Đồng thời, tác giả nêu các giải pháp như : Phân loại, thu gom, lưu giữ, giao nhận CTRYT nguy hại CTRYTNH, việc vận chuyển, xử lý CTRYTNH, quản lý CTRYTNH thông qua đăng ký Sổ chủ nguồn t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ VĂN TUYẾN
XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ VĂN TUYẾN
XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người Hướng Dẫn Khoa Học PGS.TS VŨ THỊ DUYÊN THỦY
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác,
Hà Nội, ngày tháng 2 năm 2019
Tác giả luận văn
Ngô Văn Tuyến
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 11
1.1 Khái quát về xử lý chất thải rắn y tế 11
1.1.3 Sự cần thiết phải xử lý chất thải rắn y tế 18
1.2 Khái quát về pháp luật xử lý chất thải rắn y tế 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ THỰC TIẾN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32
2.1 Thực trạng các quy định của pháp luật về xử lý chất thải rắn y tế 32
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật xử lý chất thải rắn y tế ở thành phố Đà Nẵng41 2.3 Một số tồn tại, hạn chế 58
2.4 Nguyên nhân của những hạn chế trong thực tiễn thi hành pháp luật xử lý chất thải rắn y tế ở thành phố Đà Nẵng 61
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 64
3.1 Định hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật xử lý chất thải rắn y tế 64
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý chất thải rắn y tế 66
KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới ngày nay hiện tượng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường đang ngày càng trở nên nghiêm trọng: các dòng sông bị ô nhiễm, ở các bờ biển có hiện tượng thủy triều đen, sương mù độc, các loài động thực vật hoang dã trở nên quý hiếm, khí hậu toàn cầu biến đổi điều đó là sự minh chứng cho những tác động tiêu cực mà con người đã gây
ra cho môi trường vì sự sinh tồn và phát triển của mình Vấn đề môi trường là điều kiện, là yêu cầu quan trọng cho sự phát triển vững bền và hội nhập sâu rộng của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, Nhà nước ta khẳng định quan điểm nhất quán về phát triển kinh tế xã hội bền vững và hiệu quả trong điều kiện môi trường ngày cảng đang suy thoái nghiêm trọng, các điểm nóng về môi trường đặt ra yêu cầu cần giải quyết về môi trường nói chung và chất thải rắn y tế nói riêng
Thành phố Đà Nẵng là đô thị loại I cấp quốc gia, trung tâm du lịch, công nghiệp thương mại, cảng biển và dịch vụ hàng hải, có vị thế quan trọng trong
sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, giao lưu thuận lợi với các địa phương trong nước và các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước trong khu vực Thành phố Đà Nẵng là cửa chính ra biển của các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung trung bộ đồng thời có vị trí quốc phòng trọng yếu Trong những năm qua thành phố Đà Nẵng có bước phát triển rất mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Sự tăng trưởng kinh tế, du lịch và dịch vụ của thành phố
dự kiến sẽ tiếp tục giữ ở mức cao và nó cũng sẽ đặt ra những thách thức nhất định đối với sự phát triển của các đơn vị dịch vụ công cộng trong những năm tới
Ở thành phố Đà Nẵng, tình hình kinh tế - xã hội trong những thời năm
Trang 6qua luôn có sự phát triển vượt bậc, trở thành “thành phố đáng sống” - chất lượng sống, điều kiện sống cao của khu vực miền Trung và của cả nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau trong quá trình phát triển cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng đặc biệt vấn đề xử lý chất thải rắn y tế Chất thải rắn y tế phát sinh từ các cơ sở y tế, các hoạt động, và dịch
vụ khám chữa bệnh nếu không được phân loại, thu gom, xử lý đúng là tác nhân của nhiều bệnh nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe mọi người Ngoài
ra, điều này còn ảnh hưởng trực tiếp tới các nguồn tài nguyên không khí, đất, nước Chính vì vậy việc xử lý chất thải rắn y tế trở thành vấn đề nóng bỏng trong công tác bảo vệ môi trường hiện nay Đặc biệt, tại thành phố Đà Nẵng một trong những thành phố trực thuộc trung ương phát triển năng động, mục tiêu hướng đến xây dựng thành phố môi trường và là nơi tập trung rất nhiều các bệnh viện tuyến trung ương cũng như của địa phương Trong những năm qua cùng với việc xử lý chất thải y tế nói chung và xử lý chất thải rắn y tế nói riêng được thành phố quan tâm, chú trọng Tuy nhiên, hiện tại vấn đề xử lý chất thải rắn y tế tại thành phố Đà Nẵng vẫn chưa có được giải pháp triệt để Cho nên việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện, các cơ sở y tế là một nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
ở Việt Nam nói chung và tại thành phố Đà Nẵng nói riêng
Chính vì những lý do trên, tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Xử lý chất thải rắn y tế theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xử lý chất thải rắn y tế là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan
tâm và đã có những bài viết trên các tạp chí và các công trình nghiên cứu liên quan như:
Các bài báo trên các tạp chí như:
Trang 7Tác giả Nguyễn Hằng: “Thực trạng và một số giải pháp quản lý chất thải của ngành Y tế”, Tạp chí Môi trường số 08/2012, năm 2012 Tác giả đã nêu thực trạng công tác quản lý chất thải tại các cơ sở y tế đặc biệt quan tâm đến việc xử lý chất thải nguy hại còn nhiều bất cập từ phương tiện thu gom chất thải y tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác, còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý chất thải y tế Trên cơ sở thực trạng nêu trên, tác giả mạnh dạn đưa ra một số một số giải pháp quản lý chất thải y tế của ngành Y tế trong thời gian tới như
mô hình xử lý công nghệ hiện đại thân thiện với môi trường, kiện toàn hệ thống quản lý chất thải y tế từ Trung ương đến địa phương, nâng cao đào tạo bồi dưỡng kiến thức về xử lý chất thải y tế cũng như pháp luật trong xử lý chất thải y tế, đầu tư, cải tạo hệ thống xử lý chất thải y tế cho các cơ sở y tế tuyến Trung ương, tỉnh, huyện
Tác giả Trần Đắc Phu: “Thực trạng và một số giải pháp quản lý chất thải của ngành Y tế ”, Tạp chí Môi trường số tháng 8/2012: Tác giả đã nêu ra thực trạng công tác quản lý chất thải tại các cơ sở y tế qua những con số cụ thể, trên có sở đó tác giả cũng nêu lên những khó khăn vướng mắt trong công tác quản lý như phương tiện thu gom chất thải y tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác, còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý chất thải y tế Chỉ có 50% các bệnh viện phân loại, thu gom chất thải rắn y tế đạt yêu cầu theo Quy chế quản
lý chất thải y tế Hệ thống xử lý chất thải ở nhiều bệnh viện đã xuống cấp, cần được sửa chữa, nâng cấp cho phù hợp với quy mô phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Đồng thời, tác giả cũng đưa nhiều giải pháp nghiên cứu và ứng dụng các mô hình công nghệ xử lý chất thải y tế hiện đại, thân thiện với môi trường để xử lý chất thải y tế đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia
Trang 8về môi trường trong thời gian đến
Tác giả Lê Minh Sang: “Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong quản lý chất thải y tế”, Tạp chí Môi trường số 5/2016, năm 2016: Tác giả chia sẻ kinh nghiệm quản lý chất thải y tế (CTYT) của các nước phát triển
và đang phát triển và tác giả nhấn mạnh để xử lý tốt triệt để chất thải rắn y tế tập trung vào kinh nghiệm xây dựng khung chính sách về quản lý chất thải rắn y tế (CTRYT) và triển khai các công ước quốc tế có liên quan cụ thể tăng cường khung chính sách quốc gia bằng những quy định về quản lý CTYT; xây dựng chiến lược hoặc kế hoạch hành động quản lý CTYT Bên cạnh đó, nhiều hướng dẫn kỹ thuật về quản lý CTYT và các tiêu chuẩn thiết bị và công trình cũng được xây dựng, ban hành; hướng đến mô hình xử lý tập trung và áp dụng công nghệ không đốt nhằm giảm thiểu phát thải dioxin, furan và các hóa chất độc hại ra môi trường
Tác giả Nguyễn Thanh Hà: “Ðẩy mạnh công tác kiểm soát các lò đốt chất thải rắn y tế tại Việt Nam, Tạp chí Môi trường số 5/2016, năm 2016 Trên cơ sở thực trạng ứng dụng công nghệ lò đốt chất thải rắn trong quá trình
xử lý chất rắn y tế ở Việt Nam đạt được nhiều kết quả Tuy nhiên, nếu chế độ vận hành không đúng và không có hệ thống xử lý khí thải sẽ phát sinh chất độc hại (dioxin, furan) gây ô nhiễm môi trường thứ phát; đồng thời làm tăng chi phí vận hành, bảo dưỡng và giám sát môi trường Tác giả cũng đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp cơ bản và nêu ra quan điểm dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam về xử lý chất thải rắn y tế các ngành địa phương cần phải định hướng công nghệ mới thân thiện môi trường để thay thế dần các lò đốt không đạt quy chuẩn môi trường Bên cạnh đó, để thực hiện tốt công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý CTYT đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp với sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị có liên quan dưới sự chỉ đạo của
Bộ Y tế, sự chỉ đạo của UBND các địa phương, các Bộ, ngành có liên quan,
Trang 9cùng với việc thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả của các CSYT
Tác giả Nguyễn Hữu Hùng: “Xử lý chất thải y tế vẫn là gánh nặng cho ngân sách bệnh viện” , Tạp chí Bệnh viện số tháng 3/2018: Trên cơ sở thực tế tại các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến địa phương trong những năm qua nguồn kinh phí để chi trả cho việc xử lý chất rắn y tế tại các bệnh viện là rất lớn, có thể nói là gánh nặng cho ngân sách hoạt động tại các bệnh viện Như vậy, có thể thấy các bệnh viện không được giao, không được bố trí nguồn kinh phí riêng để thực hiện việc xử lý chất thải Hiện tại trong cơ cấu thu dịch
vụ khám chữa bệnh, điều trị, chăm sóc, phục hồi sức khỏe… thì các bệnh viện cũng chưa được phép thu phí về xử lý chất thải y tế Đồng thời, để khắc phục tình trạng trên tác giả đề xuất và kiến nghị các giải pháp như cần thiết phải xây dựng cơ chế, chính sách cho phép thu phí phát thải từ các đối tượng sử dụng các dịch vụ tại các bệnh viện; huy động thêm nhiều nguồn lực và duy trì một cách bền vững công tác xử lý chất thải y tế … nhằm giảm gánh nặng ngân sách của các bệnh viện cho việc xử lý chất thải y tế
Trong thời gian qua, ở cấp độ cao học đã có một số đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực xử lý chất thải rắn y tế Đó là:
- Hoàng Thị Liên “Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tế Bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên” Luận văn thạc sỹ, Trường Đại Học Y Dược Thái Nguyên, năm 2009 Trên cơ sở khái quát những nội dung cơ bản về vấn đề quản lý chất thải y tế, thực trạng công tác quản lý chất thải y tế, nêu ra các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải y tế Đồng thời, tác giả nêu các giải pháp và các kiến nghị đối với công tác quản lý chất thải y tế trong thời gian đến
- Lưu Viết Hùng: “Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại Việt Nam” Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học quốc gia Hà Nội năm 2010: Tác giả đã làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về chất thải rắn thông thường
Trang 10Nghiên cứu nhu cầu điều chỉnh pháp luật, các yếu tố tác động đối với
hoạt động quản lý chất thải Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về việc quản lý chất thải rắn: đối với các chủ thể; việc thu gom chất thải; vận chuyển chất thải ; lưu giữ chất thải; chủ thể xử lý chất thải; và
cơ quan quản lý chất thải để tìm ra những sai sót, vướng mắc, những vấn đề phát sinh, các vi phạm pháp luật , từ đó phân tích nguyên nhân của tình trạng này Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện, cơ chế thực hiện pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường nhằm mục tiêu phát triển bền vững
- Phạm Hồng Ngọc: “Pháp luật về quản lý chất thải y tế từ thực tiễn thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội năm 2016: Tác giả tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về CTYT và thực tiễn Hà Nội mà không đi sâu vào những vấn đề có tính kỹ thuật, chuyên môn như phương pháp, công nghệ, thiết bị xử lý CTYT Trên cơ sở thực trạng pháp luật Việt Nam về quản lý chất thải y tế và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội tác giả đã mạng dạn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
- Nguyễn Thị Liên: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản
lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, năm 2017 Trên cơ sở khái quát những nội dung cơ bản về vấn đề quản lý chất thải y tế, thực trạng công tác quản lý chất thải y tế Đồng thời, tác giả nêu các giải pháp như : Phân loại, thu gom, lưu giữ, giao nhận CTRYT nguy hại (CTRYTNH), việc vận chuyển, xử
lý CTRYTNH, quản lý CTRYTNH thông qua đăng ký Sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại, cũng như xây dựng Kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý CTRYTNH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và các kiến nghị đối với công tác quản lý chất thải rắn y tế trong thời gian đến Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu nghiên cứu đến công tác pháp lý về vấn đề pháp luật quản lý chất thải y tế đặt
Trang 11trong mối liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường mà chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu lĩnh vực khoa học quản lý môi trường
Nhìn chung, các bài viết trên tạp chí, các đề tài nghiên cứu trên đã cung cấp cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan như công tác quản lý chất thải rắn, nêu ra các bất cập trong quá trình quản lý chất thải rắn, việc thu thập số liệu cập nhật các thông tin, trên cơ sở dựa trên những số liệu cụ thể để đánh giá một cách định lượng theo lĩnh vực khoa học quản lý môi trường và từ đó đưa
ra các giải pháp cụ thể đối với vấn đề xử lý chất thải rắn y tế chưa đi sâu nghiên cứu việc thực hiện pháp luật Việt Nam về xử lý chất thải rắn nói chung và chất thải rắn y tế nói riêng Những đề tài, phân tích, đánh giá trên là nguồn tư liệu quý giúp bản thân tiếp thu tham khảo, định hướng cho đề tài nghiên cứu này Việc nghiên cứu xử lý chất thải rắn y tế theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng hiện nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện Cho nên, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này, với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc xử lý chất thải rắn y tế nhằm để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật Việt Nam về xử lý chất thải rắn y tế, tổng hợp, hệ thống hóa và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật xử lý chất thải rắn y tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đặt ra và giải quyết 03 nhiệm vụ chính sau đây:
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý, quy định pháp luật và việc thực hiện pháp luật về xử lý chất thải rắn
y tế Luận văn không nghiên cứu các loại chất thải và không đi sâu vào những
vấn đề liên quan đến lĩnh vực khoa học quản lý môi trường có tính kỹ thuật, chuyên môn như phương pháp, công nghệ, thiết bị xử lý chất thải rắn y tế
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Về nội dung
Đề tài nghiên cứu làm rõ nội dung xử lý chất thải rắn y tế, việc ảnh
hưởng của chất thải rắn y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng,
nghiên cứu khía cạnh pháp lý và việc thực thi pháp luật Việt Nam trong hoạt
Trang 13tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối đổi mới kinh tế xây dựng đất nước phát triển bền vững gắn với việc bảo vệ môi trường đồng thời kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học khác có liên quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn là sự kết hợp của nhiều phương pháp:
*Phương pháp phân tích ( sử dụng chương 1, chương 2, chương 3)
Phân tích cơ sở lý luận về xử lý chất thải rắn y tế và pháp luật về xử lý chất thải rắn y tế; Phân tích, đánh giá thực trạng xử lý chất thải rắn y tế theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
* Phương pháp so sánh ( chủ yếu sử dung chương 2);
Trên cơ sở phân tích pháp luật Việt Nam về xử lý chất thải rắn y tế trong chương này luận văn sẽ so sánh thực trạng thi hành pháp luật về xử lý chất thải rắn y tế tại thành phố Đà Nẵng có tuân thủ theo quy định pháp luật hay chưa
* Phương pháp nghiên cứu tài liệu ( được sử dụng trong chương 1, chương 2, chương 3)
Hệ thống các khái niệm và luận điểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu trong thực tiễn được hình thành thông qua quá trình thu thập kiến thức từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước Được sự cho phép và tạo điều kiện của lãnh đạo Sở Tài nguyên môi trường thành phố, các phòng nghiệp vụ của Sở y tế thành phố Đà Nẵng và Trung tâm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng tôi
đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu, bao gồm: Báo cáo thống kê về tình hình quản lý xử lý chất thải y tế hàng năm, kết quả điều tra hiện trạng phát sinh, thu gom vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn thành phố Đà
Trang 14Nẵng…để từ đó có được những số liệu cần thiết phục vụ cho việc phân tích hiệu quả thực trạng xử lý chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn cung cấp nhiều kiến thức, thông tin, luận điểm và đề xuất mới
có giá trị tham khảo với các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương trong việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế để nâng cao hiệu quả xử lý về CTRYT không chỉ ở thành phố Đà Nẵng mà còn ở các địa phương khác của nước ta trong thời gian tới Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu các chuyên ngành luật hiến pháp, luật hành chính ở Học viện Khoa học Xã hội và các cơ sở đào tạo luật khác của nước ta
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các bảng, biểu, luận văn được kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn chung về xử lý chất thải rắn y tế và pháp luật về
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
1.1 Khái quát về xử lý chất thải rắn y tế
1.1.1 Khái quát về chất thải rắn y tế
Khái niệm và phân loại chất thải rắn y tế
Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (theo khoản 12 , Điều 3 , Luật BVMT) Trong thực tế thì chất thải hình thành, tồn tại từ nhiều nguồn phong phú và đa dạng Chất thải được phân loại tuỳ thuộc vào tiêu chí mà từ đó các tiêu chí khác nhau thì có những loại chất thải tương ứng
Theo tiêu chí dạng tồn tại của chất thải thì chia chất thải thành chất thải tồn tại dưới dạng lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn), khí (khí thải);
Theo tiêu chí độ độc hại của chất thải thì có chất thải nguy hại (CTNH)
và chất thải thông thường Chất thải nguy hại chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, gây ăn mòn, gây ngộ độc, dễ cháy, dễ nổ, hoặc có đặc tính nguy hại khác [56]
Theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm
2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu thì Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Và chất thải thông thường
là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại Theo tiêu chí địa điểm sản sinh chất thải thì có chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải y tế (CTYT),…
Trang 16Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Chất thải y tế là tất cả các loại chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, bao gồm các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và các hoạt động y tế tại nhà
Mỹ, định nghĩa CTYT là chất thải phát sinh trong quá trình nghiên cứu y học, chẩn đoán, tiêm chủng, xét nghiệm hoặc điều trị cho người hoặc động vật Một số ví dụ như thủy tinh, băng gạc, găng tay, các vật dụng sắc nhọn đã
bị loại bỏ như kim hoặc dao mổ, gạc và khăn giấy
Việt Nam, theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và môi trường quy định về quản lý
CTYT thì CTYT là “chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các CSYT, bao gồm CTYT nguy hại, CTYT thông thường và nước thải y tế” Ngoài
ra còn quy định “CSYT bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); CSYT dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học” [10]
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng CTNH, gồm chất thải lây nhiễm và CTNH không lây nhiễm, CTYT nguy hại chiếm từ 10-25% tổng lượng CTYT Trong đó: Chất thải lây nhiễm bao gồm:
Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt, xuyên thủng như kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh, cưa, kim chọc dò, kim châm cứu… và các vật sắc nhọn khác;
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn là chất thải có thấm, dính, chứa
Trang 17máu hoặc dịch sinh học của cơ thể người bệnh; hoặc từ buồng bệnh cách ly phát sinh;
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao như mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm và các dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định
số 92/2010/NĐ-CP ngày 30/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm; Chất thải giải phẫu như mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm như:
Các thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân
và các kim loại nặng;
Các hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
Các chất hàn răng amalgam thải bỏ;
Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất;
Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và môi trường về quản lý CTNH (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT)
36/2015/TT-Chất thải y tế thông thường là CTYT không gây ra những vấn đề nguy hiểm đặc biệt cho sức khỏe con người và môi trường, chiếm từ 75-90% tổng lượng CTYT, bao gồm: Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong CSYT; Chất thải rắn thông thường phát sinh từ CSYT không thuộc Danh mục CTYT nguy hại hoặc thuộc Danh mục CTYT nguy hại quy định tại điểm a Khoản 4 điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng CTNH; Sản phẩm thải lỏng không nguy hại
Trang 18Nước thải y tế là nước phát sinh ra từ toilet, bể tự hoại, nước rửa tay, tắm giặt… của cán bộ công nhân viên bệnh viện, khu nội trú, người nuôi bệnh, người thăm bệnh, người đến khám bệnh Nước thải sinh hoạt cũng phát sinh
từ căn tin, bếp ăn tập thể…
Nước thải y tế đa số được phát sinh từ phòng khám và các phòng phẩu thuật , xét nghiệm và thí nghiệm của các khoa…Các nước thải này đa số chứa nhiều vi khuẩn có thể gây hại đến sức khỏe và gây cảnh quan không đẹp cho bệnh viện
Nước thải bệnh viện ngoài các yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn, còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các phế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh
Nước thải trong hệ thống xử lý nước thải y tế chiếm 80% là nước thải sinh hoạt Ngoài ra, 20% còn lại là nước từ phẫu thuật, dịch tiết, máu, mủ, khám chữa bệnh
Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường do nước thải y tế gây ra là các chất hữu cơ; các chất dinh dưỡng của Nitơ (N), Phốtpho (P); các chất rắn
lơ lửng và các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh Các chất hữu cơ có trong nước thải làm giảm lượng Oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng tới đời sống của động – thực vật thủy sinh Song các chất hữu cơ trong nước thải dễ bị phân hủy sinh học, hàm lượng chất hữu cơ phân hủy được xác định gián tiếp thông qua nhu cầu Oxy sinh hóa (BOD) của nước thải Thông thường, để đánh giá
độ nhiễm bẩn chất hữu cơ có trong nước thải, người ta thường lấy trị số BOD Các chất dinh dưỡng của N, P gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn tiếp nhận dòng thải, ảnh hưởng tới sinh vật sống trong môi trường thủy sinh; các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống
Trang 19và đường ống, máng dẫn Nước thải Bệnh viện rất nguy hiểm vì chúng là nguồn chứa các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, dịch tả,… làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Chất thải rắn y tế có các đặc điểm đặc trưng như sau:
Chất thải rắn y tế là những vật chất bị thải bỏ, mang toàn bộ đặc điểm chung của chất thải, tồn tại dưới dạng vật chất ở dạng rắn
Nguồn gốc phát sinh CTRYT là những vật chất được thải ra từ hoạt động
y tế, từ khu vực khám, chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng,giám định y khoa, pháp y, y dược cổ truyền Bên cạnh đó, CTRYT cũng có thể phát sinh trong các hoạt động y tế dự phòng, an toàn vệ sinh thực phẩm, dân số kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản; Kiểm nghiệm dược phẩm, mỹ phẩm, sản xuất thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế; Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, phòng xét nghiệm, nhà hộ sinh, trạm y tế, v.v Đây là đặc điểm phân biệt giữa CTRYT với các chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt khác
Thành phần CTRYT gồm:
Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các loại chất thải rắn khác Thành phần mang tính vật lý như bông, gạc, khăn, vải trải, quần áo… Các loại giấy; nhựa, thủy tinh, kim loại Hóa học như thuốc, hóa chất, hóa mỹ phẩm…Sinh học như các bộ phận cắt bỏ từ
cơ thể, máu, bệnh phẩm… Các loại chất thải này nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì
tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTR y tế, chưa kể 52% CTRYT là các chất hữu cơ Trong thành phần CTRYT có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công
Trang 20nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại
Cách phân loại chất thải rắn y tế:
Theo nguồn gốc phát sinh CT R YT được chia thành các loại: CTR YT
từ phòng thí nghiệm, chất thải dược phẩm và chất thải bệnh phẩm Nhóm CTRYT từ phòng thí nghiệm gồm các vật cấy, cất giữ các chất gây bệnh, túi máu, găng tay, ống nghiệm, và các chất thải khác từ phòng thí nghiệm để nghiên cứu bệnh tật Chất thải dược phẩm gồm thuốc quá hạn sử dụng hoàn trả lại, thuốc phòng bệnh, thuốc bị đổ hoặc hư hỏng hay phải bỏ đi vì không cần giữ các chất trị xạ Chất thải bệnh phẩm gồm mô người có thể bị nhiễm bệnh hay không nhiễm bệnh, nội tạng, các chi, các bộ phận cơ thể người, nhau thai và các thi thể người, xác động vật và mô động vật phòng thí nghiệm Căn cứ vào dạng tồn tại, có thể phân loại CTYT thành chất thải rắn (CTNH lây nhiễm, CTNH không lây nhiễm và CTYT thông thường), nước thải y tế và khí thải y tế
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học, chất thải trong các Chất thải rắn y tế lây nhiễm, bao gồm chất thải lây nhiễm sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu
Căn cứ vào tính chất nguy hại, Điều 49 Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu quy định chất thải từ hoạt động
y tế (trừ nước thải được đưa vào hệ thống xử lý nước thải của CSYT) (gọi tắt là Nghị định 38/2015) phải được phân loại tại nguồn gồm:
Chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm: Chất thải lây nhiễm; CTNH không lây nhiễm ( phân loại riêng theo danh mục và quy định về quản lý CTNH tại Chương II của Nghị định này); chất thải phóng xạ (quản lý theo quy định về phóng xạ);
Chất thải rắn y tế thông thường bao gồm : Chất thải rắn thông thường
Trang 21(kể cả chất thải rắn sinh hoạt); sản phẩm thải lỏng không nguy hại Căn
cứ vào mục đích tái chế, CTR YT được chia thành CTR YT thông thường không phục vụ mục đích tái chế và CTR YT thông thường phục vụ mục đích tái chế
1.1.2 Khái quát về xử lý chất thải rắn y tế
“Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải” [26]
Như vậy, xử lý chất thải rắn y tế là quá trình sử dụng các giải pháp
công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải y tế nguy hại và các yếu tố có hại trong chất thải y tế phát sinh trong quá trình hoạt động y tế đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
Quy trình xử lý CTR YT bắt đầu từ quá trình xử lý ban đầu Bắt đầu
từ việc dùng phương pháp khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi phát sinh trước khi chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy, nhằm làm giảm tính độc hại củ a chất thải trước khi đi đến khâu xử lý cuối cùng Hiện nay trên thế giới đang áp dụng rất nhiều phương pháp trong việc xử lý CTRYT và có những ưu điểm, nhược điểm khác nhau như:
Phương pháp thiêu đốt CT YT ở nhiệt độ cao: Có ưu điểm là xử lý được mọi loại rác thải, giảm được khối lượng lớn và trọng lượng của rác sau quá trình đốt, có thể sử dụng lại nhiệt độ sinh ra trong quá trình đốt rác Mặc dù vậy, thì quá trình đốt rác lại thải ra một lượng lớn khí thải độc hại, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người nếu không được xử lý đúng cách
Phương pháp xử lý bằng hóa chất: Ưu điểm là có ít các sản phẩm phụ
Trang 22độc hại sinh ra sau quá trình hấp so với phương pháp thiêu đốt Song phương pháp cũng có nhược điểm là hình dạng rác vẫn giữ nguyên không thay đổi về khối lượng, tạo ra luồng khí thải và hơi nóng có thể không đến hoặc không đủ sức diệt khuẩn hoàn toàn các loại rác thải y tế
+ Công nghệ khử khuẩn: Mục đích là biến CTNH thành chất thải không nguy hại tương tự như các chất thải sinh hoạt thông thường CTYT sau khi được khử khuẩn sẽ đưa đi tiêu hủy cuối cùng tại những nơi xử lý
Ngoài ra, hiện nay còn có một số phương pháp khác như nghiền nát chất thải, sau đó xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải trong khi xử lý Phế thải sau khi được xử lý sẽ được chở đến bãi rác thông thường vì đã đạt tiêu chuẩn tiệt trùng Phương pháp này
có nhiều ưu điểm đó là giảm được khối lượng chất thải, giảm chi phí và không tạo ra các khí thải vào không khí
1.1.3 Sự cần thiết phải xử lý chất thải rắn y tế
Xử lý chất thải rắn y tế là cần thiết vì những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với sức khỏe con người cũng như môi trường Cụ thể như sau:
Đối với sức khỏe
Khả năng gây bệnh tật hoặc tổn thương của việc tiếp xúc với các chất thải y tế nguy hại là rất lớn Các điểm cơ bản mà chất thải y tế có khả năng gây rủi ro như là:
Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho cơ thể do các vật sắc nhọn (như kim tiêm) Các vật sắc nhọn này không chỉ gây nên những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu vật sắc nhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh
Như vậy, những vật sắc nhọn ở đây được coi là loại chất thải rất nguy hiểm bởi nó gây tổn thương kép (vừa gây tổn thương, vừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV…)
Trang 23Hơn nữa, trong chất thải y tế lại chứa đựng các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B Các tác nhân này có thể thâm nhập vào
cơ thể qua các vết trầy xước, vết đâm xuyên, qua niêm mạc, qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải)
Nước thải bệnh viện còn là nơi “cung cấp” các vi khuẩn gây bệnh, nhất
là nước thải từ những bệnh viện chuyên về các bệnh truyền nhiễm cũng như trong các khoa lây nhiễm của các bệnh viện Những nguồn nước thải này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng làm lây lan các bệnh truyền nhiễm thông qua đường tiêu hóa
Đặc biệt, nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước khi sử dụng nguồn nước này vào mục đích tưới tiêu, ăn uống…
Như vậy, nếu việc thu gom, phân loại và xử lý các chất thải y tế không đảm bảo đó sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và nhất là của những người trực tiếp tiếp xúc với chất thải
Đối với môi trường
Khi chất thải y tế không được xử lý đúng cách (chôn lấp, thiêu đốt không đúng qui định, tiêu chuẩn) thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí và sự ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái
1.2 Khái quát về pháp luật xử lý chất thải rắn y tế
1.2.1 Khái niệm pháp luật về xử lý chất thải rắn y tế
Ngày nay, vấn đề môi trường sống của con người ngày càng ô nhiễm là một thách thức đối với mọi quốc gia Hậu quả của nó thật là khủng khiếp với những thảm họa thiên tai diễn ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng, tần suất ngày càng nhiều Cũng như các nước khác, sự ô nhiễm môi trường là vấn đề xấu đáng báo động ở Việt Nam cần nhanh chóng khắc phục Mọi hoạt động
Trang 24của con người đều dựa vào nguồn cung cấp nguyên liệu, năng lượng của môi trường Và ngược lại, môi trường cũng là nơi tiếp nhận, chứa đựng và xử lý các chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động, phát triển, mà trong đó có CTRYT Pháp luật Bảo vệ môi trường chú trọng ban hành các quy định về xử
lý chất thải rắn y tế nhằm đảm bảo môi trường sống, phòng ngừa và răn đe các hành vi hủy hoại môi trường sống
Việc quản lý chất thải y tế yêu cầu xử lý CTRYT nhằm giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý CTRYT và giám sát quá trình thực hiện [10] Hệ thống các quy phạm pháp luật xử lý CTR
YT tập trung điều chỉnh ba nhóm nội dung chủ yếu Một là, chú trọng về kiểm soát nguồn gốc phát sinh CTRYT; Hai là, quy định về thu gom, vận chuyển CTRYT; Ba là, những quy định về xử lý, tiêu hủy CTRYT Việc ban hành các quy phạm này nhằm điều chỉnh những mối quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình con người tiến hành các hoạt động liên quan đến CTR YT Hạn chế xả thải, phòng ngừa, giảm thiểu những ảnh hưởng không tốt của CTR YT, nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống của con người Nhà nước ban hành chính sách, pháp luật nhằm định hướng cho các cơ quan, các tổ chức
và cá nhân trong quá trình làm phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý CTRYT; qua đó bằng những chế tài cụ thể, pháp luật xử lý CTRYT góp phần giảm thiểu được lượng CTR YT thải vào môi trường và hạn chế, phòng ngừa được những tác động xấu Qua đó khẳng định, việc xây dựng, tiến hành triệt
để các quy phạm pháp luật về lĩnh vực xử lý CTR YT góp phần đảm bảo một cách hiệu quả chất lượng môi trường sống của con người
Ở nước ta, pháp luật xử lý CTYT, là một bộ phận của pháp luật môi trường, ra đời và hình thành muộn hơn so với các nước trên thế giới và trong khu vực Những quy định đầu tiên về quản lý CTYT đã bắt đầu được quy định từ Luật BVMT (LBVMT) năm 1993 Bộ Y tế ban hành Quyết định
Trang 25số 1895/1997/BYT-QĐ ngày 19/7/1997 về việc ban hành Quy chế bệnh viện, trong đó nổi bật có quy chế công tác xử lý chất thải, quy chế chống nhiễm khuẩn Quy chế xử lý về CTYT xem như là văn bản pháp luật đầu tiên và đánh dấu bước phát triển quan trọng quy định về xử lý CTYT ở Việt Nam được ban hành kèm theo Quyết định số 2575/1999/QĐ-BYT
Nhận định và đánh giá những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao về vấn đề BVMT, về việc quản lý, xử lý chất thải bằng pháp luật, Nhà nước ban hành LBVMT thay đổi qua các năm từ năm1993, 2005 và đến năm 2014, LBVMT
2014 có điều khoản riêng quy định về việc bảo vệ môi trường, xử lý chất thải trong các CSYT (theo Điều 72 LBVMT 2014) Từ đây, các Thông tư, Nghị định cũng được ban hành nhằm thống nhất, hướng dẫn thực hiện các quy định
về quản lý cũng như xử lý CTRYT
Như vậy, dựa trên cách thức tiếp cận và điều chỉnh của pháp luật ở các quốc gia đối với các hoạt động có liên quan đến CTYT, có thể định nghĩa
pháp luật xử lý CTRYT như sau: “Pháp luật xử lý CTR YT là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong quá trình con người tiến hành các hoạt động liên quan đến việc xử lý, bao gồm thu hồi, tái chế và tiêu huỷ CTR YT”
1.2.2 Nội dung của pháp luật về xử lý chất thải rắn y tế
Bên cạnh mối quan tâm về các nguồn chất thải làm ảnh hưởng đến môi trường, chất lượng sống, đe dọa sự tồn tại của thế giới tự nhiên… do tính chất nguy hiểm mà chất thải rắn y tế đã và đang trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Song song với việc thu gom, vận chuyển, giảm thiểu CTRYT thì vấn đề quan trọng nhất là xử lý CTRYT nhằm loại bỏ hoàn toàn tính nguy hiểm của CTRYT Công tác quản lý CTYT trong đó có quá trình xử
lý CTRYT bao gồm các hoạt động thu hồi, tái chế và tiêu hủy CTRYT Vì
Trang 26vậy, pháp luật về xử lý CTR YT cũng là một trong những nội dung thuộc pháp luật về quản lý CT YT Đặc điểm chung của các nước và ở Việt Nam là tập trung chủ yếu giải quyết chủ yếu là nguồn Chất thải rắn y tế nguy hại (CTNH), bởi do những đặc tính khó xử lý, gây ô nhiễm môi trường, chi phí cao và ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của con người Ở nước ta, Nhà nước đang có nhiều nỗ lực cải thiện môi trường chính sách, xây dựng, hoàn thiện, tuyên truyền, hướng dẫn về quản lý CTY; ban hành các chủ trương, chính sách, chiến lược và kế hoạch quốc gia xử lý CTRYT bên cạnh cam kết đầu tư tài chính mạnh mẽ
Vai trò của pháp luật xử lý chất thải rắn y tế:
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình, thông qua công cụ là pháp luật – pháp luật là phương tiện không thể thiếu trong quá trình tồn tại, phát triển của một đất nước nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội khác nhau Như các lĩnh vực pháp luật khác, vai trò của pháp luật xử lý CTYT là hết sức quan trọng Pháp luật về xử lý CTRYT là công cụ để phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường, góp phần BVMT, tạo môi trường chất lượng trong lành bằng các quy định xử lý CTRYT nhằm mục đích đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc tế về môi trường Đồng thời tạo ra khung pháp lý dân sự, hành chính, hình sự nhằm giáo dục, răn đe, xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xử lý CTR YT Ngoài ra, pháp luật về xử lý CTRYT là nhằm thúc đẩy đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến; đầu tư cho nguồn nhân lực trong việc
xử lý CTRYT nhằm loại bỏ, giảm thiểu các chất gây ô nhiễm môi trường, giúp cho quy trình xử lý CTRYT hiệu quả hơn Bên cạnh đó, từng bước thay đổi và nâng cao nhận thức của mọi người theo hướng tích cực nhằm BVMT Nhờ các chính sách, quy định đó mà mỗi người biết về sự nguy hại của CTYT, chấp hành theo đúng các biện pháp mà pháp luật đã quy định để hạn
Trang 27chế tối đa nguy cơ gây ô nhiễm môi trường của các CTR YT Tóm lại, để đời sống xã hội ngày càng phát triển, môi trường sống trong lành cho con người ngày càng đảm bảo, cần nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật trong BVMT
mà pháp luật xử lý CTRYT có vai trò rất quan trọng
Pháp luật Việt Nam về xử lý chất thải rắn y tế:
Nghị quyết số 24-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đặt ra mục tiêu về bảo vệ môi trường đến năm 2020 là tiêu huỷ,
xử lý chất thải nguy hại trên 85%, chất thải y tế là 100% Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ ban hành về quản lý chất thải
và phế liệu, trong đó quy định chất thải y tế là chất thải đặc thù có những quy định riêng, phù hợp thực tế
Cơ quan quản lý nhà nước về pháp luật bảo vệ môi trường là Bộ Tài nguyên và môi trường Trách nhiệm đánh giá tác động môi trường, cấp phép
và quản lý việc vận chuyển, xử lý CTNH trong đó có CTYT nguy hại thuộc
về Bộ Tài nguyên và môi trường Bộ ban hành Thông tư số BTNMT ngày 30/6/2015 về quản lý CTNH với nội dung chính là đặt ra các yêu cầu kỹ thuật, các quy định về đăng ký chủ nguồn thải CTNH, quy trình quản lý, xử lý CTNH Ngoài ra, còn có các quy chuẩn Việt Nam (QCVN) về vấn đề CTYT gồm QCVN 55:2013 / BTNMT về thiết bị hấp CTYT, QCVN 02:2012/ BTNMT về lò đốt CTRYT ; QCVN 28:2010 / BTNMT về nước thải
36/2015/TT-y tế, QCVN 07:2009/ BTNMT về ngưỡng chất thải nguy hại … các tiêu chuẩn Việt nam (TCVN) về chất thải nguy hại: TCVN 6696:2000 Chất thải rắn – Bãi chôn lấp hợp vệ sinh – Yêu cầu chung về bảo vệ môi trường…
Cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành về quản lý CTYT trong các CSYT thuộc trách nhiệm của Bộ Y tế Đề án tổng thể xử lý CTYT giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến 2020 của Bộ Y tế được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Theo đó, mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 là 100 % các cơ sở y tế
Trang 28phải đạt quy chuẩn về môi trường trong xử lý CTYT
Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong việc xử lý chất thải y tế cần phối hợp giữa ngành Tài nguyên môi trường và ngành Y tế Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 ban hành quy định về quản lý chất thải y tế, trong đó quy định cụ thể phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, việc phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, giảm thiểu, tái chế, vận chuyển, xử lý CTYT nguy hại; chế độ báo cáo và hồ sơ quản lý chất thải y tế; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tài nguyên môi trường, Sở Y tế) và các cơ sở y tế; cùng điều khoản trách nhiệm thi hành,
tổ chức thực hiện, hiệu lực thi hành từ 01/4/2016
Cũng theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 thì chất thải y tế nguy hại phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
Ưu tiên lựa chọn các công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường và bảo đảm xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường do Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
Hình thức xử lý chất thải y tế nguy hại theo thứ tự ưu tiên sau:
a) Xử lý tại cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc tại cơ sở xử
lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế;
b) Xử lý chất thải y tế nguy hại theo mô hình cụm cơ sở y tế (chất thải y
tế của một cụm cơ sở y tế được thu gom và xử lý chung tại hệ thống, thiết bị
xử lý của một cơ sở trong cụm);
c) Tự xử lý tại công trình xử lý chất thải y tế nguy hại trong khuôn viên
cơ sở y tế
Hình thức xử lý chất thải y tế nguy hại theo mô hình cụm cơ sở y tế phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trong kế hoạch thu gom, vận
Trang 29chuyển, xử lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
Quy định về thu gom chất thải y tế:
Về thu gom chất thải lây nhiễm:
a) Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;
b) Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom;
c) Cơ sở y tế quy định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lây nhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và khu vực khác trong cơ sở y tế;
d) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;
đ) Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày;
e) Đối với các cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, tần suất thu gom chất thải lây nhiễm sắc nhọn từ nơi phát sinh về khu lưu giữ tạm thời trong khuôn viên cơ sở y tế hoặc đưa đi xử lý, tiêu hủy tối thiểu là 01 (một) lần/tháng
2 Thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm:
a) Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;
b) Thu gom chất hàn răng amalgam thải và thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy ngân: Chất thải có chứa thủy ngân được thu gom
Trang 30và lưu giữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp và bảo đảm không bị rò rỉ hay phát tán hơi thủy ngân ra môi trường
3 Thu gom chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng [10]
Quy định về lưu giữ chất thải y tế
1 Cơ sở y tế bố trí khu vực lưu giữ chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở
y tế đáp ứng các yêu cầu sau:
a) Cơ sở y tế thực hiện xử lý chất thải y tế nguy hại cho cụm cơ sở y tế và bệnh viện phải có khu vực lưu giữ chất thải y tế nguy hại đáp ứng các yêu cầu
kỹ thuật theo quy định tại Phụ lục số 03 (A) ban hành kèm theo Thông tư này; b) Cơ sở y tế không thuộc đối tượng quy định tại Điểm a Khoản này phải
có khu vực lưu giữ chất thải y tế nguy hại đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật theo quy định tại Phụ lục số 03 (B) ban hành kèm theo Thông tư này
2 Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế nguy hại tại khu lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế thực hiện thống nhất theo quy định của Thông tư này và phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu giữ chất thải;
b) Có biểu tượng loại chất thải lưu giữ theo quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư này;
c) Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm phải có nắp đậy kín và chống được sự xâm nhập của các loài động vật;
d) Dụng cụ, thiết bị lưu chứa hóa chất thải phải được làm bằng vật liệu không có phản ứng với chất thải lưu chứa và có khả năng chống được sự ăn mòn nếu lưu chứa chất thải có tính ăn mòn Trường hợp lưu chứa hóa chất thải ở dạng lỏng phải có nắp đậy kín để chống bay hơi và tràn đổ chất thải
Trang 313 Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải lưu giữ riêng tại khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
4 Chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm phải lưu giữ riêng trừ trường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý
5 Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế được lưu giữ riêng
6 Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm:
a) Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày Đối với cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, thời gian lưu giữ không quá 03 ngày trong điều kiện bình thường và phải được lưu giữ trong các bao bì được buộc kín hoặc thiết bị lưu chứa được đậy nắp kín;
b) Đối với chất thải lây nhiễm được vận chuyển từ cơ sở y tế khác về
để xử lý theo mô hình cụm hoặc mô hình tập trung, phải ưu tiên xử lý trong ngày Trường hợp chưa xử lý ngay trong ngày, phải lưu giữ ở nhiệt độ dưới 20°C và thời gian lưu giữ tối đa không quá 02 ngày
7 Cơ sở y tế thực hiện các quy định có liên quan đến lưu giữ, khu vực lưu giữ chất thải y tế nguy hại theo quy định tại Thông tư này và không phải thực hiện các quy định tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT.[10]
Quy định về giảm thiểu chất thải y tế
Cơ sở y tế phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu phát sinh chất thải y
tế theo thứ tự ưu tiên sau:
1 Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các
Trang 32nguyên vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh chất thải y tế
2 Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải y tế
3 Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả.[10]
Quy định về quản lý chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế
1 Chỉ được phép tái chế chất thải y tế thông thường và chất thải quy định tại Khoản 3 Điều này
2 Không được sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải y tế để sản xuất các
đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm
3 Chất thải lây nhiễm sau khi xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được quản lý như chất thải y tế thông thường
4 Ngoài các quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, khi chuyển giao chất thải quy định tại Khoản 3 Điều này để phục vụ mục đích tái chế, cơ sở y
tế phải thực hiện các quy định sau:
a) Bao bì lưu chứa chất thải phải được buộc kín và có biểu tượng chất thải tái chế theo quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư này; b) Ghi đầy đủ thông tin vào Sổ bàn giao chất thải phục vụ mục đích tái chế theo mẫu quy định tại Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư này.[10]
Các quy định về kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật và chịu trách nhiệm pháp lý khi vi phạm pháp luật quản lý chất thải rắn y tế
Đây là những nội dung không thể thiếu trong việc xây dựng pháp luật về quản lý chất thải nói chung cũng như chất thải răn y tế nói riêng Nguyên tắc của giám sát được quy định cụ thể: Trước nhất là của hai Bộ chủ quản (Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Y tế), tiếp đến là của Ủy ban nhân dân các cấp và Sở Tài nguyên môi trường cùng Sở Y tế Việc kiểm tra, giám sát có thể tiến hành
Trang 33định kỳ hoặc đột xuất, thông qua kiểm tra trực tiếp tại cơ sở y tế hoặc các chế
độ báo cáo, phản ánh của các cơ quan, tổ chức, công dân…
Ngoài ra, căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm cũng như ảnh hưởng đến môi trường, các quy định của pháp luật trong trường hợp có hành vi vi phạm các quy định về xử lý CTRYT thì tùy theo mà yêu cầu bắt buộc bồi thường,
khắc phục tình trạng gây ô nhiễm, bị xử phạt vi phạm hành chính [23] hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng
1.2.3 Pháp luật xử lý chất thải rắn y tế của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Pháp luật ở các nước trên thế giới về xử lý chất thải rắn y tế:
Trên thế giới, rất nhiều nước quan tâm quản lý rác thải y tế và tiến hành một cách triệt để, thường xuyên và hiệu quả Về mặt quản lý, một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận
và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y
tế Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt Nguyên tắc pollutor pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất thải phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo
an toàn và giữ cho môi trường trong sạch
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường
Trang 34Xử lý chất thải bệnh viện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử
lý loại rác thải nguy hại này
Nhận định chung, hầu các quốc gia đặc biệt là các quốc gia phát triển tăng cường khung chính sách quốc gia bằng những quy định về xử lý CTRYT Việc triển khai, áp dụng các văn bản này được lồng ghép hoặc riêng
rẽ, rất đa dạng, phong phú Tất cả được hoạch định cụ thể, rõ ràng thông qua các sách lược, chiến lược; xây dựng quy chuẩn kỹ thuật của thiết bị, công trình xử lý chất thải rắn y tế kết hợp với việc tăng cường nguồn lực tài chính, nhân lực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Xây dựng, từng bước hoàn chỉnh khung chính sách quốc gia bằng những quy định về quản lý CTYT Việc triển khai, áp dụng các văn bản này được lồng ghép hoặc riêng rẽ, cần đa dạng nhưng sát với thực tế
Cần thường xuyên xây dựng chiến lược và/hoặc kế hoạch hành động quản lý CTYT Xây dựng, ban hành các quy chuẩn kỹ thuật về quản lý CTYT
và các tiêu chuẩn thiết bị và công trình trong lĩnh vực này
Tiến dần đến việc hạn chế đầu tư mới các lò đốt quy mô nhỏ trong CSYT và nghiêm cấm vận hành các lò đốt không đạt tiêu chuẩn, nếu trong điều kiện cần thiết cần loại bỏ các lò đốt quy mô nhỏ trong CSYT, hướng đến
mô hình xử lý tập trung và áp dụng công nghệ không đốt nhằm giảm thiểu phát thải dioxin, furan và các hóa chất độc hại ra môi trường
Xây dựng cơ chế hợp tác công tư, xây dựng thị trường giữa chủ nguồn thải và các chủ thể xử lý chất thải y tế tập trung trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy CTRYT, có sự quản lý giám sát của nhà nước
Trang 35Tiểu kết Chương 1
Cùng với các điều kiện kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu ăn,
ở, sinh hoạt cũng như chăm sóc sức khỏe của con người ngày càng nâng cao, bên cạnh đó, việc phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước kéo theo lượng chất thải lớn xả vào đất, nước, không khí gây ô nhiễm môi trường, gây nên nhiều loại bệnh tật Lượng bệnh nhân ngày đông với đa dạng các nhóm bệnh, loại hình bệnh, diễn biến bệnh ngày càng phức tạp cùng với ý thức bảo
vệ bản thân, ý thức bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế kết hợp với điều kiện của các cơ sở y tế xuống cấp, trang thiết bị chẩn đoán , điều trị còn hạn chế dẫn đến lượng CTRYT ngày càng nhiều, đòi hỏi phải có biện pháp xử lý CTRYT Cho nên, công tác quản lý CTRYT nói riêng và quản lý chất thải y tế nói chung đòi hỏi pháp luật về xử lý CTRYT cần hoàn thiện việc phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, giảm thiểu, tái chế và xử lý CTRYT Vì vậy, vai trò của pháp luật xử lý CTYT là hết sức quan trọng Pháp luật về xử lý CTRYT là công cụ để phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường, góp phần BVMT, tạo môi trường chất lượng trong lành bằng các quy định xử lý CTRYT nhằm mục đích đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc tế về môi trường Đồng thời tạo ra khung pháp lý dân sự, hành chính, hình sự nhằm giáo dục, răn đe, xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xử lý CTR YT Ngoài ra, pháp luật về xử lý CTRYT là nhằm thúc đẩy đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến; đầu tư cho nguồn nhân lực trong việc xử lý CTRYT nhằm loại bỏ, giảm thiểu các chất gây ô nhiễm môi trường, giúp cho quy trình xử lý CTRYT hiệu quả hơn Bên cạnh đó, từng bước thay đổi và nâng cao nhận thức của mọi người theo hướng tích cực nhằm BVMT, hạn chế tối đa nguy cơ gây ô nhiễm môi trường của các CTR YT
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ THỰC TIẾN THI HÀNH
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Thực trạng các quy định của pháp luật về xử lý chất thải rắn y tế
2.1.1 Một số quy định pháp luật về xử lý chất thải rắn y tế
Nghị quyết số 24-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đặt ra mục tiêu về bảo vệ môi trường đến năm 2020 là tiêu huỷ,
xử lý chất thải nguy hại trên 85%, chất thải y tế là 100% Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ ban hành về quản lý chất thải
và phế liệu, trong đó quy định chất thải y tế là chất thải đặc thù có những quy định riêng, phù hợp thực tế
Cơ quan quản lý nhà nước về pháp luật bảo vệ môi trường là Bộ Tài nguyên và môi trường Trách nhiệm đánh giá tác động môi trường, cấp phép
và quản lý việc vận chuyển, xử lý CTNH trong đó có CTYT nguy hại thuộc
về Bộ Tài nguyên và môi trường Bộ ban hành Thông tư số BTNMT ngày 30/6/2015 về quản lý CTNH với nội dung chính là đặt ra các yêu cầu kỹ thuật, các quy định về đăng ký chủ nguồn thải CTNH, quy trình quản lý, xử lý CTNH Ngoài ra, còn có các quy chuẩn Việt Nam (QCVN) về vấn đề CTYT gồm QCVN 55:2013 / BTNMT về thiết bị hấp CTYT, QCVN 02:2012/ BTNMT về lò đốt CTRYT ; QCVN 28:2010 / BTNMT về nước thải
36/2015/TT-y tế, QCVN 07:2009/ BTNMT về ngưỡng chất thải nguy hại … các tiêu chuẩn Việt nam (TCVN) về chất thải nguy hại: TCVN 6696:2000 Chất thải rắn – Bãi chôn lấp hợp vệ sinh – Yêu cầu chung về bảo vệ môi trường…
Cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành về quản lý CTYT trong các CSYT thuộc trách nhiệm của Bộ Y tế Đề án tổng thể xử lý CTYT giai đoạn
Trang 372011-2015 và định hướng đến 2020 của Bộ Y tế được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Theo đó, mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 là 100 % các cơ sở y tế phải đạt quy chuẩn về môi trường trong xử lý CTYT
Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong việc xử lý chất thải y tế cần phối hợp giữa ngành Tài nguyên môi trường và ngành Y tế Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 ban hành quy định về quản lý chất thải y tế, trong đó quy định cụ thể phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, việc phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, giảm thiểu, tái chế, vận chuyển, xử lý CTYT nguy hại; chế độ báo cáo và hồ sơ quản lý chất thải y tế; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tài nguyên môi trường, Sở Y tế) và các cơ sở y tế; cùng điều khoản trách nhiệm thi hành,
tổ chức thực hiện, hiệu lực thi hành từ 01/4/2016
Cũng theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 thì chất thải y tế nguy hại phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
Ưu tiên lựa chọn các công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường và bảo đảm xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường do Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
Hình thức xử lý chất thải y tế nguy hại theo thứ tự ưu tiên sau:
a) Xử lý tại cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc tại cơ sở xử
lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế; Áp dụng đối với các tỉnh thành lớn, nơi có các doanh nghiệp đủ điều kiện về quy mô, trình
độ công nghệ xử lý CTNH, CTRYT Yêu cầu bắt buộc là các doanh nghiệp này phải được Bộ TN&MT xem xét, cấp phép xử lý CTNH theo quy định của Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
Trang 38b) Xử lý chất thải y tế nguy hại theo mô hình cụm cơ sở y tế (chất thải y
tế của một cụm cơ sở y tế được thu gom và xử lý chung tại hệ thống, thiết bị
xử lý của một cơ sở trong cụm); Áp dụng cho việc xử lý CTYT đối với các CSYT quy mô nhỏ và có khoảng cách gần nhau Mô hình này không đòi hỏi cấp phép xử lý CTNH mà chỉ yêu cầu phải có Kế hoạch thu gom, vận chuyển
và xử lý CTYT nguy hại trên địa bàn được UBND cấp tỉnh phê duyệt
c) Tự xử lý tại công trình xử lý chất thải y tế nguy hại trong khuôn viên
cơ sở y tế Áp dụng đối với những vùng chưa có cơ sở xử lý tập trung hoặc xử
lý theo cụm hoặc tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn Mô hình này phải được Sở TN&MT cho phép trong quá trình cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH
Công tác xử lý chất thải y tế trong đó có chất thải rắn y tế nguy hại trong thời gian qua gặp một số khó khăn nhất định do ngân sách hạn chế, đầu tư trang thiết bị còn ít, lượng rác thải trong lĩnh vực y tế ngày càng nhiều… Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư nhằm phát huy thế mạnh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, nhằm giảm gánh nặng ngân sách nhà nước Qua đó,
đã triển khai nhiều giải pháp, cụ thể như: Triển khai đầu tư hệ thống xử lý nước thải y tế theo hình thức công – tư (PPP), xây dựng quy trình xử lý CTYT, đặc biệt là nước thải phải thực hiện quan trắc định kỳ hằng quý và đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi trường Ban hành các chính sách về thu giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong đó việc xử lý chất thải, vệ sinh môi trường sẽ được tính đúng, tính đủ trong chi phí
Đối với việc xử lý CTRYT: Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt CTRYT (QCVN 02:2012/BTNMT) đối với việc xử lý CTRYT gồm CTYT nguy hại và CTYT thông thường được thực hiện chủ yếu bằng lò đốt CTYT Cơ sở y tế phải tiến hành đăng ký nguồn CTNH với Sở Tài nguyên
Trang 39và môi trường [26] Điều kiện đối với chủ xử lý CTNH để được cấp giấy
phép xử lý CTNH là phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường, địa điểm,
hệ thống, thiết bị xử lý, đội ngũ nhân sự và do Bộ TN&MT cấp trên phạm vi toàn quốc với thời hạn 03 năm Đồng thời, phải thực hiện trách nhiệm xử lý
CTNH theo Giấy phép xử lý CTNH [26] Thực hiện việc ưu tiên công nghệ
không đốt, thân thiện đối với môi trường Việc xử lý CTRYT yêu cầu chủ nguồn thải CTNH phải ký hợp đồng để chuyển giao chất thải nguy hại với tổ chức, cá nhân được cấp phép trong lĩnh vực này
Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT ngày 09 tháng 6 năm
2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Y tế quy địnhvề đảm bảo an toàn bức xạ trong y tế Trong đó,chất thải phóng xạ dạng rắn như khăn lau nhiễm bẩn phóng xạ; xilanh, kim tiêm thuốc phóng xạ thải bỏ; bao bì, chai lọ đựng thuốc phóng xạ thải bỏ; quần áo, giầy dép nhiễm bẩn chất phóng xạ và các vật thể nhiễm bẩn phóng xạ khác được thải bỏ… phải được thu gom, lưu giữ, xử
lý và thải bỏ theo quy định về quản lý chất thải phóng xạ của Bộ Khoa học và Công nghệ; sẽ được đốt nếu được xác định là loại chất thải có thể đốt được
Điều 15 của Thông tư 58/2015 [10] đã có quy định về quản lý và vận hành
hệ thống xử lý CTYT nhằm bảo đảm xử lý hiệu quả CTYT và nâng cao tuổi thọ cho các công trình, thiết bị xử lý CTYT trong cơ sở y tế Quy định việc thường xuyên vận hành, bảo trì, bảo dưỡng đúng theo quy định của nhà sản xuất các thiết bị, công trình xử lý CTYT Yêu cầu ghi đầy đủ các thông tin vào sổ nhật
ký vận hành theo quy định tại Phụ lục 5 của Thông tư
Ngoài ra, Thông tư 58/2015 [10] còn quy định về chế bộ báo cáo với tần suất báo cáo: Báo cáo kết quả quản lý chất thải y tế được lập 01 lần/năm, tính
từ 01 tháng 01 đến hết 31 tháng 12
Nội dung báo cáo của cơ sở y tế là kết quả quản lý chất thải y tế của cơ
sở theo mẫu quy định tại và không phải thực hiện báo cáo quản lý chất thải
Trang 40nguy hại theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT; Sở Y tế tổng hợp, báo cáo kết quả quản lý chất thải y tế trên địa bàn theo mẫu quy định tại gửi về Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế; Sở Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, báo cáo kết quả quản lý chất thải nguy hại (bao gồm cả chất thải y tế) theo quy định tại Khoản 4 Điều 11 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
Về hồ sơ quản lý chất thải y tế thì bao gồm:
Hồ sơ liên quan thủ tục: Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường kèm theo báo cáo đánh giá tác động môi trường; Giấy xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận kèm theo
kế hoạch bảo vệ môi trường; Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường kèm theo báo cáo hoàn thành công trình bảo vệ môi trường; Giấy xác nhận cam kết bảo vệ môi trường kèm theo cam kết bảo vệ môi trường; Giấy xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường kèm theo bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường; Quyết định phê duyệt đề án bảo vệ môi trường chi tiết kèm theo đề án bảo vệ môi trường chi tiết; Giấy xác nhận đề án bảo vệ môi trường đơn giản kèm theo đề án bảo vệ môi trường đơn giản; Báo cáo xả nước thải vào nguồn nước hoặc Đề án xả nước thải vào nguồn nước kèm theo quyết định phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Các văn bản, tài liệu khác về môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
Hồ sơ liên quan đến quản lý chất thải y tế bao gồm: Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại; Sổ giao nhận chất thải y tế nguy hại hoặc chứng
từ chất thải nguy hại (trong trường hợp không thuộc Khoản 4 Điều 23 Thông
tư số 36/2015/TT-BTNMT); Sổ theo dõi chất thải y tế; sổ theo dõi và sổ bàn giao chất thải y tế lây nhiễm đã xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường phục vụ mục đích tái chế; báo cáo kết quả quản lý chất thải y tế định
kỳ, đột xuất; Sổ nhật ký vận hành thiết bị, hệ thống xử lý chất thải y tế (đối