1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Múa dân gian đương đại vấn đề bản sắc trong xã hội việt nam thời kỳ hội nhập

159 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh của hội nhập mạnh mẽ và trước sự đòi hỏi của xã hội trong sự nghiệp phát triển văn hóa đất nước mà Đảng đã đề ra, nhiều cơ quan đoàn thể và bản thân cá nhân các nhà hoạt đ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, tư liệu nêu trong luận án là trung thực Những nội dung nghiên cứu củaluận án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thu Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 14

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 14

1.2 Cơ sở lý luận 27

CHƯƠNG 2: XÃ HỘI VIỆT NAM SAU ĐỔI MỚI VÀ VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC 39

2.1 Bối cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại của Việt Nam sau đổi mới 39

2.2 Vấn đề bản sắc văn hoá sau đổi mới 53

Tiểu kết 64

CHƯƠNG 3: BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM MÚA DÂN GIAN ĐƯƠNG ĐẠI TIÊU BIỂU 65

3.1 Múa dân gian đương đại: lịch sử hình thành và phát triển 65

3.2 Yếu tố bản sắc và hiện đại trong các tác phẩm múa tiêu biểu 69

Tiểu kết 112

CHƯƠNG 4: MÚA DÂN GIAN ĐƯƠNG ĐẠI: TẠO DỰNG BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP 114

4.1 Bản sắc có chọn lọc trong các tác phẩm 114

4.2 Các yếu tố hiện đại được biên đạo lựa chọn trong các tác phẩm 126

4.3 Múa dân gian đương đại và sự kiến tạo/tạo dựng bản sắc văn hoá dân tộc trong bối cảnh hội nhập 133

KẾT LUẬN 138

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 142

TÀI LIỆU THAM KHẢO 143

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCHTW Ban chấp hành Trung ương

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năm 1986 Việt Nam chính thức mở cửa hội nhập với tất cả các nướctrên thế giới về mọi mặt Việc hội nhập nhanh và mạnh không chỉ diễn ra ởlĩnh vực kinh tế mà còn ở nhiều khía cạnh khác trong đời sống văn hoá và xãhội, tạo ra những băn khoăn, lo ngại, trăn trở trong nhiều tầng lớp xã hội.Những lo lắng, trăn trở tập trung vào vấn đề: Làm thế nào trong xu thế hộinhập như hiện nay, Việt Nam vừa có thể hội nhập, bắt kịp sự tiên tiến của thờiđại, vừa có thể tạo ra được, khẳng định được một Việt Nam với những nét bảnsắc nhất để không bị hoà lẫn, pha trộn vào các quốc gia khác? Vấn đề này thểhiện trong các chủ trương, chính sách của Đảng, trong thực tiễn quản lý vàthực hành văn hoá, nghệ thuật, trong các thảo luận trên truyền thông, trongcác hội nghị khoa học, vv

Những nỗ lực để có một nền văn hoá Việt Nam "tiên tiến", "hiện đại"nhưng “đậm đà bản sắc dân tộc" đã được thể hiện ở nhiều chính sách, chươngtrình và hoạt động ở các cấp trung ương và địa phương, thể hiện ở các hoạtđộng của cơ quan đoàn thể lẫn cá nhân những người hoạt động quản lý vănhoá và nghệ thuật Về chính sách, Hội nghị BCHTW4 khóa VII (tháng1/1993) nhấn mạnh vấn đề gìn giữ và xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc, tộcngười đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để phù hợp với xu thếphát triển của thời đại là một nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp phát triểnvăn hóa của Việt Nam Theo đó, “mọi sự phát triển xã hội phải gắn liền vớiviệc kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc dân tộc Phát triển tách khỏicội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa Đi vào kinh tế thịtrường, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị truyền thống sẽ làm mấtbản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của ngườikhác, của dân tộc khác” (Phạm Đình Hạc 1996:46) Tinh thần “hội nhập”nhưng không “hòa tan”; “tiên tiến” nhưng phải “đậm đà bản sắc” của Nghị

Trang 6

quyết BCH TW4 khóa VII, có thể nói, trở thành "kim chỉ nam" cho các hoạtđộng nghệ thuật như sân khấu, điện ảnh, hội hoạ, âm nhạc, múa, vv cũngnhư các các hoạt động và quản lý văn hoá khác Tinh thần cốt lõi của NghịQuyết này vẫn được tiếp tục đổi mới, hoàn thiện trong các kỳ Đại hội VIII,

IX, X, XI và XII

Trong bối cảnh của hội nhập mạnh mẽ và trước sự đòi hỏi của xã hội trong

sự nghiệp phát triển văn hóa đất nước mà Đảng đã đề ra, nhiều cơ quan đoàn thể

và bản thân cá nhân các nhà hoạt động xác định nghệ thuật là một thành tố quantrọng của văn hóa nên họ đã và đang nỗ lực tìm tòi con đường phát triển sao chovừa đáp ứng được yêu cầu của tinh thần Nghị quyết TW 4 là vừa đảm bảo đượctính hiện đại trong các tác phẩm vừa bảo vệ được bản sắc của truyền thống vănhoá quốc gia, tộc người Với nghệ thuật múa dân gian Việt Nam, những ngườilàm nghề cũng thể hiện sự băn khoăn, lo lắng khi phải đứng trước những đòi hỏicủa thời đại Giới nghệ sỹ, biên đạo múa lo ngại về sự mất bản sắc trong các tácphẩm múa dân gian đương đại, sự sính ngoại hay sự vắng bóng của ngôn ngữmúa dân gian truyền thống Việt Nam trong các sáng tác múa mới thời kỳ đươngđại Sau chính sách mở cửa hội nhập văn hóa, nghệ thuật các nước tràn vào ViệtNam, tạo ra môt làn sóng vô cùng lạ lẫm và mới mẻ với nghệ thuật nước nhà.Nghệ sỹ Việt Nam, nhất là thế hệ nghệ sỹ trẻ rất nhạy cảm đã nhanh chóng họctập, du nhập làn sóng nghệ thuật mới, biểu diễn và sáng tác trên mọi sân khấukhông chuyên và chuyên nghiệp Các hình thức, thể loại nghệ thuật mới này đãnhanh chóng phát triển rất mạnh mẽ, tạo được chỗ đứng trong lòng khán giả, chủyếu là thanh thiếu niên, học sinh… Nghệ thuật các nước tràn vào Việt Nam cũngtạo cơ hội cho nghệ sỹ, khán giả Việt Nam mở rộng hiểu biết về các thể loạinghệ thuật trên thế giới, trau dồi và làm mới nghệ thuật truyền thống Việt Nam,

để hội nhập dễ dàng hơn, khoảng cách địa lí, văn hóa giữa Việt Nam và các nướcđược rút ngắn hơn nhờ nghệ thuật và để hình ảnh về con người Việt Nam, đấtnước Việt Nam

Trang 7

được quảng bá sâu rộng trên thế giới thông qua nghệ thuật… Tuy nhiên, sựhội nhập mạnh cũng tạo ra nguy cơ làm "mất bản sắc" của các tác phẩm,không đáp ứng tinh thần của chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nướctrong sự nghiệp phát triển văn hoá nói chung Đó là việc đảm bảo cho ra đờinhững tác phẩm múa dân gian vừa mang tính chất “tiên tiến” của thời đại vừamang đậm yếu tố “bản sắc dân tộc”.

Bối cảnh Việt Nam thời kỳ hội nhập cho thấy có sự quan tâm đặc biệtcủa toàn xã hội đến vấn đề nhận diện đâu là bản sắc văn hoá Việt Nam vàphải gìn giữ bản sắc đó như thế nào? Những nỗ lực đã được minh chứng vàthể hiện trên nhiều bình diện khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau của đờisống xã hội Song, với luận án này, NCS chọn đối tượng nghiên cứu là thểloại múa dân gian đương đại để xem xét xem trong bối cảnh hội nhập nhữngngười nghệ sỹ, biên đạo múa đã thể hiện/tạo dựng bản sắc văn hoá dân tộcnhư thế nào để đáp ứng nhu cầu của nhà nước và xã hội trong quá trình xâydựng một nền văn hoá Việt Nam mới trong bối cảnh mới Đề tài luận án mongmuốn cung cấp thêm một nghiên cứu trường hợp cụ thể về quá trình tạo dựngbản sắc văn hoá quốc gia/dân tộc trong xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập Vì

vậy, NCS lựa chọn đề tài là: “Múa dân gian đương đại: Vấn đề bản

sắc trong xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập” Thông qua đề tài, luận án

hướng tới trả lời các câu hỏi như: Trong bối cảnh hội nhập 1) Múa dân gianđương đại đã được sử dụng để tham gia vào quá trình tạo dựng bản sắc vănhóa Việt Nam như thế nào? 2) Những người nghệ sỹ múa đã và đang làm nhưthế nào để các tác phẩm của mình có thể vừa “gìn giữ bản sắc” vừa thể hiện

sự “hội nhập” với xã hội đương đại? 3) Những thành tố văn hoá nào được sửdụng để thể hiện tính “bản sắc” của dân tộc?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Mục đích:

Trang 8

Thông qua nghiên cứu về vấn đề bản sắc trong múa dân gian đương đạinói chung và các tác phẩm múa dân gian đương đại tiêu biểu, luận án gópphần làm rõ thêm sự kiến tạo văn hoá quốc gia, dân tộc trong trong bối cảnhhội nhập ở Việt Nam hiện nay.

- Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, luận án có 3 nhiệm vụ nghiên cứu chính là:1) Trình bày và phân tích nội dung, hình thức thể hiện, vv… các tácphẩm múa dân gian đương đại tiêu biểu được đánh giá là có sự kết hợp giữatính “dân tộc”, “đậm bản sắc” và yếu tố hiện đại

2) Tìm hiểu và chỉ ra các quan điểm, đánh giá, nhận xét của các nghệ sỹ, nhà phê bình, lý luận về một số tác phẩm múa dân gian đương đại, đặc biệt là các quanđiểm liên quan đến “bản sắc văn hoá” được thể hiện trong các tác phẩm đó.3) Xem xét và mô tả các thành tố văn hoá, kỹ thuật được sử dụng để thểhiện tính “bản sắc” dân tộc và tính “hiện đại” trong các tác phẩm múa dângian đương đại

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tác phẩm múa dân gian đươngđại Việt Nam và những vấn đề liên quan như bối cảnh ra đời, quan điểm sángtác, kỹ thuật thể hiện và các diễn ngôn về bản sắc văn hoá nói chung, bản sắcvăn hoá trong các tác phẩm nghệ thuật ở Việt Nam sau đổi mới nói riêng

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án là một số tác phẩm múa dân gianđương đại tiêu biểu NCS lựa chọn một số tác phẩm ra đời trong bối cảnh hộinhập, tạm tính từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa từ năm 1986 đếnnay NCS không lựa chọn tác phẩm theo các mốc thời gian cụ thể mà trên tiêuchí xác định tác phẩm có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu chính của

đề tài hay không Vì vậy, công trình luận án này sẽ phân tích các tác phẩm

Trang 9

tiêu biểu ở thể loại múa dân gian đương đại Các tác phẩm đó bao gồm: Thânphận; Sương sớm; Sóng lụa ven đô; Nhinh sao; Nhịp điệu Tang Sành; Sắcmàu non cao; Séc bùa hồn Chiêng; Huyền ảo vĩnh hằng; Tiếng trống Paranul;Múa quạt; 11 Keo Moni Mekhala Khi lựa chọn, NCS chú ý đến nguồn gốctác phẩm cụ thể là: Tác phẩm của ai, là thể loại múa dân gian của vùng miềnnào, chủ đề phản ánh hay hình tượng nghệ thuật là gì… NCS quan tâm tớiviệc tác phẩm được xây dựng như thế nào, ý tưởng/thông điệp của các biênđạo và nghệ sỹ ở đây là gì, có những tranh luận nào liên quan tới xây dựngbản sắc trong tác phẩm…

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

- Phương pháp luận

Về vấn đề bản sắc văn hoá

Trong giới học thuật vẫn tồn tại hai quan điểm đối nghịch nhau về bản sắcvăn hoá đó là, quan điểm bản thể luận và quan điểm kiến tạo luận: Theo quanđiểm bản thể luận thì bản sắc văn hoá được nhìn nhận là một thực thể tĩnh tại, cốđịnh và không thay đổi Bản sắc là cái có sẵn, là “cái tôn/căn tính” (Barker(2011,Tr: 299) Hay như nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng: “Nói đến bản sắcvăn hóa tức là nói đến cái mặt bất biến của văn hóa trong quá trình phát triển củalịch sử Dĩ nhiên văn hóa là một hệ thống những quan hệ, không phải là những

sự vật Các hệ thống quan hệ này mang những tên gọi riêng, có thể chứa đựngnhững cách lý giải khác nhau trong cách biểu hiện qua các thời đại Cái tạo thànhtính bất biến trong các hệ thống quan hệ này là những nhu cầu của tâm thức conngười Việt Nam Các nhu cầu này cơ bản là như nhau ở mọi tầng lớp, mọi lứatuổi, không liên quan đến tài sản, học vấn và khá ổn định, mặc dầu một tầng lớpngười có thể chiếm ưu thế hơn một tầng lớp người khác”

Tuy nhiên, để tìm hiểu về bản sắc văn hoá Việt Nam được thể hiện nhưthế nào thông qua các tác phẩm múa dân gian được lựa chọn trong đề tài luận

Trang 10

án này, tác giả luận án sử dụng quan điểm kiến tạo luận khi xem xét, nghiêncứu về vấn đề bản sắc trong các tác phẩm múa dân gian đương đại.

Bản sắc theo quan điểm kiến tạo luận được hiểu như sau:

Ngược lại với hướng bản thể luận, theo các nhà kiến tạo luận cho rằng:mọi bản sắc luôn luôn biến đổi khi chịu tác động của bối cảnh Mỗi một bốicảnh khác nhau sẽ làm cơ sở để tạo dựng ra bản sắc mới nhằm phục vụ cácmục đích mới Bản sắc dân tộc hay bản sắc văn hoá không phải chỉ là nhữngcái truyền thống - cái cũ mà bao gồm cả những cái mới - cái đang diễn ra,không phải là những cái cao xa mà chính là những cái đời thường, hàng ngày.Bản sắc dân tộc không chỉ là cái bất biến mà luôn có sự vận động, tương thíchvới sự thay đổi của bối cảnh Bởi vậy, bên cạnh các giá trị truyền thống, giá trịcốt lõi, bản sắc văn hóa luôn được sáng tạo, bổ sung những giá trị mới -những cái phù hợp với xã hội hiện đại trong bối cảnh hội nhập toàn cầu

Bản sắc văn hóa “không phải là một vật cụ thể mà chỉ là một mô tả trong

ngôn ngữ (diễn ngôn)” Nó là “những cách kết cấu diễn ngôn và có thể thay đổi

ý nghĩa theo thời gian, không gian và sự sử dụng” (Barker 2001, Tr:300)

Tác giả Đoàn Thị Tuyến, (2014, Tr:22) “Bản sắc văn hóa - từ góc độ

lý thuyết” Tác giả nêu: “Theo quan điểm của kiến tạo luận, bản sắc văn hóa

được xem như là một quá trình và ở đó các yếu tố cấu thành luôn luôn vận

động Bản sắc văn hóa được cấu thành thông qua trải nghiệm cá nhân/nhóm

trước môi trường xã hội, lịch sử và với các nhóm/cá nhân khác bên ngoài

Không có bản sắc văn hóa tự thân hoặc bản sắc sẵn có Ngược lại, bản sắc văn hóa là tạo dựng và mang tính xã hội rõ rệt Sự cấu thành của bản sắc văn hóa giống như là diễn ngôn, luôn thông qua sự thể hiện và ở đó chúng không

nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của quyền lực nói chung”

Tác giả Đỗ Huy - Trường Lưu (1990), “Bản sắc dân tộc của văn hoá”.

Hai tác giả cho biết: “Bản sắc dân tộc của mỗi nền văn hóa không tách rời cácgiá trị truyền thống nhưng căn bản mang tính hiện đại Các giá trị truyền

Trang 11

thống tham gia tạo dựng bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống Còn bản sắcvăn hóa dân tộc hiện đại đại diện cho diện mạo văn hóa dân tộc hiện đại”(Tr:15) Hai tác giả còn đề cập đến sự phát triển và biến hóa của bản sắc dântộc: “Nói bản sắc dân tộc nghiêng về diện mạo có hồn của văn hóa mỗi dântộc Nó thể hiện ở mọi nơi, mọi chỗ theo kiểu cách riêng của mỗi dân tộc Nóđược phát triển và biến hóa bởi sự nghiệp lao động và chiến đấu của nhiều thế

“quốc đạo” và là một biểu tượng mới cho văn hóa Việt Nam “Cách tiếp cậnViệt Nam như một thực thể thống nhất (unified entity) với những biểu tượngvăn hóa chung giờ đây không còn ý nghĩa nữa, đơn giản bởi vì là trong khi cốgắng bao gồm các nhóm tộc người, các xã hội, tôn giáo, ngôn ngữ và phongtục vào một khuôn mẫu chung, người ta không thể nhìn thấy hết sự đa dạng vàkhác biệt Cái gọi là bản sắc văn hóa được phát hiện trên cơ sở của cách tiếpcận này rõ ràng chỉ là một dạng bản sắc được cấu trúc có tính nhân tạo(artificially constructed identity)” Để lý giải cho điều này tác giả đã đưa raminh chứng qua quan sát cách thờ cúng tổ tiên của người Việt (Kinh) và một

số dân tộc Người Kinh thường chọn nơi trang trọng nhất trong gia đình đểthờ cúng tổ tiên, (gian giữa nhà, nơi đảm bảo tất cả mọi người có thể dễ dàng

Trang 12

nhìn thấy), còn một số nhóm dân tộc thường thờ cúng ở góc khuất khó có thểnhìn thấy như góc nhà hay trên gác bếp Cách tưởng nhớ người đã khuất cũng rất

đa dạng, người Việt (Kinh) thờ cúng tổ tiên vào ngày rằm, mồng một, đặc biệt cóngày giỗ, người Thái chỉ thờ linh hồn người cha đã khuất, người Bana cắt đứtmối liên hệ giữa người sống với người chết từ sau lễ bỏ mả… Như vậy, có thểthấy việc thờ cúng tổ tiên của các tộc người ở Việt Nam rất đa dạng và không có

cơ sở để nói đó là một mẫu số chung Các cách thờ cúng tổ tiên khác nhau đócũng có thể giao thoa với nhau và tác động lẫn nhau như một quá trình tiếp biếnvăn hóa để tạo dựng bản sắc Chính vì thế, bản sắc không thể được nhìn nhậnnhư một thực thể tĩnh mà sẽ luôn vận động và biến đổi Tác giả đã chỉ rõ kháiniệm bản sắc văn hóa chỉ là một dạng bản sắc được cấu trúc có tính nhân tạo(artificially constructed identity) tùy thuộc vào nhận thức chủ quan của nhànghiên cứu cũng như tác động trong từng bối cảnh cụ thể

Trong cuốn “Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận”, tác giả

Nguyễn Văn Xuân thông qua bài viết mang tên “Bản sắc dân tộc ứng dựngvào đổi mới” đã bàn về vấn đề y phục của Việt Nam trải qua từng giai đoạn

Từ khi ông cha ta đóng khố, bận váy, đến thời người Trung Quốc đời nhàMinh thay đổi thành quần có thắt lưng Đến thời Pháp y phục lại thay đổi sangkiểu Âu hóa quần Tây, áo sơmi “chúng ta thay đổi bản sắc dân tộc có từ thế

kỷ 17 để chuyển sang một bản sắc mới đang hình thành do phong khí mới củaphong trào mới gọi là Âu hóa cũng là điều tự nhiên” Có thể thấy rõ ràng mộtbản sắc mới được hình thành để phù hợp với bối cảnh xã hội mới “Bản sắcdân tộc không chỉ duy trì sâu sắc cho cái cũ có giá trị mà chính nó tạo nên tậptục cho giá trị mới trở thành truyền thống mới để phát triển.” (Tr:335)

Về việc lựa chọn các tác phẩm múa

Để tìm hiểu về bản sắc văn hóa đã và đang được các nhà biên đạo sángtác như thế nào, NCS đã lựa chọn 12 tác phẩm múa dân gian đương đại thuộc

10 vùng miền, tộc người khác nhau trên cả nước như: Kinh, Thái, Mường,

Trang 13

Cao Lan, Dao, Chăm, Khmer Các tác phẩm NCS lựa chọn đó là: Sóng lụaven đô; Sương sớm; Thân phận; Nhinh sao, Nhịp điệu Tang Sành; Sắc màunon cao; Séc bùa hồn chiêng; Trống Paranul; Huyền ảo vĩnh hằng; Múa quạt;Nấm báo mưa; 11 Robam Keo Moni Mekhala.

NCS đã gặp gỡ và trò chuyện với từng biên đạo của các tác phẩm nóitrên, tổ chức tọa đàm, thảo luận nhóm, tổ chức các cuộc phỏng vấn sâu vớimục đích tìm hiểu những quan điểm, nhận xét của các đối tượng hay nhómđối tượng khác nhau về các tác phẩm được lựa chọn phân tích trong luận án

và về cách các nhà biên đạo lựa chọn các thành tố thể hiện yếu tố bản sắctrong mỗi tác phẩm

Các tác phẩm múa dân gian đương đại được NCS lựa chọn để phân tíchtrong luận án được gọi là tiêu biểu bởi những lý do sau: (1), Đây đều là cáctác phẩm được biên đạo lựa chọn trong rất nhiều các sáng tác về bản sắc dântộc; (2), Các tác phẩm đều được cộng đồng nơi tác phẩm phản ánh công nhận

và lựa chọn là tác phẩm tiêu biểu; (3), Đa số các tác phẩm đều đạt giải caotrong các cuộc thi do các đơn vị chuyên môn uy tín tổ chức như Hội nghệ sỹmúa Hà Nội, Hội nghệ sỹ múa Việt Nam, liên hoan nghệ thuật các cấp củatỉnh, thành phố…

Thông qua phân tích các tác phẩm múa được lựa chọn, ở phần viết này

sẽ tập trung trả lời câu hỏi: Những thành tố đã được các biên đạo lựa chọn đểtạo dựng bản sắc trong tác phẩm là gì và tại sao các biên đạo lại lựa chọnnhững thành tố đó?

Đối với mỗi một tác phẩm múa dân gian đương đại, các yếu tố như: chủ

đề tư tưởng, hình tượng nghệ thuật, ý nghĩa tác phẩm, âm thanh, ánh sáng,trang phục, đạo cụ, ngôn ngữ động tác, cách tạo hình, tuyến múa…đều đượcphân tích, mô tả cụ thể, chi tiết theo tư liệu cung cấp của biên đạo, kết quảthảo luận nhóm và thông qua các đánh giá của các đối tượng người xem

- Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

Để triển khai đề tài luận án, NCS đã sử dụng các phương pháp nghiêncứu định tính, phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu.

Đối với phương pháp nghiên cứu định tính, NCS đã thực hiện nhiều đợtkhảo sát thực tế, tiến hành quan sát tham dự, kết hợp với phỏng vấn sâu Để

có thể thu thập thông tin một cách khách quan và chính xác nhất, NCS đã cómặt ở nhiều buổi biểu diễn, các chương trình giao lưu nghệ thuật Bên cạnhquan sát, khi có cơ hội, NCS còn tiến hành phỏng vấn/trò chuyện với cácchuyên gia, biên đạo, diễn viên, nhà phê bình lí luận múa và cả khán giả -những người đã có mặt ở các chương trình biểu diễn Ngoài ra, NCS còn tổchức các buổi semina theo nhóm đối tượng ở nhiều vùng miền khác nhau nơicác tác phẩm phản ánh tới Các cuộc thảo luận nhóm ở Tuyên Quang, HoàBình, Sơn La, Điện Biên, Trà Vinh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Sóc Trăng,Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội… đối tượng tham gia chủ yếu là nhữngkhán giả đã được xem tác phẩm, diễn viên của các phẩm, biên đạo, nghệ nhân

và các nhóm khán giả chưa được xem tác phẩm trước đó Trong quá trìnhphỏng vấn hay thảo luận nhóm, NCS thường ưu tiên sử dụng các câu hỏi mởđối với các đối tượng tham gia, đặt trọng tâm câu hỏi vào tìm hiểu suynghĩ/quan điểm của họ về các vấn đề như: những thành tố nào trong tác phẩmthể hiện được bản sắc?; Ngoài những thành tố được biên đạo lựa chọn, cònnhững thành tố nào khác không?; Những yếu tố bản sắc được thể hiện như thếnào thông qua nội dung, hình tượng nghệ thuật, trang phục, đạo cụ mà biênđạo đã sử dụng trong tác phẩm?; Những nguyên nhân chủ quan/khách quannào đưa đến sự lựa chọn của biên đạo về các yếu tố bản sắc trong mỗi tácphẩm? Phương pháp quan sát tham dự kết hợp phỏng vấn sâu cho phépNCS hiểu sâu hơn về suy nghĩ/quan điểm của các nhà biên đạo về bản sắc vănhóa/bản sắc dân tộc, lý do họ lựa chọn hình tượng nghệ thuật/động tác/trangphục/âm nhạc cho tác phẩm hoặc cảm nhận của các khán giả về tác phẩm vv.Việc thực hiện các quan sát và trò truyện trực tiếp còn giúp NCS hiểu sâu hơn

Trang 15

về sự khác nhau trong các quan điểm/cách thức lựa chọn/thể hiện bản sắc ở mỗi vùng miền/địa phương …

Trong quá trình thu thập tư liệu cho đề tài luận án, NCS đã phỏng vấn các nhóm đối tượng sau:

+ Nhóm biên đạo, nghệ sỹ đã về hưu: Đây là những người đã trải quanhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm của dân tộc, đại diện cho lớp thế hệ nghệ sỹtiên phong sưu tầm, chỉnh lý hệ thống động tác múa dân gian truyền thốngtrong các lễ hội để trở thành hệ thống múa đào tạo trong các trường nghệ thuậtchuyên nghiệp Sự nghiệp của họ gắn liền với các sáng tác múa dân giantruyền thống

+ Nhóm biên đạo, nghệ sỹ thế hệ 7x và 8x: Họ thuộc thế hệ sinh ra khiđất nước đã hoàn toàn ra khỏi chiến tranh và trên đà hội nhập sâu rộng về kinh

tế, văn hóa, chính trị…, đại diện cho thế hệ vừa muốn gìn giữ, bảo vệ những

di sản văn hóa của dân tộc vừa muốn cách tân để theo kịp xu hướng của thờiđại

+ Nhóm những nhà quản lý văn hóa nghệ thuật: Đây là những người cóvai trò hoạch định chính sách, đường lối phát triển văn hóa nghệ thuật cho đấtnước, đại diện các quan điểm chính thống của Nhà nước về vấn đề giữ gìn bảnsắc trong nghệ thuật múa hiện nay

+ Nhóm khán giả hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật múa: Họ lànhững nghệ sĩ, biên đạo chuyên nghiệp, có thể đưa ra các nhận định chuyênmôn sâu đối với tạo dựng bản sắc văn hoá dân tộc trong các tác phẩm múadân gian đương đại và với cách thức lựa chọn các thành tố thể hiện bản sắctrong tác phẩm múa được phân tích trong luận án

+ Nhóm khán giả ngoài ngành: Họ bao gồm tất cả quần chúng nhân dânkhông phân biệt lứa tuổi, giới tính hay nghề nghiệp, là những người đã từngxem múa dân gian đương đại hoặc được NCS lựa chọn ngẫu nhiên để thu thậpthông tin cho đề tài luận án Nhóm đối tượng này có thể giúp NCS nhận

Trang 16

diện/phân biệt được các thành tố của bản sắc dân tộc/tộc người nào được thừanhận trong các tác phẩm múa.

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận án NCS đã gặp gỡ, trao đổi

và phỏng vấn sâu 12 biên đạo của 12 tác phẩm được lựa chọn phân tích trongluận án Tổ chức hơn 10 cuộc thảo luận nhóm với mỗi nhóm khoảng từ 7 đến

10 khách mời, họ là biên đạo, là nhà báo, là nhà quản lý văn hoá, là khán giả, diễn viên, nghệ nhân…

- Về phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu:

NCS đã tiến hành tổng thuật và phân tích nhiều tài liệu đã xuấtbản/công bố, cụ thể là các bài báo, phát biểu tại các cuộc hội thảo chuyênngành múa và bài tạp chí của Hội nghệ sỹ múa Hà Nội, Hội nghệ sỹ múa ViệtNam Khi thực hiện tổng thuật, NCS ưu tiên tìm hiểu các quan điểm, bàn luậnxoay quanh thể loại múa dân gian đương đại thể hiện trong các bài viết về sựnghiệp phát triển múa nước nhà trong bối cảnh hội nhập NCS cũng quan tâmtới các tài liệu, sách, báo, các công trình nghiên cứu liên quan chẳng hạn vềvấn đề bản sắc, bản sắc dân tộc hay các chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước trong sự nghiệp phát triển văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc trong

xu thế hội nhập toàn cầu Ngoài ra, không chỉ các bài viết, nghiên cứu, phêbình, lý luận về múa dân gian đương đai mà cả những bài viết, cuốn sách vềnghệ thuật nói chung bao gồm điện ảnh, âm nhạc, sáng tác ca khúc và các thểloại nghệ thuật khác cũng thuộc phạm vi quan tâm của đề tài

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án đưa ra cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về nghệ thuật, cụthể là múa dân gian đương đại, chú trọng khía cạnh văn hoá, xã hội và chínhtrị của các tác phẩm nghệ thuật Múa dân gian đương đại, ở cả bình diện nộidung lẫn bình diện nghệ thuật (chất liệu, ngôn ngữ, âm nhạc, vv ), theo cáchtiếp cận nghiên cứu này, có mối liên hệ khăng khít với bối cảnh và nền tảngvăn hoá- xã hội nơi nó được sinh ra và tồn tại

Trang 17

- Đề tài luận án là một nghiên cứu trường hợp đầu tiên về múa dân gianđương đại dưới góc nhìn kiến tạo luận bản sắc, giúp người đọc hiểu sâu hơn

về quá trình tạo dựng bản sắc quốc gia/dân tộc trước những đòi hỏi của xã hộithời kỳ hội nhập và việc thực hiện chính sách phát triển văn hoá “tiên tiến”,

“đậm đà bản sắc” của Việt Nam Thông qua việc phân tích múa dân gianđương đại, luận án cung cấp những hiểu biết mới và sâu hơn về quá trình tạodựng bản sắc trong xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa lý luận: Thông qua nghiên cứu về quá trình kiến tạo “bản sắc”

văn hoá quốc gia, dân tộc thể hiện qua việc xây dựng/thể hiện các tác phẩmmúa dân gian đương đại, đề tài luận án góp phần cung cấp thêm một hiểu biếtchuyên ngành về vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc/tộc người trong bối cảnhViệt Nam đương đại

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án sẽ là một tài

liệu tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu sau này về bản sắc thông quangôn ngữ nghệ thuật nói chung và nghệ thuật múa nói riêng trước đòi hỏi của

xã hội và thời đại, góp phần vào sự nghiệp gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc/tộcngười theo đúng tinh thần, chủ trương, chính sách “tiên tiến” và “đậm đà bảnsắc” mà Đảng và Nhà nước đã đề ra

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận Đề tài luận án được chia làm 4

chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Xã hội Việt Nam sau đổi mới và vấn đề bản sắc văn hoá quốc gia,

tộc người

Chương 3: Bản sắc văn hoá quốc gia, tộc người trong một số tác phẩm múa

dân gian đương đại tiêu biểu

Chương 4: Múa dân gian đương đại: Tạo dựng bản sắc quốc gia, tộc người

trong bối cảnh hội nhập

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu về múa và múa dân gian đương đại Việt Nam

Múa dân gian và múa dân gian đương đại thu hút được sự quan tâmnghiên cứu của không chỉ giới chuyên môn mà còn là đề tài dành được sựquan tâm chú ý của ngành nghiên cứu văn hoá là bởi vì: Từ khi Việt Namchính thức mở cửa hội nhập, nghệ thuật thế giới du nhập vào Việt Nam vớitốc độ “không kiểm soát” được, giới trẻ bao gồm cả những người theo họcchuyên nghiệp, biên đạo, diễn viên đến những cá nhân, nhóm hoạt động tựdo…có thêm nhiều cơ hội được quan sát, học hỏi qua nhiều kênh khác nhau

về các thể loại nhảy múa trên toàn thế giới Sự thâm nhập của các thể loạinghệ thuật nhảy múa mới mẻ này đã nhanh chóng trở nên chiếm ưu thế trênthị trường thưởng thức nghệ thuật trong nước Thể loại nghệ thuật dân giantruyền thống bị vắng bóng trên các sân khấu và những người trong giới bắtđầu lo ngại về sự mất đi của thể loại múa đã ra đời và ăn sâu trong đời sốngvăn hoá cộng đồng mỗi dân tộc Việt Nam Điều này cũng nằm trong sự longại chung của toàn dân tộc về sự “cào bằng” văn hoá hay “mất bản sắc” dântộc Tâm lý sợ đánh mất mình, sợ bị hoà tan trong thế giới toàn cầu hoá củaViệt Nam hậu thuộc địa - một đất nước vừa thoát khỏi sự đô hộ của thực dân,luôn muốn khẳng định mình, xây dựng một quốc gia độc lập, có bản sắc riêng

và không thể bị nhầm/trộn lẫn với bất kỳ quốc gia nào khác, đã trở thành nỗi

ám ảnh và là nhiệm vụ của toàn ngành văn hoá trong đó có nghệ thuật Vì lý

do ấy, các nhà nghiên cứu, sưu tầm bắt đầu nhìn nhận múa và cụ thể là múadân gian Việt Nam như một kho tàng văn hoá gắn với bản sắc dân tộc và cầnđược nhìn nhận lại giá trị của nó trong bối cảnh đương đại Các công trìnhnghiên cứu lần lượt ra đời, các cuộc hội thảo lớn nhỏ của ngành múa đã được

tổ chức Trong rất nhiều các nghiên cứu về múa đã cho thấy múa là một thành

Trang 19

tố văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc cần được gìn giữ và phát triển Trongphần tổng thuật này NCS sẽ tập trung vào các công trình tiêu biểu nhất, cóliên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu chính của đề tài luận án:

Viết về lịch sử nghệ thuật múa, Lê Ngọc Canh là một trong những nhànghiên cứu được nhiều người biết tới Năm 2009, ông đã xuất bản cuốn sách

Lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam Đây có thể coi là một công trình nổi bật

nhất của ông về chủ đề này; ở đây ông đã tổng kết lại lịch sử nghệ thuật múadân gian Việt Nam gắn liền với tiến trình phát triển dân tộc Ngoài ra, viếtriêng về chủ đề múa dân gian của các dân tộc thiểu số, tác giả Lê Ngọc Canh

còn có nhiều ấn phẩn khác như: Nghệ thuật múa người Mạ (2005); Nghệ thuật múa tộc người Châu Ro (2005) và Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam

(1998) Các ấn phẩm trên là kết quả sưu tầm nghiên cứu của tác giả về khotàng múa dân gian của các dân tộc thiểu số, nhằm bổ sung, hoàn thiện vào khotàng văn hóa nghệ thuật dân gian các dân tộc Việt Nam Đây cũng là sự đónggóp đầy tâm huyết của ông đối với công tác bảo tồn và gìn giữ nền nghệ thuật

múa của Việt Nam thời kỳ hội nhập Đặc biệt tác phẩm Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam phản ánh cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật múa dân gian đặt trong

mối quan hệ với thực hành văn hoá tín ngưỡng Múa ở đây được coi là mộtthành tố văn hóa, và vì vậy mọi động tác, ngôn ngữ múa đều mang một ýnghĩa biểu tượng nào đó của văn hóa tộc người trong các bối cảnh cụ thể

Bên cạnh các nghiên cứu đã được công bố của Lê Ngọc Canh, các tác

phẩm: Tìm hiểu về nghệ thuật múa Việt Nam (2001) và Nghệ thuật múa dân tộc

Việt (1979) của Lâm Tô Lộc hay Múa dân gian trong tác phẩm múa chuyên nghiệp Việt Nam của Ứng Duy Thịnh (2006) cũng là những tác phẩm có đóng

góp quan trọng, giúp hoàn thiện hơn nữa những khảo cứu mang tính thực tiễn vềkho tàng múa dân gian của dân tộc và ý nghĩa của nghệ thuật múa trong đời sốngđương đại Các tác phẩm này phản ánh kết quả bước đầu và quan trọng vềnghiên cứu sự phát triển của múa dân gian dân tộc Trong bối cảnh hội nhập đã

Trang 20

có sự tham gia mạnh mẽ của các thể loại múa mới, đặc biệt là múa ballet - cổđiển châu Âu Đây cũng chính là tiền đề cho sự ra đời của hàng loạt các tácphẩm được sáng tác theo phong cách mới - dân gian kết hợp với hiện đại.Nhìn chung các tác phẩm đã công bố ở trên tập trung tìm hiểu về thể loạimúa của dân tộc và kho tàng nghệ thuật múa của dân tộc đó với các đặc trưng

về ngôn ngữ động tác, văn hóa nghệ thuật vùng miền, tuyến múa và phongcách thể hiện Các tác phẩm này, trên thực tế, đã được sử dụng làm cơ sở choviệc biên soạn và chỉnh lý giáo trình múa dân gian dân tộc, tạo điều kiệnthuận lợi cho công tác đào tạo diễn viên, biên đạo múa Chúng đồng thời cũnggợi mở cho các nghiên cứu về múa sau này có cơ sở lý luận nền tảng về hệthống múa dân gian các dân tộc và là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo

Ở một khía cạnh nào đó, những nỗ lực, tìm tòi của các nhà nghiên cứu múathời kỳ này cũng chính là quá trình đi tìm những biểu hiện đặc trưng mangtính bản sắc của ngôn ngữ múa dân gian ở từng tộc người cụ thể, điều đó chophép biên đạo nhận diện các thành tố ngôn ngữ múa thể hiện bản sắc văn hoádân tộc/tộc người và đưa vào trong các tác phẩm múa dân gian đương đại

Múa và vấn đề tính dân tộc, hiện đại trong tác phẩm

Nghệ thuật múa nói chung và múa dân gian dân tộc Việt Nam nói riênghiện nay đang được rất nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật và nghiên cứu vănhóa quan tâm Sự phát triển của nghệ thuật múa đặt trong bối cảnh của sự pháttriển văn hóa có sự giao lưu hội nhập với nghệ thuật thế giới, đặt trong nhữngchính sách để gìn giữ và phát huy bản sắc Dòng chảy của nghệ thuật đươngđại các nước du nhập vào Việt Nam và phát triển ngày càng mạnh mẽ Trướctình hình đó, giới nghệ sỹ múa cũng đã thể hiện tiếng nói, suy nghĩ của mình

về sự phát triển của nghệ thuật múa dân gian Việt Nam bằng các bài viết, bàitham luận, bài báo và bài phát biểu tại các hội thảo chuyên ngành

Năm 1993, Bộ Văn hóa Thông tin và Viện Âm nhạc và Múa đã xuất

bản cuốn Những vấn đề dân tộc hiện đại trong nghệ thuật múa, tập trung 26

Trang 21

bài viết của các tác giả là nghệ sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu tú, biên đạo, diễn viênmúa, nhạc sĩ và họa sĩ Nội dung của cuốn sách xoay quanh câu hỏi: nên pháttriển múa như thế nào trong thời đại hội nhập để không đánh mất bản sắc dântộc? Tính dân tộc và hiện đại là hai thuật ngữ được sử dụng chính trong tất cảcác bài viết, thể hiện sự tìm tòi, quan điểm của các nghệ sĩ trước vấn đề xác

định tính dân tộc, bản sắc dân tộc trong múa Một số bài viết nổi bật là: Bàn

về truyền thống và phát triển nghệ thuật múa Việt Nam của Lê Ngọc Canh; Tính dân tộc hiện đại trong múa của Lâm Tô Lộc; Dân tộc hiện đại, một định hướng cho sự bảo tồn và phát triển nghệ thuật múa Việt Nam của Vũ Đức Thoàn; Vài suy nghĩ về gìn giữ phát triển nghệ thuật múa của Ngọc Cường;

Vị trí của di sản múa dân tộc trong nghệ thuật múa dân tộc hiện đại của Hoàng Hà; và Hướng về cội nguồn - xây dựng một nền nghệ thuật múa đậm

đà bản sắc dân tộc của Trương Lê Giáp Một số luận điểm về tính dân tộc cũng được đặc biệt đề cập trong các bài tham luận chẳng hạn: Trong bài “Dân tộc hiện đại, một định hướng cho sự bảo tồn và phát triển nghệ thuật múa Việt Nam”, Vũ Đức Thoàn nhận định, “trong nghệ thuật múa, tính dân tộc

được biểu hiện trong nội dung và hình thức của tác phẩm Đó là sự thể hiệnbản sắc dân tộc và những yếu tố tinh thần của dân tộc.” (Tr:66) Tác giả chorằng tính dân tộc hay bản sắc dân tộc Việt Nam nằm ở tính cách, cốt cách củacon người Việt Nam đã được minh chứng trong lịch sử đấu tranh dựng nước

và giữ nước của dân tộc ta như: bền bỉ, cần cù, cứng cỏi, anh hùng, khôngchịu khuất phục…; cũng trong bài viết này tác giả viết: “Giữ gìn bản sắc dântộc có nghĩa là chúng ta giữ gìn cái tinh hoa, cốt cách của dân tộc và phải biếtgắn cái tinh hoa ấy với sự tiếp thu tinh hoa của thế giới, của nhân loại Có nhưthế mới có thể đưa nền nghệ thuật múa dân tộc của ta ngang tầm thời đại,ngang tầm thế giới” (Tr:68)

Khác với quan điểm vừa nêu, tác giả Lê Ngọc Canh, trong bài viết Bàn

về truyền thống và phát triển nghệ thuật múa Việt Nam lại chia sự phát triển

Trang 22

của nghệ thuật múa Việt Nam thành ba kiểu dạng: Một là, Múa dân gian; Hai

là, Múa sáng tác trên chất liệu múa dân gian và thứ ba là Múa mới Tác giảviết về kiểu dạng thứ ba như sau: “Có những biên đạo say sưa với kiểu dạngnày, với khái niệm là mốt, là mới, là dân tộc, hiện đại và cũng bỏ ra khá nhiềucông sức, sáng tạo để hiện lên một hướng mới, kiểu mới Song không mấy tácphẩm thành công… dấu ấn của múa truyền thống dân tộc khá mờ nhạt và thậtkhó tìm…” (Tr:7-8) Tác giả khẳng định ở ba kiểu dạng trên đều có điều kiệnphát triển tuy nhiên “đứng về góc độ nghiên cứu nghệ thuật múa dân gian dântộc thì dạng kiểu thứ nhất cần được quan tâm, tạo điều kiện nuôi dưỡng, chămsóc… Phải trả cho nó cái đích thực, cái chất dân gian, biến nó như một bảotàng về múa dân gian Việt Nam Có như vậy, các thế hệ tiếp theo mới có cơ

sở để tìm đến và hiểu bản sắc, tinh hoa, cội nguồn múa dân gian, dân tộc ViệtNam đích thực” (Tr:8)

Lâm Tô Lộc khi nhắc đến vấn đề tính dân tộc trong sự phát triển củanghệ thuật múa ở Việt Nam đã cho rằng múa cần được phát triển để phù hợpvới thời đại, song sự phát triển ấy phải dựa trên kế thừa những tinh hoa củanghệ thuật múa truyền thống, đồng thời kế thừa cả những tinh hoa của nhânloại Ông viết: “Sự kế thừa không chỉ giới hạn trong phạm vi văn hóa dân tộc

mà thường mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia để tiếp thu tinh hoa của nhânloại Tất nhiên, diễn ra một quá trình tiếp biến văn hóa để dân tộc hóa các yếu

tố ngoại nhập, nhằm gìn giữ bản sắc dân tộc cho múa” (“Tính dân tộc, hiện đại trong múa” (1993), Tr:11) Tác giả cũng nêu quan điểm của mình về

những tác phẩm múa mới Ông cho rằng, các tác phẩm múa mới đạt chấtlượng phải đảm bảo được tính dân tộc và hiện đại đều là sản phẩm sáng tạocủa những người vừa là nhà nghiên cứu vừa là biên đạo Theo ông, chỉ nhữngnhà nghiên cứu mới hiểu rõ được nhiều mặt của một vấn đề từ nội dung, thểloại, hình thức, phương tiện biểu hiện, phương pháp kết cấu, …đến mối quan

hệ giữa múa và các thành tố văn hóa khác như phong tục, lễ nghi… để tìm ra

Trang 23

quy luật khi sáng tạo cái mới Tác giả gọi người biên đạo ấy là “mô hình nhâncách sáng tạo tối ưu” có khả năng tạo ra những giá trị múa dân tộc đích thực

và đảm bảo tính dân tộc hiện đại trong tác phẩm múa mới

Vấn đề phát triển múa dân gian trong xã hội đương đại

Từ năm 2000 trở lại đây, vấn đề phát triển múa dân gian Việt Namtrước xu thế hội nhập đã được đề cập đến ở nhiều bài viết/báo cáo trình bàytại hội thảo, hội nghị và trên các tạp chí chuyên ngành như: Hội nghị lý luậnphê bình múa tháng 12 - 2007; Hội thảo sáng tác múa trong cơ chế thị trường

và hội nhập tháng 12 - 2008; và Tạp chí Nhịp điệu … Tại các hội thảo, hộinghị và tạp chí này đều dành một thời lượng không nhỏ cho những bànluận/trao đổi về sự phát triển của nghệ thuật múa Việt Nam trong bối cảnh hội

nhập với nghệ thuật thế giới Một câu hỏi được đặt ra thường xuyên là: “Hội nhập như thế nào để theo kịp sự phát triển của thời đại nhưng không làm mất

đi bản sắc dân tộc?” Đây cũng chính là chủ trương, chính sách của Đảng và

Nhà nước được thể hiện trong nghị quyết TW 5 khóa VIII về phát triển vănhóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

“Văn nghệ bồi dưỡng, nâng cao con người chứ không phải là nơi giãibày tâm trạng cá nhân, hạ thấp con người… hòa nhịp đập trái tim mình vớinhịp đập trái tim toàn dân tộc, chứ không phải đi vào tâm trạng cá nhân, gặmnhấm tâm tư yếm thế, lấy tiểu xảo thay cho tài năng, nhìn đời bằng góc nhìnchật hẹp, thậm chí coi văn nghệ như là thú vui giải trí, hoặc một cuộc chơi,một đam mê tầm thường”1 (Đây cũng là một đánh giá, phản ảnh phần nàothực trạng trong sáng tác múa hiện nay

Con đường phát triển và sáng tạo của nghệ thuật múa dân gian từ môitrường diễn xướng dân gian đến sân khấu biểu diễn phục vụ cho những mục

1Trích bài phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị liên hiệp các HLHVHNT toàn quốc 29/1/2013

Trang 24

đích khác nhau của xã hội đã làm thay đổi căn bản ý nghĩa đích thực của múadân gian khi nó ở trong môi trường diễn xướng - nơi khởi nguồn của múa dângian truyền thống Trào lưu “sân khấu hóa” hay “sáng chế truyền thống” đốivới nghệ thuật múa dân gian khi Việt Nam mở cửa hội nhập, nhất là trong giaiđoạn hiện nay với sự lên ngôi của nghệ thuật múa đương đại đã đặt nghệ thuậtmúa dân gian Việt Nam trong bối cảnh có nguy cơ bị “yếu thế”, “mờ nhạt”hay “bị lãng quên” như một số nghệ sỹ đang lo ngại Và vấn đề này vẫn đangđược giới nghệ sỹ múa, quản lý nghệ thuật múa tìm cách tháo gỡ, tìm ra conđường đúng đắn nhất để nghệ thuật múa dân gian Việt Nam vẫn phát triểntrong thời kỳ mới mà không làm mất đi bản sắc dân tộc Nói đến vấn đề sángtạo múa dân gian với nghệ thuật múa đương đại, mới đây Hội nghệ sỹ múa

Việt Nam đã cho xuất bản 2 tập sách Nghệ thuật múa những khoảnh khắc sáng tạo tập I và tập II (Nxb Mỹ thuật, tháng 6/2015), có nội dung về sự sáng

tạo của nghệ thuật múa hiện nay Hai tập sách, ngoài giới thiệu các tác phẩmsáng tạo mới, cũng thể hiện sự cổ vũ, ghi nhận những cống hiến, lao độngsáng tạo trong nghệ thuật của của các nghệ sỹ, biên đạo múa hiện nay đã cónhững tác phẩm mới hợp thời đại Cuốn sách cũng lại một lần nữa đặt vấn đềsáng tạo, hội nhập như hiện nay có đang đi đúng con đường phát triển củanghệ thuật múa nước nhà theo quan điểm chủ trương của Đảng và mongmuốn của đại bộ phận nghệ sỹ, biên đạo múa về giữ gìn bản sắc của múa dângian hay không?

Tương tự, đề cập đến sự phát triển của múa dân gian Việt Nam trong xu

thế hội nhập, bài viết “Múa dân gian với thời đại và sự kế thừa phát triển múa dân gian trong lĩnh vực huấn luyện” của Ngân Quý đã phản ánh sự phát triển

của múa dân gian Trong bài viết tác giả khẳng định trong hoạt động nghệthuật gần đây trên sân khấu vắng dần những điệu múa dân gian thuần chất;hoặc có chăng nữa thì cũng thô sơ, tăng về chiều hướng ồ ạt, thiếu chiều sâutinh tế; hoặc dùng chất liệu múa dân gian để gây một ấn tượng về tính cách

Trang 25

mà ngôn ngữ, hình tượng…thì xa lạ với tính thẩm mỹ và phong cách múaViệt Nam Trên cơ sở nhận định này, tác giả đặt câu hỏi phải chăng múa dângian Việt Nam không còn phù hợp với thời đại, với lớp trẻ và do đó cần phảitìm cái mới phù hợp hơn? (Tr:24) Trong bài viết vừa nêu, một lần nữa múadân gian Việt Nam lại được đặt trong mối lo ngại bị mất dần vị thế trong sựphát triển chung của nền nghệ thuật múa nước nhà trước thời đại hội nhập vàphát triển Tuy nhiên, tác giả Ngân Quý thể hiện rõ quan điểm cho rằng “Bốnmươi năm qua, dưới ánh sáng, đường lối văn nghệ đúng đắn của Đảng, múadân gian càng được khai thác, phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ.Vậy, những hiện tượng về múa dân gian trên sân khấu hiện nay chắc chắnkhông nằm trong tình trạng trái quy luật như nỗi băn khoăn của một số người”(Tr:24) Theo tác giả Ngân Quý, nền nghệ thuật múa dân gian Việt Nam chưabao giờ đánh mất bản sắc; sự phát triển và biến đổi trong phong cách sáng táchiện nay chỉ là cách các nghệ sỹ làm mới tác phẩm của mình để bắt kịp xuhướng thời đại và đó không phải là sự “bỏ quên” bản sắc dân tộc như nhiềunghệ sỹ khác lo ngại.

Trong bài viết mới nhất có tựa đề Đôi điều về bản sắc dân tộc trong sáng tác múa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Tạp chí Nhịp điệu số

192/2016), nghệ sĩ nhân dân Thái Phiên đã nghiêm khắc phê phán lối sáng tácbắt chước và sao chép qua băng đĩa nước ngoài của một số biên đạo trẻ hiệnnay Ông gọi đó là “đạo múa” chứ không đơn giản chỉ là sự giao thoa, kế thừanhư một số nhà biên đạo bao biện Ông viết “Hiện tượng nói tiếng “Lào” ratiếng “Ý” không phải hiếm Điều mà nhiều người hay bao biện là sự giao thoakhông đồng nghĩa với bắt chước, với “đạo múa”! Mỗi một tác phẩm múa dù

là múa dư hứng cũng vẫn cần phải tôn trọng phong tục, tập quán…của dân tộcmình định thể hiện đó chính là giữ gìn bản sắc” (Tr:20)

Cũng trong cuốn Tạp chí Nhịp điệu số 192/2016, có một bài viết của nghệ

sỹ Lê Huân bàn về bản sắc dân tộc trong tác phẩm múa dân gian các dân tộc

Trang 26

thiểu số Nghệ sỹ Lê Huân cho rằng: bản sắc dân tộc chính là tinh thần tự tôn, tựhào dân tộc, là ý chí anh dũng, quật cường… nếu người biên đạo biết sử dụng tất

cả những đặc điểm đó vào các sáng tác mới, có sự hiểu biết sâu sắc về văn hóacác dân tộc thì nền nghệ thuật múa dân gian Việt Nam nói chung hoàn toàn cóthể hội nhập phát triển mà vẫn giữ được giá trị bản sắc truyền thống

Những bài báo và cuốn sách vừa điểm lại ở trên phản ánh một tiếp cận vềmúa theo hướng nghiên cứu lịch sử, mô tả đặc điểm ngôn ngữ động tác múa củatừng dân tộc cụ thể cũng như thực trạng phát triển của múa dân gian đương đại.Các nghệ sĩ, biên đạo đã bước đầu thể hiện sự băn khoăn lo lắng của mình đốivới sự phát triển của múa dân gian Việt Nam trong xu thế hội nhập và bước đầunêu quan điểm về cái gọi là bản sắc đã và đang được thể hiện trong các tác phẩmmúa mới Trong đề tài luận án của mình, NCS không nghiên cứu về đặc trưngnghệ thuật hay ngôn ngữ của múa dân gian đương đại Việt Nam mà tập trungbàn luận vấn đề “bản sắc văn hóa” dân tộc đã và đang được tạo dựng/thể hiệnnhư thế nào trong một số tác phẩm múa dân gian đương đại tiêu biểu Các nhàbiện đạo đã làm gì để vừa đảm bảo tính chất đậm đà của bản sắc vừa đảm bảotính hiện đại trước yêu cầu của thời đại hội nhập

1.1.2 Các nghiên cứu về bản sắc và bản sắc văn hóa dân tộc

Vấn đề bản sắc dân tộc và gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc chưa bao giờlại trở nên quan trọng và cấp thiết đến vậy trong xã hội Việt Nam thời kỳ hộinhập Như đã trình bày trên, khi Việt Nam đứng trước ngưỡng cửa của hộinhập và ngay cả khi đang trong quá trình hội nhập, toàn cầu hoá sâu rộng mọimặt của đời sống xã hội thì thực tế chứng minh sự lo ngại của nguy cơ mấtbản sắc văn hoá dân tộc càng trở nên rõ ràng Chủ nghĩa dân tộc Việt Namthời kỳ hậu thuộc địa trở thành mối quan tâm lớn được đặt ra trong các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước qua các kỳ Đại hội Vấn đề bản sắcdân tộc và việc gìn giữ bản sắc dân tộc được đặc biệt quan tâm trong tiến trìnhphát triển của đất nước Điều này có thể khẳng định qua sự xuất hiện của một

Trang 27

số lượng các công trình nghiên cứu, cuốn sách, bài viết, bài phát biểu… vềbản sắc văn hoá trong bối cảnh hội nhập ở các khía cạnh, thuộc nhiều ngànhchuyên môn khác nhau, đứng trên các phương diện như nhà nghiên cứu vănhoá, nhà quản lý văn hoá và tất nhiên trong đó có văn hoá nghệ thuật.

Trong bài viết “Bản sắc văn hoá Việt Nam” (2005, Tr:239), Nguyễn

Đăng Duy nêu quan điểm về những đặc trưng của bản sắc của văn hoá ViệtNam Tác giả cho rằng, bản sắc văn hoá Việt Nam được nhận diện bởi hệ giátrị và chuẩn mực xã hội được đúc kết qua lịch sử đấu tranh dựng nước và giữnước của dân tộc bao gồm: “lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc,tính cộng đồng gắn kết cá nhân gia đình làng nước, lòng nhân ái bao dung,trọng nghĩa tình, đạo lý” Ngoài ra, tác giả còn nhắc tới hệ giá trị biểu hiệntrong nếp sống của con người Việt Nam như “cần cù sáng tạo trong lao động,

tế nhị trong cư xử, giản dị trong cách sống” Cũng đề cập đến hệ giá trị văn

hoá Việt Nam, trong bài viết “Bản sắc dân tộc trong hệ giá trị văn hoá Việt Nam và một số vấn đề liên quan trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, (2014,

Tr:140), tác giả Nguyễn Thuỵ Loan có quan điểm, “bản sắc dân tộc và ý thứckiên trì gìn giữ bản sắc dân tộc - một giá trị bền vững trong hệ giá trị văn hoáViệt Nam” Theo đó tác giả viết: “Chính nhờ ý thức gìn giữ bản sắc riêng củadân tộc đã ăn sâu trong tâm khảm của người Việt Nam, mà dân tộc ta đãchống chọi thành công với những thế lực ngoại xâm hùng cường gấp bội, …

Vì vậy, bản sắc dân tộc đã được chung đúc trong một chiều dài lịch sử cùng

ý thức kiên cường gìn giữ bản sắc đó trong cả quá trình hàng ngàn năm dựngnước và giữ nước… là một giá trị lớn lao và bền vững trong hệ giá trị văn hoácủa dân tộc ta…” (Tr:140-141)

Ở một góc nhìn khác, Ngô Đức Thịnh lại cho rằng “một nét bản sắc củavăn hoá của người Việt Nam, đó là tính cởi mở, khả năng tiếp nhận và dễ hoànhập, để từ đó bản địa hoá nhân tố ngoại lai” [Dẫn theo, Hà Minh Đức 2008

Tr:53] Với tác giả Lê Như Hoa trong bài viết “Bản sắc dân tộc trong lối sống

Trang 28

hiện đại” (2003, Tr.6) lại nhấn mạnh đến biểu hiện của bản sắc văn hoá Việt

Nam qua lối sống Tác giả cho rằng, chính lối sống được hun đúc qua lịch sửdựng nước và giữ nước của con ngưởi Việt Nam là một nhân tố quan trọng tạonên con người Việt Nam có thể hoà nhập và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lượctrong quá khứ và con người ấy cũng có thể có đủ bản lĩnh để khẳng định mìnhtrong thế giới hội nhập, hiện đại Cũng theo tác giả, bản sắc văn hoá Việt Namđược biển hiện trong các mặt của lối sống: lối sống đô thị; lối sống gia đình; lốisống thanh niên… Tác giả viết: “Trong thời hiện đại, việc bảo tồn và phát huybản sắc dân tộc trong văn hoá lối sống càng trở nên khó khăn, phức tạp…Pháthuy bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại chính là cho gia nhập vào lối sốnghiện nay những giá trị truyền thống của dân tộc, hạn chế, tiến tới thủ tiêu nhữngyếu tố tiêu cực không những làm ảnh hưởng đến yếu tố truyền thống tốt đẹp, màcòn cản trở những yếu tố tiến bộ trong lối sống hiện đại.”(Tr:70) “Lối sống hiệnđại” mà tác giả Lê Như Hoa đề cập trong bài viết được nhận diện là lối sống xãhội chủ nghĩa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa đáp ứng được nhu cầuphát triển của xã hội Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Con người mới xã hộichủ nghĩa theo quan điểm của Đảng Cụ thể đó là: Tiếp nối chủ trương, tinh thầncủa Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị TW 9 khóa XI đã nhấn

mạnh việc gắn mục tiêu xây dựng văn hóa với xây dựng con người: “Xây dựng

và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước” Quan điểm này đã được Đại hội XII tiếp tục khẳng định, với phương

hướng phát triển văn hóa là “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người” Đây được xem là chủ trương phù hợp và đúng đắn cả về lý luận và thực tiễn của

Đảng bởi vì con người vừa là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời là sản phẩmcủa chính nền văn hóa do mình sáng tạo ra; con người là trung tâm của chiếnlược phát triển, nói đến văn hóa là nói đến con người, vì văn hóa là của conngười, do con người, vì con người Việc xây dựng, phát triển văn hóa không thểtách khỏi xây dựng, phát triển con

Trang 29

người Qua cách diễn đạt như vậy, Đảng ta khẳng định và nhấn mạnh vấn đềtrọng tâm, cốt lõi của xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc là xây dựng con người với nhân cách và lối sống tốt đẹp.

Cốt lõi của nền văn hóa tiên tiến là “lý tưởng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mụctiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàndiện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng,giữa xã hội và tự nhiên”, tiên tiến không chỉ ở nội dung tư tưởng mà còn tiêntiến trong cả hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung.Bản sắc văn hóa Việt Nam là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộngđồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranhdựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dântộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã -

Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù,sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo (Trích Nghịquyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị TW 9 khóa XI)

1.1.3 Các nghiên cứu về vấn đề toàn cầu hóa, chủ nghĩa dân tộc và bản sắc văn hóa

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, cuốn sách của các tác giả hiện sự bănkhoăn, lo lắng trước sự nghiệp gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế hội

nhập Năm 2010, trong công trình mang tên “Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh

hội nhập kinh tế quốc tế”, Nguyễn Chí Bền đã trình bày những khảo cứu của

một tập thể tác giả về những tác động thuận, nghịch của bối cảnh hội nhập, phântích những thuận lợi và thách thức nảy sinh trong quá trình này Cuốn sách bướcđầu nêu những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam,đồng thời xác định phương hướng, nhiệm vụ cho nền văn hóa Việt Nam trong

Trang 30

giai đoạn hội nhập, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đặt

ra đó là: Xây dựng một nền văn hóa “tiên tiến” và “đậm đà bản sắc”

Một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác như: Trường Lưu

(2003) “Toàn cầu hóa và vấn đề bảo lưu văn hóa dân tộc”; và Lê Như Hoa (1996) “Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” cũng đều đặt vấn đề về bản sắc dân tộc, các giá trị truyền thống

trước những nguy cơ biến mất do tác động của xu thế toàn cầu hóa Các côngtrình này nêu rõ: để hội nhập và phát triển chúng ta phải lấy bản sắc dân tộclàm nền tảng, làm “bộ lọc” cho sự tiếp thu Làm rõ quan điểm này, tác giả LêNhư Hoa viết: “Dân tộc không phải là vấn đề mới mẻ trong lịch sử các nềnvăn hóa, văn minh Nhưng trước xu thế toàn cầu hiện nay, vấn đề dân tộc lạinổi lên, song song với vấn đề con người trước bao nhiêu biến đổi lớn lao củathời cuộc… hầu như đâu đâu người ta cũng nói đến vấn đề dân tộc, gắn với sự

lo âu trước những thử thách, có khả năng khuynh đảo dân tộc, làm biến chấtcon người.” (Tr:21) Tương tự, các tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn

Huyên (2002) trong cuốn “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa” cũng đưa ra những phân tích về vấn đề văn hóa dân tộc trước

tác động của xu thế toàn cầu Tác giả thể hiện sự lo lắng, cho rằng quá trình

mở cửa nền kinh tế đã kéo theo sự đổ bộ ồ ạt của “những sản phẩm văn hóavật thể xa lạ đe dọa phá vỡ truyền thống và cũng làm mất bản sắc văn hóacùng các giá trị truyền thống lâu đời khác…” (Tr:13)

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ của

công nghệ thông tin, bản sắc văn hóa trở nên “có vấn đề và phức tạp hơn bao giờ

hết” (Mustafa 2006) Điều này là không nghi ngờ Một số ý kiến nhìn nhận quá

trình toàn cầu hóa là nguyên nhân dẫn tới mất bản sắc văn hóa, đặc biệt là đối

với các nước đang phát triển ngoài Châu Âu và Mỹ Ý kiến này khẳng định với

sự tàn phá của toàn cầu hóa, bản sắc văn hóa “đang gặp nguy hiểm” Các nhà

nghiên cứu nhận định, do xu hướng phụ thuộc lẫn nhau trong thời đại toàn

Trang 31

cầu hóa ngày càng tăng dẫn đến sự sụp đổ của các bản sắc văn hóa địa phương

trong điều kiện các nền văn hóa quốc gia trở nên cởi mở, tiếp xúc nhiều với bênngoài, và chịu ảnh hưởng ngược lại Các nền văn hóa quốc gia, do đó, sẽ gặp khó

khăn trong giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương nguyên vẹn, hoặc trong nỗ lực ngăn chặn sự suy yếu của bản sắc văn hóa địa phương Nhóm ý kiến này còn chủ trương bản sắc văn hóa nên là đối tượng được bảo vệ/bảo tồn (dẫn theo, Đoàn Thị Tuyến, Bản sắc văn hóa - từ góc độ lý thuyết, đề tài NCKH cơ sở).

Ngược lại, với một số nhà nghiên cứu, toàn cầu hóa không phá hủy bản

sắc văn hóa Họ thậm chí tin rằng toàn cầu hóa có thể coi là động lực giúp tạo dựng và làm sinh sôi nảy nở các bản sắc (xem John Tomlinso 1999) Toàn cầu

hóa tạo cơ hội gia tăng các bản sắc văn hóa mới, cho phép một cá nhân có thể có nhiều hơn một bản sắc ở những thời điểm khác nhau và các bản sắc này cũng

không còn chỉ hợp nhất xung quanh một nền văn hóa cụ thể [dẫn theo, Đoàn Thị

Tuyến, Bản sắc văn hóa - từ góc độ lý thuyết, đề tài NCKH cơ sở].

Các công trình trên đây đã đưa ra những phân tích, nhận định về tìnhhình xã hội Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ở nhiều khía cạnh khác nhau.Song, đều thống nhất cho rằng: Chính xu thế toàn cầu đã làm nảy sinh nhữngnguy cơ có thể làm mất “bản sắc dân tộc” được thể hiện rõ ở sự thay đổi trêncác lĩnh vực đời sống văn hóa xã hội, kinh tế, chính trị, lối sống, con người,giá trị truyền thống… và đặt ra vấn đề cần phải có những hoạch định, chínhsách cho sự phát triển bền vững, có nghĩa là vừa “hội nhập” vừa bảo vệ được

“bản sắc dân tộc”

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Khái niệm bản sắc và bản sắc văn

hoá Khái niệm về bản sắc

Bản sắc, về mặt từ nguyên, được bắt nguồn từ một thuật ngữ tiếng Pháp identité - có nguồn gốc là một danh từ trong tiếng Latin cổ: identitas, có nghĩa

là “giống nhau” hay “tương tự”

Trang 32

Thuật ngữ bản sắc được nhắc đến lần đầu tiên trong giới học thuật

khoảng những năm 1950 bởi nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Erik Erikson(1902-1994) Erikson xem xét các tình huống tâm lý ảnh hưởng tới sự điều

chỉnh “nhân cách” của bản thân (personality of self) đối tượng trước những tác động của điều kiện môi trường sống Theo cách hiểu của Erikson, bản sắc

chủ yếu nói đến sự tự ý thức hoặc một cảm nhận rõ ràng về cái cá nhân, gần

tương tự như cách cá nhân được người khác quan sát và nhận diện Bản sắc,

do đó, đề cập tới một trạng thái tâm lý ổn định xuất phát từ nhận diện tương

tự hoặc giống nhau về cái tôi/căn tính của bản thân và bởi những người khác(Erikson 1950).2

Trong từ điển English Oxford, bản sắc được xem là sự “giống nhau” ở

mọi thời gian, bối cảnh, trạng thái hay điều kiện thực tế của bản thân mộtngười/thực thể, phân biệt với người/thực thể khác ở một số tính cách hoặc đặc

trưng riêng Theo quan điểm này, bản sắc chính là đặc tính/cá tính nổi trội

giúp phân biệt người này với người khác

Trong phạm vi các ngành khoa học xã hội và nhân văn, bản sắc là chủ

đề được thảo luận rộng rãi Z Bauman (2004:17) từng nhận xét: “bản sắc là

“thứ được thảo luận náo nhiệt” và luôn là chủ đề “nóng bỏng trong tâm trí và

miệng lưỡi của mọi người” Bản sắc trong khoa học xã hội và nhân văn chủ yếu được hiểu trong mối liên hệ với quan niệm về bản thân (self-concept) hay bản sắc tự thân (self-identity) - một tập hợp các niềm tin về bản thân Về cơ bản, bản sắc chính là cách một người nhận biết về bản thân (ví dụ khi trả lời cho câu hỏi: tôi là ai?), và về những người khác (anh/chị là ai?) Bản sắc cho

phép những người khác biết chúng ta là ai và chúng ta biết những người khác

biết gì về chúng ta Bản sắc, tương tự như là một đặc điểm nhận biết thuộc về

2 [Dẫn theo, Đoàn Thị Tuyến, Bản sắc văn hoá từ góc độ lý thuyết, đề tài

NCKH cơ sở]

Trang 33

mỗi cá nhân cụ thể, có thể là thứ được chia sẻ (shared) giữa các cá nhân thành

viên trong một nhóm hoặc một tầng lớp xã hội nhất định (xem thêmRummen1993 và Jenkins 2008)

Tóm lại, khái niệm bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc vẫn đang được

tiếp tục nghiên cứu và thảo luận Sẽ còn có nhiều quan điểm khác nhau về

bản sắc văn hóa Tuy nhiên, có một điểm chung giữa các khái niệm về bản sắc văn hóa đã nêu ở trên đó là: bản sắc văn hóa giống như một tấm thẻ căn cước (identification), giúp phân biệt giữa các cá nhân, nhóm và cộng đồng

trên cơ sở các trải nghiệm văn hóa cụ thể Bản sắc chỉ là tương đối và luônbiến đổi phụ thuộc vào những bối cảnh văn hóa cụ thể Trong luận án này,NCS sẽ vận dụng quan điểm của các nhà kiến tạo luận về bản sắc, coi bản sắcnói chung và bản sắc văn hoá nói riêng không phải là cái gì đó mang tính bấtbiến, được kết tinh trong một thời gian dài, mà nó được tạo dựng, mang tínhbối cảnh và có sự thay đổi

1.2.2 Khái niệm múa dân gian Việt Nam

Múa dân gian là một hình thái trong múa dân tộc với đặc trưng là ngônngữ hình thể, động tác, điệu bộ Múa dân gian là kết quả sáng tạo của nhiềuthế hệ được tồn tại, lưu giữ và phát triển trong dân chúng Trải qua thời gian,múa dân gian được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với đời sống thẩm mĩ củanhân dân, nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa của một hoặc nhiều cộng đồng

Theo Lâm Tô Lộc:

“Múa dân gian là một hình thái múa dân tộc do nhân dân chủ yếu lànông dân, sáng tạo theo phương thức: đầu tiên có một người khởithảo, sau đó những người khác, qua nhiều thế hệ, kế tục công việchoàn chỉnh điệu múa ấy Bởi vậy, nó chưa có một cấu trúc nghệ thuật

từ đầu mà được lưu truyền qua nhiều thế hệ để tiếp tục sự sáng tạo,nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa của một cộng đồng” (Tr:11,15)

Trang 34

Theo Lê Ngọc Canh:

“Múa dân gian là hình thái phổ biến lưu truyền trong nhân dân, từ đờinày qua đời khác, thế hệ này đến thế hệ khác Múa dân gian được nuôidưỡng phát triển sinh ra từ khối óc, trái tim và bàn tay của nhân dân,

nó sống trong nhân dân, tồn tại vĩnh viễn trong nhân dân Múa dângian phản ánh những khía cạnh tình cảm tư tưởng, quan niệm thẩm

mỹ của nhân dân, được nhân dân yêu thích và tham gia vui múa, mụcđích cao nhất của nó là phục vụ đời sống nhân dân, khích lệ tinh thầnhăng say lao động, yêu lao động, yêu tổ quốc, yêu mảnh đất giang sơncủa mình Múa dân gian được xây dựng trên cơ sở tư tưởng nhân đạo,dân chủ, lòng yêu chính nghĩa, yêu lao động, thiên nhiên, yêu tổ quốc,yêu nhân dân Vì vậy nó là một bộ phận tiến bộ nhất, đẹp nhất, tiêubiểu nhất, tinh hoa nhất của nền nghệ thuật múa truyền thống dân tộc”(Tr:11-12,15)

Múa dân gian được nảy sinh trong quá trình lao động, trong sinh hoạt,phong tục tập quán, lễ hội, v.v… Một nhà nghiên cứu đã viết: Nhảy múa dângian thường là tổ hợp các động tác bắt chước, mô phỏng Nó thường sao chéplại các chuyển động của loài vật hoặc các hoạt động lao động, bắt chước các

vũ điệu của nông dân như các động tác: gieo hạt, gặt lúa, kéo lưới, trọc lỗ, trahạt, chèo thuyền, xúc tép

Múa dân gian còn thể hiện những hành vi ứng xử của con người, tạomôi trường không gian để con người đến với nhau Đặc điểm này thể hiện rất

rõ trong sinh hoạt văn hoá dân gian ở làng, bản như xoè vòng của dân tộcThái, xoè chiêng của dân tộc Tày Hoặc có thể lấy ví dụ rõ hơn như múa lăm-vông của người Lào Có những điệu múa dân gian cũng mang ý nghĩa đạođức nhưng được thể hiện ở góc độ khác nhau Ví dụ một số điệu múa dân giannhư múa dô (gắn với tục thờ Tản Viên), múa dậm (gắn với tục thờ Lý ThườngKiệt), múa cờ lau tập trận (trong hội Hoa Lư), múa chèo tàu (gắn với tục thờ

Trang 35

các tướng của Hai Bà Trưng), hay là múa dân gian trong hội đền Hùng, hộiGióng (gắn với tục thờ Phù Đổng Thiên Vương) Những điệu múa đó tuy đơngiản, nhưng đều thể hiện tình cảm của con người, qua đó phản ánh những giátrị đạo đức cổ truyền của nhân dân Đó là lòng tôn kính và biết ơn sâu sắc vớicác anh hùng dân tộc.

Trong đời sống văn hoá của nhân dân còn có một loại múa đó là múa tínngưỡng Một số nhà nghiên cứu gọi đó là múa tín ngưỡng dân gian Loại múanày tương đối phổ biến ở nhiều tộc người Múa tín ngưỡng thể hiện trong cácloại nghi lễ Ví dụ, người Việt có múa tín ngưỡng hầu bóng, còn gọi là múa lênđồng Đây cũng là một hình thái múa dân gian rất độc đáo Loại múa này tồn tại,phát triển trong quá trình hình thành tục thờ Mẫu và đạo Mẫu ở Việt Nam Múahầu bóng là một bộ phận của chương trình lễ hội và nghi lễ đạo Mẫu Nhìn từgóc độ tín ngưỡng thì động tác, điệu bộ của người múa thể hiện tiếng nói, ýnguyện của thánh thần Nét độc đáo của múa hầu bóng đó là (theo quan niệm dângian) phần xác (ông đồng, bà đồng) là của con người, còn phần hồn là của thánhthần Điều này nói lên sức tưởng tượng của con người rất lớn Con người vàthánh thần có thể gần gũi, hoà quyện (giao hoà) với nhau Đây là lí do làm chocác động tác múa trong hầu bóng trở nên phóng khoáng và tự do hơn Nếu nhìn

từ góc độ nghệ thuật thì đây là yếu tố rất đặc biệt của múa hầu bóng Ông đồng,

bà đồng, ngoài những động tác múa mang tính quy ước cần phải thể hiện, còn cónhững động tác ngẫu hứng xuất hiện ở thời điểm mà người ta gọi là nhập đồng(nhập hồn) Ông đồng, bà đồng thoạt đầu ngồi trong tư thế tĩnh, tập trung cao,người ngoài có cảm giác họ quên hết mọi sự vật xung quanh, chỉ còn tiếng đànphách của cung văn và lời khấn tụng của con nhang, đệ tử Dần dần, ông đồng,

bà cốt bắt đầu đảo vòng, xoay tròn từ thắt lưng trở lên Từ vòng nhỏ đến vòng to,

từ tiết tấu chậm đến nhanh Âm nhạc, tiết tấu, lời ca càng dồn dập càng thôi thúcông đồng, bà đồng xoay, đảo mạnh, càng ngây ngất, say sưa Họ hất khăn độiđầu ra và thời điểm đó được gọi là nhập đồng (nhập hồn)

Trang 36

Động tác múa lúc này không còn giữ được quy cách, khuôn định như ban đầunữa Tính ngẫu hứng được biểu hiện ở mức độ rất cao, có nghĩa là cùng mộtthời điểm, con người vừa trình diễn, vừa sáng tạo Như vậy, trong môi trườngnghi lễ, trong “thời điểm mạnh” cùng với sự tác động của khách quan (âmthanh, đàn, nhạc, khói hương và những người hầu đồng…) thì ông đồng, bàđồng đã ngẫu hứng, sáng tạo theo cường độ, sắc thái, tiết tấu khác nhau trongcùng một thời điểm Tất nhiên, yếu tố chính vẫn là năng lực cảm nhận và biểuhiện của ông đồng, bà đồng Như vậy, trong hoàn cảnh này, múa dân gian đãđược đẩy lên ở một mức độ cao hơn Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đạoMẫu, thờ Mẫu là một tục lệ đẹp của cộng đồng người Việt Hiện nay, nhữnghoạt động lễ hội tương đối phát triển, thu hút khá đông quần chúng nhân dân

ở khắp mọi nơi Múa hầu bóng là một trong những sinh hoạt văn hoá, tínngưỡng không chỉ diễn ra vào những dịp lễ hội mà còn phát triển bên ngoàicủa lễ hội, do một số cá nhân tự tổ chức Và tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủcùng với thực hành nghi lễ hầu đồng đã trở thành di sản văn hoá phi vật thểcấp quốc gia được UNESSCO công nhận

Ngoài múa hầu bóng của cộng đồng người Việt còn có một số điệu múatrong nghi lễ của một số tộc người như: người Mường có múa mỡi, múa mo,múa sắc bùa, người Tày có múa múa then, múa đi săn thú, múa chèo thuyền;người Thái có múa tín ngưỡng kinpangthen, người Dao có múa trong lễ cấpsắc, hát múa đám cưới, đám tang, múa Tết nhảy (nhì ang chằm đao); ngườiChăm có múa trong lễ hội Chà Và, múa trong lễ bóng, múa nhảy lửa, múagậy, múa roi; người Khơ me có múa thày cúng, múa trống lễ (trống xayăm)cúng trăng, múa dây bông (slatho) v.v…

Múa dân gian không ngừng được bồi đắp và bổ sung những sáng tạomới của các thế hệ tiếp theo với mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoácủa cộng đồng, khu vực, quốc gia Những bồi đắp mới, bổ sung mới được dânchúng chấp nhận, lưu giữ và sử dụng sẽ trở thành di sản của văn hoá dân tộc,

Trang 37

đồng thời là cơ sở, nền tảng cho những sáng tạo bổ sung của các thế hệ nốitiếp Thông qua các diệu múa, chúng ta thấy nó mang dấu ấn một cách sinhđộng cuộc sống lao động, chiến đấu, tình cảm, cách nghĩ và những quan điểmthẩm mĩ của các cộng đồng, các tộc người, xuất phát từ những điều kiện địa lí,

xã hội, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc khác nhau Sự khácnhau đó xét về một khía cạnh nào đó cũng chính là sự thể hiện bản sắc riêngcủa từng dân tộc Múa dân gian do mô phỏng hiện thực nên mặc dù đã đượccách điệu hoá vẫn mang tới cho người xem những thông điệp sát thực Điềunày được thể hiện cả hai chiều Chiều thứ nhất là tự thân điệu múa được “tácgiả dân gian” ghi nhận trong thực tế, từ đó sáng tạo nên Chiều thứ hai làngười thể hiện (người trình bày điệu múa) cũng hết sức cố gắng bắt chướchiện thực cộng với yếu tố sáng tạo cá nhân trong quá trình thể hiện cũng manglại những tín hiệu chân thực và có sức hấp dẫn

Theo Ứng Duy Thịnh múa dân gian được khái niệm như sau:

„„Là một hình thái trong múa dân tộc, múa dân gian (folk dance) là kếtquả sáng tạo của nhiều thế hệ, được tồn tại, lưu giữ và phát triển trongdân chúng Trải qua thời gian, múa dân gian luôn được điều chỉnh, bổsung để phù hợp với đời sống thẩm mỹ của nhân dân, nhằm thỏa mãnnhu cầu văn hóa của một hoặc nhiều cộng đồng Tác giả của múa dângian chính là người dân Họ vừa là người sáng tạo, vừa là người thưởngthức” [Tr16,14]

1.2.3 Khái niệm múa dân gian đương đại

Có nhiều cách hiểu khác nhau về múa dân gian đương đại Hiện naytrong giới học thuật về múa chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra kháiniệm về múa dân gian đương đại Chính vì vậy, để tìm hiểu xem thể loại múamới này được quan niệm như thế nào, tác giả luận án dựa vào các kết quả thuthập được qua phỏng vấn các nghệ sĩ, biên đạo ở các độ tuổi khác nhau

Trang 38

Phần lớn nghệ sỹ đã về hưu đưa ra quan điểm rằng; Múa dân gian đươngđại là thể loại múa mới, đang phát triển Tuy nhiên, chưa hiểu nó sẽ đi về đâu khimỗi người sáng tác một kiểu, dân gian chẳng thấy đâu, toàn chỉ thấy múa hiệnđại, đương đại… (Trích phỏng vấn anh Vũ Thanh, tại Hà Nội tháng 6/2017)

Theo đa số các nghệ sĩ, biên đạo trẻ hiện nay thì: Múa dân gian đương đại

là thể loại pha trộn giữa ngôn ngữ múa dân gian và ngôn ngữ múa hiện đại…;

“Múa dân gian đương đại là dân gian một ít, bale một ít”, “Múa dân gian đươngđại là sự kết hợp giữa động tác dân gian dân tộc và thể loại múa đương đại, thểloại múa bale” (Trích phỏng vấn chị Đặng Thu L, tại Hà Nội tháng 6/2017)

Một số người không phải nghệ sĩ, diễn viên, không hoạt động trong lĩnhvực nghệ thuật có quan điểm cho rằng: Múa dân gian đương đại là thể loạimúa ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam mở cửa Múa có sự kết hợp sángtạo giữa yếu tố dân gian và yếu tố hiện đại Các yếu tố dân gian trong mỗi tácphẩm không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ động tác mà còn ở bối cảnh, hình tượng,

âm nhạc, chủ đề… còn yếu tố hiện đại chính là những ngôn ngữ múa hiện đại,phong cách sáng tác hiện đại, các phương tiện hỗ trợ như âm thanh, ánh sáng,sân khấu, trang phục… hiện đại

Trên cơ sở những quan điểm đã được NCS thu thập, trong luận án củamình, múa dân gian đương đại sẽ được giới thuyết như sau:

Múa dân gian đương đại là các tác phẩm múa dân gian hoặc là các tácphẩm múa sáng tác bằng ngôn ngữ động tác múa đương đại nhưng có chủ đềnội dung phản ánh về truyền thống, về dân gian Việt Nam…; các tác phẩm đóđược sáng tác trong xã hội đương đại - thời kỳ mở cửa, hội nhập Các tácphẩm múa dân gian đương đại có nội dung thể hiện về vấn đề bản sắc văn hoádân tộc, tộc người Sự ra đời của thể loại múa mới này là quá trình kiến tạobản sắc quốc gia/dân tộc của các biên đạo múa trước sự đòi hỏi phải đảm bảohai tính chất “tiên tiến” và “bản sắc” theo nhu cầu của xã hội và thực hiện chủtrương, chính sách của Đảng ta trong sự nghiệp phát triển văn hoá dân tộc Từ

Trang 39

“đương đại” trong tên gọi thể loại “Múa dân gian đương đại” không phải chỉdùng để chỉ đến ngôn ngữ động tác múa mà chính là chỉ thời điểm, bối cảnh

ra đời của tác phẩm

1.2.4 Lý thuyết tiếp cận

Trong luận án này, NCS vận dụng hướng tiếp cận liên ngành về múacủa Thomas Helen để phân tích về ý nghĩa và nội dung của các tác phẩm múadân gian đương đại Việt Nam Trong luận án tiến sĩ "Chuyển động, chủ nghĩahiện đại và văn hóa đương đại: các vấn đề của một xã hội học văn hoá vềmúa" (1986), và trong tác phẩm "Múa, tính hiện đại và văn hoá" (1996),Helen Thomas xây dựng một hướng tiếp cận mới mang tính liên ngành vềmúa đương đại Dựa vào các nghiên cứu nhân học và xã hội học về múa,trong đó nhấn mạnh về mối tương liên giữa múa và xã hội, tác giả cho rằngcác nghệ sĩ, nhà biên đạo là các cá nhân bị chi phối mạnh và bị ảnh hưởng lớncủa điều kiện kinh tế văn hoá và xã hội Trong quá trình sáng tác các tácphẩm, họ thường chuyển tải một cách có ý thức hoặc vô thức cách nhìn của

họ về xã hội vào trong các tác phẩm Các tác phẩm nghệ thuật nói chung vàmúa nói riêng, vì vậy, "không chỉ phản ánh thực tế cuộc sống mà còn chuyểnhoá thực tế cuộc sống vào trong bối cảnh riêng của nó" (1986: 66-67) Đểhiểu các tác phẩm, nhà nghiên cứu, theo tác giả, cần phải xem xét chúng từhai quan điểm tiếp cận có sự tương liên là: quan điểm mang tính nội tại(instrinsic) và quan điểm từ bên ngoài (extrinsic) Quan điểm từ bên ngoàiliên quan đến việc xem xét "các chiều kích thể hiện tính xã hội của múa" vàquan điểm từ bên trong "xem xét đặc tính nghệ thuật, ý nghĩa của chúng"(1986: 69) Các đặc tính mang tính nội tại của múa bao gồm âm nhạc, chuyểnđộng, trang phục, vv trong khi các đặc tính bên ngoài chính là các yếu tốliên quan đến bối cảnh kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội và lịch sử của tácphẩm

Trang 40

Hướng tiếp cận xã hội học về múa của Helen Thomas đã được nhiềunhà nghiên cứu áp dụng trong nghiên cứu múa đương đại ở nhiều quốc giakhác nhau Điển hình trong số này là công trình nghiên cứu của học giả Đài

Loan - Yu-ling Chao (2000), “Dance, Culture and Nationalism: the cultural Significance of Cloud Gate Dance Theatre in Taiwanese Society”

Socio-[múa, văn hoá và chủ nghĩa dân tộc: ý nghĩa văn hoá - xã hội của nhà hátCloud Gate trong xã hội Đài Loan] Trong công trình này, sự ra đời của nhàhát múa đương đại đầu tiên của Đài Loan mang tên Cloud Gate (1973), đượcđặt trong bối cảnh khi làn sóng xây dựng chủ nghĩa dân tộc trở nên mạnh mẽ

ở Đài Loan Trong bối cảnh này, các tiết mục múa đương đại của Cloud Gateđược sáng tạo với sự pha trộn của các nền văn hoá khác nhau: Trung Quốc,Đài Loan, Phương Tây và một số nước Châu Á khác Điển hình là hai tácphẩm múa mang tên Legacy (1978) và Nice Songs (1993), được coi là nhữngtác phẩm tiêu biểu cho sự đa văn hoá và chủ nghĩa dân tộc trong bối cảnh hìnhthành Đài Loan giống như một xã hội sau thuộc địa trên con đường chống lạiquyền bá chủ của Trung Quốc Công trình nghiên cứu của Yu-ling Chao cũngchỉ ra những ảnh hưởng của nghệ thuật múa đương đại Đài Loan tới nhữngquan điểm chính trị liên quan đến quốc gia, dân tộc Đài Loan muốn xây dựng

và hình thành nên một quốc gia độc lập, không phải là bóng mờ của TrungQuốc hay bị lệ thuộc vào Trung Quốc Theo đó, các tác phẩm múa đương đại

Đài Loan được ra đời đảm bảo trên hai khái cạnh: Một là, các tiết mục múa

mang âm hưởng văn hoá Đài Loan được thể hiện qua sự thay đổi trong nghệthuật múa: các tác phẩm là sự tổng hợp của nhiều nên văn hoá khác nhau nhưTrung Quốc, Phương Tây, Đài Loan và người dân bản địa Đài Loan Sự phatrộn giữa cái cũ và mới, giữa truyền thống và hiện đại giúp sản sinh ra sự độcđáo trong phong cách thể hiện thể loại múa mới và nó mang tầm ảnh hưởng

lớn trong cộng đồng người Trung Quốc; Hai là, sự liên kết tương tác giữa

nghệ thuật múa và sự ảnh hưởng trong môi trường văn hoá của

Ngày đăng: 02/07/2019, 17:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Văn hoá Thông tin (1999), “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nxb. Văn phòng Bộ VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hoá ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Bộ Văn hoá Thông tin
Nhà XB: Nxb. Văn phòng Bộ VHTT
Năm: 1999
2. Bùi Thanh Sơn (2015), Hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam", Nxb. Chính trị quốc gia "-
Tác giả: Bùi Thanh Sơn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia "-" sự thật
Năm: 2015
3. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
4. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
5. Đặng Đức Siêu (2002), Hành trình văn hóa Việt Nam, Nxb. Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình văn hóa Việt Nam
Tác giả: Đặng Đức Siêu
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 2002
6. Đặng Hùng (2001), Phương pháp sáng tác múa, Nxb. Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp sáng tác múa
Tác giả: Đặng Hùng
Nhà XB: Nxb. Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
7. Đỗ Huy - Trường Lưu (1990), Bản sắc dân tộc của văn hóa, Nxb. Viện Văn hóa, Nhà máy in BTTM, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc của văn hóa
Tác giả: Đỗ Huy - Trường Lưu
Nhà XB: Nxb. Viện Văn hóa
Năm: 1990
8. Đoàn Thị Tuyến (2014), Bản sắc văn hóa - từ góc độ lý thuyết, công trình NCKH cấp cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa - từ góc độ lý thuyết
Tác giả: Đoàn Thị Tuyến
Năm: 2014
9. Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb.Khoa học xã hội
Năm: 1989
10. Đình Quang, “Bản sắc văn hoá dân tộc và cơ chế toàn cầu hoá”, Tạp chí Văn nghệ số 9, ngày 28/2/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá dân tộc và cơ chế toàn cầu hoá
11. Hà Minh Đức (2008), “Một nền văn hoá văn nghệ đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nền văn hoá văn nghệ đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2008
12. Hoàng Cầm - Phạm Quỳnh Phương (2012), Diễn ngôn, chính sách & sự biến đổi văn hóa - sinh kế tộc người, Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn ngôn, chính sách & sự biến đổi văn hóa - sinh kế tộc người
Tác giả: Hoàng Cầm - Phạm Quỳnh Phương
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2012
14. Lê Ngọc Canh (2005), Nghệ thuật múa người Mạ, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật múa người Mạ
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2005
15. Lê Ngọc Canh (2005), Nghệ thuật múa tộc người Châu Ro, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật múa tộc người Châu Ro
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2005
16. Lê Ngọc Canh (1998), Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1998
17. Lê Ngọc Canh (2009), Lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam, Nxb. Sân khấu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: Nxb. Sân khấu
Năm: 2009
18. Nguyễn Thị Phương Châm (2009), Biến đổi văn hoá ở các làng quê hiện nay, Nxb.Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hoá ở các làng quê hiệnnay
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb.Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa
Năm: 2009
19. Lê Như Hoa (2003), Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 2003
20. Lê Như Hoa (1996), Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Nxb. Văn hóa "-
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb. Văn hóa "-" Thông tin
Năm: 1996
21. Lâm Tô Lộc (2001), Tìm hiểu về nghệ thuật múa Việt Nam, Nxb. Văn học nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về nghệ thuật múa Việt Nam
Tác giả: Lâm Tô Lộc
Nhà XB: Nxb. Văn học nghệ thuật
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w