tỉnh Quảng Nam

- Về thời gian: Phân tích thực trạng giai đoạn 2014 - 2018 và xây dựng giải pháp giai đoạn 2019 - 2025

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng về công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động là người DTTS nói riêng Đồng thời, sử dụng những kiến thức kinh

Trang 13

tế tổng hợp về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn Ngoài ra, luận văn còn kế thừa có chọn lọc và vận dụng phù hợp những quan điểm lý luận, các khung lý thuyết về công tác giải quyết việc làm và quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động DTTS của các nhà khoa học trong nước và thế giới về những nội dung liên quan đến đề tài này

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề thực hiện luận văn này tác giả sử dụng các phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng: xem xét sự vật trong trạng

thái động và trong mối quan hệ với các sự vật khác

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra,

tác giả đã thực hiện phân tích định tính Tiến hành thu thập dữ liệu để phân tích

từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, cụ thể:

+ Nguồn thông tin thứ cấp: Những vấn đề lý luận đã được đúc kết trong các giáo trình chuyên ngành trong nước và quốc tế; các báo cáo tổng hợp, các Nghị quyết, Chương trình, Kế hoạch tại huyện Bắc Trà My

+ Nguồn thông tin sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp một số lãnh đạo, cán bộ tại huyện Bắc Trà My và các đơn vị khác để nhận diện những mặt thành công và các mặt tồn tại trong công tác giải quyết việc làm và quản lý nhà nước về giải quyết việc tại huyện Bắc Trà My trong thời gian qua

- Phương pháp thống kê: Sau khi thu thập dữ liệu có liên quan đến đề tài

nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn khác nhau làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS giai đoạn 2014 - 2018

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sau khi sử dụng phương pháp thống

kê để tổng hợp các số liệu liên quan đến đề tài, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, kết hợp với lý luận để đánh giá công tác công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS giai đoạn 2014 -2018 và đưa

Trang 14

ra giải pháp cho các năm tiếp theo

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Góp phần cung cấp những vấn đề có tính lý luận về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động DTTS nói riêng trên địa bàn huyện Bắc Trà My và tỉnh Quảng Nam

6.1 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ đào tạo, giảng dạy, học tập và nghiên cứu những chuyên đề thực tế liên quan đến công tác quản Nhà nước về việc làm Nguồn tài liệu sử dụng cho các cơ quan quản lý cấp huyện tham khảo để đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về việc làm cho lao động nông thôn nói chung và người DTTS trong thời gian tới

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS

Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm về người dân tộc thiếu số

Trong tác phẩm "Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc", J.V Stalin định nghĩa "Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa"

Theo nghĩa rộng, khái niệm Dân tộc được hiểu đó là một quốc gia dân tộc, là một cộng đồng chính trị- xã hội, bao gồm tất cả các dân tộc (cả dân tộc

đa số và dân tộc thiểu số) sinh sống trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia thống nhất

Theo nghĩa hẹp, khái niệm Dân tộc lại đồng nghĩa với cộng đồng tộc người, cộng đồng này có thể là bộ phận chủ yếu hay thiểu số của một dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ quốc gia hoặc ở nhiều quốc gia khác nhau nhưng được liên kết với nhau bằng ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người [3, tr 39]

Cho đến thời điểm hiện nay, xét trên bình diện quốc tế, mặc dù quyền của người DTTS đã được khẳng định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị (ICCPR - Điều 27) và Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm

1992, nhưng vẫn chưa có một định nghĩa nào về "dân tộc thiểu số" (Trên thực tế, một số văn kiện về QCN của châu Âu, cụ thể như Công ước Châu Âu

về bảo vệ người thiểu số (Điều 2) hay Văn kiện Cô-pen-ha-gen, chỉ có hiệu lực trong phạm vi khu vực)

Theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa

Trang 16

ra khái niệm tại K2- Đ4 "DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"; K3- Điều 4: "Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia"

Từ những phân tích có thể hiểu khái niệm người dân tộc thiểu số là người thuộc dân tộc có số dân ít hơn với dân tộc đa số trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có những đặc điểm riêng về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán

1.1.2 Khái niệm về việc làm và tạo việc làm

1.1.2.1 Khái niệm về việc làm

Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả bằng tiền mặt và bằng hiện vật Theo khái niệm này có thể hiểu rằng: việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho bản thân, người thân, gia đình hoặc cộng đồng

Theo điều 9, Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm, Nhà nước, người

sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”

Như vậy, có thể kết luận rằng: Việc làm là những hoạt động lao động

trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm

1.1.1.2 Khái niệm về tạo việc làm

Tạo việc làm là quá trình đưa người lao động vào làm việc, tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và sức lao động, tạo việc làm có thể được hiểu theo hai khía cạnh khác nhau:

- Theo nghĩa rộng: Tạo việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực Nghĩa là quá trình diễn ra từ vấn đề giáo dục đào tạo

và phổ cập nghề nghiệp để chuẩn bị cho người lao động, đến vấn đề tự do lao

Trang 17

động và hưởng thụ xứng đáng với giá trị mà lao động của họ tạo ra, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống Theo nghĩa này, vấn đề tạo việc làm gắn liền và được thực hiện thông qua các chính sách và các chương trình phát triển kinh tế chung của Đảng và Nhà nước Không những thế, nó còn gắn liền với vấn đề phát triển giáo dục, đào tạo nghề cho người lao động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cùng với việc sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý để hướng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế.[13 tr 30]

- Theo nghĩa hẹp: Tạo việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc chưa có việc làm nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập và giảm tỷ lệ thất nghiệp Nghĩa là nội dung tạo việc làm chỉ hạn chế trong khuôn khổ và nội dung các chính sách xã hội cụ thể của Nhà nước, tạo việc làm cho người lao động còn mang tính xã hội hóa, coi tự tạo việc làm và chủ động tìm kiếm việc làm là hướng quan trọng kết hợp với các chính sách của Nhà nước, chống ỷ lại vào Nhà nước.[13 tr 31]

1.1.3 Quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS

Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình mà chủ thể quản

lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt được các mục tiêu đã định

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo

vệ tổ quốc xã hội” [5, tr.37]

Quản lý Nhà nước được đề cập trong đề tài này bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với

Trang 18

đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động QLNN chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan Nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo

quy định của pháp luật

Theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy Nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý

Nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân

1.1.4 Vai trò quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Đó là những yếu tố vật chất cho quá trình lao động diễn ra Tư liệu sản xuất tự nó không thể tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cần thiết của con người và xã hội, nếu không có sự kết hợp của sức lao động Sức lao động của con người luôn đóng vai trò quyết định trong quá trình sản xuất ở mọi thời đại Nhân tố con người vừa là chủ thể vừa là

Trang 19

mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Đảng ta coi việc phát huy nhân tố con người như là một nguồn lực quan trọng nhất của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây chính là nguồn lực vô cùng quý giá Đầu tư vào con người và phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản

để phát triển nhanh và bền vững Tuy nhiên, người lao động chỉ có thể phát huy được vai trò chủ thể của mình trong quá trình sản xuất khi họ có việc làm Việc làm đối với người lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển Vì vậy, giải quyết việc làm nói riêng và quản lý Nhà nước về việc làm cho người lao động nói chung luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với mọi quốc gia, mọi cấp chính quyền

Với tư cách là một bộ phận cấu thành nên lực lượng lao động xã hội, lực lượng lao động người dân tộc thiểu số cũng có đầy đủ vai trò, tính chất của lực lượng lao động nói chung Vì vậy, công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng Điều này thể hiện thông qua các nội dung sau:

Thứ nhất, giải quyết việc làm và quản lý Nhà nước về việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh

tế - xã hội của vùng dân tộc thiểu số

Thứ hai, quản lý Nhà nước về việc làm cho người lao động dân tộc thiểu

số góp phần xóa đói giảm nghèo của vùng dân tộc thiểu số

Thứ ba, giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số góp

phần giảm tệ nạn xã hội phát sinh và an ninh quốc phòng được đảm bảo

1.2 Nội dung quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số

1.2.1 Xây dựng kế hoạch về tạo việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số

Nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước được ban hành

Trang 20

và thực thi như: huy động nguồn vốn đầu tư phát triển, đẩy mạnh phát triển kinh tế tạo nhiều việc làm; lập Quỹ quốc gia về việc làm (năm 1992) để cho vay vốn tạo việc làm với lãi suất ưu đãi theo các dự án nhỏ; hình thành Quỹ giải quyết việc làm địa phương; hình thành và phát triển hệ thống các Trung tâm giới thiệu việc làm và các cơ sở đào tạo nghề xã hội; phát triển nhiều hình thức, mô hình tổ chức giải quyết việc làm phong phú, đa dạng; quan tâm đến hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia nhằm giải quyết việc làm với thu nhập cao, đồng thời nâng cao trình độ tay nghề, tác phong công nghiệp cho người lao động…, góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về tạo việc làm cho người lao động Qua đó, huy động được mọi nguồn lực cho đầu

tư phát triển và tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, bước đầu chuyển đổi cơ cấu và chất lượng lao động theo hướng tích cực

Bên cạnh đó, Nhà nước rất coi trọng xây dựng và thực hiện các chương trình mục tiêu để tập trung nguồn lực giải quyết các vấn đề bức xúc nhất về thị trường lao động và việc làm bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo như: Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề; Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm; Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững (giai đoạn 2012 - 2015, 2016 - 2020); Chương trình tăng cường nâng cao năng lực đào tạo nghề (giai đoạn 2001- 2005, 2006 -2010); Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ; Chương trình 135, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP… các Chương trình này hướng vào hỗ trợ người thất nghiệp, người chưa có việc làm, người nghèo và nhóm xã hội yếu thế tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm trên thị trường lao động, nhằm đảm bảo an sinh xã hội, trong đó lao động vùng nông thôn là đối tượng liên quan chủ yếu

Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề

án 1956) Với mục tiêu đến năm 2020, sẽ đào tạo nghề cho gần 10 triệu lao động nông thôn làm việc ở khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp và bồi dưỡng đào

Trang 21

tạo 01 triệu cán bộ công chức cấp xã, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn [5, tr 4]

Bên cạnh đó, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cũng đề ra chỉ tiêu đào tạo nghề cho 5,5 triệu lao động nông thôn (bình quân 1,1 triệu lao động/năm), trong đó, hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng cho 3,84 triệu lao động nông thôn, người khuyết tật, thợ thủ công, thợ lành nghề gắn với nhu cầu của thị trường lao động [7, tr 42]

1.2.2 Tổ chức bộ máy và bố trí nguồn nhân lực quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động DTTS

Bộ máy quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm hiện nay ở nước ta được tổ chức như sau:

Chính phủ: Thủ Tướng Chính phủ quyết định chương trình việc làm

quốc gia do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đệ trình Chính phủ quyết định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch hằng năm và 5 năm do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành có liên quan xây dựng đệ trình Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

có trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra và báo cáo Chính phủ kết quả chỉ tiêu thực hiện tạo việc làm mới (hằng năm và 5 năm)

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện: Lập chương trình và quỹ giải quyết

việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó Lập quỹ giải quyết việc làm (từ nguồn ngân sách địa phương, khoản hỗ trợ từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm do Trung ương chuyển xuống và các nguồn khác) để giải quyết việc làm cho người lao động

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện: Có trách nhiệm đôn đốc,

kiểm tra việc thực hiện các chương trình việc làm, việc sử dụng quỹ giải

Trang 22

quyết việc làm trong phạm vi địa phương theo các quy định của pháp luật

Ủy ban nhân dân cấp xã (phường, thị trấn): Căn cứ hướng dẫn chuyên

môn của cơ quan Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện xây dựng

kế hoạch công tác lao động tháng, quý, năm và tổ chức thực hiện Thống kê nguồn lao động của xã để trình Ủy ban nhân dân huyện có giải pháp cân đối nguồn lao động, tạo việc làm, học nghề, xuất khẩu lao động, thực hiện nghĩa

vụ lao động công ích

1.2.3 Tổ chức thực hiện quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS

Tổ chức đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao

Theo tác giả Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc được áp dụng đối với những người lao động và những đối tượng sắp trở thành người lao động

Đào tạo nghề là con đường cơ bản để giúp cho con người lĩnh hội, hình thành và phát triển tri thức, các kỹ năng chuyên môn Người lao động có trình

độ đào tạo nghề càng cao, khả năng có việc làm và mức thu nhập càng cao Phát triển đào tạo nghề là biện pháp giảm nghèo bền vững trên cơ sở phát huy năng lực nội sinh của mỗi cá nhân, để họ tham gia vào quá trình sản xuất xã hội, tạo ra thu nhập đảm bảo cuộc sống của chính bản thân và gia đình họ Hoạt động đào tạo nghề cho lao động ngày càng phát triển, giúp người lao động có khả năng làm chủ được công nghệ từ đơn giản đến phức tạp và

hiện đại Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nhà đầu tư nước ngoài “Người

lao động Việt Nam nhanh nhạy hơn nhiều so với người lao động của các nước khác trong khu vực”

Trang 23

Do vậy, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng, tay nghề là một trong những chính sách trọng tâm để GQVL người lao động nông thôn nói chung

và lao động người DTTS nói riêng Đào tạo nghề cho lao động là hoạt động

có tính xã hội, nên nhận được sự đồng thuận của người dân, các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, các doanh nghiệp và các phương tiện thông tin đại chúng

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề đã góp phần tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại, có chất lượng; tạo ra những lao động có kiến thức, có kỹ năng sản xuất hiện đại, có khả năng thích ứng với ngành nghề trong nền kinh tế Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng lao động là người nghèo, người dân tộc thiểu số, chính sách hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động và các chính sách hỗ trợ cho lao động người DTTS

Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm và dạy nghề đã nêu rõ: “Hỗ

trợ phát triển đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng cường xuất khẩu lao động và phát triển thị trường lao động đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước

và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là ở khu vực nông thôn Nâng tỷ lệ lao động tìm việc làm qua hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm”

Giới thiệu việc làm và học nghề: Tổ chức cho người lao động đến đăng

ký tìm việc và học nghề; liên hệ với người sử dụng lao động để tìm chỗ làm việc mới; giới thiệu người lao động đang cần việc làm với người sử dụng lao động đang cần tuyển lao động; giới thiệu người lao động học nghề ở những nơi phù hợp và đủ điều kiện quy định tại Nghị định 90/CP ngày 15/12/1995 của Chính phủ và các cơ sở dạy nghề khác do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý

Tổ chức các hoạt động thu hút, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở giới thiệu việc làm tổ chức sàn giao dịch việc làm và tư vấn đào tạo nghề và xuất khẩu lao động tại địa phương

Trang 24

Hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm cho lao động DTTS

Hỗ trợ vốn là quá trình các cơ quan quản lý Nhà nước tạo ra điều kiện để lao động và lao động DTTS tiếp cận các nguồn tài trợ vốn tạo ra việc làm như: tạo ra hành lang pháp lý để các tổ chức tín dụng nhận được lợi ích khi thực hiện tài trợ hay tạo điều kiện cho các tổ chức đoàn thể lập quỹ tài trợ Ngoài ra, Nhà nước đứng ra trực tiếp tài trợ vốn cho họ

Vốn vay từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm với lãi suất ưu đãi là biện pháp tài chính quan trọng để kích thích các cơ sở sản xuất kinh doanh, các hộ gia đình được vay vốn phát triển sản xuất tạo việc làm và tăng thu nhập Đây là chương trình tạo ra ngành nghề mới, thu hút được lao động DTTS, tạo ra việc làm cho người lao động chưa có việc làm, thất nghiệp và người thiếu việc làm Để họ có thu nhập để nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp một phần cho xã hội

Chương trình vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm với mục tiêu là cho vay ưu đãi với lãi suất thấp từ Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ tạo việc làm cho lao động

Xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, dự án phát triển sản xuất

Phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh là một trong những yếu tố góp phần GQVL đem lại hiệu quả cao cho người lao động Phát triển sản xuất gắn liền với nhu cầu cao về nguồn nhân lực, trong đó có lao động người DTTS

Xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, dự án phát triển sản xuất Cần

có các chính sách tài chính, tín dụng, đất đai, tạo điều kiện thuận lợi để lao động DTTS có thể tự tạo việc làm thông qua phát triển kinh tế hộ gia đình, sản xuất kinh doanh, kinh tế trang trại, kinh tế tập thể…

Muốn giải quyết được việc làm, cần phải có nhiều chỗ làm việc do đó phải phát triển sản xuất, mở rộng ngành nghề kinh doanh, áp dụng khoa học công nghệ mới, phải có thông tin về thị trường và tiếp nhận nhanh các chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước Vì vậy, cần phải mở rộng các ngành sản

Trang 25

xuất với quy mô phù hợp, lựa chọn công nghệ sản xuất phù hợp, sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là người DTTS

Các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh kéo theo sự phát triển

mở rộng cả về qui mô lẫn hướng sản xuất, góp phần cho kinh tế phát triển Đặc biệt với các doanh nghiệp ở nông thôn, góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm dần lao động thuần nông

Phát triển các hoạt động công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt các hoạt động công nghiệp và dịch vụ có quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh, sử dụng kỹ thuật tinh xảo và cần nhiều lao động, có khả năng tạo ra nhiều việc làm mới cho lao động ở xã, thị trấn Đa dạng hóa sản phẩm, tập trung vào những loại hình đem lại giá trị cao, tăng cường lao động, phát triển chăn nuôi, phân công lao động hợp lý giữa các thành viên trong gia đình, khôi phục những ngành nghề truyền thống tận dụng lao động và nâng cao thu nhập

Tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế hộ gia đình, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị cao Cần hỗ trợ người DTTS về kỹ thuật, vốn, giống, kiến thức, kinh nghiệm và định hướng tiêu thụ sản phẩm để

họ an tâm sản xuất Phát triển các mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả như: chăn nuôi lợn siêu nạc, trồng rau, trồng chuối và các loại cây có giá trị kinh tế cao

Hình thức tổ chức sản xuất chính là cách thức và nơi kết hợp các yếu tố của nguồn lực Việc làm của người lao động được được thể hiện dưới nhiều hình thức tổ chức sản xuất Để thu hút nguồn lực lao động nông nhàn, việc lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất thích hợp là một trong những giải pháp nhằm GQVL cho người lao động, đặc biệt là đối với lao động DTTS

Xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm cho lao người DTTS

Xuất khẩu lao động đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát

Trang 26

triển KT-XH và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Xuất khẩu lao động góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp GQVL cho người lao động và người lao động DTTS nói riêng

Xuất khẩu lao động góp phần vào việc sử dụng nguồn nhân lực đất nước làm tăng thu nhập quốc gia; tạo cơ hội cho một bộ phận lao động và lao động DTTS thất nghiệp hoặc thiếu việc làm có cơ hội sản xuất ra hàng hóa và dịch

vụ ở nước ngoài, góp phần gia tăng thu nhập cho người lao động, gia đình và tạo chuyển biến mới về phân công lao động xã hội cả về chiều rộng, từng bước theo chiều sâu

Người lao động khi làm việc ở nước ngoài được tiếp cận với các công nghệ hiện đại, các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, họ có thể học hỏi và khi về nước áp dụng các kiến thức, kinh nghiệm của mình vào sản xuất kinh doanh tại quê nhà, đặc biệt là người DTTS Đây là hoạt động đóng vai trò to lớn trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia GQVL

Trong công tác giải quyết việc làm cho lao động DTTS cần có sự tham

Trang 27

gia, hỗ trợ từ nhiều phía như: các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giải quyết việc làm, trong đó có việc cung cấp lao động người DTTS cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại địa phương và đưa lao động DTTS đi lao động có thời hạn tại nước ngoài

1.2.4 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định và xử lý vi phạm quy định về tạo việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số

Kiểm tra thường xuyên giúp cho nhà hoạch định, nhà quản lý nắm chắc được tình hình thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng, từ đó đánh giá được khách quan về những điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức thực thi chính sách; giúp phát hiện những thiếu sót trong công tác tổ chức thực thi chính sách; kịp thời khuyến khích những nhân tố tích cực trong thực thi chính sách để tạo ra những phong trào thiết thực cho việc thực hiện các mục tiêu

Trong quá trình đó các cấp có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và lao động DTTS nói riêng, trong đó đánh giá và đo lường toàn bộ kết quả thực hiện sau khi kết thúc các chính sách tạo việc làm đã ban hành

Giám sát, kiểm tra sát sao tình hình tổ chức thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho lao động DTTS đảm bảo tính kịp thời, bổ sung và hoàn thiện nội dung QLNN Chấn chỉnh công tác tổ chức thực thi chính sách, giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về chính sách tạo việc làm

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS

1.3.1 Điều kiện tự nhiên của địa phương

Ở Việt Nam nói chung và tại huyện Bắc Trà My nói riêng, phần lớn lao động DTTS sinh sống ở những nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, chủ yếu là ở vùng đồi núi, chỉ một số ít dân tộc thiểu số sống ở đồng bằng Điều

Trang 28

này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý và giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số, những chương trình giải quyết việc làm cho vùng lao động DTTS chủ yếu là nguồn vốn của Nhà nước Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, gây khó khăn trong việc thu hút các dự án đầu tư của tư nhân Việc giải quyết việc làm cho vùng lao động DTTS gặp hạn chế

1.3.2 Trình độ phát triển kinh tế của địa phương

Đa số các địa phương tập trung nhiều người DTTS có nền sản xuất còn lạc hậu, chất lượng lao động thấp, đại bộ phận người dân còn sản xuất nương rẫy

và trình độ dân trí thấp Việc chuyển giao và áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất gặp nhiều khó khăn Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và việc thực hiện các chính sách giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số Do chất lượng nguồn nhân lực thấp, chủ yếu chưa qua đào tạo nên hiệu quả sản xuất không cao, dẫn đến kết quả của công tác giải quyết việc làm không bền vững Trình độ phát triển kinh tế của vùng lao động DTTS thường thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước, năng suất lao động thấp gây khó khăn trong vấn đề tích lũy vốn nội tại của vùng để mở rộng sản xuất Điều này dẫn đến những việc làm cũ vẫn tồn tại và năng suất lao động thấp, những việc làm mới chậm mở rộng và kém phát triển

1.3.3 Dân số

Dân số, lao động, việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của vùng dân tộc thiểu số nói riêng Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy mô hợp lý là nguồn cung cấp nguồn nhân lực vô giá Đa số các dân tộc thiểu số đều có tập quán thích đông con và còn hạn chế trong nhận thức về sức khỏe sinh sản về công tác dân số

kế hoạch hóa gia đình Điều này sẽ tạo nên những áp lực nhất định về mặt dân

số và xã hội Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy mô của lực lượng lao động Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng nhanh chóng số lượng người trong độ tuổi lao động tương lai

Trang 29

Ngoài ra, vấn đề di dân của lao động DTTS cũng tạo ra những khó khăn nhất định đối với các chương trình và chính sách giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

1.3.4 Phong tục tập quán

Phong tục tập quán của lao động DTTS tác động khá nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và việc giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số ở cả hai mặt tích cực và hạn chế Hiểu rõ những đặc điểm văn hoá của đồng bào sẽ góp phần cải thiện hoạt động sinh kế, làm tăng hiệu quả các chương trình, chính sách tạo việc làm cho người lao động dân tộc thiểu

số Trong những phong tục tập quán, đặc điểm văn hóa của đồng bào có những đặc tính tốt cần phát huy là: Truyền thống yêu lao động, cần cù, chịu khó, tính cộng đồng cao, ý thức đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau, Đó là những cơ sở, điều kiện cho việc thực hiện các hoạt động giải quyết việc làm Cần phải vận dụng các giá trị văn hóa này để phát triển các hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số

Tuy nhiên, cũng cần khắc phục và xoá bỏ những phong tục tập quán không còn phù hợp với xu thế hiện nay như: chủ yếu làm theo kinh nghiệm, tính bảo thủ, bình quân, tự cung tự cấp, khép kín, lối canh tác dựa nhiều vào

tự nhiên, tính thụ động, chỉ quen sống dựa vào tự nhiên để khai thác

1.3.5 Giáo dục đào tạo và dạy nghề

+ Về giáo dục - đào tạo:

Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học - công nghệ của đất nước đó Trình độ khoa học - công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục Giáo dục - đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc Người lao động qua đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc có thu nhập cao Giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản để đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội Giáo dục và đào tạo nhằm vào định

Trang 30

hướng phát triển, cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động mới đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để đảm bảo việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

+ Về Khoa học - công nghệ:

Khoa học - công nghệ là nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu đội ngũ lao động Bên cạnh những ngành nghề truyền thống đã xuất hiện những ngành nghề mới Xu hướng tri thức hoá công nhân, chuyên môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc Tuy nhiên, thực tế ở những vùng kinh tế kém phát triển Đặc biệt là những vùng lao động DTTS thường có mâu thuẫn: Nếu

áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, chuyên môn hoá cao, trình độ người lao động chưa bắt kịp dễ dẫn đến tình trạng một bộ phận người lao động dân tộc thiểu số bị gạt ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh Bên cạnh công việc đào tạo nâng cao trình độ lành nghề cho người lao động, vấn đề lựa chọn và áp dụng công nghệ nào trong dây chuyền kinh doanh phải tính toán thận trọng Bởi vì, chính sách khoa học - công nghệ có tác động mạnh mẽ đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động

1.4 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số

1.4.1 Kinh nghiệm của huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai

Những năm qua, công tác quản lý Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm cho đồng bào DTTS của huyện đã đạt được kết quả rất lớn, góp phần không nhỏ vào công cuộc xói đói, giảm nghèo tại địa phương Để đạt được kết quả đó, UBND huyện Krông đã triên khai đồng bộ các giải pháp sau:

- Về công tác định canh định cư, tỉnh huy động mọi nguồn lực, lồng ghép nhiều chương trình mục tiêu, thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đến nay đã định canh định cư gắn với tổ chức sản xuất ổn định cho 1.621 hộ Riêng từ năm 2008 đến nay, các địa phương đã triển khai định canh định cư tập trung cho 85 hộ và xen ghép cho 19 hộ

Trang 31

- Bên cạnh đó, huyện đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án đối với vùng DTTS, ưu tiên nguồn lực cho các xã đặc biệt khó khăn Chương trình 135, 168 của Chính phủ đã cấp phát trên 395.241 tấn phân bón, hơn 898

kg bắp giống, 308 con bò giống cho 16.111 hộ gia đình nghèo, hộ đồng bào DTTS với kinh phí thực hiện trên 10,3 tỷ đồng

- Huyện triển khai chính sách hỗ trợ trực tiếp cung ứng các mặt hàng như phân bón, muối I ốt, giống cây trồng, vật nuôi cho hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS, già làng, trưởng thôn vùng đồng bào DTTS được quan tâm thực hiện kịp thời, có hiệu quả, đúng đối tượng; đã cấp phát hơn 535.475 tấn phân bón, hơn 1.939 kg bắp giống, 540 con bò giống Trong những năm qua, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được đặc biệt quan tâm với mục đích cải thiện và từng bước nâng cao chất lượng lao động trên địa bàn Một số ngành nghề được huyện chú trọng triển khai đào tạo, như: nông nghiệp, thợ nề, sửa chữa máy nông nghiệp, điện dân dụng… Năm 2017, toàn huyện đã đào tạo sơ cấp cho 313 lao động; năm 2018 tiếp tục đào tạo nghề cho 213 lao động nông thôn Đáng chú ý, khoảng 2/3 số người tham gia đào tạo nghề hàng năm là đoàn viên thanh niên (ĐVTN) Nhờ đó, chất lượng nguồn lao động trên địa bàn huyện đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là lực lượng lao động trẻ

- Nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần cho nhân dân, tỉnh đã đầu tư trang bị gần 20 loại báo và tạp chí cho các xã, xây dựng hệ thống phát thanh-truyền hình từ huyện đến xã, tăng cường thời lượng phát sóng bằng tiếng DTTS Theo số liệu thống kê của Phòng Lao động-Thương binh trên địa bàn huyện hiện có 20 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp thu hút trên 2.000 lao động là người DTTS tham gia làm việc tại các doanh nghiệp Các doanh nghiệp đã thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động đối với người lao động như cấp quần

áo, giầy, mũ bảo hiểm, trang bị đầy đủ các dụng cụ lao động; chi trả trợ cấp

ốm đau, thai sản và các chế độ khác cho người lao động đầy đủ và kịp thời

Trang 32

Hằng năm, Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với Huyện Đoàn tổ chức phiên giao dịch việc để người lao động tiếp cận với các đơn vị

tư vấn và tuyển dụng lao động để tìm kiếm việc làm phù hợp và tiếp cận những thông tin cần thiết về nhu cầu tuyển dụng, mức thu nhập, các điều kiện cần có của người lao động hiện nay để từ đó có những định hướng phù hợp

1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Ngọc Lặc, tỉnh Nghệ An

Trong thời gian qua, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Nghệ An tập trung chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung và người dân tộc thiểu

số nói riêng, tập trung vào 3 nhóm giải pháp như:

- Nhóm chính sách và dự án tạo điều kiện phát triển sản xuất cho hộ nghèo, người dân tộc thiểu số

- Nhóm chính sách và dự án tạo điều kiện cho các hộ nghèo, người dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ xã hội

- Nhóm chính sách và hoạt động nâng cao nhận thức, năng lực phát triển kinh tế gia đình và giảm nghèo bền vững

Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao Nhiều mô hình kinh tế trang trại ở miền núi, vùng DTTS có thu nhập mỗi năm từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng Các chỉ số về diện tích, năng suất của các loại cây trồng: lúa, ngô, lạc, mía, chè và đàn gia súc đều tăng từ 3- 4% Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng sản xuất chuyên canh tập trung nhằm tạo ra sản phẩm hàng hoá phục vụ tiêu dùng và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng phục vụ cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc

1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

Từ thực tiễn về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho đồng bào DTTS của các địa phương nêu trên, có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong

Trang 33

công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho đồng bào DTTS huyện Bắc Trà

My, tỉnh Quảng Nam như sau:

Một là, cần tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho đồng bào các dân tộc Đặc biệt chú trọng tới công tác lựa chọn các cơ sở dạy nghề đảm bảo chất lượng, thuận lợi cho việc đi lại của học viên, đồng thời đội ngũ cán bộ, giáo viên phải được đảm bảo cả về số lượng và trình độ chuyên môn Đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo để thu hút lực lượng thanh niên là đồng bào DTTS tham gia học tập

Hai là, cần đẩy mạnh thực hiện các Chương trình hành động về dân tộc

và miền núi, ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển trồng trọt, chăn nuôi, phát triển những ngành nghề truyền thống nhằm tạo công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo UBND huyện cần phải thường xuyên kiểm tra, rà soát để các chương trình được thực hiện một cách đồng bộ và mang lại hiệu quả cao

Ba là, đầu tư xây dựng hệ thống loa đài, phát thanh-truyền hình lên các

xã vùng cao, tăng cường thời lượng phát sóng bằng tiếng dân tộc để bà con có thêm thông tin, thời sự Góp phần nâng cao sự hiểu biết để cải thiện được nhận thức của lao động DTTS

Bốn là, sử dụng tốt các quỹ quốc gia về hỗ trợ việc làm cho đồng bào DTTS Đồng thời đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, tuyển lao động là đồng bào DTTS vào các công ty, xí nghiệp, nông-lâm trường ở trong và ngoài địa phương Lồng ghép các nguồn tín dụng ưu đãi để góp phần phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo việc làm và tăng thu nhập, góp phần quan trọng vào việc xói đói, giảm

nghèo cho đồng bào DTTS

1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

Từ thực tiễn về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho đồng bào DTTS của các địa phương nêu trên, có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong

Trang 34

công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho đồng bào DTTS huyện Bắc Trà

My, tỉnh Quảng Nam như sau:

Một là, cần tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho đồng bào các dân tộc Đặc biệt chú trọng tới công tác lựa chọn các cơ sở dạy nghề đảm bảo chất lượng, thuận lợi cho việc đi lại của học viên, đồng thời đội ngũ cán bộ, giáo viên phải được đảm bảo cả về số lượng và trình độ chuyên môn Đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo để thu hút lực lượng thanh niên là đồng bào DTTS tham gia học tập

Hai là, cần đẩy mạnh thực hiện các Chương trình hành động về dân tộc

và miền núi, ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển trồng trọt, chăn nuôi, phát triển những ngành nghề truyền thống nhằm tạo công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo UBND huyện cần phải thường xuyên kiểm tra, rà soát để các chương trình được thực hiện một cách đồng bộ và mang lại hiệu quả cao

Ba là, đầu tư xây dựng hệ thống loa đài, phát thanh-truyền hình lên các

xã vùng cao, tăng cường thời lượng phát sóng bằng tiếng dân tộc để bà con có thêm thông tin, thời sự Góp phần nâng cao sự hiểu biết để cải thiện được nhận thức của lao động DTTS

Bốn là, sử dụng tốt các quỹ quốc gia về hỗ trợ việc làm cho đồng bào DTTS Đồng thời đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, tuyển lao động là đồng bào DTTS vào các công ty, xí nghiệp, nông-lâm trường ở trong và ngoài địa phương Lồng ghép các nguồn tín dụng ưu đãi để góp phần phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo việc làm và tăng thu nhập, góp phần quan trọng vào việc xói đói, giảm

nghèo cho đồng bào DTTS

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Giải quyết việc làm luôn là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động người DTTS nói riêng là một trong những vấn đề cấp bách, mang tính chiến lược, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển KT-XH của mỗi địa phương Trong chương 1 tác giả đã trình bày những lý luận cơ bản nhất về vấn đề về việc làm, giải quyết việc làm, quản lý Nhà nước và thực hiện công tác giải quyết việc làm cho lao động người DTTS gồm các nội dung cơ bản như: nội dung quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động người DTTS và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động người DTTS

Từ những lý luận chung về quản lý Nhà nước về việc làm và các vấn đề liên quan đến quản lý Nhà nước việc làm cho lao động người DTTS, làm cơ sở

để tác giả phân tích thực trạng công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động người DTTS tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam trong chương 2

Trang 36

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI

HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Tổng quan về huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên huyện Bắc Trà My

Vị trí địa lý

Bắc Trà My là một trong những huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, cách tỉnh lỵ Tam Kỳ khoảng 50 km về hướng Tây Nam, nằm trên giao lộ của hai tuyến giao thông huyết mạch là Trường Sơn Đông và Nam Quảng Nam kết nối các khu vực phát triển năng động (Chu Lai, Dung Quất) lên Tây Nguyên, sang Lào, Cam-pu-chia và ngược lại thông qua các cửa khẩu Bờ

Y và Nam Giang

Bắc Trà My được định hướng là hạt nhân phát triển cho Cụm Tây Nam Quảng Nam (Tiên Phước - Bắc Trà My - Nam Trà My) thuộc Hành lang phát triển phía Nam Quảng Nam và có các mối quan hệ lãnh thổ như sau:

+ Kết nối về hướng Đông Bắc với Cụm động lực phát triển Chu Lai (Tam Kỳ-Núi Thành-Phú Ninh) thuộc Vùng Đông Quảng Nam thông qua tuyến Nam Quảng Nam và ĐT 616

+ Kết nối về hướng Tây Bắc với các huyện Phước Sơn, Hiệp Đức, Nam Giang,… và xa hơn là Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang thông qua Lào thông qua các tuyến Đông Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 14D + Kết nối về hướng Tây Nam với khu vực Tây Nguyên và xa hơn là Lào, Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y thông qua tuyến Nam Quảng Nam + Kết nối về hướng Đông Nam với tỉnh Quảng Ngãi, khu kinh tế Dung Quất thông qua tuyến Trà My-Trà Bồng và ĐT622

Trang 37

Điều kiện tự nhiên

Khí hậu

Bắc Trà My nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng Nam Hải Vân, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa, có nền nhiệt độ cao, nắng nhiều, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông Nhìn chung, đặc điểm khí hậu rất thuận lợi cho thực vật sinh trưởng và phát triển, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, con vật nuôi Tuy nhiên, vào mùa mưa lượng mưa lớn, tập trung cao nên thường có lũ quét gây ách tắc giao thông, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của nhân dân, vào mùa khô thường bị hạn hán gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp

Thủy văn

Sông suối khu vực Bắc Trà My có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, phân bố chằng chịt, không thuận lợi cho việc phát triển hạ tầng về giao thông, thủy lợi Mạng thủy văn trong khu vực cung cấp nguồn nước mặt khá dồi dào cho sản xuất và sinh hoạt, có tiềm năng phát triển thủy điện vừa và nhỏ

Tài nguyên

Tài nguyên đất: Theo số liệu đất đai được điều tra và công bố bởi Viện

Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện nay trên địa bàn huyện Bắc Trà My có các loại đất sau:

+ Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Diện tích 1.410ha, chiếm 1,71% diện tích tự nhiên, phân bố ven các sông, suối lớn chủ yếu các xã vùng trung của huyện

+ Đất phù sa ngòi suối (Py): Diện tích 410ha, chiếm 0,5% diện tích

tự nhiên Đất nằm ven suối lớn thành những dãi hẹp Thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ có nhiều mảnh đá vụn nhỏ

+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fb): Diện tích 972ha, chiếm 1,18% diện tích tự nhiên, có ở địa hình đồi thoải, ít dốc cộng thêm vào đó là các quá trình ngoại sinh (bào mòn, xâm thực nên địa hình đồi càng được rõ nét hơn)

Trang 38

+ Đất dốc tụ (D): Diện tích 479ha, chiếm 0,58% diện tích tự nhiên Phần lớn đất dốc tụ có tầng dày, nhiều hữu cơ, độ phì khá

+Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Fs): Diện tích 33.500ha,

chiếm 40,3% diện tích tự nhiên

+Đất mùn vàng đỏ trên Macma axit (Ha): Diện tích 360ha, chiếm

0,44% Đất có ở khu vực núi cao, khí hậu lạnh và ẩm hơn vùng thấp

+Đất vàng trên đá Macmaaxit (Fa): Diện tích 45.174ha, chiếm

54,89% tổng diện tích tự nhiên

Tài nguyên nước:

Nguồn nước mặt là tài nguyên quý giá, có tác động lớn mạnh đến cuộc sống nông nghiệp nông thôn, dân trí khu vực miền núi Tại đây hầu hết người dân sử dụng nguồn nước này cho sinh hoạt, trồng trọt và chăn nuôi

Tài nguyên rừng

Rừng Bắc Trà My khá phong phú về chủng loại, có nhiều loại gỗ quý hiếm (gõ, lim, lác, dỗi, chò chỉ, chò nâu, ), các loại lâm sản phụ (mây, tre, ươi, ), cây dược liệu (quế, sâm Ngọc Linh, sa nhân, ) Trữ lượng gỗ đạt trên

7 triệu m3 Rừng ở đây có sự phân tầng, tán rõ: tầng trên là cây thân gỗ, tầng dưới có các loại cây leo, cây hỗn tạp và cây bụi Hệ động vật cũng rất phong phú đa dạng với nhiều loài thú quý hiếm như hổ, voi, gấu, vọc, mang, nai, Nhiều loại động vật nằm trong sách đỏ Việt Nam

Tài nguyên khoáng sản:

Hiện nay vẫn chưa có tài liệu chính thức công bố về khảo sát, thăm dò, đánh giá trữ lượng một cách đầy đủ Qua một số tài liệu và đánh giá ban đầu, trên địa bàn huyện hiện có các loại khoáng sản: vàng sa khoáng có ở các xã Trà Đông, Trà Bui, Trà Tân, Trà Giác, Trà Đốc , một số loại quặng có giá trị kinh tế như thiếc, titan ở Trà Đốc, Trà Tân, kẽm ở Trà Sơn, Trà Giác, Trà Tân,

Tài nguyên hệ sinh thái

Bắc Trà My là một huyện miền núi vùng cao có khí hậu mát mẻ,

Trang 39

môi trường trong lành và cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, kỳ thú Hệ thống sông, suối có nhiều thác nước cao và đẹp nằm trong rừng nguyên sinh như

Hố Nai (Trà Giang), thác Bà Bình (Trà Kót),

Hiện nay, huyện Bắc Trà My đang tận dụng diện tích mặt nước để dưa vào khai thác du lịch sinh thái, trong đó lòng hồ thủy điện Sông Tranh (Trà Đốc), lòng hồ Nước Rôn (Trà Dương) đang trong quá trình xây dựng đề án phát triển du lịch

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

Trong những năm qua, công tác chỉ đạo điều hành trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện được tập thể lãnh đạo Huyện uỷ, HĐND và UBND huyện đặc biệt quan tâm Mặc dù quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện còn gặp nhiều khó khăn do đặc điểm nền kinh tế nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao nên phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Song với nỗ lực và quyết tâm của các cấp, các ngành và của nhân dân toàn huyện đã đạt được kết quả sau:

Bảng 2.1 Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn của một số ngành chủ yếu

2 Theo giá hiện hành 643,80 767,40 853,00 959,30 1.044,30

2.1 Nông lâm thủy sản (tỷ đồng) 289,60 324,70 371,10 415,30 424,10 2.2 CN - Xây dựng (tỷ đồng) 156,90 191,90 194,50 212,90 251,80 2.3 Dịch vụ (tỷ đồng) 197,30 250,80 287,40 331,10 368,40

3 Cơ cấu giá trị SX

(Theo giá hiện hành) 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00

Trang 40

TT Nội dung 2014 2015 2016 2017 2018

3.1 Nông lâm thủy sản (%) 44,98 42,31 43,51 43,29 40,61 3.2 CN - Xây dựng (%) 24,37 25,01 22,8 22,19 24,11 3.2 Dịch vụ (%) 30,65 32,68 33,69 34,51 35,28

Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Bắc Trà My

Theo bảng số liệu nêu trên cho thấy giá trị sản xuất của huyện Bắc Trà

My giai đoạn 2014-2018 không ngừng biến động theo chiều hướng gia tăng qua các năm Trong cơ cấu sản xuất giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao trên 40% và tỷ trọng này có xu hướng biến động theo chiều hướng giảm qua các năm Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành dịch vụ có xu hướng tăng mạnh qua các năm cả về giá trị lẫn tỷ trọng Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nêu trên phù hợp với xu thế phát triển và quy hoạch phát triển KT-

XH của huyện, định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn

2.1.3 Cơ cấu tổ chức và chức năng các bộ phận UBND huyện Bắc Trà

My - Tỉnh Quảng Nam

UBND huyện Bắc Trà My là cơ quan hành chính cấp huyện thực hiện các hoạt động quản lý mọi mặt trên địa bàn huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam UBND huyện Bắc Trà My có 1 Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch và 19 phòng, ban, đơn vị chuyên môn cụ thể như sau:

Ngày đăng: 03/07/2019, 15:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1.] Đảng Cộng Sản Việt Nam (2016) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
[4.] Học viện Hành chính (2003) Giáo trình Hành chính công, NXB Khoa học vàKỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hành chính công
Nhà XB: NXB Khoa học vàKỹ thuật
[5.] Học viện Hành chính Quốc gia (1997) Giáo trình quản lý Nhà nướcđối với nông thôn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý Nhà nướcđối với nông thôn
Nhà XB: NXB Giáo dục
[6.] Học viện Hành chính, Giáo trình lý luận hành chính nhà nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận hành chính nhà nước
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
[7.] Học viện Hành chính, Giáo trình lý luận hành chính nhà nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận hành chính nhà nước
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
[8.] Hồng Nhung (2016) Yên Dũng: Chú trọng giải quyết việc làm, Báo Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yên Dũng: Chú trọng giải quyết việc làm
[9.] Lê Xuân Bá,Vấn đề lao động việc làm khu vực phi chính thức trong hội nhập kinh tế quốc tế, Đề tài KX.02.02/11-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề lao động việc làm khu vực phi chính thức trong hội nhập kinh tế quốc tế
[10.] Nguyễn Minh Phong, Chính sách lao động - việc làm nhìn từ góc độ kinh tế vĩ mô, Tạp chí Tài chính Điện tử số 96 ngày 15/6/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách lao động - việc làm nhìn từ góc độ kinh tế vĩ mô
[11.] Nguyễn Thúy Hà (2013) Chính sách việc làm: Thực trạng và giải pháp”, cổng thông tin điện tử Viện nghiên cứu pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách việc làm: Thực trạng và giải pháp”
[12.] Nguyễn Văn Bảy, Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn - một đòi hỏi bức thiết hiện nay”,Tạp chí Quốc phòng toàn dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn - một đòi hỏi bức thiết hiện nay”
[13.] Phạm Đức Chính, (2005) Thị trường lao độngcơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao độngcơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[14.] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012) Bộ Luật lao động, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật lao động
Nhà XB: NXB Lao động
[16.] Thủ tướng Chính phủ (2009) Quyết định số 1956/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1956/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020
[2.] Đảng bộ huyện Bắc Trà My (2016) Toàn văn Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Bắc Trà My khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016 -2020 Khác
[3.] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2007) Tập bài giảng lý luận dân tộc và chính sách dân tộc Khác
[15.] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) Luật Việc làm Khác
[17.] Thủ tướng Chính phủ (2016) Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm