1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng

90 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong điều kiện mới thì việc tổ chức thực hiện hay ban hành các chính sách về điều kiện hưởng, thời hạn nghỉ hưu, mức hưởng, thời gian tham gia, độ tuổi nghỉ hưu… của chế độ h

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU THỦY

CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU THỦY

CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc, các khoa, phòng và Quý Thầy, Cô trong học viện Khoa học Xã hội đã tận tình và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, để hoàn thành luận văn này Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hữu Chí, người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài cho tôi với lòng nhiệt tình và sự quan tâm sâu sắc

Mặc dù rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong muốn nhận được sự góp ý của Quý Thầy Cô và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận văn không có sự trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã công

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG HỆ THỐNG CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI 7

1.1 Khái niệm chế độ hưu trí 7 1.2 Cơ sở hình thành chế độ bảo hiểm hưu trí trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội 9 1.3 Nội dung của chế độ hưu trí 11 1.4 Chế độ hưu trí trong pháp luật một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 21

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG LUẬT BẢO HIỂM

XÃ HỘI HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 27

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về chế độ hưu trí trong pháp luật BHXH hiện hành 27 2.2 Thực trạng áp dụng chế độ hưu trí tại thành phố Đà Nẵng 39

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI HIỆN HÀNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 62

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi chế độ hưu trí 62 3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ hưu trí 63 3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 73

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLLĐ : Bộ luật Lao động BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế CCVC : Công chức, viên chức HĐLĐ : Hợp đồng lao động HTTT : Hưu trí, tử tuất NLĐ : Người lao động NSDLĐ : Người sử dụng lao động NSNN : Ngân sách nhà nước TTHC : Thủ tục hành chính UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng phân bổ tỷ lệ đóng BHXH từ 01/01/2007 đến nay 13Bảng 1.2 Cơ cấu tuổi nghỉ hưu ở một số nước 21Bảng 2.1 Điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu khi bị suy giảm khả năng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động (NLĐ) khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh

tế cho NLĐ và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn, an sinh xã hội BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của NLĐ và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong

“Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc” đã nêu: “Mọi quốc gia

trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, không phân biệt giàu hay nghèo đều phải thực hiện các chế độ về BHXH”

Hưu trí là một trong những chế độ quan trọng nhất của chế độ BHXH, đảm bảo

an sinh xã hội, góp phần quan trọng làm cho xã hội được ổn định Qua một thời gian dài tổ chức thực hiện, chế độ hưu trí cùng các chế độ BHXH khác đã đảm bảo đời sống cho NLĐ, tạo điều kiện cho họ yên tâm lao động sản xuất nâng cao chất lượng cuộc sống, giữ vững ổn định chính trị - xã hội

Nhà nước ta đang từng bước hoàn thiện chính sách BHXH qua việc ban hành các Văn bản Luật BHXH, Luật Bảo hiểm y tế (BHYT), các Nghị định, Thông tư, cùng các văn bản hướng dẫn thực hiện Và gần đây nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII, số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách BHXH để phù hợp với sự phát triển của đất nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay

Tuy nhiên, trong điều kiện mới thì việc tổ chức thực hiện hay ban hành các chính sách về điều kiện hưởng, thời hạn nghỉ hưu, mức hưởng, thời gian tham gia,

độ tuổi nghỉ hưu… của chế độ hưu trí vẫn còn một số hạn chế và vướng mắc cần được xem xét, nghiên cứu và giải quyết một cách kỹ lưỡng Việc hoàn thiện chế độ hưu trí sẽ giúp NLĐ yên tâm hơn về cuộc sống sau khi nghỉ hưu và làm tăng năng

Trang 9

suất lao động; mức sống chung của xã hội được cải thiện, đời sống ngày càng được nâng cao hơn, giúp xã hội ngày càng phát triển, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định và phát triển chính trị, kinh tế - xã hội

Năm 2017, đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí của thành phố Đà Nẵng là 229.464 người, so với số lượng lao động trong độ tuổi lao động 567.646 người, cho thấy diện bao phủ BHXH còn khá thấp, đạt 40,42% lực lượng lao động so với tiềm năng của thành phố (Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2017 của BHXH thành phố Đà Nẵng)

Yêu cầu về tăng nhanh diện bao phủ tham gia BHXH, bảo đảm thu nhập cho NLĐ khi hết tuổi lao động là một yêu cầu mang tính thời đại Sử dụng an toàn và đảm bảo cân đối quỹ hưu trí trong dài hạn, xây dựng hệ thống BHXH hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH theo mục tiêu của Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020

là mục tiêu mà ngành BHXH của thành phố Đà Nẵng phấn đấu thực hiện

Vì vậy tác giả đã chọn đề tài: “Chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH Việt Nam

từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu, đưa ra những giải pháp tăng cường

tổ chức thực hiện pháp luật về chế độ hưu trí, nhằm duy trì và thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, góp phần ổn định an ninh chính trị, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, người thụ hưởng, đồng thời chống lạm dụng quỹ hưu trí

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài

Nghiên cứu về lĩnh vực BHXH là vấn đề không mới Được thực hiện ở nhiều cấp độ nghiên cứu khác nhau

Ở cấp độ nghiên cứu tiến sĩ, tiêu biểu là luận án "Thực thi chính sách an sinh

xã hội (ASXH) ở thành phố Đà Nẵng hiện nay - thực trạng và giải pháp" của nghiên

cứu sinh Lê Anh, Học viện Chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017 Tác giả đã tập trung nghiên cứu Quá trình thực thi chính sách ASXH của thành phố

Đà Nẵng trên các lĩnh vực bảo trợ xã hội, giảm nghèo, người có công với cách mạng, nhà ở xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động, BHXH, BHYT được

Trang 10

thể hiện trong các chương trình ASXH có tính “đặc thù” của thành phố Đà Nẵng như Chương trình thành phố “5 không”, “3 có”, Chương trình “4 an” Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thực thi chính sách ASXH, phân tích thực trạng và đề xuất một

số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng việc thực thi hệ thống chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới

Ở cấp độ nghiên cứu thạc sĩ, có luận văn như: "Thực hiện chính sách hưu trí

ở nước ta hiện nay" của tác giả Lý Hoàng Minh, Học viện Khoa học Xã hội, Hà

Nội, năm 2016 Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ sở lý luận về chính sách hưu trí, vận dụng để nghiên cứu thực hiện chính sách hưu trí ở nước ta Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện chính sách hưu trí ở nước ta, từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hưu trí, cách thức tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam

Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết đăng trên tạp chí, kỷ yếu có thể kể tên một số bài viết tiêu biểu như:

- "Mô hình thực hiện BHXH tự nguyện ở một số nước trên thế giới và những

bài học kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam" của tác giả Đào Thị Hải Nguyệt và

bài viết "Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH đối với mọi người lao động ở

Việt Nam", đăng trên Kỷ yếu nghiên cứu Khoa học Ngành BHXH, quý I/2018;

- "Mức giới hạn trên của tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH: Từ góc

nhìn lý luận và thực tiễn" của tác giả TS Phạm Đình Thành-Viện Khoa học BHXH,

BHXH Việt Nam, đăng trên Tạp chí BHXH, tháng 3/2018

Nhìn chung, ở các cấp độ nghiên cứu, các đề tài nghiên cứu và bài viết về BHXH khá nhiều, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào chuyên sâu về pháp luật

chế độ hưu trí từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng Chính vì lý do đó, đề tài: “Chế độ

hưu trí theo pháp luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”

vẫn còn có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề chung về hưu trí và chế độ hưu trí; thực trạng các

Trang 11

Đà Nẵng Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí theo pháp luật hiện hành phù hợp với điều kiện hiện nay của thành phố Đà Nẵng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ những mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ như sau:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH Việt Nam

- Nghiên cứu về vấn đề thực hiện bảo hiểm hưu trí tại thành phố Đà Nẵng; phân tích, đánh giá thực trạng quá trình tổ chức thực hiện

- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế

độ hưu trí theo pháp luật hiện hành phù hợp với điều kiện hiện nay của thành phố

Đà Nẵng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định về chế độ hưu trí trong pháp luật BHXH Các quy định về đối tượng tham gia, điều kiện hưởng, mức hưởng, nguồn hình thành quỹ hưu trí, thủ tục hồ sơ, quy trình giải quyết chế độ hưu trí và tổ chức chi trả chế độ hưu trí của BHXH Việt Nam; tổ chức quản lý, giải quyết và chi trả chế độ hưu trí tại BHXH thành phố Đà Nẵng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn về thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí của đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và đối tượng tham gia BHXH tự nguyện tại BHXH thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2013 đến 2017 Về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định tại Khoản 3 Điều 4, Khoản 7 Điều 3 Luật BHXH năm

2014 và Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về Chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện, Ngành BHXH chưa triển khai và đến thời điểm hiện tại chưa có doanh nghiệp nào kinh doanh dịch vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện nên chưa nghiên cứu nội dung này trong luận văn Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2018 đến tháng 02/2019

Trang 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy mọi tiềm năng trong sự nghiệp hiện đại hóa đất nước

Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, đề tài còn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp lí luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng trong đề tài là phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp là phương pháp nghiên cứu khoa học

cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội Nghiên cứu lý thuyết thường bắt đầu từ phân tích các tài liệu để tìm ra cấu trúc, các xu hướng phát triển của lý thuyết Từ phân tích lý thuyết, lại cần tổng hợp chúng lại để xây dựng thành một hệ thống khái niệm, phạm trù tiến tới tạo thành lý thuyết khoa học mới

Trên cơ sở lý thuyết về BHXH, các quy định pháp lý hiện hành về chế độ hưu trí trong pháp luật BHXH, kinh nghiệm quản lý và tổ chức thực hiện chế độ hưu trí của một số quốc gia trên thế giới được thể hiện trong các nguồn tài liệu và thông qua các cách tiếp cận của nhiều tác giả, tác giả luận văn đã liên kết những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được thành một chỉnh thể để tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về chủ

Trang 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy mọi tiềm năng trong sự nghiệp hiện đại hóa đất nước

Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu đề tài còn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp lí luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn còn có thể giúp cho các nhà làm luật có thể sử dụng để tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật BHXH về chế độ hưu trí

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu khoa học, cho việc giảng dạy, học tập cũng như cho các cơ quan quản lý nhà nước, các đoàn thể tham khảo

Bên cạnh đó, người sử dụng lao động và NLĐ cũng có thể tham khảo để phục

vụ tốt hơn trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng, trách nhiệm của các bên khi tham gia BHXH và giải quyết chế độ BHXH, đặc biệt là chế độ hưu trí

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung về chế độ hưu trí trong hệ thống các chế độ BHXH

Chương 2 Thực trạng chế độ hưu trí trong luật BHXH hiện hành và thực tiễn

áp dụng tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế

độ hưu trí theo pháp luật Bảo hiểm xã hội hiện hành ở thành phố Đà Nẵng hiện nay

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG HỆ THỐNG

CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Khái niệm chế độ hưu trí

1.1.1 Định nghĩa chế độ hưu trí

Chế độ hưu trí là chế độ mà NLĐ sẽ trích một phần thu nhập khi đang làm việc để đóng vào quỹ hưu trí, để khi già yếu và được về nghỉ hưu thì quỹ này sẽ được dùng để chi trả một phần cuộc sống của họ cho đến khi chết Mỗi chúng ta đều phải tuân theo quy luật của cuộc sống, có nghĩa là ai cũng đến lúc già yếu không còn khả năng lao động nữa, nếu không có chế độ hưu trí thì những người này sẽ trở

thành gánh nặng cho gia đình và xã hội

Theo nghĩa chung nhất: "Chế độ hưu trí là chế độ BHXH đảm bảo thu nhập

cho người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa" (Bài

giảng BHXH 2, NXB Lao động - Xã hội)

Dưới góc độ pháp luật: "Chế độ hưu trí là tổng hợp các quy phạm pháp luật

quy định về các điều kiện và mức trợ cấp cho những người tham gia BHXH, khi đã

hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động" (Bài giảng BHXH 2,

NXB Lao động - Xã hội)

Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 thì chế độ hưu trí được hiểu

là “Chế độ BHXH đảm bảo thu nhập cho NLĐ đã hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật” [19]

1.1.2 Vai trò của chế độ hưu trí

Trong hệ thống các chế độ BHXH gồm nhiều chế độ khác nhau (chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và

tử tuất…) Tuy nhiên, các chế độ BHXH được xây dựng và thực hiện phụ thuộc vào trình độ phát triển và mục tiêu cụ thể của hệ thống BHXH trong từng thời kỳ của mỗi nước Và trong bất cứ hệ thống BHXH nào cũng có những chế độ chính thể hiện đặc trưng, những mục tiêu chủ yếu của hệ thống BHXH; một trong những chế

Trang 15

Theo quy định của ILO ( International Labour Organization - Tổ chức Lao động Quốc tế) thì chế độ hưu trí là một trong những chế độ bắt buộc, là chế

độ chính sách khi mỗi quốc gia muốn xây dựng cho mình một hệ thống BHXH Theo thống kê của ILO, trong tổng số 163 nước trên thế giới có hệ thống BHXH (1993) thì có tới 155 nước có thực hiện chế độ hưu trí chiếm tỷ lệ 95,1% Điều đó chứng tỏ chế độ hưu trí rất được các nước cũng như NLĐ quan tâm

Trên thực tế, những người tham gia BHXH đều có mong muốn tham gia vào chế độ hưu trí; trong phần đóng góp phí BHXH nói chung thì phần chủ yếu là đóng cho chế độ này Đối với hệ thống BHXH thì hoạt động của ngành này tập trung chủ yếu vào chế độ hưu trí cho NLĐ Điều này được thể hiện cụ thể trong các hoạt động nghiệp vụ của BHXH Chẳng hạn ở Việt Nam, chế độ hưu trí có vị trí đặc biệt quan trọng với người tham gia BHXH; chế độ này được quy định và đưa vào thực hiện ngay từ khi hệ thống BHXH mới được thành lập (1947) Theo các quy định hiện hành thì tỷ lệ cho bảo hiểm hưu trí và các chế độ khác có liên quan tới người về hưu

là 86% (phí bảo hiểm là 25,5% tổng quỹ tiền lương thì tới 22% đóng cho hưu trí)

Do đó thu cho chế độ hưu trí chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu của BHXH, khoảng trên 80% Tương tự, trong tổng chi của BHXH thì việc chi cho chế độ này cũng rất lớn Trong những năm gần đây tiền chi cho chế độ hưu trí chiếm khoảng trên 80% tổng chi cho BHXH Như vậy, hoạt động thu - chi của chế độ hưu trí có ảnh hưởng sống còn tới toàn bộ hoạt động của hệ thống BHXH, ảnh hưởng đến sự

ổn định của BHXH nói riêng cũng như cả xã hội nói chung

Một vấn đề nữa đặt ra là xu hướng già hóa của dân số thế giới dẫn đến số lượng người nghỉ hưu ngày càng tăng Điều đó cho thấy rõ vai trò ngày càng quan trọng của chế độ hưu trí trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Chế độ bảo hiểm hưu trí còn thể hiện được sự quan tâm chăm sóc của Nhà nước, NSDLĐ đối với NLĐ, và nó còn thể hiện đạo lý của dân tộc, đồng thời còn phản ánh trình

độ văn minh của một chế độ xã hội

1.1.3 Sự cần thiết phải có bảo hiểm hưu trí

Bảo hiểm hưu trí đảm bảo đời sống cho NLĐ khi họ về hưu do đó giúp xã

Trang 16

hội ổn định bền vững Ngày nay, tỷ lệ người già trong dân số ngày càng tăng, nên

ổn định đời sống cho bộ phận này là rất quan trọng Mặt khác, khi nghỉ hưu NLĐ có cuộc sống ổn định và an nhàn hơn Đối với người có trình độ, có khả năng họ lại tiếp tục cống hiến, truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệ sau NLĐ trong quá trình lao động họ có được sự bảo đảm chắc chắn về phần thu nhập khi họ nghỉ hưu, làm cho

họ yên tâm công tác, không lo nghĩ về điều kiện sống khi nghỉ hưu, do đó làm việc với năng suất và chất lượng cao hơn Giúp NLĐ tiết kiệm cho bản thân mình ngay trong quá trình lao động để bảo đảm cuộc sống khi về hưu, giảm bớt một phần gánh

nặng cho người thân, gia đình và xã hội

1.2 Cơ sở hình thành chế độ bảo hiểm hưu trí trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội trên thế giới

BHXH đã hình thành một cách khách quan, do nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của NLĐ và người chủ sử dụng lao động Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, một

số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời để bảo vệ nhau trong hoạt động nghề nghiệp và

họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ (như ở Anh năm 1473 đã thành lập hội “Bằng hữu”) nhằm giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, tai nạn… Đến năm 1883, Đức cũng

đã ban hành Luật Bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới, sau đó tiếp tục ban hành Luật Bảo hiểm tai nạn lao động và Luật Bảo hiểm người già - người tàn tật do lao động vào năm 1884 và 1889 Sau đó, một số nước ở Châu Âu, Bắc Mỹ tiếp tục đưa

ra luật BHXH vào cuối năm 1920 Sự ra đời các bộ luật chính thức đầu tiên đó phản ánh một yêu cầu tất yếu khách quan của BHXH Qua thời gian thực hiện và tiếp tục hoàn thiện các chế độ bảo hiểm chúng ta có thể hiểu được bản chất BHXH: “BHXH

là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội” Nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm này là gắn liền quyền lợi được hưởng với nghĩa vụ đóng góp Tuy vậy, BHXH

Trang 17

chỉ thực sự trở thành một lĩnh vực hoạt động mang tính chất và ý nghĩa xã hội sâu sắc từ đầu thế kỷ XIX Quá trình đó gắn liền với sự phát triển sản xuất công nghiệp, của nền kinh tế thị trường và thị trường sức lao động mà trong đó có quan hệ chủ thợ trong lao động trở nên phổ biến Sang thế kỷ XX, hầu hết các nước trên thế giới

mà trước hết là các nước công nghiệp phát triển đều ban hành và thực hiện điều luật

về BHXH đối với NLĐ Đặc biệt vào tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, ILO thông qua Công ước số 102 với những quy phạm tối thiểu về BHXH, trong đó có quy định

hệ thống gồm 9 chế độ đó là: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp sinh đẻ, trợ cấp khi tàn phế, trợ cấp cho người còn sống; 9 chế độ này hình thành nên một hệ thống các chế độ BHXH Với sự phát triển như vậy, BHXH đã trở thành một lĩnh vực mang tính quốc tế rộng lớn và hiện nay có hơn 170 quốc gia trên thế giới thực hiện BHXH (theo ILO-2017)

1.2.2 Bảo hiểm hưu trí trong chế độ bảo hiểm xã hội

Trong quá trình NLĐ tạo ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu của bản thân, nhưng cùng với thời gian tuổi tác, sức khỏe của họ bị giảm sút và đến một lúc nào đó họ sẽ không còn khả năng lao động Lúc đó khoản thu nhập mà họ có thể sinh sống hoặc là do tích góp trong quá trình lao động hoặc do con cháu nuôi dưỡng Những nguồn thu nhập này không thường xuyên và phụ thuộc vào điều kiện của từng người Để đảm bảo lợi ích cho NLĐ khi họ hết tuổi lao động và giúp

họ có nguồn thu nhập thường xuyên, ổn định, Nhà nước đã thực hiện chế độ BHXH hưu trí Vậy, bảo hiểm hưu trí là hình thức bảo đảm thu nhập cho NLĐ khi hết tuổi lao động, NLĐ tạo ra thu nhập để nuôi sống chính họ trong quá trình lao động Quá trình này diễn ra ngay trong các nhà máy, xí nghiệp, đơn vị kinh tế, hành chính sự nghiệp trong lĩnh vực quốc doanh và ngoài quốc doanh Trong quá trình đó, họ cống hiến sức lao động để xây dựng đất nước bằng cách tạo ra thu nhập cho xã hội và cho

cả chính họ nữa Do đó đến khi họ không còn khả năng lao động nữa thì họ phải được sự quan tâm ngược lại từ phía xã hội Đó chính là khoản tiền trợ cấp hưu trí hằng tháng phù hợp với số tiền BHXH mà họ đã đóng góp trong suốt quá trình lao

Trang 18

động Nguồn trợ cấp này tuy ít hơn so với lúc đang làm việc nhưng nó rất quan trọng và cần thiết giúp cho người về hưu ổn định về mặt vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống, tạo cho họ có thêm điều kiện để cống hiến cho xã hội những kinh nghiệm quý báu trong quá trình lao động sản xuất mà họ đã tích luỹ được nhằm xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh hơn Bảo hiểm hưu trí bảo đảm quyền lợi cho NLĐ, giúp họ tự bảo vệ mình khi hết tuổi lao động, tự lo cho chính bản thân một cách hợp lý nhất nhờ vào việc họ đã cống hiến sức lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội trước đó NLĐ chỉ cần trích ra một tỷ lệ % tiền lương tương đối nhỏ khi còn đang làm việc trong một thời gian nhất định Đến khi hết tuổi lao động phải nghỉ việc họ sẽ có được sự bảo đảm của xã hội làm giảm bớt phần nào khó khăn về mặt tài chính do không còn lao động được nữa Như vậy, bảo hiểm hưu trí là một chế độ mang tính xã hội hóa cao được thực hiện một cách thường xuyên và đều đặn,

kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác

1.3 Nội dung của chế độ hưu trí

Chế độ hưu trí là một chế độ có liên quan đến rất nhiều mặt trong quá trình tổ chức thực hiện Do vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu để

đi đến xác lập một chế độ bảo hiểm hưu trí Sau đây là một số nội dung cơ bản:

1.3.1 Điều kiện để hưởng bảo hiểm hưu trí

1.3.1.1 Độ tuổi hưởng bảo hiểm hưu trí

Độ tuổi hưởng chế độ BHXH dài hạn nói chung và chế độ hưu trí nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định chi phí của hệ thống chế độ Tuổi hưởng chế độ hưu trí có thể được ấn định theo một số cân nhắc như: Khả năng làm việc tổng thể của người cao tuổi; vị thế của người cao tuổi trong thị trường lao động; khả năng kinh tế của chế độ hưu trí

Điều quan trọng là phải cân đối mức hưởng thỏa mãn đóng và chi phí liên quan đến tuổi thọ bình quân của người cao tuổi Mặt khác, khi quy định tuổi về hưu còn phải dựa vào quy luật sinh - lão - bệnh - tử và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước

Ngoài ra, tuổi nghỉ hưu còn được quy định hạ thấp so với độ tuổi bình quân

Trang 19

đối với những người làm những công việc trong điều kiện lao động và môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng nhất định làm suy giảm một phần khả năng lao động so với bình thường hay những người có thể chất yếu không đủ sức đảm đương công việc

1.3.1.2 Thời gian đóng bảo hiểm hưu trí

Thời gian đóng bảo hiểm hưu trí là tổng số đơn vị thời gian có đóng phí bảo hiểm để được hưởng chế độ này Việc quy định thời gian đóng phí BHXH nhằm xác định sự cống hiến về mặt lao động của mỗi người với xã hội nói chung và phần đóng góp vào BHXH nói riêng Thời gian đóng BHXH là một trong những căn cứ để chi trả đối với NLĐ theo luật định nhằm bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa những người tham gia BHXH, thực hiện một trong những nguyên tắc cơ bản của BHXH

Việc xác định thời gian đóng phí BHXH được căn cứ: độ tuổi về hưu, tỷ lệ đóng góp, tuổi thọ của những người về hưu, mức được hưởng Về nguyên tắc nếu xuất phát từ việc đóng BHXH để hình thành quỹ sử dụng cho chế độ hưu trí thì phải tính đến tổng số thời gian đóng BHXH thực tế Trường hợp NLĐ làm việc trong những điều kiện đặc biệt như ở nơi độc hại, vùng sâu, vùng xa được pháp luật BHXH quy định số thời gian này làm căn cứ để giảm tuổi đời khi nghỉ hưu

Trong các chế độ BHXH bắt buộc, đối với chế độ hưu trí hầu hết các nước đều quy định điều kiện để được hưởng chế độ phụ thuộc hai yếu tố đó là độ tuổi và thời gian đóng BHXH

1.3.2 Mức đóng

Cũng như tất cả các chế độ bảo hiểm khác, chế độ hưu trí liên quan đến mức phí thu cho chế độ này Trong thực tế mức thu cho chế độ này được xác định riêng theo một tỷ lệ nào đó so với thu nhập hay tiền lương dùng để tính BHXH và bảo hiểm hưu trí Đối với NLĐ làm công ăn lương thì thu nhập này thường là tiền lương Trong một số trường hợp mức thu cho chế độ hưu trí không xác định riêng

mà được gộp chung vào một mức thu gọi là thu BHXH nói chung Ở Việt Nam hiện nay thực hiện thu chung một mức phí BHXH cho tất cả các chế độ BHXH đang được thực hiện, trong đó có định lượng phần dành cho các chế độ bảo hiểm dài hạn

Trang 20

như bảo hiểm hưu trí Cụ thể phân bổ tỷ lệ đóng BHXH theo Luật BHXH năm 2006 đến nay như sau:

Trang 21

quan điểm thứ hai thì cho rằng tiền lương hưu phải có giá trị bảo đảm cho người về hưu có mức sống cao, thậm chí trên mức trung bình của xã hội Sự khác nhau này tất nhiên sẽ dẫn đến mức đóng tương ứng trước khi được hưởng cũng khác nhau

Trong thực tế, khuynh hướng nào cũng có lý khi giải thích nhưng nếu xét về mức sống của người về hưu và đặt trong quan hệ với sự phát triển và ý nghĩa về sự hấp dẫn của BHXH đối với NLĐ thì khuynh hướng thứ hai có sức thuyết phục hơn Những dù là mức hưởng được xác định theo quan điểm nào thì vẫn phải đảm bảo yêu cầu có tính nguyên tắc là tiền lương hưu phải thấp hơn tiền lương khi làm việc

Ngoài ra, tùy theo luật pháp của từng nước về chế độ này mà người nghỉ hưu được hưởng thêm các quyền lợi như trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, hay đối với những NLĐ nghỉ việc chưa đủ tuổi để hưởng chế độ hưu hằng tháng cũng nhận được trợ cấp một lần và ngoài lương hưu hằng tháng, người nghỉ hưu còn được hỗ trợ BHYT do quỹ BHXH chi trả, khi chết gia đình được hưởng chế độ tử tuất

1.3.4 Thời gian hưởng chế độ hưu trí

Thời gian hưởng chế độ hưu trí được hiểu là thời gian kể từ khi nghỉ hưu cho đến khi qua đời Với mỗi người thì thời gian hưởng lương hưu thông thường là khác nhau vì tuổi nghỉ hưu và tuổi thọ không giống nhau Và do một trong những vấn đề

có tính xã hội, tính bù trừ trong BHXH nên trong quản lý thường lấy số bình quân chung thời gian hưởng tiền lương hưu của người nghỉ hưu trong cùng một hệ thống BHXH để tính toán cho các chỉ tiêu khác

Thời gian hưởng tiền hưu phải ngắn hơn thời gian đóng BHXH cho chế độ hưu trí Tuy vậy, thời gian nghỉ hưu để hưởng tiền lương hưu có thể khác nhau khi thực hiện chế độ bảo hiểm này Điều đó phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi đời khi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật, tuổi thọ bình quân của người nghỉ hưu Những yếu tố này lại phụ thuộc vào chính sách lao động và BHXH trong từng giai đoạn, mức sống và điều kiện sống của dân cư

Trong thực tế, tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật thường ổn định trong một thời gian dài và nếu có thay đổi thì cũng ở trong khoảng từ 55 đến 60 tuổi đối với NLĐ bình thường trong xã hội Trong trường hợp đặc biệt, có thể có những

Trang 22

điều chỉnh nhưng cũng dựa trên những độ tuổi đó Khi tuổi thọ bình quân ngày càng tăng lên thì thời gian hưởng chế độ hưu trí cũng có xu hướng tăng lên Vấn đề có tính quy luật này buộc các nhà nghiên cứu các chế độ chính sách về lao động và BHXH phải tính đến để điều chỉnh tuổi về hưu cho phù hợp

1.3.5 Một số chỉ tiêu đánh giá hoạt động của chế độ hưu trí

BHXH nói chung cũng như chế độ hưu trí nói riêng là những phạm trù kinh tế tổng hợp, phản ánh rất nhiều mặt trong đời sống xã hội Do vậy, việc hình thành hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả là hoàn toàn không đơn giản vì khó có thể có được một hệ thống chỉ tiêu phản ánh đầy đủ tất cả các khía cạnh của lĩnh vực này Tuy nhiên, việc xây dựng các chỉ tiêu này thực sự cần thiết và đó là cơ sở cho việc đánh giá trình độ phát triển và kết quả của BHXH trong đời sống xã hội Thông thường việc đánh giá kết quả hay hiệu quả của mỗi hoạt động nào đó chúng ta phải so sánh với định hướng, mục tiêu đề ra Tính hiệu quả phản ánh trong mức độ đạt được

so với các mục tiêu đặt ra

Trong BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng, mục tiêu cao nhất là đạt được sự phát triển của BHXH và bảo đảm đời sống người về hưu trên cơ sở tiền lương hưu (còn gọi là thu nhập thay thế) mà NLĐ nhận được từ quỹ BHXH, góp phần bảo đảm an sinh và ổn định xã hội Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cũng phải xoay quanh mục tiêu này Trong chế độ hưu trí, do tính phức tạp của chế độ này mà hệ thống các chỉ tiêu phải bao gồm tất cả các chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng

Theo quan điểm về hiệu quả như trên ta thấy có thể có ba nhóm chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động BHXH đó là :

Nhóm 1: Các chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động bảo hiểm hưu trí

Nhóm 2: Các chỉ tiêu đánh giá về sự phát triển của bảo hiểm hưu trí

Nhóm 3: Các chỉ tiêu đảm bảo lợi ích về kinh tế - xã hội của người về hưu Sau đây là sự xác định cụ thể trong từng nhóm chỉ tiêu:

1.3.5.1 Nhóm các chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động bảo hiểm hưu trí

BHXH tập trung vào ba hoạt động chính đó là thu BHXH, quản lý quỹ

Trang 23

BHXH và chi trả BHXH Trong mỗi hoạt động đó có các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá mức độ hiệu quả:

Thu bảo hiểm hưu trí

Thu bảo hiểm hưu trí là một chỉ tiêu tổng hợp và hiệu quả của nó được đánh giá trên các mặt chủ yếu sau:

Chỉ tiêu này có thể áp dụng mở rộng ra cho tất cả số người có nhu cầu tham gia bảo hiểm BHXH tự nguyện, và rộng hơn nữa là bảo hiểm xã hội toàn dân

Hai là, Thu đủ số tiền theo quy định cho chế độ hưu trí:

Số tiền thu được

Tỷ lệ % tiền thu được = * 100

Số tiền phải thu

Số tiền thu được này phụ thuộc vào mức thu theo luật định và số lượng người

mà các cơ quan BHXH đã thu được, hay số người trực tiếp đóng BHXH Thu đủ là rất quan trọng không chỉ vì như đã đề cập ở trên mà đó còn là bảo đảm sự chủ động

về nguồn tài chính, làm cho nguồn quỹ BHXH được ổn định, giúp duy trì các hoạt động bình thường và ngày càng phát triển của chế độ hưu trí

Trang 24

Ba là, Thu đúng thời gian: Đó là thời gian mà các đơn vị và cá nhân phải

đóng BHXH theo quy định của pháp luật hiện hành Nếu không thu đúng thời gian

sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch tài chính trực tiếp của chế độ hưu trí Nhất là trong điều kiện chế độ hưu trí áp dụng theo cơ chế thu của người đóng trả cho người hưởng Còn trong chế độ hưu trí theo cơ chế của đầu tư ứng trước thì thu kịp thời là một điều kiện quan trọng để ổn định và phát triển quỹ hưu trí trong tương lai trên cơ sở các kế hoạch sử dụng quỹ để đầu tư sinh lời

Chi trả BHXH

Trong hoạt động chi trả, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cũng tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, Chi trả đúng đối tượng

Đảm bảo tiền hưu phải đến đúng người được hưởng Đó phải là những người hội đủ được điều kiện ràng buộc để được hưởng chế độ hưu trí Điều này có liên quan đến công tác quản lý đối tượng hưởng chế độ hưu trí Khác với NLĐ khi tham gia đóng BHXH, sự di chuyển hay thay đổi nơi ở của từng người về hưu phụ thuộc vào khả năng và điều kiện sống mà họ lựa chọn Khi đó công tác quản lý phải có sự linh hoạt tốt để không chỉ quản lý tốt mà còn được thực hiện chi trả thuận lợi đúng đối tượng được hưởng chế độ này

Hai là, Chi trả đủ về số lượng

Chỉ tiêu chi trả đủ về số lượng phản ánh về số tiền chi trả đủ cho mọi đối tượng được hưởng hưu trí theo quy định Đây là yêu cầu pháp lý, được luật quy định thành các mức tiền hưu được hưởng Chi trả đủ cho người về hưu phải được đảm bảo trên cơ sở số tiền mà quỹ hưu trí có được dùng để thanh toán và sự an toàn của số tiền này trong quá trình chi trả cho các đối tượng được hưởng chế độ hưu trí

Ba là, Chi trả đúng thời gian

Chi trả đúng thời gian chính là việc bảo đảm người về hưu phải được nhận lương hưu đúng theo thời gian quy định Đây là điều rất quan trọng vì tiền hưu là một loại thu nhập thường xuyên của người về hưu Đối với các đối tượng này việc nhận lương hưu đúng hạn sẽ giúp cho họ có thể ổn định được đời sống Đối với các

Trang 25

cơ quan bảo hiểm điều này có ý nghĩa rất lớn trong quản lý nói chung và thanh quyết toán cho chế độ hưu trí nói riêng

Các chỉ tiêu này rất quan trọng trong quản lý quá trình thực hiện BHXH ở Việt Nam, trong điều kiện hiện nay khi mà BHXH đang còn có nhiều thay đổi cho phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta

Quản lý quỹ hưu trí

Chỉ tiêu của hoạt động này phản ánh qua quản lý số lượng tiền hay quy mô quỹ bảo hiểm hưu trí nhằm bảo toàn giá trị của quỹ hưu trí cả về giá trị danh nghĩa

và giá trị thực tế Đồng thời đó còn là việc sử dụng quỹ này vào các hoạt động khác nhau, làm phát triển không ngừng và nâng cao khả năng thanh toán của quỹ hưu trí

Đó chính là sự tăng cường nguồn lực tài chính của chế độ hưu trí Có nhiều chỉ tiêu

cụ thể như: Bảo toàn giá trị của quỹ bảo hiểm hưu trí, mức và tỷ lệ tăng của quỹ hưu trí qua các thời kỳ, khả năng cân đối thu chi của quỹ BHXH

1.3.5.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của chế độ hưu trí

Một là, Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí

Chỉ tiêu mở rộng phạm vi đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí được tính qua tỷ lệ NLĐ trong xã hội thực hiện vào chế độ hưu trí trong tổng số lao động nói chung Đây là chi tiêu phản ánh kết quả thực hiện mục tiêu mở rộng phạm vi hoạt động của chế độ hưu trí Trong điều kiện ở các nước có nền kinh tế kém phát triển, số người tham gia vào chế độ hưu trí không nhiều thì chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá quy mô và sự phát triển của chế độ hưu trí qua các thời kỳ

Theo đuổi mục tiêu mọi người đều có quyền và được tham gia vào BHXH để hưởng chế độ hưu trí nên trong quá trình phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động,

số người tham gia vào chế độ này phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng nguồn lao động

xã hội Tỷ lệ tăng số lượng người tham gia chế độ hưu trí được xác định trên cơ sở mục tiêu mở rộng của chế độ này Ở đây có thể lượng hóa chỉ tiêu này qua tỷ lệ phần trăm số người tham gia vào chế độ bảo hiểm hưu trí và tốc độ tăng của tỷ lệ này qua các năm Ngoài ra, cũng có thể tính thêm chỉ tiêu tỷ lệ tăng tương đối so với tỷ lệ tăng lao động xã hội

Trang 26

Hai là, Mở rộng các hình thức tham gia chế độ hưu trí

Mở rộng các hình thức tham gia chế độ hưu trí là chỉ tiêu chủ yếu phản ánh

sự tăng thêm các hình thức mới trong việc tham gia bảo hiểm và hưởng chế độ hưu Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển về tổ chức hệ thống và các hoạt động của chế độ hưu trí, qua đó tăng cơ hội và khả năng để mọi người có thể tham gia vào chế độ này Hiện nay, ở Việt Nam chúng ta mới áp dụng một hình thức đóng để hưởng chế

độ hưu trí trong đó dựa chủ yếu vào thời gian đóng và tuổi đời khi nghỉ hưu

Tuy nhiên, sự khống chế về số năm đóng tối thiểu như luật quy định hiện nay

là 20 năm kèm với điều kiện tuổi đời chỉ thích hợp với người có công việc làm và thu nhập ổn định để đóng BHXH, nhất là lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước Việc linh hoạt về thời gian đóng BHXH làm cho nhiều người có nhu cầu, có thêm cơ hội để tham gia vào chế độ này

Xét trên một góc độ khác, mức đóng cố định chỉ phụ thuộc vào mức thu nhập hay tiền lương để tính BHXH cũng sẽ làm giảm sức hấp dẫn của chế độ này khi nhiều người muốn đóng thêm trên mức bình thường để sau đó được hưởng mức tiền cao hơn

1.3.5.3 Nhóm các chỉ tiêu bảo đảm quyền lợi kinh tế - xã hội của người về hưu

Quyền lợi về kinh tế xã hội cho người về hưu phải được phản ánh trong thực

tế đời sống kinh tế - xã hội Có thể dùng các chỉ tiêu sau để đánh giá:

Mức bảo đảm các tiêu chuẩn sống của người về hưu

Chỉ tiêu này phản ánh qua mức lương của người về hưu nhận được và mức bảo đảm thực tế cho cuộc sống của người về hưu qua tiền hưu Khi tính toán cụ thể, mức bảo đảm của tiền lương hưu phải được tính đến các mặt như:

Một là, Mức tiền lương: Mức tiền lương phải bảo đảm đầy đủ duy trì cuộc

sống của người hưởng lương hưu Ở đây vừa phải bảo đảm giá trị tiền lương danh nghĩa vừa bảo đảm cả giá trị thực tế là sức mua của tiền lương Nghĩa là khi có những tác động làm mất giá trị của tiền lương hưu như tác động của lạm phát thì cần phải được điều chỉnh kịp thời

Trang 27

Hai là, Tiền lương hưu hợp lý: Tiền lương hưu hợp lý muốn nói đến tương

quan so sánh giữa lương hưu với các loại lương khác trong xã hội Về nguyên tắc thì tiền lương hưu không thể cao hơn tiền lương của người về hưu khi đang còn làm việc, trừ trường hợp người về hưu tham gia thêm hình thức bảo hiểm tuổi già khác ngoài các hình thức và chế độ hưu trí thông thường Nhưng tiền lương hưu không thể thấp hơn tiền lương tối thiểu chung, nay là mức lương cơ sở Sự so sánh đó nhằm đánh giá tương quan về mức sống giữa những người về hưu với các tầng lớp khác trong xã hội

Đảm bảo sự công bằng xã hội giữa những người nghỉ hưu

Đảm bảo sự công bằng xã hội giữa những người nghỉ hưu phải được so sánh, đánh giá giữa đóng góp và hưởng thụ, theo nguyên tắc đóng nhiều hưởng nhiều, đóng ít hưởng ít Khác với các chế độ bảo hiểm ngắn hạn, điều này rất cần đối với chế độ hưu trí vì việc đóng phí và hưởng trong chế độ hưu trí liên quan đến những khoản tiền rất lớn trong thu và chi trả Và có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của các đối tượng tham gia cả trong khi đóng và hưởng theo chế độ này Sự công bằng cũng có nghĩa tham gia chế độ hưu trí như nhau thì quyền lợi được hưởng cũng phải như nhau

Tăng sự tác động tích cực của chế độ hưu trí đến phát triển kinh tế và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động xã hội

Sự tác động tích cực của chế độ bảo hiểm hưu trí đến sự phát triển kinh tế và

ổn định xã hội là một chỉ tiêu mang tính định tính khó lượng hóa Nhưng đây là một chỉ tiêu rất quan trọng vì có tác dụng trực tiếp đến không chỉ người về hưu mà bản thân NLĐ đang làm việc đã và có thể sẽ tham gia vào chế độ hưu trí Chế độ hưu trí phải góp phần ổn định kinh tế xã hội thông qua việc sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động đang làm việc trong xã hội Chẳng hạn một chế độ hưu trí tốt làm cho lao động trong xã hội được điều hòa hợp lý, cân đối hơn giữa các khu vực và thành phần kinh tế, qua đó nguồn lực lao động được khai thác và huy động đúng mục đích Việc sử dụng lực lượng lao động sẽ hiệu quả hơn, đảm bảo tái sản xuất sức lao động xã hội, an toàn xã hội

Trang 28

1.4 Chế độ hưu trí trong pháp luật một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.4.1 Chế độ hưu trí trong pháp luật một số nước

1.4.1.1 Về điều kiện tuổi đời

Ở các nước khác nhau, tùy theo các nhân tố dân số và kinh tế - xã hội mà có

sự quy định tuổi đời khác nhau giữa các nhóm nước và khác nhau giữa nam và nữ trong cùng một nước Có thể có một số nước quy định độ tuổi nam và nữ như nhau nhưng có một số nước khác lại quy định tuổi nghỉ hưu của nữ thấp hơn nam Xác định tuổi nghỉ hưu phụ thuộc rất nhiều yếu tố kể cả phụ thuộc vào nước có dân số già hay trẻ Đối với nước có dân số già, số người nghỉ hưu lớn, vì vậy họ phải nâng tuổi nghỉ hưu thường cao hơn so với các nước đang phát triển Theo số liệu của Văn phòng Lao động quốc tế, trong 24 nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và trong 40 nước đang phát triển thì tuổi nghỉ hưu cao nhất chung đối với nam và nữ như sau :

Bảng 1.2 Cơ cấu tuổi nghỉ hưu ở một số nước

Nguồn: Văn phòng Lao động quốc tế

Ngoài ra, các nước còn quy định hạ tuổi nghỉ hưu so với tuổi nghỉ hưu bình thường đối với những người làm những ngành nghề, công việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Điều kiện về tuổi đời nghỉ hưu ở một số nước được thể hiện:

Trang 29

- Nhóm Bắc Mỹ: Mỹ, Canada : 65 tuổi (chung cho cả hai giới)

- Nhóm Châu Âu:

+ Anh : 65 tuổi (nam) và 60 tuổi (nữ)

+ Pháp : 60 tuổi ( tối đa là 65 tuổi)

+ Đức : 65 tuổi (nam) và 63 tuổi (nữ)

- Nhóm các nước Châu Á (ngoài ASEAN):

+ Trung Quốc : 60 tuổi (nam) và 55 tuổi (nữ)

+ Nhật Bản : 60 tuổi (nam) và 55 tuổi (nữ)

+ Ấn Độ : 55 tuổi (chung cho cả hai giới)

- Nhóm các nước ASEAN:

+ Indonesia : 55 tuổi (cho cả hai giới)

+ Malaysia : 55 tuổi (cho cả hai giới)

+ Singapore : 55 tuổi (cho cả hai giới)

+ Philippines: 60 tuổi (cho cả hai giới)

Như vậy, có thể thấy tuổi nghỉ hưu của các nước giao động trong khoảng từ

55 đến 65 tuổi và có phân biệt giới tính Qua thống kê cho thấy chỉ có 34,62% số nước có quy định tuổi nghỉ hưu ở cả nam và nữ là như nhau Đa số các nước ASEAN quy định tuổi nghỉ hưu chung cả nam và nữ là 55 tuổi

1.4.1.2 Về việc xác định số năm đóng BHXH

Số năm đóng góp BHXH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác lập chế độ hưu trí Vì vậy, số thời gian đóng BHXH là một trong các điều kiện để được hưởng trợ cấp hưu Ở nhiều nước có quy định phải có thời gian đóng tối thiểu Qua thống kê cho thấy số năm đóng BHXH dao động từ 15 đến 45 năm Một nguyên tắc đặt ra trong chế độ hưu là độ tuổi được hưởng chế độ hưu xác định cao thì đòi hỏi

số năm bắt buộc phải đóng BHXH phải cao; số năm đóng BHXH thấp (nhưng không được thấp hơn số năm tối thiểu) thì mức trợ cấp thấp hơn

Quy định thời gian đóng BHXH (tối thiểu) của một số nước như sau:

- Mỹ, Anh: Đóng góp 52 tuần liên tục cộng với 9/10 tổng số năm làm việc

- Pháp: Người tham gia BHXH phải đóng góp 150 tháng liên tục

Trang 30

- Đức: 15 năm đến 35 năm

- Nga: Nam (20 năm), Nữ (20 năm)

- Ba Lan: Nam (20 năm), Nữ (15 năm)

- Hungari: 20 năm (cho cả hai giới)

Trong phần trợ cấp có phần cơ bản là một mức đồng nhất cộng thêm phần tỷ

lệ thu nhập Tuy nhiên, xu hướng chung là trợ cấp theo mức thu nhập của NLĐ trước khi nghỉ hưu, phù hợp với trường hợp là đóng góp BHXH theo thu nhập Mức trợ cấp hưu của một số nước:

- Mỹ: Mức trợ cấp hưu đồng nhất, tối đa là 11.280 USD/tháng, tính trên thu nhập được bảo hiểm cho tới khi nghỉ hưu

- Anh: 32,85 GBP/tuần cộng 12% thu nhập được bảo hiểm trong nước

- Pháp: 50% thu nhập bình quân trong vòng 10 năm cao nhất, lương được tính theo các lần thay đổi lương

- Đức: 1,5% “lương ước tính” là tỷ lệ giữa thu nhập của NLĐ so với mức lương trung bình của cả nước nhân với “cơ sở tính toán chung” hiện thời

- Ba Lan: 100% thu nhập bình quân của mức dưới 3000 ZLOTY một tháng của 12 tháng gần nhất cộng với 55% của phần còn lại và tăng 4% trợ cấp tính theo trợ cấp cơ bản cho mỗi năm công tác trên 20 năm

Trang 31

- Trung Quốc: 60 đến 90% thu nhập trong tháng cuối, phụ thuộc vào thời gian công tác

- Ấn Độ: Trả một lần tương ứng với số đóng góp của chủ và thợ đã trả cộng với 7,58 % lãi

- Indonesia: Người nghỉ hưu được nhận một khoản trợ cấp một lần tương đương với mức mà NSDLĐ và NLĐ đã đóng góp trong suốt quá trình tham gia BHXH, cộng với khoản tiền lãi tăng thêm

- Malaysia: Tương tự như Indonesia

- Philippines: 1,5% lương bình quân của 120 tháng cuối cộng với từ 42 đến 102% của tiền lương bình quân của 10 tháng lương

1.4.1.4 Về mức đóng góp

Mức đóng góp cho chế độ hưu cũng có sự khác nhau giữa các nhóm nước Tuy nhiên, ở hầu hết các nước đều có sự phân chia đóng góp giữa giới chủ, giới thợ

và đóng riêng cho chế độ hưu chứ không gộp vào các chế độ khác chẳng hạn:

- Mỹ: NLĐ đóng 6,2% tiền lương (nếu là lao động độc lập phải đóng 12,4%), NSDLĐ đóng 6,2 % tổng quỹ lương Tiền lương cao nhất được dùng làm căn cứ để đóng BHXH là 57.000 USD/năm

- Anh: NLĐ đóng 2% của 54 GBP/tuần đầu tiên cộng thêm 9% lương tuần của tiền lương từ 54 đến 405 Bảng; NSDLĐ đóng từ 4,6 % đến 10,4 %

- Pháp: NLĐ đóng 6,54% trong thu nhập được tính BHXH của mình, NSDLĐ đóng 8,2 % tiền lương tối đa để đóng BHXH là 12.360 FRANCS/tháng

- Đức: NLĐ đóng 8,75% tiền lương, nếu NLĐ có thu nhập dưới 610 DM/tháng thì không phải đóng BHXH, NLĐ độc lập phải đóng 15,7%, NSDLĐ đóng 8,75% quỹ lương và đóng 7,5% nếu trong doanh nghiệp có NLĐ có thu nhập thấp hơn 610 DM/tháng

1.4.2 Bài học kinh nghiệm dành cho Việt Nam

Qua nghiên cứu về quá trình tổ chức và thực hiện hệ thống hưu trí của một số nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Một là, Ở hầu hết các nước vai trò của Nhà nước, Chính phủ trong hệ thống

Trang 32

hưu trí là rất quan trọng Nhà nước với tư cách là người đề ra định hướng cho hoạt động của hưu trí và là sự bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của hệ thống này, đặc biệt là bảo trợ về tài chính ở các mức độ và hình thức khác nhau

Hai là, Xu hướng đa dạng hóa về tổ chức thực hiện, về nội dung và phương

thức tiến hành trong chế độ hưu trí là phổ biến Mặc dù vai trò của Nhà nước là rất quan trọng như đã nêu ở trên nhưng tham gia hoạt động trong hệ thống hưu trí không chỉ có các tổ chức của Nhà nước, các tổ chức khác ngoài khu vực nhà nước cũng có thể tham gia với điều kiện tuân thủ đúng những quy định trong Luật BHXH

về hưu trí Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất để mọi thành viên trong xã hội có nhu cầu đều có thể tham gia vào chế độ hưu trí

Ba là, BHXH nói chung cũng như bảo hiểm hưu trí nói riêng đối với mỗi nước

có những đặc trưng riêng về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, tình hình dân số và lao động mà có những vận dụng cụ thể xây dựng cho mình một hệ thống hưu trí phù hợp về nội dung và hình thức thực hiện Các yếu tố quan trọng để xác lập chế độ hưu trí ở các nước khác nhau cũng khác nhau chẳng hạn như tuổi đời, mức sống, mức đóng góp Trong đó phải đảm bảo được lợi ích chính đáng của người tham gia chế

độ hưu trí và duy trì sự ổn định, đảm bảo cho hệ thống hưu trí phát triển

Bốn là, Hệ thống chế độ hưu trí là cốt lõi của hệ thống các chế độ BHXH nói

chung Trong khi các hệ thống BHXH khác có thể thực hiện bởi các tổ chức bảo hiểm khác nhau (như bảo hiểm thương mại về con người), thì bảo hiểm hưu trí chỉ

có thể được thực hiện trong hệ thống BHXH Cải cách hệ thống BHXH chủ yếu và thực chất là cải cách chế độ hưu trí

Năm là, Kinh nghiệm về điều chỉnh tăng tuổi về hưu do tuổi thọ bình quân

dân cư tăng và tình trạng già hóa của dân số, hướng đến mục tiêu bình đẳng giới; ngoài ra kinh nghiệm về điều chỉnh công thức tính BHXH nhằm giảm sự thiếu hụt của quỹ BHXH trong tương lai, tức cần điều chỉnh giảm các mức trợ cấp, đặc biệt là trợ cấp hưu trí và phải theo một lộ trình hợp lý

Như vậy, có thể nói BHXH và chế độ hưu trí đang là một trong những vấn đề

xã hội quan tâm rất lớn, có ý nghĩa kinh tế và chính trị rất quan trọng Nhận thức

Trang 33

đúng về bản chất, chức năng của BHXH và chế độ hưu trí đang còn là cả một quá trình Chế độ hưu trí đã được thực hiện từ rất lâu và có vai trò ngày càng quan trọng trong xã hội nhưng quá trình phát triển cũng là quá trình tiếp tục nghiên cứu và đổi mới, hoàn thiện không ngừng

Kết luận Chương 1

Chương 1 đã tổng hợp những vấn đề lý luận chung về hưu trí và chế độ hưu trí, đã đưa ra quan niệm về hưu trí, sự cần thiết phải có bảo hiểm hưu trí, vai trò của chế độ hưu trí, các nguyên tắc, các nội dung pháp luật điều chỉnh của một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Kết quả nghiên cứu của Chương 1 là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng chế độ hưu trí theo pháp luật BHXH hiện hành áp dụng tại thành phố Đà Nẵng, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG LUẬT BẢO HIỂM

XÃ HỘI HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI

Hiến pháp là hình thức văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành,

có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy định các vấn đề

cơ bản nhất của Nhà nước, mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp Tại Khoản 2, Điều 59 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

2013 quy định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi

xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” [18]

Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/6/2012 có hiệu lực thi hành từ tháng 5/2013; Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014, Nghị quyết

số 93/2015/QH13 ngày 22/6/2015 có hiệu lực lực tháng 01/2016 Quy định về chế

độ hưu trí, BHXH một lần trong quỹ HHTT Gần đây nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018

về Cải cách chính sách BHXH với các mục tiêu và lộ trình cải cách cụ thể

Các văn bản hướng dẫn Luật BHXH năm 2014 bao gồm: Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện; Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH ngày 18/02/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Quy định chi tiết và hướng dẫn thi

hành một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện…

Trang 35

Chế độ hưu trí hiện nay được chia làm 2 loại: Chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc và chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện

2.1.1 Về đối tượng tham gia

2.1.1.1 Đối với chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc

Đối với NLĐ

Hầu hết mọi NLĐ tham gia BHXH đều là đối tượng của chế độ hưu trí Theo Khoản 1, Điều 2 Luật BHXH thì NLĐ tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam bao gồm: Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ

đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa NSDLĐ với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;

Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục

vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn

Đối với NSDLĐ

Người SDLĐ tham gia BHXH bắt buộc cũng chính là tham gia vào chế độ hưu trí cho NLĐ Theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Luật BHXH: NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã,

hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ

Trang 36

2.1.1.2 Đối với chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện cũng chính là đối tượng tham gia chế

độ hưu trí Theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Luật BHXH thì người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc [21,tr.2]

2.1.2 Về điều kiện hưởng

2.1.2.1 Chế độ hưu trí hằng tháng

Điều kiện hưởng lương hưu

Theo quy định tại Điều 54 Luật BHXH năm 2014 quy định về điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng như sau:

NLĐ khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ

Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên; NLĐ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò; Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp

NLĐ là sĩ quan quân đội nhân dân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân: Nghỉ việc có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, Luật công an nhân dân, Luật cơ yếu có quy định khác; Nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi,

nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do BLĐTBXH, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực

hệ số 0,7 trở lên; Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp

Lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH và đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu

Trang 37

Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động quy định tại

Điều 55 Luật BHXH năm 2014 và Điều 16 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH [7,

Bảng 2.1 Điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu khi bị

suy giảm khả năng lao động Năm nghỉ hưởng

Nguồn: Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH

Bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi; hoặc bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành

2.1.2.2 Chế độ Bảo hiểm xã hội một lần

Theo quy định tại Điều 60 Luật BHXH năm 2014 về điều kiện hưởng BHXH một lần nếu đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc lao động nữ hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH mà chưa đủ 15 năm đóng BHXH và không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện; hoặc ra nước ngoài để định cư; hoặc người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan

cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những

Trang 38

xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu

Tuy nhiên, ngày 19/5/2015, Chính phủ đã có Báo cáo số 226/BC-CP Quy định tại Điều 60 Luật BHXH năm 2014 về BHXH một lần, trong đó Chính phủ nêu

rõ: Nội dung Điều 60 của Luật BHXH năm 2014 là phù hợp với xu hướng phát triển

chung, đã thể hiện đúng quan điểm, định hướng mở rộng diện bao phủ BHXH, bảo đảm quyền thụ hưởng lâu dài của NLĐ, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội Quy định này không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến cuộc sống trước mắt của NLĐ mà còn chăm lo đến cuộc sống khi về già của NLĐ, khi

mà NLĐ không còn sức lao động, không thể làm việc, cần được quan tâm bảo vệ nhiều nhất Quy định này cũng phù hợp với xu hướng phát triển của hầu hết các nước trên thế giới Nhưng khi Luật BHXH năm 2014 vẫn chưa có hiệu lực thi hành thì một bộ phận NLĐ chủ yếu ở một số tỉnh, thành phố phía Nam có kiến nghị được lựa chọn hưởng BHXH một lần hoặc bảo lưu thời gian đóng BHXH như quy định của Luật BHXH năm 2006

Ngày 22/6/2015, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 93/2015/QH13 [22], thay đổi điều kiện hưởng BHXH một lần, theo Khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết như sau: “NLĐ được bảo lưu thời gian đóng BHXH để đủ điều kiện hưởng lương hưu nhằm bảo đảm cuộc sống khi hết tuổi lao động theo quy định của Luật BHXH năm

2014 Trường hợp NLĐ tham gia BHXH bắt buộc sau một năm nghỉ việc, người tham gia BHXH tự nguyện sau một năm không tiếp tục đóng BHXH mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH khi có yêu cầu thì được nhận BHXH một lần.”

2.1.3 Về mức hưởng

2.1.3.1 Mức lương hưu hằng tháng

Theo quy định tại Điều 56 của Luật BHXH năm 2014, mức lương hưu hằng tháng của NLĐ được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng nhân với mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH

Theo quy định tại Điều 54 của Luật BHXH năm 2014, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của NLĐ đủ điều kiện hưởng lương hưu được tính như sau: NLĐ nghỉ hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng

Trang 39

đối với nữ; mức tối đa bằng 75%;

Lao động nữ nghỉ hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau

đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%;

Lao động nam nghỉ hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% tương ứng với số năm đóng BHXH theo bảng dưới đây, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH, được tính thêm 2%; mức tối

đa bằng 75%

Bảng 2.2 Số năm đóng BHXH tương ứng với 45%

lương hưu đối với lao động nam Năm nghỉ hưu Số năm đóng BHXH tương ứng với

tỷ lệ hưởng lương hưu 45%

Nguồn: Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH

Mốc tuổi để tính số năm nghỉ hưu trước tuổi làm cơ sở tính giảm tỷ lệ hưởng lương hưu quy định tại Khoản 3 Điều 56 của Luật BHXH năm 2014 được xác định như sau: NLĐ làm việc trong điều kiện bình thường thì lấy mốc tuổi để tính là đủ

60 tuổi đối với nam và đủ 55 tuổi đối với nữ; NLĐ làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì lấy mốc tuổi để tính là đủ 55 tuổi đối với nam và đủ 50 tuổi đối với nữ; NLĐ làm công việc khai thác than trong hầm

lò thì lấy mốc tuổi để tính là đủ 50 tuổi; Trường hợp hồ sơ của NLĐ không xác định được ngày, tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh để tính tuổi làm cơ sở tính số năm nghỉ hưu trước tuổi

2.1.3.2 Mức hưởng BHXH một lần

Mức hưởng BHXH một lần quy định tại Khoản 2 Điều 60 Luật BHXH năm

Trang 40

2014, tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng trước năm 2014; 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng từ năm

2014 trở đi Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng BHXH bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH

2.1.4 Về nguồn hình thành quỹ hưu trí

2.1.4.1 Chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo quy định tại Điều 85 và Điều 86 Luật BHXH năm 2014, hằng tháng NLĐ đóng bằng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất; NSDLĐ được

tính trên quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của NLĐ là đóng 14% vào quỹ hưu

trí và tử tuất

Như vậy, cả NLĐ và người SDLĐ sẽ đóng góp 22% tổng quỹ lương vào quỹ HTTT Quỹ hưu trí và tử tuất dùng để chi trả chi các chế độ hưu trí và tử tuất, trong

đó chủ yếu dành cho chế độ hưu trí

2.1.4.2 Chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

Quy định tại Điều 87 Luật BHXH năm 2014, hằng tháng người tham gia BHXH tự nguyện đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do NLĐ lựa chọn để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn hiện nay là: 700.000 đồng/ người/ tháng

Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng NSNN trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH cho NLĐ tham gia BHXH tự nguyện Từ năm 2018, Nhà nước hỗ trợ 30%, 25%, 10% tương ứng với mức thu nhập của hộ nghèo nông thôn cho đối tượng tham gia BHXH tự nguyện được tính cụ thể như sau:

Ngày đăng: 02/07/2019, 10:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w