Tính cấp thiết của đề tài Trong đời sống gia đình Việt Nam, việc ứng xử với nhau theo một khuôn mẫunào đấy không chỉ giới hạn trong quan hệ của những người đang sống - như giữa vợ và chồ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận án này là trung thực, khách quan và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Trần Văn Huấn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của Quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến:
Quý thầy cô đã giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trìnhhọc tập và nghiên cứu
Phòng Đào tạo, Khoa Xã hội học và Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án này
Ủy ban nhân dân Phường Phường 14, Quận 4 và xã Trung An, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập thông tin trên địa bàn
Các đồng nghiệp, anh chị và bạn bè đã giúp đỡ về mặt chuyên môn cũng nhưluôn hỗ trợ, ủng hộ tôi trong suốt quá trình làm luận án
Xin cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện, động lực và niềm tin để tôi thực hiện công trình nghiên cứu này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng tri ân đối với PGS, TS Mai Văn Hai và TS.Trương Xuân Trường đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận án
Trần Văn Huấn
Trang 4Đô thị hóa Hiện đại hóa Hội nhập quốc tế Kinh tế thị trường Toàn cầu hóa Thành phố
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 Nhìn lại các kết quả nghiên cứu đã công bố 15
1.1.1 Về khái niệm và các quan điểm lý thuyết 15
1.1.2 Nguồn gốc của văn hóa ứng xử với người đã mất 16
1.1.3 Các thành tố cơ bản trong văn hóa ứng xử với người đã mất 21
1.1.4 Tác động xã hội và những vấn đề đặt ra 27
1.2 Nhận xét sơ bộ về nội dung và phương pháp của các công trình đã công bố 32
1.3 Việc kế thừa và định hướng nghiên cứu của đề tài 35
Tiểu kết Chương 1 36
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 38
2.1 Định nghĩa và giải thích các khái niệm làm việc 38
2.1.1 Đời sống gia đình 38
2.1.2 Văn hóa ứng xử 39
2.1.3 Văn hóa ứng xử với người đã mất 41
2.1.4 Văn hóa ứng xử với người đã mất trong đời sống gia đình Việt Nam 42
2.2 Thao tác hóa khái niệm 44
2.2.1 Việc tang ma 44
2.2.2 Việc chôn cất và xây đắp mồ mả 46
2.2.3 Việc thờ phụng và cúng giỗ 47
2.3 Cách tiếp cận lý thuyết của đề tài 48
2.3.1 Tiếp cận theo lý thuyết lựa chọn hợp lý 49
2.3.2 Tiếp cận theo lý thuyết tiểu văn hóa 50
2.3.3 Tiếp cận theo lý thuyết hiện đại hóa 52
2.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 53
2.4.1 Đôi nét về Thành phố Hồ Chí Minh 53
2.4.2 Về xã Trung An, huyện Củ Chi và Phường 14, Quận 4 56
2.5 Bối cảnh lịch sử và lược đồ phân tích 58
Tiểu kết Chương 2 62
Trang 6Chương 3: VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI NGƯỜI ĐÃ MẤT QUA CÁC VIỆC
TANG MA 63
3.1 Đôi nét về việc tang ma ở Việt Nam trong lịch sử 63
3.2 Việc tang ma hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh 69
3.2.1 Nghi thức và tang phục của tang lễ 69
3.2.2 Người chịu tang, đồ phúng điếu và thời gian làm tang ma 73
3.2.3 Các nghi lễ sau chôn cất 76
3.2.4 Việc cỗ bàn và đốt vàng mã 77
3.2.5 Chi phí cho đám tang 79
3.2.6 Vai trò của các cơ quan chức năng 81
3.3 Vấn đề tang ma hiện nay dưới góc nhìn của người dân 83
3.3.1 Quan niệm của người dân về tầm quan trọng của nghi lễ tang ma 83
3.3.2 Thái độ của người dân về việc tang ma hiện nay 85
3.3.3 Tâm tư, nguyện vọng của người dân 87
Tiểu kết chương 3 88
Chương 4: VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI NGƯỜI ĐÃ MẤT QUA VIỆC XÂY CẤT, CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ MỘ PHẦN 91
4.1 Đôi nét về việc mồ mả ở Việt Nam trong lịch sử 91
4.2 Việc xây cất, chăm sóc và bảo vệ mộ phần ở Thành phố Hồ Chí Minh 96
4.2.1 Về nơi đặt mộ 96
4.2.2 Về loại hình mộ 99
4.2.3 Chi phí xây cất mộ phần của gia đình 101
4.2.4 Chôn cất một lần - nét đặc trưng của Nam Bộ 102
4.2.5 Mộ phần thân nhân là liệt sỹ 103
4.2.6 Về thời điểm thăm viếng mộ phần 106
4.3 Vấn đề mồ mả hiện nay dưới góc nhìn của người dân 108
4.3.1 Niềm tin và cách ứng xử của người dân đối với chuyện mồ mả 108
4.3.2 Nhận định của người dân về việc cải táng và xây cất lại mồ mả 110
4.3.3 Những khó khăn mà người dân đang gặp phải 112
4.3.4 Về tâm tư, nguyện vọng của người dân 114
Tiểu kết Chương 4 116
Trang 7Chương 5: VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI NGƯỜI ĐÃ MẤT QUA VIỆC THỜ
PHỤNG, CÚNG GIỖ 117
5.1 Đôi nét về tục thờ cúng người đã mất ở Việt Nam trong lịch sử 117
5.2 Việc thờ cúng người đã mất hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh 123
5.2.1 Nơi thờ tự và đồ khí tự (đồ thờ) 124
5.2.2 Về đối tượng thờ cúng 125
5.2.3 Hình thức cúng tế 128
5.2.4 Người đảm trách việc thờ cúng 130
5.2.5 Số lần cúng giỗ và mức độ chi phí 131
5.2.6 Thời gian thực hành đám giỗ và các thành phần xã hội tham dự 133
5.2.7 Lễ vật cúng tế: sự giao thoa giữa xưa và nay 135
5.3 Vấn đề thờ cúng người đã mất từ góc nhìn của người dân 137
5.3.1 Nhận định của người dân về tục thờ cúng 137
5.3.2 Người dân tự đánh giá về tục thờ cúng 138
5.3.3 Tâm tư và nguyện vọng của người dân về tục thờ cúng 141
Tiểu kết Chương 5 143
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 145
1 KẾT LUẬN 145
2 KHUYẾN NGHỊ 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 160 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thực hành nghi thức tang lễ 69
Bảng 3.2: Tang phục trong đám tang 72
Bảng 3.3: Quan niệm về người thân phải về trong đám tang 73
Bảng 3.4: Thực hành các nghi lễ sau chôn cất 76
Bảng 3.5: Lý do đốt vàng mã trong đám tang theo học vấn 78
Bảng 3.6: Biết qui định của Nhà nước về tang ma qua các kênh theo nhóm tuổi 81
Bảng 3.7: Ý nghĩa việc thực hiện lễ tang ma theo địa bàn sinh sống 83
Bảng 3.8: Các thành phần xã hội tham dự đám tang 85
Bảng 3.9: Đánh giá của người dân về tang ma hiện nay theo nhóm tuổi 86
Bảng 3.10: Tâm tư, nguyện vọng của người dân về việc tang ma 87
Bảng 4.1: Nơi đặt mộ thổ táng theo địa bàn sinh sống 97
Bảng 4.2: Nơi đặt bình tro cốt hỏa táng với địa bàn sinh sống 98
Bảng 4.3: Các kiểu mộ theo mức sống 100
Bảng 4.4: Về tập tục chôn cất người chết theo địa bàn sinh sống 102
Bảng 4.5: Đối tượng là liệt sỹ trong gia đình 103
Bảng 4.6: Tình trạng mồ mả các liệt sỹ 104
Bảng 4.7: Hướng giải quyết khi chưa tìm được hài cốt liệt sỹ 105
Bảng 4.8: Thời điểm thăm viếng mộ phần người thân trong năm theo mức sống 106 Bảng 4.9: Cách ứng xử của người dân về chuyện “động mồ động mả” theo giới tính 109
Bảng 4.10: Thái độ của người dân về cải táng mồ mả 110
Bảng 4.11: Những khó khăn trong việc xây cất mồ mả với địa bàn sinh sống 112
Bảng 4.12: Nguyện vọng người dân về việc chôn cất người chết theo nơi sống 114
Bảng 5.1: Bàn thờ và đồ thờ của các gia đình theo mức sống 124
Bảng 5.2: Đối tượng thờ phụng theo gia đình gốc (của cha) với mức sống 126
Bảng 5.3: Đối tượng bên được thờ phụng theo quan hệ họ hàng theo địa bàn sinh sống 127
Bảng 5.4: Hình thức cúng tế người đã mất theo địa bàn sinh sống 129
Bảng 5.5: Người đảm trách việc thờ cúng trong gia đình 130
Bảng 5.6: Chi phí mỗi lần làm giỗ 132
Bảng 5.7: Cách thức làm cỗ cúng 135
Bảng 5.8: Nhận định của người dân về tục thờ cúng 137
Bảng 5.9: Ý nghĩa xã hội của tục thờ cúng người đã mất 139
Bảng 5.10: Những bất cập của tục thờ cúng người đã mất 140
Bảng 5.11: Tâm tư và nguyện vọng của người dân về tục thờ cúng 141
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Khái niệm đời sống gia đình 39
Sơ đồ 2.2: Thao tác hóa khái niệm 44
Sơ đồ 2.3: Việc tang ma trong đời sống gia đình người Việt 45
Sơ đồ 2.4: Việc chôn cất và xây đắp mộ phần của người Việt 46
Sơ đồ 2.5: Việc thờ cúng người thân đã mất trong gia đình người Việt 47
Sơ đồ 2.6: Phân tích sự vận hành của văn hóa ứng xử với người đã mất trong đời sống gia đình hiện nay 61
Sơ đồ 5.1: Quan hệ gia đình theo cửu tộc (xét theo trực hệ) 118
Sơ đồ 5.2: Sắp xếp bát hương trên bàn thờ gia đình 119
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Các hình thức phúng điếu trong đám tang 74
Biểu đồ 3.2: Thời gian thực hành đám tang 75
Biểu đồ 3.3: Số mâm cỗ trong đám tang 77
Biểu đồ 3.4: Mức chi phí cho đám tang 80
Biểu đồ 4.1: Về chi phí xây cất mộ phần xét theo địa bàn sinh sống 101
Biểu đồ 4.2: Niềm tin vào chuyện “động mồ động mả” theo giới tính 108
Biểu đồ 4.3: Thái độ của người dân về việc xây cất lại mồ mả 111
Biểu đồ 5.1: Số đám giỗ người thân trong năm theo địa bàn sinh sống 131
Biểu đồ 5.2: Thành phần tham dự cúng giỗ 134
Biểu đồ 5.3: Cảm nhận của người dân về cúng và đốt vàng mã 136
Trang 10DANH MỤC HỘP
Hộp 2.1: Cách giải thích về văn hóa và tổ chức xã hội theo lịch sử 60
Hộp 3.1: Di chúc của Nguyễn Khuyến nhắc nhở con cháu khi làm đám tang 66
Hộp 3.2: Đám tang xưa qua ca dao 68
Hộp 4.1: Về mồ mả của các chiến sĩ vô danh 94
Hộp 4.2: Lý giải của người dân về việc đặt mộ trong vườn nhà 96
Hộp 4.3: Tâm trạng về đất nghĩa địa của người dân Thành phố 113
Hộp 5.1: Quan hệ họ hàng thời Cải cách ruộng đất 122
Hộp 5.2: Quan niệm về bình đẳng nam nữ trong việc thờ cúng 128
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống gia đình Việt Nam, việc ứng xử với nhau theo một khuôn mẫunào đấy không chỉ giới hạn trong quan hệ của những người đang sống - như giữa vợ
và chồng, cha mẹ và con cái, hay giữa các anh chị em với nhau - mà còn có cả trongmối quan hệ giữa người sống với những người đã mất Ứng xử với người đã mất,
mà các thành tố cơ bản của nó là tang ma, mồ mả và thờ cúng, được hình thành vàtồn tại từ lâu trong lịch sử, dù trải qua những thăng trầm khác nhau, song nhìnchung dòng chảy ấy chưa bao giờ ngừng nghỉ
Từ ngày Đổi mới (1986) đến nay, cùng với những thành tựu đã đạt được vềkinh tế, đời sống tinh thần của người dân, trong đó có việc ứng xử với người đã mất,cũng có những bước phát triển mới Nhận định về điều này, học giả Vũ Khiêu viếtrằng: “Từ hoà bình lập lại, ở khắp mọi nơi trên đất nước, nhất là trong những nămtháng gần đây, vấn đề dòng họ được đặc biệt quan tâm Hầu như mỗi nhà đều đặt lạibát hương thờ cúng Tổ tiên, nhà thờ, mồ mả được sửa sang Gia phả được tìm lại,ghi chép và phổ biến Nhu cầu tình cảm đã khiến mọi người trong dòng họ năng đilại thăm viếng nhau hơn Những ngày họp họ hay giỗ Tổ đều thu hút được nhiềungười” [79, tr 8] Những ứng xử văn hoá như vậy đương nhiên đã mang lại nhữngtác động tích cực mà mỗi chúng ta đều dễ dàng nhận thấy Báo cáo Tổng kết 15 nămthực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền vănhóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998 - 2013), Đảng ta nhấn mạnh:việc xây dựng môi trường văn hóa, đặc biệt là phong trào “Toàn dân đoàn kết xâydựng đời sống văn hóa” và cuộc vận động xây dựng “Gia đình văn hóa” đạt nhiềukết quả đáng khích lệ, cả nước có 70,8 % gia đình được công nhận gia đình văn hóa[28]
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, việc ứng xử với người đã mất trong gia đìnhnhững năm gần đây cũng có không ít những biểu hiện quá đà hoặc lệch lạc Xu thếtoàn cầu hóa (TCH) và hội nhập quốc tế (HNQT) cũng như mặt trái của nền kinh tế
Trang 12trong tang ma đó là sự lạm dụng nhạc ngoại, nhạc trẻ thay cho cổ nhạc, nhạc lễ;hiện tượng “khóc thuê”, “đám ma vui”, hay việc đốt vàng mã quá nhiều, nặng hìnhthức phô trương bày vẽ Trong việc thờ cúng tổ tiên không ít gia đình “tổ chức giỗchiếu lệ hay coi như là dịp để khoe khoang trong một hậu ý nào đó Chuyện khoekhoang hay chiếu lệ đã làm mất đi ý nghĩa sâu kín trong tinh thần gia phong, vàkhông gây ý thức đúng đắn cho các thế hệ sau, khiến nhiều bạn trẻ thời nay lầmtưởng rằng chuyện giỗ quẩy là cơ hội ăn nhậu hay là chuyện làm bực mình, khókhăn trong việc làm” [119, tr 144] Rõ ràng là trong đời sống thực tiễn, việc ứng xửvới người đã mất nói riêng, cũng như việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoánói chung đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết.
Nằm trong bối cảnh chung của cả nước, việc ứng xử với người đã mất ở Thànhphố (TP) Hồ Chí Minh không là ngoại lệ Qua hơn 30 năm Đổi mới, dưới tác động củatiến trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), TCH, HNQT và nền KTTT,văn hóa cổ truyền nói chung, trong đó có việc ứng xử với người đã mất trong đời sốnggia đình của người dân Thành phố cũng đang biến đổi, trong đó có những biểu hiệnlệch lạc, xa rời thuần phong mỹ tục Hiện tượng đám ma đàn hát thâu đêm, việc tổ chứctang lễ dài ngày, trong cúng giỗ thì ăn nhậu thâu đêm, đánh bài, thậm chí ẩu đả lẫnnhau, … không phải là hiếm Thực tế này đang đòi hỏi phải được tìm hiểu một cáchthấu đáo bằng các phương pháp khoa học, làm cơ sở cho việc đề ra các chính sách quản
lý và phát triển xã hội một cách bền vững, phù hợp với thời đại
Trong khi đó, trên bình diện khoa học, nghiên cứu về việc ứng xử với người đãmất lại chưa theo kịp những gì đang diễn ra từ cuộc sống Đúng như nhà nghiên cứuNhật Bản là Michio Suenari đã viết: “Về thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam, phần lớn luậnbàn cho đến nay là ở trên cấp độ tư tưởng, bởi thế mà thiếu thông tin cho chúng tabiết rõ trên thực tế Tổ tiên đang được thờ phụng như thế nào” [120, tr 103] Thực
ra, những năm gần đây trên các phương tiện truyền thông đại chúng, người ta cũng
đã nói đến những bất cập của văn hoá gia đình, trong đó có văn hóa ứng xử vớingười đã mất Tuy nhiên, phần lớn những bài viết này đều là những cảm nhận riêng
tư, phản ánh từng vụ việc cụ thể, chưa kể chúng lại được đăng tải trên nhiều sách
Trang 13báo, ở nhiều thời điểm cách xa nhau, do đó người đọc chỉ có thể cảm nhận một cáchtản mạn, thiếu tính hệ thống Suy cho cùng, đấy là những thông tin nặng về truyềnthông báo chí và dư luận xã hội hơn là các công trình mang tính học thuật với cáckhái niệm được định nghĩa rõ ràng, các cách tiếp cận lý thuyết phù hợp và nhất lànhững nguồn dữ liệu được điều tra dựa trên các phương pháp khoa học vừa cậpnhật, vừa có độ tin cậy cao.
Xuất phát từ tình hình trên, người viết đã lựa chọn đề tài Văn hoá ứng xử với
người đã mất trong đời sống gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, với hy
vọng mang lại một sự hiểu biết trên cơ sở khoa học, qua đó góp phần giải quyếtnhững vấn đề đang đặt ra trong đời sống thực tiễn hiện nay
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mang lại một sự hiểu biết tương đối toàn diện và có hệ thống về văn hóa ứng
xử với người đã mất trong đời sống gia đình tại TP Hồ Chí Minh hiện nay Qua đó,góp phần làm sáng tỏ thêm về hiện tượng xã hội này trên cả hai phương diện lý luận
và thực tiễn, làm phong phú bức tranh về đời sống văn hóa gia đình đã được địnhhình từ trước
2.2 Mục tiêu cụ thể
Về mặt lý luận: Cố gắng hệ thống hóa cả ba thứ tập tục là tang ma, mồ mả và
thờ cúng thành một khái niệm chung là “Văn hoá ứng xử với người đã mất” trongđời sống gia đình Với kết quả nghiên cứu này, mảng văn hoá ứng xử trong gia đình
sẽ trở nên trọn vẹn và mang tính hệ thống hơn - đó là ứng xử giữa vợ và chồng, giữacha mẹ và con cái, giữa anh chị em với nhau và sau cùng là ứng xử giữa người sốngđối với người chết, với tư cách là một nét thuần phong mỹ tục của văn hóa dân tộc
Về mặt thực tiễn: Góp phần nhận thức, lý giải sự vận hành và biến đổi của
khuôn mẫu ứng xử với người đã mất trong gia đình ở TP Hồ Chí Minh, qua đó gópphần nâng cao nhận thức của người dân về văn hóa hóa gia đình, đồng thời cungcấp các luận cứ khoa học cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách trong việcxây dựng “nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” nói chung, cũngnhư giải quyết các vấn đề đang đặt ra trên địa bàn khảo sát nói riêng
Trang 142.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu đã có (cả về khái niệm, cách tiếpcận, nội dung và phương pháp), đề tài đã cố gắng kế thừa các bài học kinh nghiệm, nhất
là phát hiện các khoảng trống để thấy rõ hướng nghiên cứu mới của mình
- Mặc dù xung quanh việc ứng xử với người đã mất có nhiều tác giả trongnước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu như về tang ma, mồ mả, thờ cúng - songcho đến nay các khía cạnh này vẫn được nghiên cứu một cách riêng rẽ Vì vậy, vềmặt lý luận, nhiệm vụ trung tâm của nghiên cứu này là góp phần xây dựng một kháiniệm chung có khả năng bao chứa tất cả các khía cạnh riêng rẽ ấy Khái niệm chung
đó là “Văn hóa ứng xử với người đã mất”
- Dựa vào các cơ sở lý luận và phương pháp luận như vừa nêu, về nghiên cứuthực nghiệm, trên cơ sở của các nguồn tư liệu có được, tác giả đã tiến hành
phân tích, đánh giá việc thực hành văn hóa ứng xử với người đã mất ở cả 03 thànhtố: tang ma, mồ mả, thờ cúng trong đời sống gia đình ở TP Hồ Chí Minh hiện nay.Điều cần nhấn mạnh ở đây là không dừng lại ở nguồn số liệu thống kê tần suất, màxuất phát từ đặc trưng của bộ môn xã hội học, tác giả còn đi sâu tìm hiểu sự khácbiệt giữa các nhóm xã hội qua số liệu xử lý tương quan, để thấy được tính đa dạng
và phức tạp trong hành vi ứng xử với người đã mất ở các cộng đồng dân cư đượckhảo sát
- Sau cùng, nhiệm vụ của cuộc nghiên cứu là khái quát hóa kết quả phân tích
để có cơ sở đề xuất và khuyến nghị nhằm giải quyết những tồn tại, vấn đề đặt ratrong thực hành văn hóa ứng xử với người đã mất sao cho phù hợp với tiến
trình CNH, HĐH, TCH đang diễn ra ở nước ta hiện nay
3 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là văn hóa ứng xử với người đã mất trong đời sống gia đình ở TP Hồ ChíMinh hiện nay Trong đó, bao gồm cả việc mô tả sự vận hành và biến đổi của đốitượng, cũng như việc lý giải sự vận hành và biến đổi ấy
Trang 153.2 Khách thể nghiên cứu
Việc ứng xử với người đã mất là nét văn hóa bao trùm ở hầu hết các gia đình Việt Nam, nên khách thể nghiên cứu của đề tài này là các hộ gia đình
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Do những khó khăn về thời gian và nguồn lực, cuộc nghiên
cứu của chúng tôi chỉ điều tra, khảo sát tại 2 địa bàn, cụ thể là Phường 14, Quận 4(đại diện cho nội thành) và xã Trung An, huyện Củ Chi (đại diện cho ngoại thành) của TP Hồ Chí Minh
- Về thời gian: Từ “hiện nay” trong tên luận án được hiểu là trong 5 năm trở lại
đây, nghĩa là khoảng thời gian mà người được phỏng vấn có thể nhớ được khá chitiết những gì được phỏng vấn Ngoài ra, việc lựa chọn khoảng thời gian như vậy cònđảm bảo số lượng hộ đủ lớn để nghiên cứu và các mặt về kinh tế - xã hội của địaphương biến thiên không qua lớn Còn việc điều tra, khảo sát được tiến hành trong 2đợt: Đợt 1 là tháng 01/2018; đợt 2 diễn ra trong tháng 3/2018
- Về vấn đề nghiên cứu: Có thể nói, văn hóa ứng xử với người đã mất đang có
sự khác biệt rất nhiều ở các tộc người, tôn giáo, vùng miền khác nhau Nhưng dogiới hạn về số trang của luận án nên vấn đề nghiên cứu được đề cập trên đây, tác giảchỉ dừng lại ở phạm vi gia đình người Việt, không theo tôn giáo Nguồn tư liệu thuđược ngoài phạm vi này sẽ được sử dụng trong các dịp khác
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Văn hóa ứng xử với người đã mất trong gia đình (bao gồm cả tang ma, mồ mả
và thờ cúng) ở TP Hồ Chí Minh hiện nay đang diễn ra như thế nào? So với các giaiđoạn trước thì việc thực hành loại hình văn hóa ứng xử này có điều gì mới mẻ không?
- Nếu có sự phát triển mới hơn so với trước đó thì những lý do xã hội nào đã dẫn đến sự biến đổi đó?
Trang 16- Sự vận hành, biến đổi đó là ngẫu nhiên, tức thời hay mang tính quy luật vàđiều này có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống của gia đình, cộng đồng và xã hội?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
- So với trước đây, văn hóa ứng xử với người đã mất ở TP Hồ Chí Minh hiệnnay đã và đang có sự thay đổi rất lớn trên cả ba phương diện là tang ma, mồ mả vàthờ cúng Điều này thể hiện ở chỗ người ta vừa tái cấu trúc mô hình cũ, vừa bổ sungthêm những nét mới của thời đại mà trước đây chưa hề có
- Sự biến đổi này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau - đó là do đờisống kinh tế của người dân đã được nâng lên; tiến trình CNH, HĐH, nền KTTT, xuthế TCH và HNQT; chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và ở một mức độ nào đó là sự tổ chức, quản lý của chính quyền và tập quán địa phương
- Sự vận hành và biến đổi như trên không phải ngẫu nhiên hay tức thời, màmang tính quy luật Đó là sản phẩm tất yếu của xã hội Việt Nam đang chuyển đổi từnền văn minh nông nghiệp cổ truyền sang văn minh công nghiệp và hiện đại, từ cơchế bao cấp sang cơ chế thị trường, với sự chi phối của xu thế TCH và HNQT
4.3 Phương pháp luận
Theo Từ điển Triết học do M M Rodentan chủ biên, phương pháp luận có 2
nghĩa: 1) Đó là học thuyết về phương pháp và 2) Đó là tổng thể các phương pháp
trong nghiên cứu Theo nghĩa thứ nhất, trong nghiên cứu này, tác giả chọn chủ
nghĩa Mác - Lênin mà cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm
cơ sở phương pháp luận, tập trung ở mấy luận điểm cơ bản sau đây [113]:
Trước hết, về mặt bản thể, triết học Mác - Lênin quan niệm về đối tượng
nghiên cứu, mà cụ thể ở đây là văn hóa ứng xử với người đã mất, phải được xem xétnhư cái mà chúng tồn tại trong thực tế, chứ không phải như cái mà chúng ta mongmuốn Điều này có nghĩa là trong điều tra, khảo sát, cũng như trong việc phân tích
để rút ra các kết luận khái quát, cần phải tôn trọng thực tế khách quan, không được
tô hồng, cũng không được bôi đen vấn đề nghiên cứu Muốn thế, nhà nghiên cứu
Trang 17cần hướng tới những vấn đề bản chất, được lặp đi lặp lại nhiều lần, chứ không phảinhững gì là ngẫu nhiên, tức thời hay dị biệt.
Thứ hai, về nhận thức luận, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cho
rằng thực tế khách quan tồn tại và vận hành có quy luật, do đó có thể nhận thức được
và con đường nhận thức phải đi từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, rồi lại
“từ tư duy trừu tượng trở về kiểm chứng chúng trong đời sống thực tiễn” Ý nghĩa củaluận điểm này là ở chỗ, trong công việc nghiên cứu của mình, nhà khoa học khôngdừng lại ở việc mô tả, phân loại các sự kiện quan sát được, mà cần tiếp tục đi xa hơn,sâu hơn vào bản chất của đối tượng và chỉ ra tính quy luật để tạo ra các lý thuyết hoặccác giả thuyết nghiên cứu mới Con đường nhận thức này đòi hỏi phải đặt đối tượngnghiên cứu của mình vào bối cảnh lịch sử cụ thể, không được tách rời đối tượng ra khỏicác điều kiện kinh tế - xã hội mà nó đang tồn tại trong đó
Thứ ba, về quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội: Chủ nghĩa Mác - Lênin
chỉ ra rằng trong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội thì tồn tại xã hộiquyết định ý thức xã hội, chứ không phải ngược lại Nhưng ý thức xã hội với tính độclập tương đối, cũng luôn tác động trở lại đối với tồn tại xã hội thông qua các khâu trung
gian như nhà nước, các mối quan hệ về pháp lý và chính trị, … Đúng như Từ điển Triết
học đã viết: “Học thuyết Mác-xít về tồn tại xã hội và ý thức xã hội có một ý nghĩa
phương pháp luận to lớn, nó giúp cho việc đặt ra một cách khoa học và giải quyết mộtcách thực tiễn những vấn đề của đời sống xã hội” [113, tr.591]
Vận dụng học thuyết Mác - Lênin vào nghiên cứu này, chúng ta có một cơ sởkhoa học quan trọng để thấu hiểu và giải thích hành vi ứng xử với người đã mấttrong cộng đồng và xã hội, cũng như trong từng nhóm xã hội nói riêng Cụ thể ở đây
là, chính tồn tại của xã hội của Việt Nam sau hơn 30 năm Đổi mới quyết định quanniệm và hành vi ứng xử với người đã mất của các chủ thể, chứ không phải ngượclại Còn đối với mỗi nhóm xã hội khác nhau thì chính những điều kiện khách quanriêng của mỗi nhóm giữ vai trò quyết định, chứ không phải ý chí chủ quan của họ,
và đương nhiên là hành vi ứng xử của mỗi nhóm như thế ít nhiều đều có ảnh hưởngngược trở lại đối với cộng đồng và xã hội
Trang 18Còn theo nghĩa thứ hai, phương pháp luận được hiểu là tổng thể các phương
pháp trong nghiên cứu Điều này sẽ được đề cập ở mục 4.4 tiếp theo dưới đây
4.4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận đối tượng nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu tài liệu
Là việc phân tích và tổng hợp các khái niệm làm việc, các cách tiếp cận lý thuyết, cácnội dung và phương pháp của các công trình có liên quan ở trong nước và nước ngoài,cũng như các nguồn số liệu thống kê mà địa phương cung cấp Trong đó, bao gồm:
(1) Các sách, báo in, báo mạng, tạp chí khoa học và công trình nghiên cứu tạicác hội thảo quốc gia, quốc tế;
(2) Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ TP Hồ Chí Minh,các văn bản pháp luật có liên quan đến đối tượng nghiên cứu;
(3) Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo tổng kết thực hiện phong trào toàn dânxây dựng đời sống văn hóa của Ban Chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa của Thànhphố, cũng như của xã Trung An, huyện Củ Chi và Phường 14, Quận 4
- Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi
Cuộc nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp với phương phápđịnh tính Trong luận án này tác giả chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống 600 hộ trongtổng số hộ gia đình người Việt, không tôn giáo, có tang ma được tổ chức tại TP HồChí Minh trong 5 năm tính từ thời điểm bắt đầu cuộc khảo sát tại địa bàn nghiêncứu trở về trước Việc lựa chọn các đặc điểm của hộ gia đình để khảo sát như trêndựa trên một số tiên đề sau:
Thứ nhất, văn hóa ứng xử với người đã mất là một khái niệm khá phức tạp,
cho nên khi điều tra chúng tôi chọn người đại diện hộ gia đình là người hiểu biết vàgiữ vai trò quyết định việc thực hành văn hóa ứng xử với người đã mất trong gia
Trang 19đình Việc lựa chọn đối tượng như vậy là nhằm đảm bảo mức độ chính xác cho cácvấn đề được điều tra.
Thứ hai, các tộc người, tôn giáo khác nhau có văn hóa ứng xử khác nhau đối
với người đã mất Do vậy, trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ giới hạnnghiên cứu đối với người Việt, không tôn giáo
Thứ ba, thời gian 5 năm như đã lí giải ở trên để có một qui mô đủ lớn cho việc
chọn mẫu hộ gia đình, nhưng ít xảy ra những biến đổi kinh tế - văn hóa - xã hội lớn
và người được phỏng vấn cũng còn nhiều ký ức và nhớ rõ các sự kiện trọng đại nàycủa gia đình họ
(1) Về quy trình chọn mẫu: Do đối tượng nghiên cứu tương đối đặc biệt nêntác giả phải xác định trước số hộ gia đình đáp ứng yêu cầu cuộc nghiên cứu đặt ra.Trước hết, tác giả liên hệ với bộ phận tư pháp - hộ tịch của 2 địa phương nhằm xácđịnh được danh sách những hộ gia đình người Việt, không tôn giáo, có tang ma tổchức tại TP Hồ Chí Minh gồm: 912 hộ (Trung An có 485 hộ, Phường 14 có 427hộ) Từ danh sách này tác giả chọn ra 600 hộ được phân đều cho 2 địa bàn là : 300
hộ thuộc xã Trung An và 300 hộ thuộc Phường 14 Dựa trên công thức bước nhảy K
= N/n, trong đó K là hệ số bước nhảy, N là tổng thể và n là cỡ mẫu, và đã tìm ra hệ
số K có bước nhảy lần lượt là 1,6 ở xã Trung An và 1,4 ở Phường 14 Tính đại diệncủa mẫu nghiên cứu tại hai địa bàn là gần ngang nhau vì sự khác biệt về bước nhảy
là không đáng kể Trên thực tế, chúng tôi chọn xen kẽ một bước nhảy bằng 2 và mộtbước nhảy tiếp theo bằng 1 và cứ như vậy cho đến khi đạt được số mẫu cần thiết
Do một số gia đình từ chối trả lời hoặc không tiếp xúc được nên qui mô mẫu thực
tế là 575 hộ gia đình, trong đó có 283 hộ ở xã Trung An và 292 hộ ở Phường 14
(2) Về thiết kế, bảng hỏi gồm 4 phần: (i) thông tin đặc điểm người trả lời; (ii) thông tin về thờ phụng, cúng giỗ, (iii) thông tin về xây cất, chăm sóc và bảo vệ mộ phần; (iv) thông tin về tang ma Các nội dung này được sắp xếp theo kết cấu chi tiết của
luận án, theo mức độ từ khái quát đến chi tiết, có lưu ý đến tâm lí của người trả lời.(3) Về đối tượng trả lời bảng hỏi: Để đảm bảo sự chính xác của thông tin, sốngười trả lời này phải là những người có vai trò quyết định trong thực hành việc
Trang 20(4) Về cách thức triển khai cuộc khảo sát: Tác giả xin giấy giới thiệu củachính quyền, đồng thời nhờ cán bộ phường/ xã và trưởng ấp/ trưởng ban điều hànhkhu phố hỗ trợ tiếp cận trực tiếp các đối tượng khảo sát Lực lượng triển khai khảosát gồm 8 người, được tập huấn đầy đủ về nội dung của luận án, am hiểu và có kinhnghiệm về điều tra xã hội học, chia làm 2 đợt làm việc tại 2 địa bàn Quá trình thuthập thông tin luôn có sự giám sát của tác giả để hạn chế tối đa những sai sót Dokhó khăn trong tiếp cận khách thể nghiên cứu, cuộc điều tra kéo dài đến 8 ngày,trong đó 4 ngày dành thu thập thông tin tại Phường 14 và 4 ngày tại xã Trung An.(5) Về xử lí kết quả điều tra: Sau điều tra, các bảng hỏi được kiểm tra, mãhóa, làm sạch dữ liệu và nhập liệu, xử lí theo yêu cầu của luận án trên phần mềmSPSS phiên bản 20.0.
(6) Về đặc điểm của đối tượng trả lời được phân tổ sau khi khảo sát theo nămnhóm xã hội dưới đây:
Trang 21- Quan sát
Đó là những cảm nhận trực tiếp của tác giả ở cả hai địa bàn nghiên cứu, cụ thể là:(1) Những quan sát và ghi ảnh diễn biến của tang lễ ở 02 gia đình tổ chức chongười thân đã mất; quan sát và ghi ảnh một số đám giỗ mà tác giả được mời ở cả 2địa bàn
(2) Ghi ảnh về các loại mộ phần, địa điểm đặt mộ người đã mất Tại huyện CủChi, tác giả quan sát, ghi hình tại nghĩa địa xã Trung An, nghĩa trang chùa Pháp Bửu,
ấp Thạnh An và một số mộ phần được chôn cất xung quanh nhà ở của người dân Riêngtại Quận 4, tác giả đã ghi hình nghi lễ mai táng một trường hợp tại cơ sở cung cấp dịch
vụ hỏa táng và nơi đặt tro người đã mất trên địa bàn Phường 14 tại chùa Vạn Hạnh
- Phỏng vấn sâu
Tiến hành 30 cuộc phỏng vấn sâu (mỗi địa bàn 15 cuộc) về chủ đề nghiên cứu,trong đó có tính đến các yếu tố như giới tính, tuổi tác, mức sống, học vấn, địa bàn
cư trú hiện nay, … Ngoài ra, còn phỏng vấn thêm 10 cán bộ lãnh đạo ở phường và
xã (chia đều cho mỗi địa bàn), nhất là các cán bộ phụ trách văn hóa - xã hội
Các câu hỏi phỏng vấn sâu tập trung vào những vấn đề, nội dung chưa đượclượng hóa ở bảng hỏi, nhất là những kiến giải của người dân về sự biến đổi trongvăn hóa ứng xử với người đã mất hiện nay trên địa bàn Thành phố
- Thảo luận nhóm tập trung
Tổ chức 02 cuộc thảo luận nhóm, mỗi nhóm có 08 người tham dự (mỗi địa bànmột cuộc) Thành phần của nhóm cũng bao gồm cả nam và nữ, giàu và nghèo, già
và trẻ, học vấn cao và học vấn thấp Nội dung của các cuộc thảo luận tập trung vàonhận thức, thái độ, cách kiến giải, cũng như tâm tư nguyện vọng của người dân vềcác chủ đề nghiên cứu
Trong mỗi cuộc thảo luận, người chủ tọa dẫn dắt thông qua các câu hỏi đượcchuẩn bị sẵn để những người được mời tự do trình bày, chia sẻ và phát biểu chínhkiến, quan niệm cũng như trải nghiệm của chính họ Thư ký có nhiệm vụ tốc ký cácphát biểu, ghi chép các nội dung đã được thảo luận Sau phần thảo luận, chủ tọa dựa
Trang 22vào những vấn đề đã được nhất trí để xác định khuynh hướng, điểm chung về nhậnthức, thái độ và nguyện vọng của người dân Nguồn dữ liệu này được tận dụng để phântích và lý giải các vấn đề nghiên cứu đã được mô tả qua các số liệu định lượng.
- Các phương pháp khác
Ngoài các phương pháp thu thập thông tin ban đầu, trong nghiên cứu này tácgiả còn sử dụng hàng loạt các phương pháp chung trong nghiên cứu khoa học như:phân tích và tổng hợp, diễn dịch và qui nạp, trừu tượng hóa và khái quát hóa, logic
và lịch sử, lịch sử và so sánh,… Chẳng hạn, sử dụng phương pháp diễn dịch để thaotác hóa khái niệm “Văn hóa ứng xử với người đã mất” với tư cách là một khái niệmtrừu tượng, mang tính lý thuyết thành các chỉ báo thực nghiệm, có thể quan sát đượctrong đời sống thực tiễn Cũng tương tự, việc sử dụng các phương pháp lịch sử vàlogic đã giúp rất nhiều cho việc tổ chức các chương 3, chương 4 và chương 5, làmcho người đọc vừa dễ dàng cảm nhận được mối quan hệ nội tại trong việc tang ma,
mồ mả và thờ cúng, vừa thấy được quá trình biến đổi mang tính lịch sử của chúng.Còn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp là để đi sâu vào các khía cạnh
vi mô của đối tượng nghiên cứu để từ đó rút ra các nhận xét chung về sự vận hànhcủa chúng; sử dụng các phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa để đi đến cáckết luận, các nhận định chung mà cuộc nghiên cứu đang hướng đến
5 Đóng góp mới và hạn chế của luận án
5.1 Đóng góp mới
Cái mới của luận án này thể hiện ở chỗ đối tượng nghiên cứu được nhìn nhận,đánh giá thông qua một khái niệm chung là “văn hóa ứng xử với người đã mất” thay
vì nghiên cứu nó một cách riêng lẻ ở từng thành tố là tang ma, mồ mả và thờ cúng
mà hầu hết các nghiên cứu trước đây đã làm
Thông qua việc phân tích hành vi ứng xử với người đã mất trong đời sống giađình tại TP Hồ Chí Minh, luận án đã chỉ ra sự biến đổi, những tác động xã hội củađối tượng nghiên cứu chứ không chỉ dừng lại ở những gì đã định hình và tồn tại mộtcách tĩnh tại như người ta vẫn quen nghĩ về nó
Trang 23Mặc dù cùng có chung đối tượng nghiên cứu, nhưng mỗi ngành khoa học đều cócách tiếp cận riêng của mình Chẳng hạn, để lý giải cho tính đa dạng trong hành vi củacon người, nếu như Tâm lý học xoay quanh trục nhân cách, Nhân học cầu viện vào sự
đa dạng của văn hóa, thì Xã hội học dựa vào cơ cấu xã hội Nghiên cứu này đã dựa trênnhãn quan xã hội học để chỉ ra sự khác biệt trong thực hành văn hóa ứng xử với người
đã mất theo các tương quan về giới tính, độ tuổi, học vấn, mức sống hay địa bàn cư trú,
… Theo chúng tôi, đây cũng là một đóng góp mới của luận án
5.2 Hạn chế của nghiên cứu
Cuộc điều tra chỉ chọn mẫu nghiên cứu ở 02 địa bàn là Phường 14, Quận 4 và
xã Trung An, huyện Củ Chi nên những kết luận mang tính khái quát của luận án chỉđược rút ra tại hai địa bàn này Còn kết luận chung cho TP Hồ Chí Minh cố nhiênvẫn cần có thêm ở những nghiên cứu tiếp theo ở nhiều xã, phường khác nữa
Cũng như vậy, do hạn chế về thời gian, khả năng và kinh phí, tác giả chỉ tậptrung phân tích sự khác biệt trong việc thực hành văn hóa ứng xử với người đã mất
ở 05 lát cắt cơ bản - đó là theo nhóm tuổi, giới tính, học vấn, mức sống và địa bàn
cư trú Các nhóm xã hội khác vẫn rất cần được đi sâu tìm hiểu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên
cứu 6.1 Ý nghĩa lý luận
Ở nghiên cứu này có bốn khái niệm chính là “Đời sống gia đình”, “Văn hóa ứngxử”, “Văn hóa ứng xử với người đã mất”, và “Ứng xử với người đã mất trong giađình” đã được định nghĩa, giải thích khá rõ ràng, riêng khái niệm thứ tư đã thao táchóa đến các chỉ báo thực nghiệm Công việc này đã làm sáng tỏ hơn nội hàm vàngoại diên của các khái niệm đó, qua đó mài sắc thêm các công cụ để phân tích vềvăn hóa gia đình, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang nỗ lực xây dựng gia đình vănhóa tại các khu dân cư hiện nay
Bên cạnh đó, đề tài còn vận dụng ba lý thuyết là: lý thuyết lựa chọn hợp lý, lýthuyết tiểu văn hóa và lý thuyết HĐH Việc vận dụng lý thuyết và kiểm chứng chúngqua các nguồn dữ liệu thực nghiệm của luận án cũng góp phần khẳng định tính đúngđắn, mức độ chính xác của chúng trong điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay
Trang 246.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần nâng cao nhận thức của người dân, đồng thời cung cấp luận cứ khoahọc cho các cơ quan chức năng, nhất là trên địa bàn khảo sát, trong việc quản lý vàhoạch định chính sách về việc thực hành các tập tục về tang ma, mồ mả và thờ cúng
tổ tiên sao cho phù hợp với sự phát triển của đất nước trong tình hình mới
Luận án có thể là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy ở các họcviện, các trường đại học, đặc biệt là các bộ môn Xã hội học văn hóa, Nhân học vănhóa và Xã hội học gia đình
Theo thông lệ quốc tế, bộ công cụ nghiên cứu và nguồn dữ liệu thu được từ cáccuộc điều tra, khảo sát của đề tài đã góp phần tạo ra nền tảng khoa học cho các cuộcnghiên cứu lặp lại ở những năm sắp tới
7 Kết cấu của luận án
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án được tổ chức thành 5 chương Trong đó, chương 1 dành cho việc tổng quan tìnhhình nghiên cứu; chương 2 xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài Cácchương 3, 4 và 5 tập trung mô tả, phân tích, giải thích và bình luận về sự vận hànhcủa văn hóa ứng xử trong đời sống gia đình qua số liệu thống kê tần suất và quatương quan giữa các nhóm xã hội khác nhau Cũng ở 3 chương này, bên cạnh cáchtrình bày theo logic (tức các khía cạnh khác nhau của đối tượng nghiên cứu), ngườiviết còn vận dụng phương pháp lịch sử (cụ thể là nhìn lại các giai đoạn cơ bản trongquá trình vận hành và biến đổi của đối tượng nghiên cứu) để thấy rõ hơn sự pháttriển mới mẻ hiện nay của nó Cách kết cấu này là khá hợp lý - bởi nó đã tạo ra sựgắn bó giữa truyền thống và hiện tại, lý thuyết và thực nghiệm, cũng như sự gắn bógiữa cái chung và cái riêng của vấn đề nghiên cứu Do khuôn khổ có hạn, ở chương
3, 4, 5 trong phần chính văn của Luận án tác giả chỉ trình bày một số bảng số liệuquan trọng, còn các bảng số liệu ít quan trọng hơn tác giả đặt trong phần phụ lục đểngười đọc có thể tham khảo hoặc phối kiểm những kết quả được phân tích
Trang 25Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Ứng xử với người đã mất sao cho có nghĩa có tình, từ rất xa xưa, đã trở thành
một nét đặc trưng trong văn hóa Việt Nam Nhưng, như ở mục Tính cấp thiết của đề
tài đã nói, nét đặc trưng văn hóa này ở nước ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề, kể
cả trên hai bình diện là lý luận và thực tiễn, rất cần được quan tâm giải quyết Côngviệc của tác giả không có gì khác hơn là được góp phần, dù nhỏ bé, vào công việcchung ấy Nhằm mục tiêu đó, trước hết chúng ta cần nhìn nhận một cách khái quátxem chủ đề này đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến những gì, họgiải quyết vấn đề ra sao, cả về nội dung, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
1.1 Nhìn lại các kết quả nghiên cứu đã công bố
1.1.1 Về khái niệm và các quan điểm lý thuyết
Việc tưởng niệm và thờ cúng tổ tiên, hay nói khác đi là ứng xử với người đãmất, là một hiện tượng xã hội mang tính phổ quát của văn minh nhân loại từ thờitiền sử [43, tr 181] Ở Việt Nam, ứng xử với người đã mất được biểu hiện tập trung
ở tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Trong một công trình do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên(2002), các tác giả cho rằng đạo thờ cúng tổ tiên ở nước ta cần phải được hiểu theonghĩa rộng, đó không chỉ là những người có công sinh thành, có cùng huyết thống,
mà còn cả những người có công với làng với nước, đã gắn bó với cộng đồng và xãhội từ thế hệ này qua các thế hệ khác [137]
Ở một công trình khác, Trần Quốc Vượng bổ sung thêm những chi tiết cụ thể
từ lễ gia tiên đến bàn thờ tổ tiên ở mỗi gia đình, các nhà thờ họ, đền/đình thờ các vị
“tiên hiền”, thành hoàng làng và cao nhất là đền thờ Hùng Vương [142, tr 512].Còn Phạm Xuân Nam thì tổng kết một cách khái quát: “Bên cạnh tín ngưỡng vậtlinh, tín ngưỡng phồn thực giống như nhiều dân tộc khác thời cổ đại, người Việt cổđặc biệt coi trọng tôn thờ chính tổ tiên mình, tôn thờ các anh hùng có nhiều côngđức với dân với nước (…) Đó là mặt văn hoá tâm linh vừa gắn liền vừa bổ sung
Trang 26cho tư tưởng yêu nước thương nòi - một đặc trưng nổi bật, đồng thời là một hằng sốtrong truyền thống văn hoá Việt Nam” [92, tr 202-203].
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong công trình Văn hoá và Đổi mới, cũng đã
viết: “Từ xa xưa, dân tộc Việt Nam ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thườngcủa nhiều nước khác Còn nói tôn giáo là thờ cúng, thì mọi người đều thờ cúng ông
bà, mọi họ đều thờ tổ tiên, làng thì thờ cúng thành hoàng và các bậc anh hùng cứunước, các tổ phụ ngành nghề, các doanh nhân văn hoá, tôi thấy đây là một đặc trưngđáng trọng của người Việt Nam, ở chỗ nó là sự tưởng nhớ những người có côngtrong việc tạo lập cuộc sống ngày nay của mọi gia đình và làng xóm” [35, tr 66]
Như vậy, trong các công trình nghiên cứu đã công bố, mặc dầu khái niệm Văn
hóa ứng xử với người đã mất, cho đến nay vẫn chưa được tác giả nào sử dụng một
cách chính thức, song không chỉ việc thực thi nó trong đời sống thực tế, mà còn cảtrên bình diện khoa học người ta cũng đã luận bàn rất nhiều đến ý nghĩa văn hóa củaphong tục cao đẹp này
Cố nhiên là không chỉ về nhận thức và quan niệm, mà còn cả về thái độ vàhành vi của người sống đối với những người đã chết đều có sự vận động và biến đổicùng với sự biến đổi của xã hội qua các chặng đường lịch sử khác nhau Vì vậy,chúng tôi sẽ còn trở lại vấn đề này trong Chương 2, ở mục bàn về khái niệm văn hóaứng xử với người đã mất Còn dưới đây, chúng ta sẽ bắt đầu từ nguồn gốc của loạihình văn hóa này
1.1.2 Nguồn gốc của văn hóa ứng xử với người đã mất
Không thể thâu tóm mọi khía cạnh của văn hóa ứng xử với người đã mất màcác tác giả đi trước đã đặt ra, trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ, tác giả chỉ xinđiểm lại một số vấn đề/khía cạnh có liên quan nhiều nhất đến chủ đề đã được xácđịnh của luận án
Theo nhà dân tộc học đồng thời cũng là nhà tôn giáo học lớn của nước Ngathời Xô viết là X A Tôcarev, hiện thời đang tồn tại hai quan điểm khác nhau trongviệc ứng xử với người đã mất Quan điểm thứ nhất dựa trên cơ sở cổ xưa của việc
Trang 27mai táng, đó là sự sợ hãi mang tính bản năng trước cái chết - một sự sợ hãi dườngnhư vốn có ở tất cả mọi sinh vật, kể cả con người Trong khi đó, quan điểm thứ hailại quan tâm nhiều hơn đến tính bầy đàn của động vật - đó là do hằng ngày chúngsống gắn bó với nhau, nên trước cái chết của đồng loại, nhất là việc phải rời bỏ thểxác đồng loại, đối với chúng, là việc làm rất khó khăn Tôcarev cho rằng hai bảnnăng đối lập đó đã tồn tại trong buổi bình minh của lịch sử nhân loại Về sau này, dùcác phong tục về tang ma có khác nhau ít nhiều giữa các tộc người, song nhìn chungchúng vẫn chịu sự chi phối bởi quan điểm này hay quan điểm kia, mà phần nhiều là
sự kết hợp cả hai quan điểm đó [130, tr 196 - 198]
Không dừng lại ở những phản ứng mang tính bản năng, các nhà khoa học còndựa trên cơ sở lý thuyết để giải thích hành vi ứng xử giữa người sống với người
chết Chẳng hạn, ở công trình Văn hoá nguyên thuỷ, nhà nhân học nổi tiếng người
Anh là E B Tylor khẳng định thuyết vạn vật hữu linh là khởi nguyên của tôn giáo
và đấy chính là cơ sở của quan niệm về linh hồn người chết làm nảy sinh tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên, mà bản chất là sự cúng bái hồn ma [135]
Tục thờ cúng hồn ma, hay chính xác hơn là thờ cúng tổ tiên nhiều nướcphương Đông đã hình thành từ hàng nghìn năm trước công nguyên Ở Trung Quốc,
từ thời nhà Thương, việc thờ cúng tổ tiên đã tồn tại như một phong tục trong đờisống của con người [13, tr 74] Xét về bản chất, phong tục này thể hiện quan niệmdân gian về mối quan hệ giữa sự sống và sự chết, giữa linh hồn và thể xác Lý giảicho điều này, nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu (2006) dẫn ra câu thơ “Thác là thể
phách, còn là tinh anh” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du để minh hoạ Theo ông,
câu thơ đã phản ánh được quan niệm về mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác trongđời sống con người Đó là, khi người ta sống thì linh hồn (tinh anh) và thể xác (thểphách) hội tụ lại với nhau trong một thể thống nhất Còn khi chết thì chỉ có phần thểxác là tàn lụi đi, còn linh hồn chỉ lìa khỏi xác để sống trong một thế giới vô hình,ngay bên cạnh những người sống Đặng Đức Siêu cho rằng thứ tín ngưỡng nguyênthuỷ này về sau, qua giao lưu văn hoá, đã du nhập thêm tín điều “Sự tử như sự sinh”
Trang 28của Nho giáo, để hình thành nên các tập tục trong văn hoá ứng xử với người đã chết
ở Việt Nam
Nhà sử học Đào Duy Anh, với công trình Việt Nam văn hoá sử cương, cũng
cho biết, theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, con người có cả phần hồn và phầnxác, khi người ta chết hồn sẽ lìa khỏi xác trở thành ma quỷ, song vẫn thường săn sócđến con cháu Khi có điều gì nguy hiểm, hồn sẽ báo mộng để con cháu biết mà đềphòng Bởi linh hồn tổ tiên có quan hệ mật thiết như thế, nên con cháu phải cúngcấp tổ tiên Những người bỏ giỗ tết là bất hiếu chi cực, để đến đỗi tổ tiên không cóngười tế tự mà phải trụy lạc thành những cô hồn đói khát thảm sầu Việc tế tự khôngphải chỉ cốt cho linh hồn tổ tiên khỏi khổ mà còn có ý nghĩa xa hơn, là nhớ ơn sinhthành và lưu truyền nòi giống, cho nên tế tự tổ tiên là lấy sự duy trì chủng tộc làmmục đích [3, tr 247 - 250] Những phân tích và lý giải của cụ Đào đã soi sáng thêmcho chúng ta về nguồn gốc của văn hoá ứng xử với những người đã mất trong giađình Việt Nam
Cùng với Đặng Đức Siêu và Đào Duy Anh, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoàikhi tìm hiểu về Việt Nam cũng có chung quan điểm như vậy Chẳng hạn, từ đầu thế
kỷ XX, trong tác phẩm Gia đình và tôn giáo ở nước An Nam, nhà truyền giáo
phương Tây là L Cadière đã viết: “Tất cả các vị tổ tiên của gia tộc vẫn đang ở đây.Dân gian gọi những người đã chết bằng từ ngữ “đã khuất”, “đã mất đi”, nhưng hồnvẫn ngự trị trên ban thờ, mãi mãi trong bài vị” Một tác giả khác là E Diguet, tác
giả cuốn Người An Nam: xã hội, tập quán và tôn giáo, khi nói về tục thờ cúng tổ
tiên ở Việt Nam còn khẳng định mạnh mẽ hơn - đó là: “Những người sống đã bịnhững người chết cai trị” (L Cadière, 1930 và E Diguet, dẫn theo Nguyễn Thừa Hỷ[45, tr 260 - 261]
Gần đây, trong một bài viết dự Hội thảo quốc tế Việt Nam học, do Đại họcQuốc gia TP Hồ Chí Minh và Đại học Toronto (Canada) đồng tổ chức ở Bình Châuvào tháng 12 năm 2007, nhà nhân học Hà Lan Oscar Salemink cũng cho rằng:
“Trong quan niệm về vũ trụ luận chi phối ở Việt Nam, cái chết là một chuyến đi chứkhông phải là một sự ra đi hoàn toàn, có nghĩa là các linh hồn người chết vẫn
Trang 29tiếp tục bảo vệ chúng ta thêm một thời gian nữa Trong tất cả các truyền thống tôngiáo chính (Đạo Phật, Đạo Giáo, Đạo Khổng, thờ cúng tổ tiên, và thờ cúng thầnlinh), cái chết là sự chuyển đổi của linh hồn từ thế giới này qua thế giới khác, nơi
mà linh hồn tồn tại cho đến khi đầu thai trở lại” [101, tr 12]
Tóm lại, trong quan niệm của người Việt Nam, các thành viên gia đình - kể cảông bà, cha mẹ và con cháu - khi chết đi họ chỉ không tồn tại về mặt thể xác, chứlinh hồn thì vẫn còn và luôn gắn bó bên cạnh những người đang sống Tuy nhiên, sựhiện diện của những người đã mất trong đời sống gia đình không phải là một trạngthái hoàn toàn thụ động, trái lại họ luôn tác động tới người sống những khi cần thiết.Theo nghiên cứu của L Cadière thì trong quan niệm của người dân, sự tácđộng đó bao gồm hai mặt: ban phúc và giáng họa Thông thường, người đã mất sẽ
“làm điều tốt cho những người đang sống của gia đình: đó là khi những người nàythực hiện đúng các bổn phận mà đạo hiếu quy định Vào những ngày lễ tết, các tổtiên được cung ứng những thứ mình cần, cảm thấy sung sướng và yên ổn, bènchứng tỏ sự có mặt của mình bằng cách ban phát mọi sự tốt lành cho con cháu.Nhưng nếu con cháu chọn phải một chỗ đất xấu để cất mộ, nếu họ quên cúng lễ nhưbổn phận bắt họ phải làm hoặc cúng lễ dè sẻn quá, thì tổ tiên báo thù, hay đúng hơn
tổ tiên trừng phạt những kẻ có tội Thế là, theo lời chỉ dẫn của thầy địa lý hay thầycúng, phải di chuyển hài cốt, làm lễ tạ tội với những vị tổ tiên bất bình” [69, tr 103-104] Đây không chỉ là một quan niệm, mà hơn thế, còn trở thành một tập tục, mộtthái độ và hành vi ứng xử trong đời sống của người dân
Oscar Salemink còn nói rõ những mối hoạ theo quan niệm này là: “Đối vớinhững người thân và con cháu còn sống, những người không thể đáp ứng những yêucầu của nghi lễ chôn cất chu đáo, sự tồn tại tiếp tục của thành viên gia đình như linhhồn lang thang, đói khát, không nơi trú ngụ giữa hai thế giới không chỉ là nguồn gốccủa những lo lắng về mặt nhân sinh theo nghĩa là không trọn hiếu nghĩa Đó lànguồn gốc của bất an trầm trọng và lo lắng cho tình hình hiện tại Sức khoẻ, của cải,
và vận may thì ngắn ngủi, phù du và luôn có thể bị mất đi - một linh hồn có ác ý
Trang 30có thể gây ra một sự rủi ro bất kỳ lúc nào và điều đó làm xói mòn lòng tin, rồi tiếp đến
là niềm tự tin cũng như tính kiên quyết, trong hiện tại và tương lai” [101, tr 14]
Cần nhấn mạnh là quan niệm về linh hồn người chết vẫn tiếp tục hiện hữu bêncạnh người sống, như đã nêu, không phải dựa trên một tín điều đơn giản hoặc phi lýnào, mà xuất phát từ trong thực tiễn đời sống của chính người dân Bởi vì, không ítngười gặp lại người thân đã mất của mình qua giấc mộng, cũng có thể nhận đượcnhững tín hiệu nào đó qua các điềm báo trước Nhà sử học Nguyễn Thừa Hỷ (2011)nói rằng thực tiễn đời sống còn hình thành một kênh liên lạc thông tin huyền bí kếtnối giữa người chết và người sống Đóng vai trò trung gian cho các kênh liên lạcthông tin này là đội ngũ những thầy pháp, thầy mo, thầy phù thuỷ, thầy bói, thầycúng, cô gọi hồn, bà đồng cốt, ngày nay còn được bổ sung thêm bởi các “nhà ngoạicảm” [72]
Niềm tin ở thế giới bên kia của người Việt, nói theo L Cadière, “không phảiđược áp đặt như đối tượng của đức tin, nó được công nhận là kết quả có thể nhìnthấy được và kiểm tra được của một tri thức thực nghiệm: vậy nó chẳng có gì là siêu
tự nhiên, chẳng có gì là huyền bí Người ta tin rằng những kẻ đã khuất bóng vẫnsống gần những người sống, như người ta tin ở ánh sáng mặt trời hay sức nặng củaquả dọi, …” [69, tr 105]
Vậy là, văn hoá ứng xử với người đã mất có nguồn gốc từ trong đời sống hiệnthực, chứ không phải từ một niềm tin mơ hồ hay phi lý nào Thứ văn hoá đó giúpcho việc giải quyết những vấn đề khách quan đặt ra từ cuộc sống: một mặt nó thểhiện sự tiếc thương rất chính đáng đối với người đã mất, song mặt khác đấy cũng làhình thức xoa dịu linh hồn tổ tiên, để họ có thể bước vào một thế giới khác một cách
an toàn - sự an toàn ngoài tầm ảnh hưởng của con người - chứ không trở thành mộtlinh hồn lang thang, mang hận thù và đói khát [101, tr 12] Chính do những mụctiêu thực tế đó, văn hoá ứng xử với người đã mất đã được hình thành từ trong lịch
sử và vẫn tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay
Trang 311.1.3 Các thành tố cơ bản trong văn hóa ứng xử với người đã mất
Văn hoá ứng xử với người đã mất là một lĩnh vực hoạt động vô cùng rộng lớnvới nhiều nghi thức và qui ước phức tạp, trong đó có cả những hành vi mang tính
ma thuật Các nhà nghiên cứu đi trước cũng đã đi sâu tìm hiểu các khía cạnh đadạng và phức tạp này Nhìn một cách tổng thể, có thể phân chia khái niệm cơ sở nàythành ba thành tố cơ bản là: tang ma, mồ mả và thờ cúng
Tang ma
Các nghi thức tang ma dành cho người chết, xét trên quy mô thế giới, đều rấttrang trọng, cầu kỳ và phức tạp Thuật ngữ “tang ma” được sử dụng trong nghiêncứu này không chỉ thể hiện tình cảm giữa người sống với người chết, mà còn phảnánh mối quan hệ giữa những người sống với nhau
Ở Trung Quốc trước đây, việc tang ma đều theo Chu Công lục lễ (Chu Cônglục lễ bao gồm: “Quan” là lễ đội mũ cho nam giới, đánh dấu sự trưởng thành; “hôn”
- việc thành hôn”; “tang” - việc tang ma; “tế” - quy định về tế lễ; “hương ẩm” - việcliên hoan, ăn uống; “tương kiến” - việc gặp gỡ giữa chủ và khách), trong đó quyđịnh rất cụ thể cho cả ba bộ phận hợp thành là tang lễ, tang phục và tang chế (chế độ
để tang) cho các thành viên trong gia tộc Nghi lễ đám tang bắt đầu bằng việc trựccanh quan tài người chết, có khi kéo dài cả tuần lễ Họ hàng, người thân và bạn bè
xa gần cùng ăn cỗ đám ma và vĩnh biệt người chết Gia đình, thân nhân của
người quá cố mặc tang phục, đầu quấn khăn tang, thắt dây lưng, tất cả đều màutrắng Sau tế lễ, vàng mã đem đi đốt, để người chết có đủ tiện nghi sinh hoạt ở thếgiới bên kia Ngày nay, chính quyền cố gắng thay đổi tập quán chôn cất người chếtnhằm đảm bảo nguồn đất đai canh tác không bị thu hẹp lại do việc mở rộng cácnghĩa trang [53, tr 90]
Dựa vào các nguồn tài liệu còn lưu giữ được, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằngvào đầu Công nguyên, viên quan cai trị nhà Hán (Trung Quốc) là Nhâm Diên khi ấylàm thái thú quận Cửu Chân, đã truyền Chu Công lục lễ vào Việt Nam Nhưng bêncạnh những nghi thức ngoại nhập đó, người dân vẫn không từ bỏ những phong tục
Trang 32vốn có của mình Có thể tóm tắt tiến trình này như sau: khi đã cao tuổi, biết mìnhkhông còn ở lại trần gian bao lâu nữa, các cụ thường chuẩn bị trước cho mình mộtchiếc áo quan (cỗ hậu), người cẩn thận và khá giả còn xây sinh phần, miền Nam gọi
là Kim tĩnh Lúc lâm chung, các cụ tự đặt lấy tên Thụy (gọi nôm là tên Hèm) để con
cháu khấn giỗ sau này Đến khi các cụ đã tắt thở, ngoài việc lập tang chủ và người
hộ lễ, con cháu phải thực hành hàng loạt các nghi thức của tang lễ
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mọi sự tế lễ về việc hiếu ở ta đều căn cứ theo
các sách Thọ Mai gia lễ và Gia lễ chỉ nam, tuy ngày càng đơn giản hơn, nhưng những
lễ chính thì vẫn giữ Các lễ thức ấy bao gồm: chiêu hồn (mời hồn người chết về để hưởng sự cúng tế), mộc dục (tắm gội cho người chết), phạn hàm (bỏ gạo và ba đồng tiền vào miệng để thay bữa và người chết lấy tiền đi đò), phạt mộc (chém vào áo quan
để xua đuổi tà ma), nhập quan (bao gồm cả tiểu liệm và đại liệm), sau đó áo quan được đóng lại và khiêng ra đặt ở chính giữa nhà, rồi làm lễ thành phục (lễ chính thức của đám tang) Suốt thời gian này còn có phường bát âm, với kèn trống nổi lên khi tế lễ hay
có người phúng viếng [6], [117] Ở thời hiện đại, trong việc tang còn có thêm các nghi
thức như đăng cáo phó, làm lễ truy điệu, lễ viếng, … [133] Người Việt quan niệm
“nghĩa tử là nghĩa tận”, nên khi nhà ai đó có tang thì ngay cả những người có mâuthuẫn, xích mích cũng đều đến phúng viếng, không dám để có điều gì sơ suất
Theo Phan Kế Bính (1990) và Toan Ánh (2005), sau khi việc chôn cất đãxong, lúc trở về nhà, để tỏ lòng hiếu với cha mẹ, con cháu còn thực hành thêm nhiều
nghi lễ nữa Chẳng hạn, đó là ngu tế (cầu cho cha mẹ được yên), chung thất (49 ngày), tốt khốc (100 ngày, không phải khóc nữa), tiểu tường (giỗ đầu), đại tường (giỗ hai năm), đàm tế (lễ bỏ đồ tang phục), đốt vàng mã (là những đồ thường dùng
của con người, làm bằng giấy), …
Gắn liền với tang lễ là tang phục và tang chế Tác giả Việt Nam phong tục cho biết, về tang phục, “con trai, con gái, con dâu đội khăn sô, mũ chuối, mặc áo sô, ngoài
quàng sợi chuối, thắt lưng dây bằng chạc Cháu nội thì đội mũ mấn, khăn trắng, mặc áo
thụng trắng, thân thuộc cũng mặc đồ trắng cả” [17, tr 30] Còn tang chế cũng được quy
định rất tỉ mỉ cho từng thành viên của gia đình và tộc họ, kể cả bên nội và bên ngoại
Trang 33Chẳng hạn, để tang cho cha mẹ sinh ra mình là 3 năm, khăn áo sô sổ gấu; cho cao tổphụ mẫu (tức ông bà sinh ra cha mình) là 5 tháng, áo vén gấu; cho tằng tổ phụ mẫu (tứcông bà sinh ra ông mình) là 3 tháng, áo sổ gấu Ngoài ra, chế độ để tang còn quy định
cả thời gian để tang cũng như tang phục cho những người là anh chị em của cha mẹ,ông bà, cho đích mẫu, chú dượng, mẹ ghẻ, nhũ mẫu, cha mẹ nuôi, rồi tang chồng, tang
vợ, tang anh chị em, kể cả những người chết non, chết yểu, … [141, tr 140 - 143]
Cũng X A Tôcarev cho biết, một nhà khảo sát tên là Phoexơ đã phát hiện rakhông dưới 25 phương thức khác nhau xử trí với người chết Chỉ tính riêng cho các
bộ lạc ở Tân Calêđôni, nhà quan sát này đã phát hiện thấy 6 loại mai táng: 1) chônthây nằm co trong một hố hẹp, để đầu nhô lên khỏi mặt đất, sau đó cắt đầu mang đi;2) cuốn thây trong vải liệm đặt nằm trong hang; 3) đặt trên vách đá hoặc trên cây; 4)ướp xác, tẩm xác rồi chôn trong một căn nhà sau đó trở thành nơi kiêng; 5) đặt xác
ở tư thế đứng trong một cây gỗ và 6) đặt xác xuống thuyền - chỉ áp dụng đối với cácthủ lĩnh [130, tr 199 - 201]
Trong các buổi an táng như thế, các thành viên của gia tộc và cộng đồng đềutập trung đông đủ Ở Việt Nam, hôm đưa linh cữu người chết đi mai táng, gọi là
phát dẫn, con cháu, anh em và người quen biết đều đi đưa cả Cha mất thì con trai
chống gậy tre, mẹ mất thì chống gậy vông Nghi trượng đi đường có hình thầntướng dẫn đạo, có đèn lồng ghi chức tước huý hiệu người mất, có minh tinh, hương
án, mâm ngũ quả, rồi trướng, câu đối, nến sáp hai dãy, kèn trống, võng lọng, saucùng là đại dư rước linh cữu Lúc hạ huyệt có tế thổ thần, có thầy địa lý phân kim
Trang 34gióng hướng, đợi đến giờ tốt (hoàng đạo) thì làm lễ hạ huyệt Trong lúc đưa ma, concái lúc nào cũng phải khóc [17], [6].
Nhìn chung, việc an táng và xây cất mộ phần cho người đã mất đều được coi làquan trọng và thiêng liêng ở mọi nơi trên thế giới Phản ánh tâm lý và phong tục củangười dân ở Bali, nhà nghiên cứu Inđônêxia là Gaura Mancacaritadipura viết rằng:
“Việc tôn kính người đã chết có thể bao gồm sự tôn kính ngôi mộ của người thân đãqua đời, và ở một mức độ phức tạp hơn, có thể là sự tôn kính những ngôi mộ và thờcúng các vị vua, anh hùng đã qua đời nhiều thế kỷ trước” [43, tr 183]
Hơn thế, theo quan niệm phong thuỷ của Việt Nam, phần đất nơi hạ huyệt cóthể làm cho con cháu phát đạt, cũng có thể đem lại sự lụi bại cho huyết thống Vìvậy, trong việc tang ma, ngôi huyệt rất quan trọng (sống vì mồ vì mả, ai sống vì cảbát cơm), do đó người ta thường nhờ thầy địa lý để chọn đất đặt mộ Tại ngôi đất đãđược chọn, khi cúng thổ thần xong, áo quan mới được hạ huyệt Ngày nay, do ảnhhưởng của văn minh Âu Mỹ, thường có điếu văn trước khi lấp huyệt Khi điếu vănđọc xong, các thân bằng cố hữu mỗi người ném một nắm đất xuống mộ, nhữngngười khác ném theo, sau đó các đô tuỳ lấp mộ Mộ được đắp cao lên, theo hình
tròn hoặc hình dài tuỳ theo mỗi địa phương Mộ đắp rồi thì làm lễ thành phần để xin
người chết thấu tình
Phan Kế Bính (1990) và Toan Ánh (2005) còn cho biết, trong ba ngày sau khi
mới chôn, mỗi buổi chiều con cái đem cơi trầu đến mộ mà khóc, gọi là ấp mộ, để
mộ đỡ lạnh lùng Đến ngày thứ ba, con cháu đắp sửa lại ngôi mộ cho tốt đẹp hoặclàm nhà mồ, mời phù thuỷ yểm bùa trừ ma quỷ Kể từ ngày thứ tư trở đi, người thânkhỏi phải ra thăm mộ, trừ các ngày rằm, mồng một
Sau ba năm, con cháu còn phải lo việc cải táng, nghĩa là chuyển xương cốt
người quá cố sang một chiếc tiểu sành rồi đặt ở một ngôi đất khác Có nhiều lý do
để người ta làm cải táng, chẳng hạn, lúc hung táng chưa được chu đáo, mồ mả cómối kiến hay sụt lún, tìm được ngôi đất khác tốt hơn Cũng có trường hợp khônglàm cải táng vì thấy có điều lành ở khu mộ - như rắn vàng xuất hiện, trong quan tài
Trang 35có dây tơ hồng quấn quýt, mả kết, … Về mộ phần, khi hung táng đắp hình vuông,
lúc cải táng đắp hình tròn, nhà phú quý xây lăng, nhà thường thì dựng mộ chí
Ngôi mộ được người Việt Nam coi là gia cư của người đã chết, vì vậy không chỉthân chủ mà cả pháp luật của nhà nước cũng rất nghiêm khắc đối với những kẻ phá hoại
mồ mả, dù đó là một ngôi mộ vô chủ Chẳng hạn, luật Gia Long có những điều khoảnrất cụ thể và chi tiết như phạt trượng, đày đi xa cho những ai xâm phạm đến mồ mả, kể
cả những người thân trong gia đình Vào các ngày giỗ hay thanh minh, con cháu điviếng thường đắp thêm đất cho ngôi mộ cao thêm, đồng thời cũng dãy cỏ, nhổ bỏ đinhững cây hoang dại có thể ăn tới xương cốt trong mộ Tục ta còn tin rằng người dướisuối vàng cũng tự bảo vệ gia cư của mình, khi mồ mả bị sụt lún hay súc vật đào bới, họ
sẽ báo mộng để con cháu tu sửa lại, còn nếu là người phá hoại thì người đó không tránhkhỏi bị trừng phạt Quan niệm này đã giúp rất nhiều cho việc bảo vệ phần mộ củangười chết, khiến kẻ ác tâm không dám động tới [6, tr 367 - 369]
Thờ cúng
Trong công trình đã dẫn là Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của
chúng, Tôcarev cho biết, ở các nước Đông Bắc Á như Trung Quốc, Triều Tiên và
Nhật Bản trong mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên để cúng giỗ, người thực hiện lễnghi đó nhất thiết phải là trưởng gia đình Khi cúng giỗ người này thường kính báovới tổ tiên các sự kiện xảy ra trong đời sống gia đình, sự ra đời của trẻ sơ sinh, việcdựng vợ gả chồng của con trai con gái và những công việc quan trọng khác Ngườiđứng đầu thị tộc thì làm lễ trong nhà từ đường của cả thị tộc Việc thờ cúng tổ tiêncòn là cơ sở của tôn giáo chính thống là đạo Khổng [130, tr 319] Hệ thống lễ nghithờ cúng đó vẫn được duy trì tới ngày nay, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống củangười dân ở các nước này
Đối với người Lào, theo Nguyễn Duy Thiệu (2013), việc ứng xử với người đãmất đều diễn ra trong dịp tết Boun Pi Mày Cũng giống như các tộc người kháctrong thờ phụng tổ tiên, đây là dịp để người Lào thể hiện tình cảm và trách nhiệmvới người đã khuất Có thể khái lược các hoạt động này ở các điểm sau đây: thông
Trang 36núi cát tượng trưng, tắm mát cho tổ tiên và sau cùng là cầu an chúc phúc ở từng giađình Qua các nghi lễ thờ cúng của người Lào, Nguyễn Duy Thiệu cho rằng các tôngiáo thế giới vào Đông Nam Á (ở đây là Phật giáo), không loại bỏ mà đã cấy lêntrên nền các tôn giáo bản địa, làm cho chúng đa dạng hơn và hấp dẫn hơn [125].
Trong khi đó, ở Việt Nam, việc thờ phụng tổ họ diễn ra ở nhà thờ họ (tức từ đường), còn thờ gia tiên thì phải lập bàn thờ tại nhà Dù nhà lớn hay nhỏ thì việc đặt
bàn thờ cũng phải chọn nơi trang trọng, thường là ở nhà trên và tại gian chính giữa.Trên bàn thờ bày khám thờ, ỷ thờ, thần chủ (bài vị), cũng có thể có thêm ảnh thờ.Thông thường người ta chỉ đặt bài vị của tiền nhân 4 đời (tính từ thế hệ cuối cùngngược trở lên “Ngũ đại mai thần chủ”: tổ tiên từ 5 đời trở lên thì bài vị được đưa vàonhà thờ họ hoặc tiêu huỷ đi Ngoài bài vị, trên hương án còn đặt bát hương, hai bên làcâu đối Khi điều kiện hạn hẹp, có thể đặt bàn thờ trên một giá cao đóng vào tường haytrên nóc tủ, nhưng nhất thiết phải có bát hương, chén nước, lọ hoa [117, tr 385 - 386].Nhà nghiên cứu người Nhật là Michio Suenari (2010) đã chỉ ra, theo quanđiểm Nho giáo thì người con trai trưởng mới có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên vànhững người đã khuất nói chung Nhưng nghiên cứu của Ông ở Thừa Thiên - Huếtrong thời gian gần đây lại cho thấy, phần lớn những gia đình được điều tra đều cóbàn thờ tổ tiên, gần 1/3 có thờ các đời đã xa (cụ, kỵ), kể cả thờ những người chếtnon, chết yểu Michio Suenari nhận xét rằng sự mềm dẻo đó chính là đặc trưng vănhoá của Việt Nam [120]
Gắn liền với thờ phụng là việc cúng giỗ Ngày giỗ cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, gọi
là ngày kỵ nhật, tức là đúng vào ngày, tháng mà những người đó qua đời Các nhà
nghiên cứu đều coi đây là điều quan trọng nhất trong việc thờ phụng tổ tiên Giỗ cha
mẹ thường làm to, rồi trở lên mỗi đời mỗi xa thì kém dần đi, nhưng ít nhất cũngphải có bát cơm quả trứng Nhà trưởng một nhánh họ hàng năm phải làm nhiều giỗ:cha mẹ, ông bà, cụ kỵ, những người gửi giỗ (tức để ruộng đất lấy hoa lợi làm giỗ),những ông chú bà bác không người nối dõi, rồi giỗ bà Cô, ông Mãnh, … Có khi,mỗi tháng họ phải làm đến vài ba cái giỗ
Trang 37Giỗ có thể làm to hoặc nhỏ tuỳ theo điều kiện của từng nhà, song ở thôn quêđây là dịp để gia chủ mở rộng mạng lưới quan hệ, cũng như mời lại những người đãmời mình đi ăn uống Bà con khách khứa thì mang chè, cau, rượu, hoặc vàng hươngđến lễ, rồi mới tham gia cỗ bàn ăn uống [17], [117] và [90] Ngoài kỵ nhật là ngàygiỗ chính, các ngày Rằm, mồng Một và lễ tiết trong năm (tứ thời tiết lập) các giađình đều có hương hoa thờ phụng những người đã mất.
Trong việc cúng giỗ, ngoài cỗ bàn còn phải kể đến một nghi thức quan trọng
nữa là việc cúng vàng mã và hoá vàng Do quan niệm ở thế giới bên kia linh hồn
của người đã khuất cũng cần đến mọi thứ như thế giới của người sống, nên đồ vàng
mã khá đa dạng - đó là quần áo, giày dép, mũ nón, ngựa xe, nhà cửa, tiền bạc, …Những năm gần đây người ta còn bổ sung thêm nhiều sản phẩm của thời hiện đạinhư ô tô, xe máy, điện thoại, đô la, … Khi cúng giỗ, vàng mã được đặt trên bàn thờ,bên cạnh cỗ cúng, đến khi cúng xong số vàng mã đó được đem đi hoá (đốt) Chođến lúc hoá vàng, ngày giỗ mới kể là xong Việc hoá vàng cũng có những kiêng kỵ,chẳng hạn, kiêng đốt không hết, kiêng để vàng mã bị rách, khi hoá vàng phải khấn
và cẩn báo để các cụ biết và nhận lễ [90, tr 316 - 317]
1.1.4 Tác động xã hội và những vấn đề đặt ra
Ứng xử một cách có văn hóa với người đã mất là một hiện tượng mang tínhphổ biến trong đời sống của con người, dù đó là quốc gia hay dân tộc nào Vậy hiệntượng này nói lên điều gì? Edaly Quiroz, nhà nhân học Mêxicô, qua nghiên cứu tụcthờ cúng trên quê hương mình, cho rằng chức năng văn hoá - xã hội của các di sảnvăn hoá phi vật thể, trong đó có việc ứng xử với người đã mất, là rất quan trọng - đó
“không chỉ như một phương tiện giao tiếp giữa các thế hệ và cộng đồng, giữa cácnhóm và các cá nhân, mà còn như một phương diện phát triển xã hội” [39, tr 180].Những nghiên cứu ở Trung Quốc cũng đưa đến những nhận xét tương tự Cáctác giả Chu Á (Đại học Vân Nam) và Trương Chấn Vĩ (Đại học Trung Sơn), khi tìmhiểu tục thờ cúng tổ tiên của người Thái ở nam Trung Quốc đã đi đến kết luận làviệc ứng xử mang tính văn hoá đó có ảnh hưởng rộng rãi đến những người đang
Trang 38đồng thời nó còn góp phần bảo vệ tính đa dạng văn hoá trong quá trình TCH hiện nay[1, tr 41] Hứa Hiểu Minh (2013), một nhà khoa học ở Quảng Tây, qua tìm hiểu tínngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc Choang, cũng khẳng định tín ngưỡng này khôngchỉ thể hiện tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất với thiên nhiên và các thế lực ápbức bên ngoài, đó còn là nét tinh tuý nhất trong thế giới tinh thần của người Choang đãđược hiện thực hoá Ông khẳng định, ngày nay tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã phát triểnthành một biểu tượng để đoàn kết, củng cố và nâng cao tinh thần dân tộc, đồng thờiquảng bá bản sắc của dân tộc Choang ra toàn thế giới [88].
Ở Việt Nam, Vũ Tự Lập và các cộng sự, trong cuốn Văn hoá và cư dân đồng
bằng sông Hồng, cho rằng việc thờ phụng, cúng giỗ tổ tiên còn là hành động khai
thác sức mạnh của quá khứ để phục vụ cho thực tại Các tác giả này viết: “Trongnhững ngày đó, tổ tiên được mời về chứng giám cho những việc làm và nghe lờitâu, lời cầu xin của con cháu để giúp đỡ chúng Như vậy, tổ tiên không phải là mộtcái gì thuộc về quá khứ Tổ tiên luôn luôn tồn tại bên cạnh con cháu, phán xét,hướng dẫn và giúp đỡ chúng Biết đem quá khứ đặt ngay vào trong hiện tại, biếnsức mạnh của quá khứ thành một bộ phận sức mạnh của hiện tại; biết đưa truyềnthống tổ tiên về xây đắp cuộc sống đương đại cùng với con cháu, chính là điểm rấttích cực và rất độc đáo trong “tín ngưỡng tổ tiên” [82, tr 176]
Còn Nguyễn Văn Huyên, qua chuyên khảo Văn minh Việt Nam, lại nhấn mạnh
đến ý nghĩa cố kết cộng đồng: “Việc thờ tổ tiên, được hiểu như vậy, là một sợi dâyvững chắc ràng buộc mọi người trong gia đình, còn sống hay đã chết, với nhau (…).Các ngày giỗ cũng như các ngày lễ tết, người của tất cả các chi tập hợp tại nhà thờ.Nếu là họ lớn, khi mỗi chi của họ, tức là mỗi nhà, vốn đã hình thành một gia đìnhlớn với các con cái đã lấy vợ, lấy chồng và ở riêng, bản thân gia đình cũng có bànthờ tổ, thì đây là những dịp duy nhất cho đại gia tộc gặp lại nhau trước một hình ảnhchung hay những tước hiệu chung Chính trong những buổi họp khép kín này, nhưđược dòng máu truyền cho sinh khí, những tình cảm thương mến tự nhiên được hồiphục hay được tăng cường Vì thế, nên nghiên cứu tục thờ cúng tổ tiên trong khuônkhổ gia đình Nó tạo thành một chất gắn kết tự nhiên của gia đình” [69, tr 106]
Trang 39Đánh giá cao ý nghĩa xã hội trong văn hoá ứng xử với người đã mất, nhànghiên cứu Đoàn Văn Chúc còn làm sáng tỏ thêm qua góc nhìn xã hội học và giá trịhọc đối với mỗi nhóm xã hội Tác giả này viết: “Một ngày giỗ tổ họ (nhóm họ tộc)hoặc giỗ gia tiên (nhóm gia đình), các thành viên nhóm tụ hội, biểu hiện giá trị củađối tượng được cử lễ, ấy là trong cùng một lúc họ biểu hiện giá trị của cái nhóm mà
họ sở thuộc và là phần tử cấu thành Do đó, sức cố kết xã hội được tái xác định,những rạn vỡ, đố kỵ, có khi cả những hận thù, diễn ra trong quan hệ hàng ngàyđược lắng dịu một phần, cũng có khi được xoá bỏ” [21, tr 133] Có thể nói mỗi lầngiỗ tổ hoặc giỗ gia tiên là thêm một lần tính thống nhất của gia đình và tộc họ lạiđược tái chuẩn nhận, do đó sức cố kết của nhóm được tăng cường
Điểm lại các nguồn tư liệu đã được định hình, ta thấy hầu hết các tác giả đềukhẳng định tính tích cực của văn hoá ứng xử với người đã mất Tuy nhiên, trải quahàng nghìn năm hình thành và phát triển, bên cạnh mặt tích cực, trong văn hoá ứng
xử với người đã mất cũng không tránh khỏi những biểu hiện tiêu cực, với không ít
hệ lụy và điều này cũng mang tính phổ biến ở nhiều quốc gia - dân tộc Chẳng hạn,nghiên cứu về những ảnh hưởng xã hội của các nghi lễ thờ phụng tổ tiên ở HànQuốc, Roger L Janelli, một giáo sư ở Đại học Indiana (Hoa Kỳ) cho biết, việc cùngtham gia trong ngày giỗ tổ tiên thể hiện sự đoàn kết của các thành viên, nhữngngười thường sinh sống trong cùng một xóm hay một làng, họ hợp tác với nhautrong các công việc nhà nông Nhưng cái mang lại sự đoàn kết cũng có thể mang lại
sự chia rẽ Quan sát trên thực địa, có một số trường hợp không tham gia vào cácnghi lễ của nhánh họ, tác giả cho rằng không khó để nhận thấy là các gia đình vắngmặt có mối hiềm khích với các thành viên khác của nhánh [114, tr 613] Sự “chiarẽ” mà Roger L Janelli đã nói không phải chỉ có ở Hàn Quốc, mà là hiện tượngmang tính phổ biến và tồn tại suốt theo chiều dài của lịch sử
Ngày nay, trong bối cảnh của CNH, HĐH và nền KTTT, việc ứng xử vớingười đã mất đang có những biến đổi lớn, tác động mạnh đến đời sống xã hội và đặt
ra không ít vấn đề cần được quan tâm Nghiên cứu của Jing Wang (2013) đã chỉ ra,
ở Trung Quốc dân cư đô thị đang tăng lên một cách nhanh chóng và sự tồn tại của
Trang 40các nghĩa trang theo phong tục cổ truyền dẫn đến tình trạng không gian bị thiếu, ảnhhưởng tới mặt sinh thái và phát triển bền vững của toàn xã hội [143] Trong khi đó,theo Edaly Quiroz (2013), ở Mêhicô tập tục thờ cúng tổ tiên lại phụ thuộc rất nhiềuvào cái mà chúng ta gọi là “khía cạnh thương mại” Nhà nghiên cứu này nhận thấythương mại và KTTT chỉ không tước đi tư cách của một lễ hội chừng nào nó đượckiểm soát bởi cộng đồng, chứ không phải do các doanh nghiệp [39].
Còn ở Việt Nam, ngay từ đầu thế kỷ XX, mà cụ thể là các năm 1913 - 1914,
khi viết các bài báo đăng từng kỳ trên Đông Dương tạp chí, sau này được tập hợp lại trong Việt Nam phong tục, học giả Phan Kế Bính từng ghi nhận: “Cúng cấp tuy
không tốn kém là bao nhiêu, nhưng nhiều nhà vì cớ nay giỗ mai tết mà sinh ra khốnkhó; hoặc là vì cúng cấp ăn uống mà anh em thường hay khích bác nhau, nào làtrách người này một nén hương chẳng mất, nào là chê trưởng nam kiệt, nào là phànnàn: bao nhiêu nước xáo đổ đầu trưởng nam, thì ra kính lại chẳng bõ phiền Giả thửdùng cách nào thanh lịch mà đỡ phiền phí thì có lẽ tiện hơn” [17, tr 23]
Từ khi Đổi mới (1986) đến nay, nhất là năm năm trở lại đây, khuôn mẫu ứng
xử với người đã mất ở ta đã có nhiều thay đổi, được thể hiện ra ở cả hai mặt tích cực
và tiêu cực Về mặt tích cực, nhiều nghi thức rườm rà, phức tạp đã được thay đổitheo hướng giản lược hơn Một nghiên cứu điền dã cho thấy, khoảng 20 năm trở lạiđây, trong đám tang ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh), người ta đã bỏ lệ con trai đội mũrơm, chống gậy, thắt lưng dây chuối Chỉ họ hàng gần mới chít khăn tang trắng, họhàng xa thì dùng băng đen ở ngực hay đeo ở tay áo, hàng xóm láng giềng cũng đeobăng đen theo quy định Người chết cũng chỉ được quàn trong nhà 24 tiếng đồng hồ
là phải đem đi mai táng để đảm bảo vệ sinh [86, tr 63 - 64]
Nghiên cứu của Lương Văn Hy, nhà nhân học Canada gốc Việt, ở làng HoàiThị (Hà Bắc) vào các năm 1987 - 1991 cũng ghi nhận những nhân tố mới, với ýnghĩa xã hội rộng lớn đã được bổ sung, làm phong phú thêm cho tín ngưỡng thờcúng tổ tiên của người Việt Chẳng hạn, trên bàn thờ của nhiều gia đình, bên cạnhbài vị tổ tiên người ta còn đặt thêm bức ảnh lớn của cụ Hồ Chí Minh ở vị trí trangtrọng [70, tr 460] Vẫn theo xu hướng đó, song trên quy mô cộng đồng, nhà sử học