DANH MỤC HÌNH ẢNHSố hiệu hình 1.1 Viên pin xuất hiện sớm nhất của lịch sử loài 3 1.4 Một số loại pin không có khả năng sạc lại 7 1.7 Tác hại của pin đối với sức khỏe con người 12 3.1 Biể
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Ý nghĩa của đề tài 2
4 Bố cục đề tài 2
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Giới thiệu về pin 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Lịch sử hình thành 3
1.2 Cấu tạo của pin 5
1.3 Phân loại pin 6
1.3.1 Pin không có khả năng sạc lại 6
1.3.2 Loại pin có thể sạc lại 7
1.4 Hiện trạng phát thải, thu gom và quản lý pin 8
1.4.1 Hiện trạng phát thải 8
1.4.1.1 Ở Việt Nam 8
1.4.1.2 Trên thế giới 9
1.4.2 Thu gom và quản lý pin 9
1.4.2.1 Trên thế giới 9
1.4.2.2 Tại Việt Nam 10
1.5 Tác hại của pin 11
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2 Nội dung nghiên cứu 13
2.3 Phương pháp nghiên cứu 13
2.3.1 Phương pháp khảo sát 13
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 14
2.3.3 Phương pháp điều tra bảng hỏi 14
Trang 22.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 14
2.4 Khung nghiên cứu 14
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 16
3.1 Tổng quan về mẫu khảo sát 16
3.2 Kết quả khảo sát 17
3.2.1 Kết quả khảo sát hiện trạng sử dụng pin của người dân Đà Nẵng 17
3.2.2 Hiện trạng thải bỏ pin sau khi đã qua sử dụng 20
3.2.3 Nhận thức của người dân về tác hại của pin trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 22
3.3 Đề xuất giải pháp 26
3.3.1 Vai trò quản lý của Công ty Cổ phần Môi trường đô thị Đà Nẵng 26
3.3.2 Vai trò của người dân và địa phương 27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29
Tài Liệu Tham Khảo 30
PHỤ LỤC 1 32
Trang 3DANH MỤC HÌNH ẢNH
Số hiệu
hình
1.1 Viên pin xuất hiện sớm nhất của lịch sử loài 3
1.4 Một số loại pin không có khả năng sạc lại 7
1.7 Tác hại của pin đối với sức khỏe con người 12 3.1 Biểu đồ thể hiện phần trăm đối tượng nghề nghiệp khảo sát 16
3.2 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ phần trăm các loại pin của thành phố
Đà Nẵng
19
3.3 Biểu đồ hiện trang sử dụng các thiết bị điện tử chứa pin của
vùng nội thành và Hòa Vang
20
3.5 Mức hiểu biết của người dân trên địa bàn thành phố Đà
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
1.1 Tóm tắt các cột mốc quan trọng có liên quan mật thiết đến quá trình
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đà Nẵng là đô thị lớn của khu vực miền Trung, có 6 quận và 02 huyện Diện tích
tự nhiên 1.256,2km2, trong đó diện tích đất liền là 951,2km2 Dân số hiện nay của thànhphố Đà Nẵng là 1.064.070 người, tỷ lệ thành thị chiếm 87,6%; nông thôn chiếm 12,4%[2] Thời gian qua, thành phố Đà Nẵng đã có những bước phát triển vượt bậc về kinh tế -
xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị đã tạo cho thành phố có sự thay đổi lớn
về diện mạo đô thị và nền kinh tế phát triển Ngày 08/10/2010, Thủ tướng Chính phủ đãban hành Quyết định số 1866/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xãhội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020; trong đó cơ cấu kinh tế của thành phố sẽ chuyểnđổi theo hướng dịch vụ - công nghiệp, xây dựng - nông nghiệp; dự kiến cơ cấu kinh tếcủa thành phố đến năm 2020 là: Dịch vụ: 55,6%, công nghiệp và xây dựng: 42,8%; nôngnghiệp: 1,6% và tốc độ tăng trưởng kinh tế 12-13%/năm Một trong những mục tiêu vềbảo vệ môi trường, trong Quyết định số 1866/QĐ-TTg là trong giai đoạn 2011-2015 phảiđẩy mạnh xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn Phân loại chấtthải tại nguồn và phấn đấu 90% chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý phù hợp Đề
án Xây dựng Đà Nẵng - thành phố Môi trường được UBND thành phố phê duyệt tạiQuyết định số 41/2008/QĐ-UBND ngày 21/8/2008 cũng có cùng mục tiêu đối với côngtác quản lý chất thải rắn [1]
Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng năm 2018 tăng trưởng
ổn định trên các lĩnh vực như: sản xuất nông nghiệp, giải quyết công ăn việc làm chongười dân, giảm nghèo,… Các hoạt động vui chơi giải trí, thể thao, văn hóa, diễn ra sôinổi, đề án “ Xây dựng Đà Nẵng – thành phố môi trường” và các mục tiêu an ninh xã hộiđược duy trì thực hiện, đời sống của nhân dân được quan tâm và nâng cao hơn [9]
Song song với tốc độ phát triển vượt bậc của Đà Nẵng thì ngành khoa học kỹ thuậtcũng phát triển đã kéo theo sự ra đời hàng loạt các thiết bị điện tử Bên cạnh đó đời sốngvật chất của người dân ngày càng nâng cao nên nhu cầu sử dụng các thiết bị điện tử ngàymột tăng, trong khi lại có quá ít cơ sở tái chế hoặc xử lý khiến cho rác thải này ngày mộtgia tăng nghiêm trọng Đi kèm với rác thải điện tử là pin chứa các kim loại nặng độc hạiphát sinh ra môi trường rất lớn gây hại với con người và môi trường sống xung quanh
Tuy nhiên hiện nay Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng vẫn chưa
có giải pháp về quản lý chất thải nguy hại từ pin, đây là một vấn đề nghiêm trọng đối vớimôi trường nhưng vẫn chưa có một nghiên cứu hay giải pháp nào để quản lý loại chấtthải nguy hại này
Xuất phát từ thực tiễn này nên tôi đã lựa chọn đề tài “Khảo sát hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp quản lý pin thải tại thành phố Đà Nẵng” để làm khóa luận
tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát mức độ xả thải pin trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Đánh giá nhận thức của người dân về vấn đề xả thải pin
- Đưa ra một số biện pháp quản lý pin thải
Trang 63 Ý nghĩa của đề tài
- Đánh giá được mức xả thải của thải pin của người dân để đề ra giải pháp quản lýtốt lượng pin thải ra môi trường
- Đánh giá được mức quan tâm và hiểu biết của người dân về tác hại của pin, từ đóđưa ra giải pháp giúp người dân nâng cao nhận thức về tác hại của pin
4 Bố cục đề tài
- Mở đầu
- Chương I Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Chương II Đối tượng, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
- Chương III Kết quả và bàn luận
- Kết luận và kiến nghị
Trang 7CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu về pin
1.1.1 Khái niệm
Pin là một thiết bị điện hóa có khả năng chuyển đổi năng lượng hóa học thànhnăng lượng điện Cơ bản pin bao gồm một cực dương, một cực âm, một chất điện phân.Các thành phần kim loại nguy hiểm tiềm tàng trong pin bao gồm thủy ngân, chì, đồng,kẽm, cadmium, mangan, niken và lithium…Có khả năng gây hại cho môi trường và conngười [18]
1.1.2 Lịch sử hình thành
Một trong những phát minh vĩ đại của loài người là điện, những dòng điện đầutiên đã được tìm thấy Vào năm 1963, trong quá trình xây dựng tuyến đường sắt gầnBaghdad, những công nhân đã phát hiện ra những “ viên pin của người Parthian” có niênđại lên đến 2000 năm nằm trong một hầm mộ cổ Đây là những viên pin xuất hiện sớmnhất trong lịch sử loài người do người Parthian, một dân tộc miền Bắc Ba Tư chế tạo
(Nguồn[4])
Hình 1 1 Viên pin xuất hiện sớm nhất của lịch sử loài
Vào năm 1600 được xem là sự kiện lớn vì các nghiên cứu đầu tiên về điện hóa họcđược diễn ra, người đầu tiên thực hiện là William Gilbert (Anh) Đến năm 1786, Giáo sư
Cơ thể học Luigi Galvani đã dùng thanh kim loại đâm vào một con nhái đã lột da đặt trênmặt bàn bằng kim loại, và chân con nhái có hiện tượng co giật Nhiều thí nghiệm đã đượcông thử nghiệm và công bố phát minh “điện sinh vật” của mình vào năm 1791
Trang 8Sau đó vào năm 1800, được xem là năm diễn ra sự kiện khiến thế giới sửng sốt, đó
là pin nhân loại đầu tiên đã ra đời, mang tên “pin Volta” Những năm trước đó, nhà khoahọc Alessandro Volta (Italy) đã thí nghiệm và nghiên cứu chuyên sâu về điện và sau mộtloạt các thử nghiệm thì ông đã chế tạo ra loại pin đầu tiên mang chính tên của ông Sở dĩdanh từ pin hay chính xác hơn là pile được đặt cho thiết bị này, vì đây là 1 chồng cácmiếng tròn bằng đồng và kẽm có hình dáng như một chiết cọc
(Nguồn [4])
Hình 1 2 Mô hình pin đầu tiên của Volta
Nhưng cho đến thời điểm bấy giờ thì toàn bộ đều là pin sơ cấp, có nghĩa là pin chỉdùng được 1 lần và không thể sạc để tái sử dụng được Đến năm 1859 thì nhà vật lí ngườiPháp Gaston Planté đã phát minh ra pin sạc đầu tiên
Các năm trở về sau đó, các nhà khoa học vẫn không ngừng nghiên cứu về các loạipin bằng những chất liệu khác như pin nickel – cadimi (NiCd), pin Nicken – Sắt (NiMH),
… và những loại pin này chính là bàn đạp tạo tiền đề cho sự ra đời của pin Lithium – ion(Li-ion) Pin Li-ion đầu tiên được đề xuất vào những năm 1970 bởi nhà hóa học người
Mỹ Michael Stanley Whittingham (1941) đến từ Đại học Binghamton sử dụng titaniumsunfide và kim loại liti thuần làm các điện cực Dù vậy, do Liti là một kim loại hoạt độngmạnh nên khi tiếp xúc với không khí dễ dàng xảy ra các phản ứng hóa học gây nguyhiểm Chính vì vậy, mô hình pin dùng liti thuần làm cực dương đã không được chấpnhận
Tiếp theo vào năm 1979 tại Đại học Oxford, John Goodenough và KoichiMizushima đã chế tạo một loại pin sạc tạo ra dòng khoảng 4V sử dụng Liti Cobalt Oxit(LiCoO2) làm cực dương và liti thuần làm cực âm Dựa vào các tính năng của Liti manglại thì vào năm 1985, Akira Yoshino lắp ráp mô hình pin đầu tiên dựa trên tất cả các yếu
tố thành công từ trước, sử dụng vật liệu cacbonate giúp giữ các ion liti trong 1 điện cực
Trang 9giúp LiCoO2 bền vững trong không khí hơn Chính vì lý do này, thế hệ pin Li-ion đãđược hoàn thiện và an toàn hơn rất nhiều so với trước đây Đây là thế hệ pin đáng chú ýnhất tính đến thời điểm hiện tại do có mức lưu trữ năng lượng cụ thể, thiết kế đơn giản,hiệu suất cao, cho dòng ổn định, chi phí bảo trì thấp và khá thân thiện với môi trường.
Cụ thể lịch sử hình thành của pin được thể hiện rỏ qua các mốc thời gian sau:
Bảng 1 1 Tóm tắt các cột mốc quan trọng có liên quan mật thiết đến quá trình
phát triển của pin
Nă
m
1600 William Gibert (Anh) Các nghiên cứu đầu tiên về điện hóa học
1791 Luigi Galvani (Italy) Phát hiện ra “điện sinh vật”
1800 Alessandro Volta (Italy) Phát minh pin đầu tiên – Pin Volta
1802 William Cruickshank (Anh) Thiết kế pin sản xuất hàng loạt đầu tiên
1820 André-Marie Ampère (Pháp) Dòng điện từ trường
1833 Michael Faraday (Anh) Phát hiện định luật Faraday
1836 John F Daniell (Anh) Phát minh ra Pin Daniell
1839 William Robert Grove (Anh) Phát minh ra hiện tượng điện phân nước
1859 Gaston Planté (Pháp) Pin đầu tiên dùng acid làm chất điện hóa
1868 Georges Leclanché (Pháp) Phát minh ra pin Cacbon – Zinc
1899 Waldmar Jungner (Thụy Điển) Phát minh pin Nickel-Cadimi
1901 Thomas A Edison (Mỹ) Phát triển pin Nickel-Sắt
1932 Shlecht & Ackermann Cải tiến pin Nickel-Cadimi
1947 Georg Neumann (Đức) Hoàn thiện pin Nickel-Cadimi với các vách ngăn
1949 Lew Urry, Eveready Battery Phát minh ra pin Kiềm
1996 Moli Energy (Canada) Giới thiệu pin Li-ion với cathode bằng mangan
1996 Đại học Texas (Mỹ) Đề xuất pin Li-phosphate (LiFePo4)
2002 Đại học Montreal Cải tiến pin Li-phosphate, áp dụng công nghệ nano
(Nguồn [4])
1.2 Cấu tạo của pin
Pin được cấu tạo bởi hắc ín, than hoạt tính, lõi than carbon, vải lọc cách ly và vỏbảo vệ kim loại bên ngoài
Pin hoạt động dựa trên nguyên lý ăn mòn điện hóa giữa các điện cực Vật lý hiệnđại đã chứng minh hầu hết kim loại được nhúng vào dung dịch điện ly thì nó sẽ bị ănmòn điện hóa tạo ra ion dương và các electron Kim loại bị ăn mòn mạnh sẽ tạo ra cácelectron càng nhiều dẫn đến độ âm điện càng cao tạo thành điện cực âm Các kim loại ít
bị ăn mòn điện hóa sẽ tạo thành cực dương so với kim loại còn lại vì độ âm điện thấp.Chẳng hạn như vàng được biết đến là kim loại không bị ăn mòn điện hóa, nhưng khôngthể sử dụng vàng làm cực dương vì tốn quá nhiều chi phí Nhưng rồi người ta đã tìm ra
Trang 10điện tốt nhưng không bị ăn mòn điện hóa Người ta đặt lõi than làm cực dương vào trongmột túi đựng bột than hoạt tính để tăng khả năng dẫn điện.
(Nguồn [15])
Hình 1 3 Cấu tạo của pin Cacbon
Khi nối hai cực của pin thông qua một tải (bóng đèn, điều khiển,…) Ở mạchngoài thông qua tải thì dòng điện đi từ cực dương sang âm do các electron được tạo ra;còn ở bên trong dòng điện được tạo bởi các ion dương sau đó kết hợp với electron ởngoài đi vào tạo thành nguyên tử Zn tự do
Pin hiện đại được tạo bởi nhiều nguyên liệu khác nhau nhưng chúng đều hoạtđộng theo một nguyên lí: Phản ứng ở cực âm tạo ra các electron điện tử và các phản ứng
ở cực dương sẽ hấp thu những electron đó Kết quả là tạo thành dòng điện Khi một hoặc
cả 2 điện cực bị ăn mòn hết thì pin sẽ ngừng sản xuất dòng điện vì tất cả các phản ứnghóa học không thể xảy ra [15]
1.3 Phân loại pin
Có 2 cách phân loại pin: Là loại pin không có khả năng sạc lại và pin có thể sạc lại
Trang 111.3.1 Pin không có khả năng sạc lại
Loại pin không có khả năng sạc lại chỉ nên sử dụng được một lần gồm các loạisau:
+ Pin Cacbon: Là loại pin được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay và được bán phổbiến tại thị trường Việt Nam Pin Cacbon là hợp chất của Kẽm, Kẽm Oxit và Cacbon, vớigiá thành sản xuất thấp nên được bán với giá rẻ và có thể mua được dễ dàng ở bất cứ cửahàng dù lớn hay nhỏ tại thị trường trong nước Pin thích hợp với các thiết bị tiêu hao íttốn điện như đồ chơi, đồng hồ, remote,… Các loại pin Cacbon thường hay gặp như PinCon Thỏ, Pin Con én,…và một số loại pin khác như Toshiba, Maxell, Sony, Panasonic
…
+ Pin Alkaline: Được cấu tạo từ Magan Oxit (MnO2), chất Kiềm (KOH) và Kẽmnên được gọi là Pin Alkaline Với giá pin rẻnên pin Alkaline vẫn là sự lựa chọn của nhiềungười Pin Alkaline có chất lượng tốt trên thị trường và do các hãng danh tiếng nhưPanasonic, Duracell,… sản xuất Khi sử dụng, điện áp và khả năng chịu tải của pinAlkaline giảm dần, nhờ vậy màngười dùng có thể nhận biết được thời gian hết pin PinAlkaline có điện trở nhỏ, khả năng chịu tải cao, có thể bảo quản trong nhiều năm, suy yếutrung bình 2%/năm Thích hợp với các thiết bị như máy đo huyết áp, máy ảnh, cửa tựđộng,…
+ Pin Oxit bạc (Siver Oxide): Hoạt động được trong môi trường nhiệt độ thấp,điện trở nhỏ Pin silver có độc tính cao không được sử dụng rộng rãi do giá thành rất đắt.Loại pin này có thể thấy trong một số loại đồng hồ, máy trợ thính và các máy ảnh tiêu thụ
ít năng lượng
+ Pin Lithium (Li/Mno2): Pin Lithium là sự lựa chọn tốt khi sử dụng dòng pinkhông sạc và cần độ tin cậy cao Loại pin này có mật độ năng lượng cao, trọng lượngnhẹ, hoạt động tốt trong dãy nhiệt độ rộng (từ 40- 600C) và có khả năng bảo quản tốt [6]
Hình 1 4 Một số loại pin không có khả năng sạc lại
1.3.2 Loại pin có thể sạc lại
Loại pin này có thể sạc lại khi hết điện và có thể dùng được nhiều lần gồm các loạisau:
Trang 12+ Pin Cd ( Niken– Cadium ): Cd có điện trở nhỏ bằng ½ so với các pin
Ni-MH “đời” sau, do đó rất phù hợp khi dùng với đèn flash (chu kỳ nạp nhanh hơn).Tuynhiên pin Ni-Cd rất độc nên cần phải cẩn thận khi sử dụng Nhược điểm của pin Ni-
Cd có thể giảm điện thếđột ngột ở cuối chu kỳ
+ Pin Ni-MH (Nickel Metal Hudride): Pin Ni-MH có khả năng lưu trữ năng lượngtốt và điện trở nhỏ Đây là lựa chọn phổ biến vì pin Ni-MH có dung lượng pin cao hơnhai lần so với pin Ni-Cd
+ Pin Lithium-Ion (Li-Ion): Pin Li-ion được sử dụng nhiều trong các thiết bị caocấp như điện thoại di động, PDA, máy ảnh đắt tiền và máy tính xách tay,… Nó có thể lưutrữ nhiều năng lượng điện hơn pin Ni-Cd và Ni-MH nhưng giá tiền lại đắt hơn nhiều docông nghệ chế tạo và chất liệu được sử dụng khi chế tạo Trong mỗi viên pin Li-Ion được
sử dụng thì thường có mạch điều khiển trong quá trình sạc và quá trình bảo vệ pin [6]
Hình 1 5 Một số loại pin có khả năng sạc lại
1.4 Hiện trạng phát thải, thu gom và quản lý pin
1.4.1 Hiện trạng phát thải
1.4.1.1 Ở Việt Nam
a) Hiện trạng phát thải từ hoạt động hằng ngày
Theo điều tra rác thải pin- ắc quy ở Hà Nội năm 2004 cho thấy: Mức tiêu thu ởkhu vực nội thành là 5- 8 thiết bị pin/người/năm, khu vực ngoại thành là 3- 5 thiết bị pin/người/năm Ước tính lượng pin thải ở Hà Nội năm 2004 là 200- 350 tấn/năm (con sốtương ứng năm 2010 có thể đạt tới 750 tấn) Ắc-quy chạy xe gắn máy chủ yếu là loại ắc-quy chì-axit, tuổi thọ trung bình là 5 năm/1 cục pin với trọng lượng 2,5 kg/ắc-quy Ướctính lượng ắc-quy xe máy chì-axit vào năm 2004 ở Hà Nội là 580 tấn/ năm (con số tươngứng cho năm 2010 có thể đạt trên 1.200 tấn) [13]
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, hiện nay bình quân mỗi ngày, ngườidân Hà Nội thải ra hơn 5.400 tấn rác sinh hoạt và hơn 100 tấn rác thải nguy hại, trong đó
có rác thải từ pin, ắc quy, cao su, nhựa, Nhưng các doanh nghiệp chỉ thu gom, phân loại
và xử lý được khoảng 60-65 tấn/ngày, còn lại lẫn trong rác thải sinh hoạt ra môi trường[8]
Việt Nam đã có các nghị định và quyết định của Chính phủ về việc hướng dẫnquản lý, thu hồi, xử lý chất thải và phế liệu trong đó có pin và ắc quy đã qua sử dụng
Trang 13Tuy nhiên, do thiếu sự hiểu biết, tuyên truyền và hướng dẫn, phần lớn người dân chưa có
ý thức phân loại rác thải độc hại và pin tại nguồn
Hiện nay, các viên pin không còn giá trị sử dụng đều bị thải bỏ chung với rác thảisinh hoạt Người dân vẫn chưa ý thức được đây chính là một trong những hành vi gây ônhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Hầu hết các cơ quan xử lý rác và chất thải ở Việt Nam chưa có hướng dẫn haytuyên truyền đến người dân cách phân loại, bảo quản, vận chuyển và xử lý các sản phẩmpin sau khi sử dụng cũng như không chỉ rõ nơi thu gom và xử lý các rác thải độc hại này[7]
b) Hiện trạng phát thải từ hoạt động công nghiệp
Tính đến năm 2018 trên cả nước có hơn 45 công ty, xí nghiệp vừa và nhỏ hay lớnđều sản xuất pin và bình ắc quy [11] Hiện nay pin đã và đang được sử dụng vào các hoạtđộng giao thông vận tải để giảm việc khai thác các loại khí đốt Tuy nhiên khi chuyểnsang sử dụng các loại pin điện để giảm lượng lớn khí thải vào môi trường thì lượng pinnày sau khi hết hạn sử dụng sẽ là một lượng lớn các chất độc hại đối với môi trường đất
Theo một báo cáo ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện có 40 ngàn tấn ắc quy chìđược thải bỏ, đến năm 2015 đã lên gần 70 ngàn tấn [12] Phần lớn trong số lượng nàyđược thu gom và tái chế gia công tại các cơ sở tư nhân Tương tự như thế, pin được sửdụng trong các thiết bị điện-điện tử sẽ trở thành phế thải và vấn đề nằm ở việc thu gom
xử lý
1.4.1.2 Trên thế giới
a) Hiện trạng phát thải từ hoạt động hằng ngày
Theo các kết quả nghiên cứu khảo sát trên thế giới thì hiện nay nhu cầu sử dụngcác thiết bị điện tử có chứa pin ngày càng tăng cao Ở châu Âu, vào năm 1999, khoảng76% lượng pin NiCd đã được những gia đình sử dụng và thải ra đang được xử lý tại cácbãi chôn lấp hoặc thiêu hủy [19] Tại Mỹ thì trung bình một hộ gia đình ở đây sử dụng từ
35 đến 90 viên pin mỗi năm Điều này góp phần tạo nên 83.500 tấn pin bị loại bỏ ra môitrường hằng năm [25] Còn tại thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kì, hằng năm khoảng 12tấn pin đã qua sử dụng được thu thập thông qua khoảng 1000 điểm thu gom tập trung tạithành phố [20]
b) Hiện trạng phát thải pin từ hoạt động công nghiệp
Pin chì-axit (LAB) là nguồn năng lượng điện hóa được sử dụng rộng rãi trên toànthế giới trong các ngành công nghiệp khác nhau do mức chi phí thấp và hiệu suất ổn định[21] Việc sử dụng Pin chì-axit tại Trung Quốc chiếm 70% thị phần của tất cả các loạipin, và tổng giá trị sản xuất của nó chiếm một nửa trong số tất cả các nguồn năng lượngđiện hóa [22] Hàng năm tại Trung Quốc, một lượng lớn Pin chì-axit đã qua sử dụngđược thải ra chiếm 62% tổng lượng pin được sử dụng tại đây [23]
Trang 141.4.2 Thu gom và quản lý pin
1.4.2.1 Trên thế giới
Trong những thập kỷ qua, sự gia tăng đáng kể về số lượng pin được xử lý chungvới chất thải sinh hoạt Trên thực tế này nguồn tác động môi trường do sử dụng pinkhông đúng cách đã khiến một số quốc gia trên thế giới thiết lập các quy định về việc xử
lý các sản phẩm pin và thúc đẩy việc tái chế chúng Brazil là quốc gia đầu tiên ở Châu
Mỹ Latinh điều chỉnh việc xử lý pin
Ngày 30 tháng 6 năm 1999, việc chế tạo và sử dụng pin được quy định ở Brazilbởi tổ chức chính phủ Brazil được đặt tên Ambiente Conselho Nacional de Meio(CONAMA), là hội đồng môi trường Brazil Điều này được thực hiện thông quaCONAMA của nghị quyết số 257/99 với các điều như sau:
- Điều 1: Sau khi pin hết hạn sử dụng, pin có chứa chì, cadmium, thủy ngân và cácthành phần kim loại khác, sẽ được người dùng cuối cùng gửi đến các cơ sở hay cửa hàng
mà chúng đã được mua hoặc được chuyển tiếp đến các nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu
• Không vượt quá 25mg thủy ngân, cho các pin đồng hồ
- Điều 6: Bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2001
• Không vượt quá 0,010% về trọng lượng thuỷ ngân, kẽm-mangan và mangan trong pin
kiềm-• Không vượt quá 0,015% trọng lượng cadmium, kẽm-mangan và kiềm-mangantrong pin
• Không vượt quá 0,200% trọng lượng chì, kẽm-mangan và kiềm-mangan trongpin
Nghị quyết thiết lập thời hạn trong đó các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu chịutrách nhiệm sẽ thực hiện các hệ thống thu gom, vận chuyển, lưu trữ, tái sử dụng, tái chế,
xử lý Pin để đáp ứng các giới hạn hoặc các thông số kỹ thuật được nêu trên [16]
Hầu hết các luật cụ thể về pin được thực hiện trong thập kỷ đầu năm 1990 Chúngthường tập trung vào việc hạn chế thủy ngân trong pin kiềm , pin khô và pin đồng hồ và
cả pin NiCd Tuy nhiên, ở một số quốc gia như Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển và Đức việcthu thập pin không giới hạn ở bất kỳ loại pin cụ thể nào [17]
Luật pháp của Cộng đồng Châu Âu đã được thông qua vào năm 1991 Mục tiêucủa quy định này là hạn chế nồng độ thủy ngân, cadmium và chì trong pin, để chuẩn hóaviệc xác định pin có thể tái chế và phát triển các chương trình tái chế Bên cạnh đó, luậtpháp châu Âu cũng có mục tiêu thiết lập các quy định tiến bộ như: đến năm 2008, pháttriển hệ thống thu gom để thu thập 75% pin di động và 95% pin công nghiệp; cho đếnnăm 2009, tất cả các Cd phải được loại bỏ và các quy trình tái chế sẽ thu hồi 55% nguyênliệu trong pin Xu hướng là thu thập được số lượng pin ở tất cả các nước châu Âu, đặcbiệt là pin NiCd Hiệp hội các nhà sản xuất pin châu Âu đã đồng ý trong việc giới hạn sốlượng Hg trong pin xuống còn 5ppm và thu thập tất cả các loại pin trong năm 2003 [17]
Trang 151.4.2.2 Tại Việt Nam
Luật bảo vệ môi trường, quyết định 16/2015/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủquy định về thu hồi xử lý sản phẩm thải bỏ như sau: Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ có trách nhiệm thu hồi sản phẩm đã hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ thuộc các ngànhhàng pin và ắc quy, thiết bị điện tử, điện dân dụng và công nghiệp,…[10] Nhưng đếnnay hoạt động thu hồi, xử lý các sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ vẫn chưa được
xử lý nghiêm túc
Theo báo cáo từ Tổng Cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) trong năm
2010 đã có khoảng 40.000 tấn ắc quy chì đã được thải ra môi trường Dự báo đến năm
2015, con số này sẽ là gần 70.000 tấn [14] Phần lớn lượng pin này đã và đang được táichế gia công tại các làng nghề như: tại làng Đông Mai, Hưng Yên, có hơn 60 hộ thu gom
ắc quy, với số lao động tham gia trên 500 người Do không có các biện pháp quản lý sảnxuất tốt và thiếu thiết bị xử lý ô nhiễm về môi trường theo quy định Nên đất, nước vàkhông khí của các làng nghề này đang bị ô nhiễm khói bụi chì, nước thải a-xit trầm trọng.Đáng lo ngại, mức độ nhiễm chì của trẻ em trong các làng đã ở mức báo động Khi xã hộicàng chú trọng hơn về vấn đề sức khỏe thì phong trào truyền thông về tác hại của pin đãđược lan rộng và chính quyền càng quan tâm hơn đến việc thu gom và xử lý các loại chấtthải rắn Pin
Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh hiện nay đã có nhiều chiến dịchhơn để thu gom Pin đã qua sử dụng để bảo vệ môi trường Ngoài các loại pin ắc quy lớn,các loại pin nhỏ trước đây thường được vứt chung với rác thải sinh hoạt hằng ngày Đồdùng hàng ngày có rất nhiều thiết bị sử dụng loại pin nhỏ Sau một thời gian số lượng pinthải ra môi trường là tương đối lớn nếu không được phân loại, tiêu hủy đúng quy trình sẽtrở thành mối nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người, xuất phát từ tác hại vôcùng nghiêm trọng này người dân đã bắt đầu q uan tâm và phân loại pin cho các cở sở thugom rác trên toàn quốc Việc thu gom pin hiện nay đã phổ biến hơn tại các thành phố, tuynhiên vẫn còn rất nhiều nơi, người dân chưa có đầy đủ kiến thức về tác hại của loại pinnày nên việc xả thải và thu gom chưa được quan tâm phổ biến
1.5 Tác hại của pin
Thông thường, khi pin không còn giá trị sử dụng, chúng ta có thói quen vứt bừabãi hoặc bỏ chúng vào thùng rác gia đình như các loại rác thải khác, để rồi người ta sẽ xử
lý chúng bằng hai phương pháp: chôn lấp hoặc đốt
Việc đốt, phá hủy, chôn lấp, tiếp xúc trực tiếp, hay bỏ pin trong thùng rác bìnhthường đều được khuyến cáo là không phù hợp với tất cả các loại pin
Các viên pin thường có các kim loại nặng như chì, thủy ngân, kẽm, cadmium,lithium,… Nếu chỉ được chôn lấp, các kim loại nặng này thấm vào đất và nguồn nướcngầm, gây ra ô nhiễm nguồn nước hoặc khi đốt, các thành phần nguy hại trong pin sẽ bốclên thành khói độc, hay chất độc còn đọng lại trong tro sẽ gây ô nhiễm không khí
Lượng thủy ngân có trong một viên pin cũng có thể làm ô nhiễm 500 lít nước hoặc
1 mét khối đất trong 50 năm Thủy ngân từ các nguồn ô nhiễm khi xâm nhập vào cơ thểqua đường ăn uống hoặc hít thở, chúng có thể gây hại não, thận, hệ thống sinh sản và timmạch…
Trang 16Hình 1 6 Tác hại của pin đối với môi trường
Một lượng nhỏ của chì cũng có thể gây hại cho cơ thể Nó có xu hướng thay thế vịtrí của tất cả các kim loại khác trong cơ thể người Ví dụ chì sẽ chiếm chỗ của canxi trongxương, chiếm chỗ của kẽm và canxi trong các protein, chiếm chỗ của canxi trong cácphản ứng truyền xung điện não, thay thế sắt trong máu…
Tóm lại chì gây rối loạn hoặc ngưng các phản ứng sinh hóa diễn ra bình thườngtrong cơ thể Nó gây còi xương, chậm lớn ở trẻ, huyết áp cao đối với người lớn, tổn hạimáu và xương, gây chứng mất trí và giảm khả năng suy nghĩ, giảm sinh tinh, thậm chí là
vô sinh, giảm chức năng của thận…
Hình 1 7 Tác hại của pin đối với sức khỏe con người
Trang 17Khi nhiễm độc kẽm, người bệnh thường nôn mửa nhiều và có thể bị chảy máuđường ruột Tình trạng chung của cơ thể thường không ổn định, hay run rẩy, giảm mứcphản xạ tự nhiên, đôi khi bị tê liệt.
Khi Cadmium xâm nhiễm vào cơ thể người, nó sẽ là tác nhân dẫn đến nhiều loạibệnh như loãng xương, thiếu máu, suy gan thận, gây nhiều loại ung thư như ung thưtuyến tiền liệt, ung thư phổi, đối với phụ nữ có thai, nó làm tăng nguy cơ gây dị dạng chothai nhi
Pin lithium-ion tuy không ảnh hưởng lớn đến sức khỏe nhưng có nguy cơ cháy nổcao [7]
Trang 18
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính tập trung nghiên cứu là người dân trên địa bàn thành phố ĐàNẵng, nhằm tìm hiểu hiện trạng sử dụng pin và hướng đến các giải pháp thu gom và
xử lý pin đã qua sử dụng
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra hiện trạng mức độ xả thải pin đã qua sử dụng của người dân trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng Bao gồm các nội dung mô tả hiện trạng sử dụng pin
- Đánh giá mức độ hiểu biết và nhận thức của người dân đối với các hoạt động xảthải pin đã qua sử dụng
- Đề xuất biện pháp thu gom, xử lý pin và nâng cao nhận thức của người dân vềhoạt động xả thải pin đã qua sử dụng ra môi trường Dựa vào kết quả phân tích hiệntrạng, nghiên cứu tiến hành đề xuất các giải pháp về mặt công tác quản lý pin
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp khảo sát
Khảo sát nhằm thu thập thông tin chung về hiện trạng thu gom, xử lí, và xả thảicủa người dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Ngoài ra còn tìm hiểu các tài liệu liênquan đến pin (khái niệm, thành phần, lịch sử hình thành, hiện trạng phát thải pin tại cácthành phố ở Việt Nam,…) Tìm hiểu các chính sách thu gom và quản lý chất thải nguyhại của Việt Nam và thành phố Đà Nẵng, tìm hiểu mô hình thu gom pin hiện có tại ĐàNẵng như BigC và phương pháp xử lí pin thải hiện nay tại Việt Nam Từ kết quả khảo sát
ta có thể xác định tổng số lượng phiếu điều tra của mỗi quận huyện và phiếu điều traphỏng vấn có những nội dung như sau:
Bảng 2 1 Các đối tượng được tiến hành phỏng vấn
Nội dung chi tiết của bảng phỏng vấn xin xem ở phụ lục 1
Đối tượng
Hưu trí - Họ tên người cung cấp thông tin
- Nghề nghiệp
- Nơi ở hiện nay
- Tên các thiết bị điện tử sử dụng ở gia đình có chứa pin
- Thời gian vứt thải pin đã qua sử dụng
- Vứt thải pin đã qua sử dụng ở đâu
- Sự hiểu biết về pin của ông bà như thế nào
- Ông (bà) có quan tâm đến vấn đề thải bỏ và xử lý pin đã qua sửdụng pin hay không
- Những quy định và chính sách về pin hoặc chất thải nguy hại
Trang 192.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Là phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở giao tiếp bằng lời có tính đếnmục đích đặt ra
Đối tượng thực hiện phỏng vấn: người dân am hiểu về tác hại của pin, ban quản lý
tổ dân phố, ban quản lý tại BigC, ban quản lý công ty Cổ phần Môi trường đô thị ĐàNẵng,… Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng bảng câu hỏi Lấy ý kiến thông qua các câuhỏi liên quan Từ đó tổng hợp thông tin dựa vào kết quả khảo sát, quá trình phân tích vàđánh giá
2.3.3 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Phương pháp này được thực hiện với các bước như sau:
- Thiết kế bảng hỏi: Phiếu điều tra được thiết kế với hệ thống câu hỏi phù hợp về
cả cấu trúc, thời gian với các đối tượng là người dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Điều tra thử: nhằm khảo sát địa bàn, xác định số lượng mẫu khảo sát, phân tíchkết quả về cấu trúc và nội dung bảng hỏi Trên cơ sở đó điều chỉnh lại bảng hỏi cho phùhợp, thu được thông tin hiệu quả
- Lựa chọn địa bàn điều tra
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả được xử lý bằng phần mềm excel và biểu đồ Nhằm mô tả hiện trạng sửdụng pin, mức độ quan tâm và hiểu biết của người dân thành phố đối với pin Từ đó sosáng mức độ sử dụng, mức độ nhận thức của người dân tại nội thành và ngoại thànhthành phố Đà Nẵng
2.4 Khung nghiên cứu
Bảng 2 2 Khung nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu Nội dung NC Phương pháp
truyền thông
về tác hại củapin đối vớingười dân ởthành phố ĐàNẵng
- Phương phápthu thập dữ liệuthứ cấp
- Phương phápphỏng vấn sâu
- Phương phápđiều tra bảnghỏi
- Phương phápkhảo sát thựcđịa
- Phương pháp
xử lí và phântích số liệu
- Mô tả tình hình xả thải pin củangười dân Đà Nẵng
- Đưa ra vai trò của người dânvào quá trình thu gom và xử lípin
- Xác định lợi ích của người dânkhi tham gia vào mô hình thugom và xử lí pin
- Xác định mức độ hiểu biết củangười dân về khái niệm, phânloại và phát triển mô hình thugom pin tại thành phố
- Xác định mức độ quan tâm táchai của pin đến môi trường vàsức khỏe của con người
Trang 20về pin thải
- Phương phápkhảo sát thựcđịa và thu nhập
số liệu
- phương phápphỏng vấn sâu
- phương phápđiều tra bảnghỏi
- phương pháp
xử lý số liệu
- Định hướng hoạt động pháttriển mô hình thu gom pin và xử
lí pin
- Đề xuất giải pháp nâng caonhận thức của người dân tại khuvực nghiên cứu
- Định hướng, xây dựng các giảipháp thu gom và xử lý pin tại cácđịa phương