Chính quyền cấp xã trực tiếp tổ chức cho nhân dân thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, tăng cường sự đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU THỦY
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU THỦY
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 838.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VĂN THUẬN
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã 9 1.2 Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã 18 1.3 Các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp
xã 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ HUYỆN NÔNG SƠN TỈNH QUẢNG NAM 26
2.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nông Sơn 26 2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã huyện Nông Sơn 29
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 51
3.1 Yêu cầu hoàn thiện tổ chức, hoạt động của HĐND cấp xã 51 3.2 Giải pháp hoàn thiện tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã 54 3.3 Kiến nghị 74
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là đơn vị hành chính cuối cùng trong hệ thống đơn vị hành chính của nước ta và chính quyền cấp xã là cũng cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền địa phương Đây là cấp chính quyền có quan
hệ trực tiếp đến từng người dân, là cầu nối chuyển tải mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống Chính quyền cấp xã trực tiếp tổ chức cho nhân dân thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, tăng cường sự đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, khai thác mọi tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Với đặc điểm đó, cấp xã là cấp chính quyền cơ sở có vị trí, vai trò rất quan trọng trong cơ cấu chính quyền địa phương Nếu cấp tỉnh là cầu nối giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương thì cấp xã là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân, là nơi nhân dân trực tiếp thực hiện quyền dân chủ của mình
thông qua hai hình thức cơ bản là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp [28]
Theo quy định của Hiến pháp, pháp luật thì HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước gần dân nhất Hơn nữa, hiện nay xã là cấp trực tiếp quản lý trên 80% dân số cả nước, trải dài trên diện tích rộng lớn từ Bắc tới Nam, từ miền núi tới đồng bằng, hải đảo nên hiệu lực quản lý của cấp chính quyền này góp phần quyết định sự thành công hay thất bại của mọi chủ trương, chính sách được hoạch định từ cấp trên Hơn 60 năm, từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 2015 và các
Trang 8quy định pháp luật hiện nay, cùng với sự hoàn thiện hệ thống bộ máy nhà nước
từ trung ương đến địa phương, vai trò HĐND cấp xã từng bước được khẳng định Điều đó thể hiện qua việc HĐND cấp xã ngày càng làm tốt chức năng là
cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh Những vấn đề liên quan đến lợi ích của tập thể, lợi ích của đại bộ phận nhân dân trên địa bàn đều được nhân dân bàn bạc và quyết định thông qua cơ quan đại diện của mình Và, điều đó lại càng có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN "của dân, do dân, vì dân" hiện nay
Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng thực tế hoạt động của HĐND các cấp đã bộc lộ một số bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, nhất là HĐND cấp xã Bên cạnh đó, những quy định pháp luật liên quan đến tổ chức, hoạt động của HĐND cũng còn một số nội dung chưa phù hợp, chưa theo kịp sự thay đổi của tình hình chính trị - kinh tế - xã hội hiện nay
Vì những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã từ thực tiễn ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” để
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về phương thức tổ chức và hoạt động của HĐND nói chung cũng như HĐND cấp
xã tại huyện Nông Sơn nói riêng; qua đó đề xuất một số giải pháp, hy vọng sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, thể hiện rõ bản chất là cơ quan đại diện nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng và giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương Đồng thời, góp phần vào công cuộc đổi mới, hoàn thiện bộ máy cơ quan quyền lực nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp, trong đó có HĐND cấp xã đã được nhiều tác giả thực hiện ở các tỉnh, thành phố, các địa phương trong cả nước Có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học tương đồng với nội dung với luận văn của tác giả tuy nhiên hướng tiếp cận, phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu có những điểm khác nhau Cụ thể như sau:
- Trương Khắc Linh, Tổ chức và hoạt động của các ban Hội đồng nhân dân, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 2/2003
- Bùi Xuân Đức, Bàn về tính chất của HĐND trong điều kiện cải cách bộ máy nhà nước hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12/2003
- Bùi Huyền Mai (2004), Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Nhà nước và pháp luật
- Cao Thị Bích Lan (2004), Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND từ thực tiễn hoạt động của HĐND quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia Hà Nội
- Đinh Ngọc Quang, Về Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004 -2009, tạp chí quản lý Nhà nước số 02/2005
- Vũ Thị Kim Vân và các cộng sự (2010), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND xã ở Bình Dương, Đề tài nghiên cứu khoa
Trang 10Tại tỉnh Quảng Nam từ trước đến nay chỉ có duy nhất một đề tài khoa
học cấp tỉnh :"Năng lực quyết định và hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh, HĐND cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp" (Mã số: KX.06.09) do nhóm tác giả gồm thạc sĩ
Trần Văn Tân, thạc sĩ Nguyễn Ngọc Thái và các cộng sự triển khai thực hiện, được nhiệm thu năm 2011
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu vừa nêu, tùy theo hướng tiếp cận, phạm vi, mục đích nghiên cứu đã khái quát được lịch sử hình thành và phát triển của HĐND trong hệ thống chính quyền Việt Nam qua các thời kỳ; làm rõ
cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của HĐND Qua nghiên cứu thực tiễn và
lý luận, các công trình này đã phân tích thực trạng, đánh giá tổ chức hoạt động của HĐND ở nhiều cấp, trên nhiều địa bàn khác nhau, từ đó đề xuất giải pháp
để hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND
Tuy nhiên, tác giả vẫn chọn nghiên cứu đề tài của mình bởi những lý do sau:
- Phần lớn các đề tài nêu trên đã nghiên cứu tổ chức và hoạt động của HĐND trong nhiệm kỳ 2011-2016 trở về trước Đến nay, với việc ban hành một số luật mới như: Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND thì cơ cấu tổ chức, vai trò, nhiệm vụ của
Trang 11HĐND đã có nhiều thay đổi Do vậy, một số nhận định, đánh giá cũng như kiến nghị, đề xuất không còn phù hợp nữa
- Các đề tài trên đều nghiên cứu về HĐND ở các địa phương nằm ngoài tỉnh Quảng Nam; do vậy, điều kiện địa lý, tình hình kinh tế - xã hội có nhiều điểm khác biệt so với Quảng Nam nói chung và huyện Nông sơn nói riêng
- Đối với đề tài của Thạc sĩ Trần Văn Tân, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Thái tuy
có nghiên cứu về HĐND cấp xã nhưng là nghiên cứu chung cho toàn tỉnh Quảng Nam và thời điểm nghiên cứu cũng rơi vào nhiệm kỳ 2011-2016
- Đề tài nghiên cứu của tác giả cũng nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã nhưng phạm vi nghiên cứu thực tiễn khu trú trên địa bàn huyện Nông Sơn (tập trung vào nhiệm kỳ 2016-2021), nhiệm vụ nghiên cứu cũng khác nhau, do vậy sẽ có điểm tương đồng với các đề tài trên nhưng không
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích các quy định hiện hành của pháp luật về tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND cấp xã để làm rõ vị
Trang 12trí, vai trò của HĐND cấp xã trong hệ thống bộ máy nhà nước nói chung và trong tổ chức chính quyền ở địa phương
Phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay
Từ các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn sẽ tìm ra những hạn chế, bất cập
và nguyên nhân trong tổ chức, hoạt động của HĐND cấp xã nhằm đề xuất giải pháp khắc phục một cách hiệu quả, khả thi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam trong giai đọan hiện nay, trong đó tập trung nghiên cứu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2016-2021 (sau khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực thi hành)
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật làm phương pháp
chung mang tỉnh chủ đạo trong nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để mang lại kết quả đầy đủ và chính xác nhất Các phương pháp nghiên cứu được chia làm hai nhóm:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm: Phương pháp phân tich và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, phương pháp lịch sử được dùng để nghiên cứu hệ thống văn bản, các
đề tài nghiên cứu khoa học, các báo cáo, tham luận tại các hội thảo, hội nghị
Trang 13chuyên đề có liên quan để xem xét cơ sở lý luận về tổ chức, hoạt động của HĐND cấp xã
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: Phương pháp điều tra, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia
được dùng để nghiên cứu thực tiễn tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã tại huyện Nông Sơn, xem xét những thành quả trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và lý luận khoa học, tham khảo ý kiến của các chuyên gia để đánh giá khách quan ưu điểm, các mặt tích cực cũng như tồn tại, hạn chế trong
tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã hiện nay, đồng thời đề xuất các giải pháp tối ưu để khắc phục
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Thông qua kết quả nghiên cứu lý thuyết sẽ đề xuất một số nội dung nhằm góp phần bổ sung cơ sở lý luận về tổ chức, hoạt động của HĐND cấp xã làm căn cứ để hoàn thiện một bước các quy định pháp luật có liên quan
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu thực tiễn tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã của huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam sẽ đánh giá khách quan ưu điểm, các mặt tích cực cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong tổ chức
và hoạt động của HĐND cấp xã hiện nay Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của
Hội đồng nhân dân cấp xã
Trang 14Chương 2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp
xã huyện Nông Sơn tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân
dân cấp xã ở nước ta hiện nay
Trang 15
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã
1.1.1 Khái niệm Hội đồng nhân dân cấp xã
HĐND được thành lập từ cuối năm 1945 theo Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 cũng quy định thành lập HĐND ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã Tiếp sau đó, các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013; Luật
Tổ chức và hoạt động HĐND và Ủy ban hành chính năm 1962; Luật Tổ chức
và hoạt động của HĐND và UBND năm 1983, 1989, 1994, 2003; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, HĐND được tổ chức ở tất cả các cấp hành chính ở địa phương gồm cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Các văn bản pháp luật nói trên đều ghi nhận HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên, HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh
tế - xã hội , củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc tuân theo pháp luật, việc thực hiện các nghị quyết của HĐND của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương Hiến pháp 1959 ghi nhận :" Hội đồng
Trang 16nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương" Điều 114 Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định “HĐND các cấp là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương” đồng thời làm rõ “do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên" Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi, bổ sung năm 2001 - Điều 119), Hiến pháp năm 2013 (khoản 1, Điều 113) và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã kế thừa và bổ sung rõ hơn: “ Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu HĐND do cử tri
ở địa phương bầu ra, là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân
dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [23] [25] [26]
Các luật về tổ chức HĐND và UBND năm 1994 và 2003 đều quy định:
“Mọi đơn vị hành chính đều có HĐND” không phân biệt giữa mô hình tổ chức
HĐND ở nông thôn, đô thị, hải đảo [29]
HĐND cấp xã do cử tri bầu ra, bao gồm các đại biểu ưu tú của mọi tầng lớp nhân dân, dân tộc, tôn giáo, công nhân, nông dân, trí thức được Đảng và nhân dân tín nhiệm, hiệp thương bầu vào cơ quan đại diện cho trí tuệ, tinh thần
và sức mạnh tập thể của nhân dân địa phương Những chủ trương, quyết định của Trung ương, của tỉnh, của huyện được thể chế hóa thành nghị quyết của HĐND cấp xã xuất phát từ lợi ích của nhân dân địa phương, đồng thời phù hợp với lợi ích của toàn dân, không trái với các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, chịu sự giam sát của nhân dân địa phương Các đại biểu HĐND cấp xã không được tín nhiệm sẽ bị bãi nhiệm theo quy định của
pháp luật.[22]
Như vậy, căn cứ theo quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan qua các thời kỳ từ 1946 đến nay, có thể đưa ra khái niệm về HĐND cấp xã như sau : HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do
cử tri của xã bầu ra gồm các đại biểu HĐND cấp xã, đại diện cho ý chí, nguyện
Trang 17vọng và quyền làm chủ của Nhân dân; có nhiệm vụ, quyền hạn quyết định các vấn đề ở địa phương theo luật định, giám sát thi hành Hiến pháp, Luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cấp xã, chịu trách nhiệm trước nhân dân ở xã và cơ quan nhà
nước cấp trên
1.1.2 Đặc điểm của Hội đồng nhân dân cấp xã
Theo quy định của pháp luật thì :"Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân" và "do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân" Nhân dân thực thi quyền lực Nhà nước thông qua các cơ quan đại diện cho mình ở cả hai cấp: Trung ương và địa phương Ở cấp Trung ương, Quốc hội :"là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam" Ở cấp địa phương :"HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương" Như vậy, việc HĐND là cơ quan quan quyền lực nhà nước ở địa phương đã được Hiến định trong Hiến pháp 2013 (kể cả những Hiến pháp trước đây của nước ta) và đây cũng chính là đặc điểm đầu tiên của HĐND
[28]
Do tính chất cơ bản của Nhà nước ta là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân và mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, cho nên người dân phải có quyền trực tiếp bầu chọn cơ quan đại diện cho mình ở các cấp (Quốc hội và HĐND) Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định :" Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra" Như vậy, về mặt tổ chức, HĐND bao gồm các đại biểu HĐND do cử tri
bầu ra và đây cũng chính là đặc điểm thứ hai của HĐND [35]
Trang 18kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh
Vì nhân dân là người làm chủ đất nước, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, cho nên người dân phải được quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương thông qua cơ quan đại diện cho mình ở các cấp: cấp Trung ương là Quốc hội, cấp địa phương là HĐND Thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương của HĐND chính là hình thức người dân thực hiện quyền dân chủ đại diện của mình Quyền lực của HĐND là được nhân dân trao thông qua việc bầu chọn các đại biểu HĐND thay mặt cho mình Điều này cũng được pháp luật khẳng định :" HĐND quyết
định các vấn đề của địa phương do luật định" [28]
phương và là cấp gần dân nhất
HĐND được tổ chức theo đơn vị hành chính, mà theo phân loại đơn vị hành chính của nước ta thì cấp xã là đơn vị hành chính cuối cùng trong hệ thống đơn vị hành chính Do vậy, HĐND cũng là cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền địa phương (cấp thôn, tổ dân phố, ấp không phải là đơn vị hành chính) Vì là cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền, thực thi quyền lực trong phạm vi hẹp của địa phương, nên HĐND, đại biểu HĐND trực tiếp tương tác với người dân trong hoạt động công vụ không qua trung gian Đây là nét khác biệt chủ yếu của HĐND cấp xã với HĐND cấp trên và cũng chính là đặc điểm của HĐND cấp xã
theo đa số
Tập trung dân chủ là một nguyên tắc quan trọng của mọi cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị của nước ta hiện nay Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức Nhà nước cũng đã được Hiến định :" Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp
Trang 19luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ" Do vậy, HĐND cũng được tổ
chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ [28]
Mặt khác, HĐND bao gồm các đại biểu HĐND do cử tri trực tiếp bầu ra,
do vậy về nguyên tắc mọi đại biểu HĐND đều bình đẳng về quyền và trách nhiệm, trong đó có quyền phát biểu ý kiến và biểu quyết (hai quyền quan trọng nhất), nên khi quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền, HĐND phải dùng hình thức biểu quyết theo đa số
Pháp luật cũng quy định rõ :"HĐND làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số" và :"Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND" Đây cũng là đặc điểm của tổ chức và hoạt động của HĐND khác với UBND :" Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể Ủy ban nhân dân kết hợp với trách nhiệm của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân" [28]
1.1.3 Vai trò của Hội đồng nhân dân cấp xã
Hiến pháp 2013 khẳng định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân" Người dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Khi
cử tri bầu ra HĐND chính là người dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của mình Cũng cần nói thêm rằng chỉ có Quốc hội và HĐND là hai cơ quan được người dân trực tiếp bầu chọn Khi HĐND thay mặt cử tri quyết định các vấn
đề quan trọng của địa phương và thực hiện quyền giám sát là lúc người dân thực hiện quyền dân chủ đại diện Việc người dân bầu chọn trực tiếp cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và giao cơ quan đó trách nhiệm thay mặt cho mình có thể khẳng định rằng HĐND chính là thiết chế đảm bảo quyền
Trang 20làm chủ của nhân dân [28]
Như đã trình bày ở phần trên, nếu cấp tỉnh là cầu nối giữa chính quyền Trung ương với địa phương thì cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền địa phương là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân Bởi, theo quy định hệ thống đơn vị hành chính của nước ta hiện nay có 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) Các tổ chức dưới cấp xã (thôn, tổ dân phố, ấp ) không phải là đơn vị hành chính Mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều được cấp xã là cấp cuối cùng triển khai đến người dân Hay nói khác hơn, HĐND cấp xã là cấp cuối cùng được thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời lại là đại diện của nhân dân, do cử tri bầu ra Do vậy, HĐND chính là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân
Theo nguyên tắc tổ chức nhà nước thì cơ quan cấp dưới phải phục tùng, thực hiện quyết định của cơ quan cấp trên Hiến pháp 2013 cũng ghi rõ HĐND :"chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước
1.1.4 Chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã
Chức năng của HĐND là những phương diện hoạt động chủ yếu của HĐND nhằm thực hiện vai trò, nhiệm vụ của HĐND
Trang 21Căn cứ vào Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, HĐND cấp
xã có ba chức năng cơ bản đó là: chức năng đại diện, chức năng quyết định và chức năng giám sát
HĐND là cơ quan hợp thành bởi các đại biểu HĐND, mà đại biểu HĐND
là do cử tri bầu ra, là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình Nên HĐND trước hết và cơ bản phải thực hiện chức năng đại diện
Đối với chức năng quyết định - được thể hiện ở việc xây dựng và ban hành các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của địa phương và những vấn đề khác theo luật định
HĐND ra quyết định dưới hình thức nghị quyết trên nguyên tắc thống nhất theo đa số để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trên phạm vi địa phương mình theo định hướng XHCN, nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên được thực thi và góp phần làm cho cuộc sống người dân ngày một tốt hơn Do đó, quyết định của HĐND phải đảm bảo hai yêu cầu cơ bản là: Không trái với quy định của Hiến pháp, pháp luật và phản ảnh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương hay nói cách khác là phải đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn cuộc sống
Theo quy định của pháp luật thì: Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan
có thẩm quyền xử lý [38]
Trang 22Giám sát của HĐND là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân để giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, là một hình thức thực hiện quyền giám sát của nhân dân được thực hiện bằng pháp luật, thông qua cơ quan quyền lực Nhà
nước là HĐND các cấp [41]
Giám sát của HĐND cấp xã là hoạt động có mục đích, thường xuyên, liên tục của HĐND nhằm quan sát, theo dõi, kiểm tra, phát hiện, uốn nắn việc tuân theo pháp luật, chấp hành Nghị quyết HĐND của Thường trực HĐND, UBND, của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật
Như vậy, giám sát của HĐND thực chất là hoạt động nhằm kiểm soát thực thi quyền lực nhà nước
1.1.5 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã
Trong một nhà nước pháp quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của mọi cơ quan, đơn vị, tổ chức đều được quy định bởi pháp luật và HĐND cũng không ngoại
lệ Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định nhiệm vụ, quyền hạn chung của chính quyền địa phương và nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp Theo đó nhiệm vụ, quyền hạn chung của chính quyền địa phương cấp xã
(bao gồm HĐND và UBND) được quy định như sau: [35]
Thứ nhất, tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên
địa bàn xã
Thứ hai, quyết định những vấn đề của xã trong phạm vi được phân quyền,
phân cấp theo quy định của của pháp luật có liên quan
Thứ ba, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước
cấp trên ủy quyền
Thứ tư, chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp huyện về kết
quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Thứ năm, quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy
Trang 23quyền làm chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã
Bên cạnh đó, HĐND cấp xã có các nhiệm vụ, quyền hạn riêng như sau”
[35]
Thứ nhất, ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc thẩm quyền
Thứ hai, quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh,
phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác; phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn xã
Thứ ba, bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch
HĐND, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của HĐND xã; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND và các Ủy viên UBND xã
Thứ tư, quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán
thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh dự toán ngân sách xã trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách xã Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của xã trong phạm vi được phân quyền
Thứ năm, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương,
việc thực hiện nghị quyết của HĐND xã; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp
Thứ sáu, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức
vụ do HĐND xã bầu theo quy định
Thứ bảy, bãi nhiệm đại biểu HĐND xã và chấp nhận việc đại biểu HĐND
xã xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu
Thứ tám, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND,
Chủ tịch UBND xã
Trang 241.2 Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
1.2.1 Tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã
1.2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã
Pháp luật hiện hành nước ta đã quy định cơ cấu tổ chức HĐND cấp xã như sau (Điều 32, Luật Tổ chức chính quyền địa phương):
HĐND cấp xã gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri bầu ra
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã
Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND Cơ cấu tổ chức Thường trực HĐND cấp xã gồm có Chủ tịch HĐND, một phó chủ tịch HĐND Phó chủ tịch HĐND xã là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách
Các Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
Các Ban HĐND xã được thành lập từ nhiệm kỳ 2016-2021 HĐND cấp xã thành lập Ban pháp chế, Ban Kinh tế - Xã hội Ban của HĐND cấp xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên Số lượng Ủy viên của các Ban do HĐND xã quyết định Trưởng ban, Phó trưởng ban của HĐND xã hoạt
động kiệm nhiệm [35]
1.2.1.2 Các mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với các cơ quan, tổ chức ở địa phương
Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Đảng ủy cùng cấp
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là một nguyên tắc đã được ghi nhận :“Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời
là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [28]
Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII cũng nêu rõ:" Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh
Trang 25đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị", " Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật"
Với tư cách là một thành tố trong hệ thống chính trị nước ta, HĐND cấp
xã cũng chịu sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là cấp ủy địa phương
Nội dung lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với HĐND cấp xã là: lãnh đạo HĐND thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; lãnh đạo HĐND cấp xã trong công tác bầu cử đại biểu HĐND cấp xã, công tác cán bộ, lãnh đạo HĐND cấp xã thực hiện các mối quan hệ công tác với các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị ở địa phương
Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với UBND cùng cấp
UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Muốn HĐND hoạt động hiệu quả thì Thường trực HĐND, các Ban HĐND phải có mối quan hệ mật thiết với UBND, phối hợp chặt chẽ với UBND theo quy định của pháp luật
HĐND thực hiện việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm,
bỏ phiếu tín nhiệm các Ủy viên UBND cùng cấp HĐND có quyền giám sát đối với hoạt động của UBND và các cơ quan chuyên môn trực thuộc trên địa bàn Xem xét, quyết định các đề án, cơ chế, chính sách do UBND đề xuất
UBND có trách nhiệm triển khai thực hiện các nghị quyết của HĐND đã thông qua; cung cấp các tài liệu liên quan đến hoạt động giám sát khi HĐND cùng cấp yêu cầu; phối hợp với Thường trực HĐND và các Ban HĐND cùng cấp chuẩn bị nội dung kỳ họp HĐND, xây dựng báo cáo, đề án dự thảo nghị quyết trình HĐND cấp mình xem xét quyết định UBND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và trước cơ quan hành chính nhà nước
Trang 26cấp trên Đối với cấp xã, UBND còn có trách nhiệm tổ chức, phục vụ HĐND, Thường trực HĐND, các ban HĐND và đại biểu HĐND trong các hoạt động công vụ của HĐND (vì cấp xã không có Văn phòng HĐND riêng)
Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân cấp xã với Ủy ban ban Mặt trận
và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận) và các đoàn thể chính trị - xã hội (là thành viên của Mặt trận - gọi tắt là các đoàn thể) là các thành tổ của hệ thống chính trị nước ta hiện nay Theo Hiến pháp, pháp luật cũng như cương lĩnh, điều lệ của Mặt trận và các đoàn thể thì Mặt trận, các đoàn thể có vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, tham gia xây dựng chính quyền Quan hệ giữa HĐND với Mặt trận và các đoàn thể là mối quan hệ phối hợp để cùng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo luật định
Chính quyền địa phương (trong đó có HĐND) tạo điều kiện để Mặt trận, các đoàn thể hoạt động (về cơ chế, chính sách, nguồn lực ) Đại diện Mặt trận được mời tham dự các phiên họp Thường trực HĐND hằng tháng và các kỳ họp HĐND; báo cáo kết quả công tác tham gia xây dựng chính quyền tại các
kỳ họp thường lệ (6 tháng, cuối năm) của HĐND Đại diện Thường trực HĐND được mời tham gia các phiên họp của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và báo cáo kết quả công tác 6 tháng, cả năm tại phiên họp Cử đại diện tham gia các đoàn giám sát do Mặt trận tổ chức
Mặt trận tham gia phối hợp với HĐND thông qua các hoạt động sau đây:
ứng cử vào HĐND; tham gia các tổ chức phụ trách việc bầu cử và các hoạt động có liên quan trong quá trình bầu cử
nhận, tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến HĐND để xem xét có ý
Trang 27kiến với các cơ quan liên quan giải quyết
UBND và các cơ quan liên quan Tham gia hoạt động giám sát của HĐND; đồng thời giám sát hoạt động của đại biểu dân cử
1.2.2 Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
1.2.2.1 Hoạt động tại kỳ họp Hội đồng nhân dân
Hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của HĐND là hoạt động
kỳ họp, thể hiện vị trí, vai trò, tính chất và chức năng của HĐND Tại kỳ họp HĐND cấp xã, các đại biểu đã tiến hành thảo luận, thông qua các nghị quyết về các vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND cấp mình Đồng thời tại
kỳ họp HĐND cấp xã, đại biểu HĐND thảo luận và thống nhất những vấn đề quan trọng ở địa phương: Tình hình thực hiện nhiệm vụ và phương hướng, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; việc thực hiện nghị quyết cấp mình, xem xét báo cáo theo luật định
Cũng tại kỳ họp HĐND cấp xã còn thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn như: Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm người giữ chức vụ do HĐND bầu, giám sát, chất vấn tại kỳ họp
1.2.2.2 Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân
Thường trực HĐND cấp xã hoạt động bằng các hình thức cụ thể do pháp luật quy định như: Chuẩn bị nội dung, chương trình, triệu tập các kỳ họp của HĐND, phối hợp với UBND trọng việc chuẩn bị kỳ họp của HĐND; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban HĐND, giữ mối liên hệ với đại biểu HĐND; tổ chức các phiên họp thường kỳ thường trực HĐND mỗi tháng một lần; tổ chức
đề đại biểu tiếp công dân theo quy định của pháp luật, đôn đốc kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri để báo cáo tại kỳ họp
Trang 281.2.2.3 Hoạt động của các Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
Các Ban hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Các Ban có nhiệm
vụ thẩm tra các báo cáo, dự thảo nghị quyết trước khi trình kỳ họp HĐND; giám sát , kiến nghị về những vần đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách Chịu trách nhiệm và báo cáo trước HĐND và Thường trực HĐND
Về cụ thể, các ban HĐND cấp xã hoạt động theo quy định của pháp luật: Tham gia nội dung chuẩn bị kỳ họp của HĐND liên quan đến lĩnh vực phụ trách; thảm tra các dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo liên quan đến lĩnh vự phụ trách do HĐND và Thường trực HĐND phân công Giúp TTHĐND tham gia giám sát hoạt động của UBND, các ban, ngành chuyên môn của UBND cấp xã; tổ chức khảo sát tình hình thực hiện trên các lính vực phụ trách do TTHĐND phân công
1.2.2.4 Hoạt động của Đại biểu Hội đồng nhân dân
Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân
xã và của nhân dân nơi đại biểu ứng cử; liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, ; vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của nhà nước, nghị quyết của HĐND cấp mình; có quyền chất vấn Chủ tịch UBND xã và các thành viên của UBND cấp xã tại các kỳ họp
1.3 Các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
1.3.1 Nhận thức về vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp xã
Nhận thức có vai trò quan trọng trong định hướng cho hành động, nhận thức đúng thì mới có thể dẫn đến hành động đúng được Do vậy, khi xem xét các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã trước hết phải nhắc đến nhận thức Từ trước đến nay theo suy nghĩ của nhiều người vai trò, vị trí của các tổ chức, đơn vị thường được xếp hạng theo thứ tự: trung ương là quan trọng
Trang 29nhất, tiếp đến là cấp tỉnh, rồi đến cấp huyện, cuối cùng mới là cấp xã
Có cách hiểu như vậy bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất, vì trung ương có tầm ảnh hướng lớn, mỗi chủ trương, quyết
định của tổ chức, đơn vị đều có tác động trên phạm vi cả nước Tỉnh, huyện có phạm vi hẹp hơn; còn cấp xã phạm vi tác động chỉ khu trú trong một đơn vị hành chỉnh nhỏ nhất
Thứ hai, trong một thời gian dài HĐND các cấp, nhất là cấp xã hoạt động
hiệu quả chưa cao
Từ thực tế đó dẫn đến nhận thức về vai trò, vị trí của HĐND cấp xã chưa đúng và tác động không nhỏ đến tổ chức, hoạt động của HĐND
Cần hiểu đúng về HĐND các cấp là một trong hai thành tố của chính quyền địa phương, nhưng HĐND không hoạt động theo hệ thống ngành dọc Mỗi cấp đều có vai trò độc lập tương đối với những nhiệm vụ và quyền hạn được pháp luật quy định Dẫu rằng, HĐND cấp xã chỉ quyết định những vấn đề trong phạm vi hẹp, nhưng đó là cấp cơ sở, liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của người dân Và, lòng tin của người dân vào Đảng, Nhà nước cũng xuất phát từ cơ sở, mà các quyết sách đúng đắn của HĐND góp phần quan trọng xây dựng, củng cố niềm tin ấy Do vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động HĐND cấp xã, trước hết phải nhận thức đúng và đủ về vai trò,
vị trí của nó trong hệ thống cơ quan dân cử
1.3.2 Các quy định của pháp luật
Trong thể chế của một nhà nước pháp quyền, kể cả nhà nước pháp quyền XHCN, pháp luật là tối thượng Pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội của mọi cá nhân, tổ chức Mọi hoạt động của tổ chức, cá nhân phải nằm trong khuôn khổ luật pháp
Từ đó cho thấy, để hoạt động của HĐND ngày càng hiệu quả phải hoàn thiện cơ sở pháp luật về tổ chức, hoạt động của HĐND cấp xã Trên cơ sở Hiến
Trang 30định, vai trò, vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã phải được cụ thể hóa trong các luật chuyên ngành và các văn bản quy phạm pháp luật khác Nếu pháp luật không quy định đầy đủ và hợp lý thì việc ghi nhận vị trí, vai trò, chức năng của HĐND cấp xã trong thực tiễn có thể tác dụng thấp hoặc hình thức và đương nhiên hiệu lực, hiệu quả của hoạt động sẽ không cao
1.3.3 Vấn đề phân cấp, phân quyền
Như đã trình bày ở trên, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã phụ thuộc vào các quy định pháp luật liên quan trong đó có vấn đề phân cấp, phân quyền Theo nguyên tắc, hệ thống pháp luật phải thống nhất từ trung ương đến địa phương, cấp dưới không được quyết định trái quy định của cấp trên
Tuy nhiên, từng địa phương khác nhau có những điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa, phong tục - tập quán khác nhau cần phải được tôn trọng, giữ gìn và chính quyền địa phương phải được quyết định các vấn đề mang tính đặc thù của mình Ở nhiều nước có hệ thống pháp luật khá hoàn thiện và mang tính thực thi cao, thì hội đồng địa phương rất được tôn trọng Luật pháp cho phép địa phương có những quyền hạn cụ thể và được thực thi nghiêm túc Cho nên HĐND cấp xã phải được trao quyền quyết định đầy đủ hơn, phù hợp hơn mới có thể hoàn thành trọng trách là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của người dân
1.3.4 Công tác tổ chức, cán bộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi
vai trò khi có đội ngũ cán bộ xứng tầm cả về phẩm chất đạo đức lẫn năng lực chuyên môn
Trang 31
Đối với HĐND thì tác động của công tác tổ chức, cán bộ thể hiện qua đội ngũ đại biểu HĐND Bởi, chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng, hiệu quả hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban HĐND và của mỗi đại biểu HĐND Trong đó vai trò cá nhân của đại biểu
là hết sức quan trọng Đại biểu tự mình nhận thức, thảo luận và cùng với tập thể HĐND tỉnh quyết định các vấn đề theo thẩm quyền, không ai có thể làm thay nhiệm vụ đại biểu Nếu mỗi đại biểu hoàn thành được trọng trách của mình, xứng đáng với niềm tin, sự gửi gắm của cử tri và nhân dân sẽ là yếu tố đảm bảo cho HĐND hoạt động hiệu quả
1.3.5 Các điều kiện bảo đảm
Yếu tố cuối cùng tác động đến hoạt động của HĐND là các điều kiện đảm bảo Cụ thể là nguồn lực kinh phí, cơ sở vật chất, trang bị và đội ngũ giúp việc Một trong những nguyên nhân dẫn đến hoạt động của HĐND cấp xã thời gian qua hiệu quả chưa cao là do thiếu các điều kiện đảm bảo Kinh phí hoạt động của hầu hết HĐND cấp xã là từ cấp trên phân bổ, rất ít xã tự chủ được kinh phí
Cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng rất hạn hẹp, thậm chí nhiều nơi không thể bố trí phòng làm việc riêng cho Phó Chủ tịch và các Ban của HĐND HĐND cấp
xã cũng không có cán bộ giúp việc riêng Cho nên ngoài nhận thức, các quy định của pháp luật, công tác tổ chức, cán bộ thì cũng cần quan tâm đúng mức đến các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của HĐND cấp xã
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ HUYỆN NÔNG SƠN
TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nông Sơn
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện Nông Sơn
Nông Sơn là huyện miền núi, được chia tách từ huyện Quế Sơn theo Nghị định số 42/2008/NĐ-CP ngày 08/4/2008 của Chính phủ Có diện tích tự nhiên
với huyện Hiệp Đức và Phước Sơn, phía Đông giáp với huyện Quế Sơn, Phía tây giáp với huyện Nam Giang Toàn huyện có 07 xã gồm 39 thôn, dân số là
tâm hành chính của huyện đặt tại thôn Trung Hạ, xã Quế Trung
Độ ẩm trung bình trong năm 82% Tổng lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000–2.200mm
Nông Sơn xưa là căn cứ cách mạng với những địa danh lịch sử nổi tiếng như căn cứ Tân Tỉnh – Trung Lộc của cụ Hường Hiệu thời kỳ 1885 – 1887, khu chiến khu Hoàng Văn Thụ thời kỳ 1946 – 1954…ghi dấu một thời oanh liệt của bao thế hệ cách mạng anh hùng đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần tô thắm thêm những trang sử vẻ vang của quê hương, dân tộc Đây cũng là nơi hội tụ nhiều phong tục, tập quán, văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh và
lễ hội hết sức phong phú, như lễ Hội Bà Thu Bồn, lễ Hội đua ghe Con người nơi đây chịu thương, chịu khó và cũng rất hiếu học với nhiều nhà trí thức nổi tiếng như “Tứ Kiệt” Nguyễn Đình Hiến, bác sỹ Bùi Kiến Tín, giáo sư Hoàng Châu Ký, nhà thơ Tường Linh…
Trang 33Đến với Nông Sơn, mảnh đất nghĩa tình, giàu truyền thống cách mạng, ngoài vẻ đẹp kỳ thú do thiên nhiên ban tặng như Hòn Kẽm – Đá Dừng, suối Nước Mát, Suối Nước Nóng…ta còn được đón nhận vẻ đẹp chân chất, mộc mạc, thân tình của con người nơi đây, rất dễ mến, nhiệt tình và hiếu khách
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Nông Sơn
Là huyện miền núi mới được thành lập, có điểm xuất phát thấp, địa bàn huyện bị chia cắt vào mùa mưa lũ, lại thường xuyên hứng chịu thiên tai nên Nông Sơn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Đời sống nhân dân phần lớn còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, mạng lưới y tế chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, hệ thống trường lớp, trang thiết bị dạy học còn thiếu thốn…Tuy nhiên trong những năm qua, với sự quyết tâm cao của toàn huyện và được sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của Trung ương, của Tỉnh, huyện Nông Sơn đã huy động mọi nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội huyện Nông Sơn
- Công nghiệp – Xây dựng
- Nông lâm – Thủy sản
27,14 48,03
29,53 22,09 48,38
28,8 21,36 49,84
34,27 22,8 42,93
33,58 25,94 40,48
Trang 34Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội huyện Nông Sơn các năm 2010,
2011, 2012, 2013, 2014 - Chi Cục Thống kê huyện Nông Sơn
Qua bảng 2.1 có thể thấy tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của huyện Nông Sơn tăng từ 10,21% (năm 2013) lên 12,27% (năm 2017); chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng của công nghiệp và dịch vụ, tỉ lệ hộ nghèo giảm; GDP bình quân đầu người tăng từ 10,72 triệu đồng (năm 2013) lên 13,48 triệu đồng (năm 2017); thu ngân sách nhà nước tăng dần qua các năm, từ 26,042 tỉ đồng (năm 2013) lên 88,526 tỉ đồng (năm 2017) Những kết quả đạt được nêu trên có sự đóng góp một phần của Hội đồng nhân dân các cấp, trong
đó có cấp xã huyện Nông Sơn nói riêng
Tuy nhiên cũng qua bảng 2.1 cho thấy Nông Sơn cơ bản vẫn là huyện nghèo, cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp so với thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp chiếm tỉ trọng lớn; tỉ lệ hộ nghèo còn khá cao; thu nhập bình quân đầu người của huyện còn thấp so với các địa phương khác trong cả nước; việc thu ngân sách hằng năm không đủ bù chi, nguồn ngân sách của huyện chủ yếu phụ thuộc vào các khoản đầu tư của Trung ương, của Tỉnh;…Những vấn
đề nêu trên đòi hỏi huyện Nông Sơn cần phải phát huy hơn nữa nội lực của mình, trong đó cần phải nhận thức đúng đắn về việc đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức hoạt động của HĐND cấp xã để góp phần vào sự phát triển bền vững của huyện Nông Sơn trong tương lai
Trang 352.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã huyện Nông Sơn
2.2.1 Thực trạng tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyện Nông Sơn
2.2.1.1 Cơ cấu, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, huyện Nông Sơn
Trên cơ sở quy định của pháp luật, HĐND cấp xã huyện Nông Sơn nhiệm
kỳ 2016 – 2021 có cơ cấu, số lượng như sau:
Tổng số Đại biểu HĐND 7 xã là 181 đại biểu
Có 143 đại biểu là nam (chiếm 79%);
Có 38 đại biểu là nữ (chiếm 21 %);
Có 01 đại biểu là người theo tôn giáo
Trong số 181 đại biểu thì 125 đại biểu có trình độ Đại học (chiếm tỉ lệ 69,06%), còn lại là dưới đại học Đa số đại biểu có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên, trong đó có 7 đồng chí có trình độ cao cấp chính trị (tỉ lệ
3,85%) [13]
Từ kết quả khảo sát nêu trên ta thấy rằng số lượng, chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2016 – 2021 có tăng lên so với trước đây, điều này đã tạo thuận lợi cho các đại biểu HĐND hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần phát triển kính tế - xã hội tại địa phương
2.2.1.2 Tổ chức của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã
Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương thì cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã gồm có Thường trực HĐND và các Ban HĐND Không có Văn phòng HĐND như ở cấp tỉnh và cấp huyện Thường trực HĐND cấp xã gồm có Chủ tịch và Phó Chủ tịch Trong đó đồng chí Chủ tịch hoạt động kiêm nhiệm, đồng chí Phó Chủ tịch hoạt động chuyên trách
Các thành viên trong Thường trực HĐND cấp xã là cán bộ chủ chốt của
xã Hiện nay, Chủ tịch HĐND xã do đồng chí Bí thư Đảng ủy hoặc Phó Bí thư
Trang 36Đảng ủy xã kiêm nhiệm Đồng chí Phó Chủ tịch HĐND là ủy viên Ban Thường vụ hoặc Đảng ủy viên
2.2.1.3 Tổ chức của các Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
HĐND cấp xã được thành lập 02 Ban: Ban Kinh tế - Xã hội, Ban Pháp chế Mỗi Ban có Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên (số lượng Ủy viên của mỗi ban dao động từ 03-05 người) Tổng số thành viên của các Ban HĐND xã toàn huyện có 42 người
2.2.1.4 Tổ chức của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Nhiệm kỳ 2011 – 2016, đại biểu HĐND xã được chia thành các tổ theo đơn vị ứng cử Nhưng theo theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì nhiệm kỳ 2016-2021 không thành lập Tổ đại biểu HĐND tại các xã
2.2.2 Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
2.2.2.1 Hoạt động tại kỳ họp
Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu của HĐND, có 03 hình thức tổ chức kỳ họp là: kỳ họp thường lệ, kỳ họp bất thường và kỳ họp chuyên đề Từ đầu nhiệm kỳ 2016-2021 đến nay, HĐND tại 7 xã, huyện Nông Sơn đã tiến hành tổ chức được 50 kỳ họp trong đó có 12 kỳ họp bất thường, chuyên đề Tại các kỳ họp trên, HĐND cấp xã đã quyết định các vấn đề quan trọng của địa
phương thông qua việc ban hành nghị quyết và đã ban hành 65 nghị quyết.[13]
Theo quy định, HĐND tổ chức 02 kỳ họp thường lệ hằng năm vào thời điểm tháng 7 và tháng 12 nhằm xem xét báo cáo công tác 6 tháng đầu năm, cả năm của Thường trực HĐND, báo cáo về kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị cử tri, báo cáo công tác và báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND Các báo cáo của UBND bao gồm: báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội, thực hiện ngân sách địa phương, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác phòng, chống tham
Trang 37nhũng, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của cử tri và các báo cáo khác theo đề nghị của Thường trực HĐND Xem xét, quyết định các đề án do UBND xã trình (nếu có)
Tại các kỳ họp thường lệ, HĐND thực hiện đầy đủ 3 chức năng của mình:
- Thực hiện chức năng quyết định
HĐND thực hiện chức năng quyết định thông qua việc ban hành các nghị quyết Nhìn chung, các nghị quyết HĐND xã thuộc huyện Nông Sơn ban hành trong thời gian qua đã cụ thể hóa được Nghị quyết của BCH Đảng bộ huyện Nông Sơn, của cấp ủy địa phương nhiệm kỳ 2016 – 2021 và các nghị quyết chuyên đề của Huyện ủy về phát triển kinh tế - xã hội, về công tác giảm nghèo,
về việc thực hiện nông thôn mới…Các chủ trương chính sách, pháp luật của nhà nước cũng được HĐND cấp xã thể chế hóa và đã đi vào đời sống nhân dân, được nhân dân đồng tình, ủng hộ Nhiều Nghị quyết của HĐND cấp xã được ban hành đảm bảo đúng quy định, đúng luật và có tính khả thi cao như: Kế hoạch sử dụng đất; thu – chi ngân sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm…các nghị quyết này đã tác động thúc đẩy kinh tế - xã hội huyện nhà phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, giúp nhân dân thoát nghèo bền vững
- Thực hiện chức năng giám sát
Giám sát văn bản trình kỳ họp: Tại các kỳ họp thường lệ, HĐND cấp xã
đã tập trung xem xét các báo cáo về công tác 06 tháng, hằng năm của Thường trực HĐND, Ban của HĐND; báo cáo của UBND về kinh tế - xã hội, tình hình thu chi ngân sách; công tác phòng, chống tham nhũng, về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri HĐND cũng xem xét báo cáo thẩm tra của Ban HĐND xã về các nội dung trình kỳ họp
Đối với các bán cáo trên, đại biểu đã tham gia ý kiến trực tiếp tại kỳ họp
Trang 38và được thư ký tổng hợp, các cơ quan, ban ngành liên quan có thẩm quyền trực tiếp giải trình tại kỳ họp
Giám sát thông qua chất vấn và trả lời chất vấn: Phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp được HĐND cấp xã chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo Trước kỳ họp, sau khi tiếp nhận các phiếu chất vấn của đại biểu HĐND và tổng hợp những vấn đề bức xúc, nổi cộm qua các đại biểu tiếp xúc cử tri phản ảnh, Thường trực HĐND đã mời đại biểu HĐND và các ban, ngành có liên quan để giới thiệu, chuẩn bị nội dung vấn đề chất vấn, trả lời chất vấn
Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND cấp xã đã tổ chức hơn 15 phiên chất vấn (mỗi phiên có từ 05 - 07 ý kiến chất vấn) với những nội dung quan trọng, bức xúc, được nhiều cử tri, đại biểu, nhân dân quan tâm Các nội dung chất vấn nhiều nhất là trên cáclĩnh vực: quản lý đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, giải pháp phát triển kinh tế rừng, các chính sách an sinh, xã hội, thực trạng vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên… Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại một số kỳ họp HĐND xã đã diễn ra nghiêm túc, thẳng thắn và dân chủ, thể hiện trách nhiệm của đại biểu chất vấn và các cơ quan, cá nhân trả lời chất vấn Chủ tọa kỳ họp điều hành phiên chất vấn theo hướng linh hoạt, trọng tâm, ngắn gọn, đi thẳn vào vấn đề, gợi mở để đại biểu trả lời tập trung vào nội dung của vấn đề, những nội dung nào chưa triển khai thì tiếp thu với tinh thần cầu thị Phiên chất vấn được truyền thanh trực tiếp cho cử tri nghe và được đông đảo cử tri đánh gia cao Sau kỳ họp, Thường trực HĐND ban hành thông báo về trả lời chất vấn, giao cho các Ban, đại biểu tiếp tục theo dõi “lời hứa” sau chất vấn, giao UBND cấp
xã có biện pháp giải quyết kịp thời những kiến nghị, bức xúc của cử tri
Giám sát thông qua việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu: Theo quy định tại Nghị quyết số: 85/2014/QH13, ngày 28 tháng
11 năm 2014 của Quốc hội thì Lấy phiếu tín nhiệm là việc HĐND thực hiện
Trang 39quyền giám sát, đánh giá mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
HĐND bầu để làm cơ sở cho việc xem xét đánh giá cán bộ; Bỏ phiếu tín nhiệm
là việc HĐND thể hiện sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu để làm cơ sở cho việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm người không được HĐND tín nhiệm Người được lấy phiếu
tín nhiệm có từ hai phần ba tổng số đại đại biểu HĐND trở lên đánh giá Tín nhiệm thấp thì Thường trực HĐND trình HĐND bỏ phiếu tín nhiệm HĐND tổ
chức lấy phiếu tín nhiệm một lần trong mỗi nhiệm kỳ vào kỳ họp thường lệ cuối năm thứ ba của nhiệm kỳ
Căn cứ vào quy định nêu trên, HĐND các xã thuộc huyện Nông Sơn đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND xã bầu tại kỳ họp thường lệ tháng 12/2018 Việc lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành nghiêm túc, đúng trình tự thủ tục quy định, các đại biểu HĐND đã nghiên cứu và thể hiện trách nhiệm đánh giá của mình đối với các chức danh được HĐND xã bầu
đối với 52 người Kết quả có 44/52 người có số phiếu đánh giá Tín nhiệm cao
trên 50% (chiếm tỉ lệ 84,61%), 8/52 người có số phiếu đánh giá Tín nhiệm trên
50% ( chiếm tỉ lệ 15,39%) Không có người nào bị đánh gía Tín nhiệm thấp, do
vậy HĐND các xã không tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm [13]
- Thực hiện chức năng đại diện
Khi HĐND, đại biểu HĐND thay mặt cử tri thực hiện các hoạt động theo quy định của pháp luật như: ban hành nghị quyết, giám sát, chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm cũng chính là việc thực hiện chức năng đại diện của HĐND
HĐND tổ chức kỳ họp bất thường để xem xét công tác nhân sự; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh của HĐND, UBND theo quy định của pháp luật Trong thời gian qua, HĐND các xã đã tổ chức 06 kỳ họp bất thường để bầu, miễn nhiệm 05 chức danh thuộc HĐND xã và 07 chức danh thuộc UBND
Trang 40xã Chưa có trường hợp nào HĐND bãi nhiệm
HĐND xã tổ chức kỳ họp chuyên đề để xem xét, quyết định thông qua các
đề án, dự án do UBND xã trình Nội dung các đề án bao gồm các cơ chế, chính sách, nguồn lực đầu tư, giải pháp thực hiện trên địa bàn xã nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - trật tự, an sinh xã hội
Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND các xã đã tổ chức 9 kỳ họp chuyên đề, ban hành 15 nghị quyết thông qua các cơ chế, chính sách mang tính đặc thù của địa phương Nhiều nghị quyết đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, chuẩn bị chu đáo, phù hợp với tình hình thực tế địa phương và đáp ứng được nguyện vọng của người dân nên khi triển khai thực hiện đã tạo được sự đồng thuận cao
Nhìn chung, việc tổ chức kỳ họp HĐND cấp xã trong thời gian qua đã có nhiều đổi mới trên tinh thần khoa học, quy trình tổ chức được cải tiến từng bước góp phần nâng cao chất lượng Chủ tọa kỳ họp điều hành linh hoạt trên
cơ sở rút ngắn thời gian đọc báo cáo để dành thời gian cho thảo luận, chất vấn
và trả lời chất vấn những vấn làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau Nhiều kỳ họp được thường trực HĐND điều hành linh hoạt, sôi động, chủ tọa luôn phát huy quyền dân chủ của đại biểu, công khai, thắn thắn trong việc xem xét, thảo luận và quyết định; các vấn đề “nóng” được cử tri quan tâm chủ tọa luôn gợi mở để đại biểu thảo luận, giải trình
2.2.2.2 Hoạt động giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân
Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, HĐND mỗi năm 02 kỳ thường lệ và các kỳ họp bất thường, chuyên đề, nên Thường trực HĐND có nhiệm vụ giải quyết các công việc giữa hai kỳ họp Cụ thể:
Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND cấp xã có nhiều cố gắng trong việc chuẩn bị kỳ họp Trước mỗi kỳ họp, Thường trực HĐND cấp xã đã chủ động tổ