Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chỉ mới nghiên cứu một số vấn đề cấp bách trong hoạt động chung chưa trình bày được các nội dung quản lý Nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THANH TRÀ
ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THANH TRÀ
ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Ngô Thanh Trà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 8
1.1 Khái niệm người có công với cách mạng và ưu đãi người có công với cách mạng 8 1.2 Các nguyên tắc cơ bản của ưu đãi người có công với cách mạng 14 1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc ưu đãi người có công với cách mạng 18 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 24
2.1 Thực trạng pháp luật Ưu đãi người có công với cách mạng 24 2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đã Nẵng 38
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI NGƯỜI
CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG 56
3.1 Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng 56 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ưu đãi người có công với cách mạng tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng 61
KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
BMVNAH Bà mẹ Việt Nam anh hùng HĐCM Hoạt động cách mạng HĐKC Hoạt động kháng chiến KT-XH Kinh tế - Xã hội
Trang 62.2 Số lượng người có công hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng trên
địa bàn quận Ngũ Hành Sơn
43
2.3 Số liệu cấp thẻ BHXH cho các đối tượng chính sách qua các
năm trong giai đoạn 2013 – 2017 trên địa bàn quận Ngũ Hành
Sơn
44
2.4 Số lượng người có công và thân nhân được điều dưỡng, phục
hồi sức khỏe trên địa bàn quận
45
2.5 Số liệu về sửa chữa, xây mới nhà cho đối tượng chính sách
người có công cách mạng năm 2013-2017
47
2.6 Số liệu kinh phí tu bổ, nâng cấp, xây mới nghĩa trang liệt sỹ qua
các năm (từ 2013-2017)
49
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã
có biết bao thế hệ người Việt Nam với tinh thần yêu nước, ý chí anh dũng kiên cường bất khuất hy sinh tính mạng, xương máu, sức lực, trí tuệ và tài sản để cho đất nước được tự do, độc lập Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao
to lớn và luôn nỗ lực dành sự ưu đãi cho những người con ưu tú ấy thông qua việc ban hành và thực hiện một hệ thống chính sách ưu đãi Ngay trong khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang trong giai đoạn phòng ngự khó khăn, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ” Đây
là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên có vai trò pháp lý quan trọng trong công tác thương binh - liệt sĩ của cả Nước Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Ban
Thường trực của Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc viết: Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa, của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập, ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh Người nhấn mạnh: Thương binh là những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy Vì nghĩa cử và sự hy sinh cao cả của thương binh, liệt sĩ và người có công nên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: Đối với những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp cho xứng đáng
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu, với truyền thống và đạo lý của dân tộc, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn thường xuyên dành sự ưu đãi cả vật chất
và tinh thần cho đối tượng người có công, tạo điều kiện để cuộc sống của họ ngày
Trang 8càng tốt đẹp hơn Sắc lệnh số 20/SL, ngày 16-2-1947, đặt nền móng cho hệ thống văn bản chính sách trong lĩnh vực ưu đãi người có công với cách mạng Tiếp theo, nhiều văn bản chính sách được ban hành, thể hiện tính liên tục và luôn đổi mới, bảo đảm tính phù hợp trong quá trình phát triển của thực tiễn đất nước, tạo cơ hội và điều kiện để người có công được chăm sóc, ưu đãi và vươn lên hòa nhập cộng đồng; đồng thời tiếp tục cống hiến cho đất nước Các đối tượng được ghi công, được ưu đãi ngày càng mở rộng, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể và tăng trưởng kinh tế gắn kết với bảo đảm an sinh xã hội trong hơn 70 năm qua, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước hơn 30 năm qua, chẳng hạn: Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công, mở rộng đối tượng hưởng chế độ, quy định điều kiện tiêu chuẩn xác nhận người có công phù hợp với tiến trình cải cách thủ tục hành chính và gắn với lộ trình cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội tương ứng mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội; Nghị định số 54/2006/NĐ-CP, ngày 26-5-2006, của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh số 26; Nghị định số 45/2006/NĐ-CP, ngày 28-4-2006, của Chính phủ ban hành Điều lệ quản lý và sử dụng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa; Pháp lệnh số 35/2007/PL-UBTVQH11, ngày 21-6-2007, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh số 26 và Nghị định số 89/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh số 35, Có thể nói, trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, chúng ta đang phải dành nguồn lực để đầu tư xây dựng và phát triển đất nước, song, Đảng và Nhà nước ta vẫn làm tất cả những gì có thể để chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người có công Cùng với chính sách ưu đãi của Nhà nước, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp trong đời sống văn hóa của dân tộc, đã phát huy được sức mạnh của cả cộng đồng Vấn đề an sinh nói chung, đặc biệt là ưu đãi, chăm sóc người có công để không ngừng nâng cao mức sống của họ nói riêng, có ý nghĩa và tác động không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn có tác động mang tính nhân văn, tính ưu việt của chế độ ở tầm khu vực và quốc tế
Tuy nhiên, ưu đãi người có công cách mạng theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Trang 9còn một số mặt hạn chế nhất định như: Chưa quy định chế độ ưu đãi đối với người tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, bị địch bắt sau 30/4/1975; Quy định người có công thuộc 2 đối tượng trở lên được hưởng trợ cấp, phụ cấp với từng đối tượng dẫn đến một người có thể được hưởng nhiều suất trợ cấp người phục vụ; Chưa quy định chế độ BHYT đối với thân nhân cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa còn sống; Chưa quy định việc giám định vết thương tái phát đối với người bị thương đã giám định, kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động dưới 21%; Việc hạn chế thân nhân liệt sĩ chỉ được hưởng tối đa 3 định suất càng không còn hợp lý trong điều kiện hiện nay, chưa đảm bảo công bằng, hưởng chế độ theo mức độ, công lao đóng góp; Chưa quy định chế độ ưu đãi đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ đã lấy chồng hoặc vợ khác Hiện nay cũng còn có nhiều truờng hợp với nhiều lý do khác nhau đã không đáp ứng được những yêu cầu về mặt thủ tục, giấy tờ mà pháp luật yêu cầu nên đã không được công nhận là đối tượng người có công với cách mạng để được hưởng các ưu đãi Với mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa
bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, tôi chọn đề tài: “Ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”, làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về lĩnh vực này hiện nay có nhiều công trình, bài viết dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chỉ mới nghiên cứu một số vấn đề cấp bách trong hoạt động chung chưa trình bày được các nội dung quản lý Nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam thực tiễn tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng Chính vì vậy đề tài luận văn thạc sỹ của tác giả không có sự trùng lắp đề tài trước Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài mà tác giả tiếp cận được trong thời gian thực hiện luận văn thạc sỹ
- Giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo:
+ “Một số suy nghĩ về hoàn thiện pháp luật uu đãi nguời có công”, Nguyễn
Ðình Liêu - NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội (2000)
Trang 10+ “Giáo trình Ưu đãi xã hội”- NXB Đại học Lao động – Xã hội (2007)
+ “Giáo trình An sinh xã hội”, PGS.TS Nguyễn Văn Định (chủ biên) – NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2008)
+ “Giáo trình Chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng”, Hồ Thị Vân Kiều - NXB Ðại học Quy Nhơn (2011)
+ “Giáo trình Luật An ninh xã hội”, Trường Đại học Luật Hà Nội – NXB Công an nhân dân (2013)
- Về luận án, luận văn:
Về luận án: có luận án tiến sĩ của
+ Nguyễn Ðình Liêu:”Hoàn thiện pháp luật ưu đãi nguời có công ở Việt Nam” (1996); luận án tiến sĩ của Lê Anh (2017), “Thực thi chính sách anh sinh xã hội ở thành phố Ðà Nẵng hiện nay- thực trạng và giải pháp”
+ Lê Anh (2017), “Thực thi chính sách anh sinh xã hội ở thành phố Ðà Nẵng hiện nay- thực trạng và giải pháp”, Luận án tiến sĩ
+ Nguyễn Thị Thanh (2018), “Thực hiện chính sách người có công với cách mạng
từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng”, Luận văn thạc sỹ chính sách công Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nuớc đều đã đề cập được các vấn
đề lý luận và thực tiễn việc thực hiện chính sách ưu đãi nguời có công với cách mạng ở cấp quốc gia, địa phương Song hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu đánh giá việc thực hiện ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Ðà Nẵng khi số lượng người có công chiếm một tỷ lệ đáng kể
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về ưu đãi người
có công với cách mạng, đồng thời đánh giá thực trạng pháp luật về ưu đãi người có công cũng như thực tiễn ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, góp phần nâng cao đời sống, đảm bảo công bằng cho người có công với cách mạng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước nhà
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các văn bản pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng và thực tiễn thực hiện ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Ưu đãi người có công là vấn đề rộng có thể được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu vấn đề ưu đãi xã hội dưới góc độ luật học và chủ yếu ở các nội dung như đối tượng hưởng, điều kiện hưởng và chế độ hưởng ưu đãi Luận văn không nghiên cứu những vấn đề về giải quyết khiếu nại hay tranh chấp về ưu đãi xã hội
- Phạm vi về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi về thời gian: Phân tích thực trạng công ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2012 - 2017 Ðề xuất giải pháp cho công tác ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố
Đà Nẵngtrong thời gian tới
Trang 125 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học như: phương pháp thực chứng, phương pháp phân tích, thống
kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp…
- Phương pháp tổng hợp: được sử dụng chủ yếu nhằm tập hợp, chọn lọc những thông tin có ý nghĩa với luận văn, từ đó sắp xếp, khái quát hóa thông tin theo từng nội dung cần luận giải trong luận văn
- Phương pháp mô tả: được sử dụng nhằm mục đích khái quát các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trước đây, đồng thời mô tả các quy định pháp luật cũng như tình hình thực hiện pháp luật Thông qua đó tạo nên bức tranh tổng thể về pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam
- Phương pháp phân tích: được sử dụng chủ yếu trong tìm kiếm các vấn đề cần làm rõ trong quy định của pháp luật về ưu đãi người có công cũng như trong tìm hiểu thực trạng tổ chức thực hiện, tìm ra các nguyên nhân của từng thực trạng đó Tùy thuộc vào nội dung của từng chương mà tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu nêu trên cho phù hợp
- Phương pháp thu thập số liệu:
Để phân tích thực trạng ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua, kết hợp với việc thu thập nguồn tài liệu thứ cấp, tác giả đã tiến hành thu thập tài liệu sơ cấp về ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng bằng phương pháp điều tra thông qua bảng hỏi và câu hỏi phỏng vấn Bảng câu hỏi được thiết kế nhằm mục đích lấy ý kiến của ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng về thực trạng ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Phương pháp xử lý số liệu:
Kết quả điều tra được tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thống kê, tổng hợp số liệu
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiển
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về ưu đãi người có công với cách mạng từ đó góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam Đồng thời, ở một mức độ nhất định, luận văn cũng cung cấp những kiến thức hữu ích cho những người cần nghiên cứu về cơ sở lý luận cũng như những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực ưu đãi người có công để áp dụng và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật ưu đãi người có công một cách hiệu quả
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và công tác chăm lo đời sống người có công cách mạng Những phương hướng và giải pháp được đề xuất có thể gợi mở cho các cơ quan quản lý có những điều chỉnh phù hợp để thực hiện ưu đãi xã hội người có công cách mạng theo pháp luật hiệu quả hơn, qua đó góp phần nâng cao vai trò của Nhà nuớc trong ưu đãi người có công với cách mạng theo pháp luật Việt Nam ở nước ta nói chung và thực tiễn tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về ưu đãi người có công với cách mạng Chương 2: Thực trạng pháp luật về Ưu đãi người có công với cách mạng và thực tiễn thực hiện tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc thực hiện ưu đãi ngươì có công với cách mạng tại quận Ngũ Hành Sơn, thành
phố Đà Nẵng
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG
VỚI CÁCH MẠNG
1.1 Khái niệm người có công với cách mạng và ưu đãi người có công với cách mạng
1.1.1 Khái niệm người có công với cách mạng
Theo nghĩa rộng: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc” Người có công với cách mạng là
người bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao to lớn đối với đất nước, tự coi đó là nghĩa vụ đối với cộng đồng không bao giờ kể công và đòi hỏi cộng đồng phải bảo nghĩa Sự công hiến của người có công với cách mạng là vì lợi ích của đất nước, được nhân dân tôn vinh và được Nhà nước thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận theo quy định của pháp luật, đồng thời đảm bảo cho họ các chế độ ưu đãi về kinh tế, về chính trị, xã hội
Theo khái niệm này, người có công với Nước sẽ không chỉ bao gồm những người có công trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc bảo vệ tổ quốc mà còn bao gồm cả những người có cống hiến đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, những người xả thân bảo vệ cuộc sống yên bình hoặc đem lại thành tích, đem lại vẻ vang cho đất nước, cho dân tộc Vì vậy, người có công theo cách tiếp cận này sẽ rất rộng và bao gồm nhiều đối tượng khác nhau
Theo nghĩa hẹp: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; trong các cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận
Như vậy, người có công chỉ được xác định là những người có những đóng góp, cống hiến trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Hay nói
Trang 15cách khác ở góc độ này, người có công chỉ đồng nghĩa với người có công với cách mạng, tức là những người có đóng góp trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ghi nhận như thương binh, liệt sỹ, người hoạt động và giúp đỡ cách mạng
Dưới góc độ này thì người có công với cách mạng bao gồm những người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc
có những thành tích, đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1.2 Khái niệm ưu đãi người có công với cách mạng
Những người có công với nước bao giờ cũng được đất nước, dân tộc, xã hội ghi nhận và tôn vinh Một trong những ghi nhận và thể hiện sự tôn vinh đó là họ được nhà nước, được xã hội dành cho những ưu tiên, đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất lẫn tinh thần trong mọi mặt của đời sống xã hội Những ưu tiên, đãi ngộ đặc biệt
hơn bình thường đó được gọi là ưu đãi xã hội [31, tr.263]
Ưu đãi và chăm sóc người có công luôn là một chủ trương nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta kể từ khi Bác Hồ lấy ngày 27/7 là ngày Thương binh - Liệt sĩ Trong suốt hơn 70 năm qua, hệ thống pháp luật, chính sách ưu đãi người có công đã không ngừng được hoàn thiện và được thực hiện đồng bộ; góp phần to lớn vào những thành tựu trong lĩnh vực người có công nói riêng, của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội nói chung Thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ
kẻ trồng cây” trong những năm qua dù ở bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào của đất nước thì công tác chăm lo cho người có công với cách mạng luôn được Đảng, Nhà nước, Chính phủ quan tâm đặc biệt
Ưu đãi xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta được cụ thể hóa thực hiện thông qua hệ thống pháp luật có bề dày lịch sử Với vai trò là bộ phận cấu thành đặc biệt của hệ thống pháp luật an sinh xã hội Việt Nam, pháp luật ưu đãi xã hội giữ vai trò trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội quốc gia 70 năm qua, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, có thể điểm qua các giai đoạn:
Trang 16Từ năm 1947 đến kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1954), Nhà nước đã ban hành 24 văn bản dưới hình thức Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư, Thông lệnh quy định những vấn đề cơ bản như:Quy định tiêu chuẩn để xác định thương binh, tử sĩ; quy định trợ cấp hằng tháng đối với thương binh, thân nhân tử sĩ, việc huấn luyện nghề, sắp xếp việc làm, các chính sách ưu tiên đối với thương binh; gia đình tử sĩ được tặng "Bảng Tổ quốc ghi ơn", thương binh được cấp Huy hiệu Thương binh; tổ chức các Trại an dưỡng để thu nhận và chăm sóc thương binh, bệnh binh; đồng thời tháng 7-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào "Đón thương binh về làng" chăm sóc; lập quỹ nghĩa thương; tổ chức bộ máy
Bộ Thương binh - Cựu binh Thành lập trong mỗi khu kháng chiến một Sở Thương binh - Cựu binh, trong mỗi tỉnh hoặc liên tỉnh một Ty Thương binh - Cựu binh Như vậy, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù hoàn cảnh đất nước còn nghèo, nhưng Nhà nước đã ban hành một số văn bản thể hiện sự ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, đồng thời đề ra chủ trương hết sức đúng đắn là toàn dân tham gia chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), chế độ ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sĩ được quan tâm với việc ban hành 184 văn bản pháp luật, trong đó quy định một số điểm quan trọng như: Tiếp tục xác nhận và giải quyết quyền lợi cho những quân nhân, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bị chết trong chiến tranh; đối với những người hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, Nhà nước đã sửa đổi tiêu chuẩn "liệt sĩ" thay tiêu chuẩn "tử sĩ" trước đây, cấp Bằng Tổ quốc ghi công thay "Bảng Tổ quốc ghi ơn" liệt sĩ; quy định việc cất bốc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng các nghĩa trang liệt sĩ Cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước ngày càng cam go, quyết liệt, Đảng, Nhà nước đã phát động cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với sự đóng góp hy sinh to lớn của mọi tầng lớp, mọi lực lượng, chế độ ưu đãi đối với người có công được bổ sung các đối tượng mới như: Chế độ đối với thanh niên xung phong (Chỉ thị số 71/TTg ngày 21-6-1965); Chế độ đối với dân công thời chiến (Nghị định số 77/CP ngày 26-4-1966); Chế độ đối với lực lượng vận tải nhân dân (Quyết định số 84/CP ngày 04-5-1966);
Trang 17Chế độ đối với công nhân viên chức, cán bộ giữ chức vụ chủ chốt ở xã, dân công phục vụ các chiến trường quan trọng và nhân dân (Nghị định số 111B/CP) ngày 20-7-1968; Chế đô đối với cán bộ y tế làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không (Nghị định
số 111/CP ngày 28-6-1973) Đồng thời Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản thể hiện trách nhiệm đối với người có công như: Văn bản quy định những ngành nghề dành để sắp xếp thương binh vào làm việc, các cơ quan xí nghiệp phải nhận thương binh theo tỷ lệ 5% biên chế; quy định chế độ ưu đãi trong giáo dục - đào tạo, trong y
tế, được miễn, giảm giá vé tàu xe… Sự quan tâm của Đảng, Chính phủ đối với người có công trong giai đoạn này đã góp phần to lớn, ổn định hậu phương, động viên cán bộ chiến sĩ và nhân dân hăng hái trong chiến đấu, hết lòng chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1985, chính sách ưu đãi người có công có những thay đổi bổ sung cho phù hợp tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước sau khi Tổ quốc thống nhất Chính sách ưu đãi người có công tập trung vào các nhiệm vụ như giải quyết các tồn đọng sau chiến tranh, thống nhất các chế độ ưu đãi trong cả nước Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước đã ban hành 523 văn bản pháp luật ưu đãi người có công, điển hình như: Chỉ thị 223/CT-TƯ ngày 8-7-1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định yêu cầu nhiệm vụ của công tác thương binh, liệt sĩ sau chiến tranh Ban Đại diện Trung ương Đảng ở miền Nam có Chỉ thị
số 15/CT-76 về việc tăng cuờng công tác thương binh xã hội ở miền Nam, tập trung vào công tác xác nhận thương binh, liệt sĩ, cất bốc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, tổ chức ổn định cuộc sống của người có công v.v Thực hiện thống nhất chính sách ưu đãi trong cả nước, Nhà nước đã bổ sung, sửa đổi một số quy định về chế độ đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, về công tác mộ liệt sĩ (Nghị định số 45/CP ngày 13-01-1976; Quyết định số 60/CP ngày 05-4-1976); bổ sung quy định ưu đãi người có công giúp đỡ cách mạng (Quyết định số 208/CP ngày 20-7-1977) và bệnh binh (Quyết định số 78/CP ngày 13-4-1978) là đối tượng người có công với cách mạng Bổ sung đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, bệnh
Trang 18binh, liệt sĩ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế (Quyết định số 301/CP ngày 20-9-1980) Có thể khẳng định trong giai đoạn 1975-
1985, trong điều kiện đất nước vừa có hòa bình lại phải tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam (1978) và biên giới phía Bắc (1979), song Nhà nước đã ban hành, bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản pháp luật ưu đãi đối với người có công, khắc phục được một số bất hợp lý, hình thành một số văn bản pháp quy có hiệu lực thực hiện thống nhất trong cả nước, giải quyết một khối lượng lớn công việc do hậu quả chiến tranh để lại
Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo (từ năm 1986 đến nay), cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng hết sức quan tâm đến việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) nhấn mạnh: "Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ và những nguời có công với cách mạng, coi đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân; sớm ban hành chế độ toàn dân đóng góp vào Quỹ đền ơn, trả nghĩa để chăm lo đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ và những nguời có công với cách mạng" Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm
ưu đãi người có công, trong đó đáng lưu ý nhất là Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (gọi tắt là Pháp lệnh ưu đãi người có công)
và Pháp lệnh phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng được công bố ngày 10-9-1994
Chính sách ưu đãi đối với người có công tiếp tục được sửa đổi với việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng,
số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29-6-2005 Tiếp đó, ngày 21-6-2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, số 35/2007/PL-UBTVQH11, theo đó Điều 9 và Điều 10 của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi, bổ sung Đến năm 2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Sửa
Trang 19đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, số 04/2012/PL-UBTVQH13 Như vậy, đến nay lĩnh vực ưu đãi xã hội đối với người
có công với cách mạng có 04 Pháp lệnh được điều chỉnh là: Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công Các hệ thống văn bản pháp luật về ưu đãi người có công tương đối đầy đủ và cơ bản đã thể chế hóa được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân tham gia tích cực vào việc đền ơn đáp nghĩa, chăm lo, trợ giúp người có công và tạo môi trường thuận lợi để họ khắc phục khó khăn, khẳng định vai trò trong cộng đồng xã hội
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) nhấn mạnh: "Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công Giải quyết dứt điểm các tồn đọng về chính sách người có công " Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016) tiếp tục khẳng định: "Thực hiện tốt chính sách chăm sóc người có công trên
cơ sở huy động mọi nguồn lực xã hội kết hợp với nguồn lực của Nhà nước; bảo đảm người có công có mức sống từ trung bình trở lên" Hệ thống chính sách ưu đãi đối với người có công tiếp tục được hoàn thiện với việc ban hành Thông tư số 22/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội ngày 29-6-2016 Hướng dẫn điều chỉnh trợ cấp ưu đãi đối với nhóm đối tượng người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được công nhận và đang hưởng trợ cấp trước ngày 01-9-2012 Như vậy, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng của Đảng và Nhà nước trong 70 năm qua được ban hành, bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện Chính sách đó đã nhanh chóng được thực hiện tạo ra sức mạnh tổng hợp
về chính trị, kinh tế và xã hội, sự đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và bản thân người có công với cách mạng, có tác động sâu sắc đến toàn xã hội, cùng với Nhà nước chăm lo người có công với cách mạng, phát huy truyền thống, đạo lý của dân tộc "uống nước nhớ nguồn, "đền ơn đáp nghĩa" trong thời kỳ đổi mới
Trang 201.2 Các nguyên tắc cơ bản của ưu đãi người có công với cách mạng
Các nguyên tắc cơ bản của luật an sinh xã hội Việt Nam là những tư tưởng chủ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật an sinh xã hội Các nguyên tắc cơ bản của ưu đãi xã hội người có công với cách mạng chính là các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Nước về kinh tế - xã hội nói chung và về vị trí, vai trò của con người trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói riêng
Thứ nhất là: Mọi thành viên trong xã hội đều có quyền được hưởng an sinh xã hội
Tại Điều 3 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc
(10/12/1948) đã tuyên bố: “mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân” Tại Điều 22, Tuyên ngôn còn tuyên bố: “Mỗi người, vì là một thành viên của xã hội, có quyền được đảm bảo an ninh xã hội và được đảm bảo để được thực hiện các quyền không thể thiếu được về kinh tế, xã hội và văn hóa, phẩm giá và sự phát triển tự do nhân cách cá nhân” Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa (16/12/1966) đã một lần nữa ghi nhận: “Các quốc gia thành viên của công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng an toàn xã hội” Như vậy, rõ
ràng “được đảm bảo về an sinh xã hội” là quyền quan trọng trong lĩnh vực rộng lớn
các quyền của con người [31, tr.27]
Trong phạm vi một quốc gia, được đảm bảo an ninh xã hội cũng là một trong những quyền cơ bản của công dân, với các mức độ khác nhau, được hầu hết hiến pháp các nước ghi nhận Ở nước ta, quyền an sinh xã hội được đề cập tại nhiều điều của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), cụ thể như về bảo hiểm xã hội (Điều 59), về ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội (Điều 67)…
Được hưởng an sinh xã hội là quyền của công dân và được thực hiện bình đẳng giữa các thành viên xã hội là một nguyên tắc quan trọng Tuy nhiên, để được hưởng một chế độ trợ giúp cụ thể nào đó thì đối tượng được trợ giúp phải thỏa mãn những điều kiện nhất định
Thứ hai: Nhà nước thống nhất quản lý vấn đề an sinh xã hội
Cơ sở của nguyên tắc này nằm ngay chính ở chức năng xã hội của Nhà nước
Trang 21Nhà nước, người sở hữu cao nhất, đồng thời là người chủ sử dụng lao động lớn nhất, người đại diện cho toàn bộ xã hội phải là người thống nhất quản lý toàn bộ lĩnh vực an sinh xã hội Sự thống nhất quản lý an sinh xã hội thể hiện ở chỗ “Nhà nước định ra các chính sách xã hội”, cùng với các chính sách kinh tế, chính sách văn hóa, an ninh quốc phòng Đồng thời, Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật an ninh xã hội nhằm thể chế hóa các chính sách xã hội ấy Để thực thi có hiệu quả các văn bản pháp luật, Nhà nước thành lập các hệ thông các cơ quan chức năng về an sinh xã hội cũng như kiểm tra việc tổ chức, thực hiện các chính sách, chế độ an sinh
xã hội của các cơ quan này Là người chủ sở hữu lớn nhất, Nhà nước còn trực tiếp đóng góp hoặc hỗ trợ vào nguồn thực hiện các chế độ an sinh xã hội
Tuy nhiên, nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý an sinh xã hội không có nghĩa là hoàn toàn loại trừ sự tham gia quản lý của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức, đoàn thể xã hội Tùy theo vị trí, chức năng của từng tổ chức như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Hội nông dân Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội chữ thập đỏ … mà pháp luật trao cho họ một số quyền và
cả trách nhiệm tương ứng trong việc tham gia tổ chức, quản lý một số mặt hoạt
động thuộc an sinh xã hội [31, tr.28]
Thứ ba: Kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách xã hội
Nguyên tắc kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách xã hội xuất phát
từ quan niệm “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của chính sách xã hội” của Nhà nước ta Mục tiêu của chính sách xã hội là nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người Trong khi đó, nguồn lực con người lại được xác định là “yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Phát triển kinh tế đóng vai trò là cơ sở, là tiền đề để thực hiện chính sách xã hội Do vậy,
sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa – xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một chủ trương có tính chiến lược của
Nhà nước ta [31, tr.29]
Thứ tư: Kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp” và nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”
Trang 22Nguyên tắc có “tính chất kép” này rất đặc trưng cho pháp luật an sinh xã hội Nếu nhìn riêng từng nguyên tắc nhỏ thì thấy chúng chứa đựng những nội dung khác nhau, tuy nhiên chúng không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau Nguyên tắc
“hưởng thụ theo đóng góp” trong luật an ninh xã hội chính là sự cụ thể hóa nguyên tắc “công bằng xã hội” – nguyên tắc bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống Điều này là cần thiết, bởi vì đối với một nước đang phát triển như Việt Nam thì hưởng thụ tương ứng với đóng góp, vẫn còn là một điều không tránh khỏi Tuy nhiên, nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp” trong an sinh xã hội không hoàn toàn giống nguyên tắc “phân phối theo lao động” trong luật lao động Nguyên tắc này thường được áp dụng trong việc thực hiện trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người có công với
cách mạng [31, tr.30]
Nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” thể hiện tính nhân đạo xã hội Nguyên tắc này thường chủ yếu được áp dụng trong các chế độ bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội Tinh thần cơ bản của nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” là ở chỗ, bằng sự đóng góp, trợ giúp của nhiều người sẽ hạn chế, giảm thiểu khó khăn, bất hạnh cho một thiểu số người Ở đây tính tương trợ, tương ái thể hiện rất rõ Những đối tượng gặp rủi ro không phải đóng góp gì và được trợ giúp căn cứ chủ yếu vào hoàn cảnh, mức độ khó khăn, hiểm nghèo của từng trường hợp
Tuy nhiên, cũng không nên hiểu “sự kết hợp hài hòa” trong nguyên tắc này một cách máy móc như nhau ở mọi lúc, mọi nơi Tùy thuộc vào từng mặt của các mối quan hệ, hoặc từng khâu của mỗi chế độ, thậm chí từng loại đối tượng của an sinh xã hội mà có sự áp dụng cho linh hoạt và phù hợp Có như vậy mới thực sự phát huy đúng tinh thần của nguyên tắc có “tính chất kép” này
Thứ năm: Nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa hoạt động an sinh xã hội
Hoạt động an sinh xã hội là một trong những hoạt động xã hội cơ bản của mỗi quốc gia để hướng tới mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Trong cuộc sống, có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro cho con người mà chúng ta không thể lường trước được, nhu cầu bảo vệ của con người rất đa dạng
Trang 23xuất phát từ các nguyên nhân rủi ro khác nhau Sự đa dạng của các nguyên nhân rủi
ro dẫn đến sự đa dạng và phong phú trong các hình thức bảo vệ của hoạt động ASXH Căn cứ vào các nguyên nhân rủi ro khác nhau đã hình thành nên các nhóm đối tượng với các hình thức bảo vệ phù hợp, có đối tượng cần bảo đảm thu nhập, có đối tượng cần trợ giúp để vượt qua tình trạng nguy kịch của cuộc sống nhưng cũng có đối tượng cần sự nâng đỡ, động viên tinh thần, tạo cơ hội vươn lên hòa nhập cộng đồng Hơn nữa, không phải lúc nào và bao giờ các nhu cầu ASXH cũng giống nhau, thậm chí ngay trong cùng một nhóm đối tượng có cùng một nguyên nhân rủi
ro Chẳng hạn khi một cơn bão đi qua gây hậu quả nhưng nhu cầu của mỗi người là khác nhau, có đối tượng cần nơi ở, có đối tượng cần lương thực để tồn tại, nhưng cũng có đối tượng cần trợ giúp về y tế, phương tiện sinh sống Chính vì thế, ASXH cần thực hiện theo hướng đa dạng hóa hoạt động với các cách khác nhau mới đảm bảo được mục đích, công bằng và an toàn chung xã hội
Nguyên tắc này được thể hiện rất rõ trong việc quy định nội dung ASXH với
đa dạng các chế độ trợ cấp BHXH, BHYT, TGXH, UĐXH, … hình thành theo các nhóm đối tượng và hình thức thực hiện khác nhau Sự phát triển của ASXH trong lịch sử cũng chứng minh cho sự đa dạng hóa các hoạt động ASXH bằng việc thiết lập các “ lưới an toàn xã hội” ngày càng dày đặc hơn với nhiều “tầng tầng, lớp lớp” chế độ bảo vệ nhằm bao quát các thành viên xã hội Việc thực hiện ASXH trước tiên thuộc về trách nhiệm của nhà nước nhưng đồng thời đây cũng là mối quan tâm
e sợ chung của toàn thể xã hội Do vậy, bên cạnh vai trò của nhà nước trong thực hiện ASXH, sự tham gia thực hiện của các tổ chức, đoàn thể, quần chúng nhân dân toàn xã hội cũng quyết định đến sự thành công của sự nghiệp ASXH Mặt khác, suy cho cùng các công việc xã hội, các vấn đề xã hội phải do toàn xã hội đảm nhiệm, gánh vác trong đó Nhà nước giữ vai trò ví như người “nhạc trưởng” Nhà nước với vai trò trung tâm của mình điều tiết các hoạt động ASXH đồng thời khuyến khích
và tạo điều kiện để bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có thể tham gia thực hiện ASXH, miễn không có mưu đồ chính trị hay vụ lợi cá nhân Chính vì vậy, xã hội hóa các hoạt động ASXH trở thành nguyên tắc quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện
Trang 24mục đích của ASXH
Nguyên tắc này được cụ thể hóa rõ nét nhất trong các quy định của pháp luật ASXH điều chỉnh các quan hệ TGXH, ƯĐXH Theo đó, nhà nước huy động mọi nguồn lực tài chính và nhân lực thực hiện, hình thành phong trào có tính chất sâu rộng với toàn thể các tầng lớp nhân dân Thực tế cho thấy bên cạnh các chế độ trợ cấp từ Ngân sách nhà nước, sự hỗ trợ, giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước góp phần quan trọng trong việc bảo vệ cuộc sống của người dân, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống Những đóng góp của các tổ chức, cá nhân tiêu biểu như Quỹ đền ơn đáp nghĩa, Quỹ vì người nghèo, Quỹ bảo trợ trẻ em tàn tật, Quỹ ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam… trong thời gian qua đã chứng minh rõ nét cho những thành công của việc xã hội hóa hoạt động an sinh xã hội Xã hội hóa thực hiện các hoạt động ASXH vừa là nguyên tắc, vừa là cách thực hiện đảm bảo mục tiêu của ASXH Trong điều kiện hiện nay, việc thực hiện nguyên tắc này được đặt trên cơ sở của tư tưởng tiến bộ với vai trò của Nhà nước Cần xác định rõ vai trò của nhà nước, của cá nhân, cộng đồng và cả những thiết chế thị trường Tư tưởng bao cấp với quan niệm Nhà nước là người bảo trợ lớn nhất với nguồn tài chính lớn cần được thay thế bằng việc xác định giới hạn cần thiết của sự bảo vệ, và quan trọng hơn cả là Nhà nước cần có những biện pháp huy động sự tham gia của đông đảo thành viên xã hội, của chính bản thân đối tượng tạo cơ sở, nền tảng đảm bảo ổn định
và phát triển bền vững Nhà nước không nên can thiệp rộng, cụ thể, chi tiết và thực hiện thay các nghĩa vụ cộng đồng mà sự tham gia trực tiếp của Nhà nước cần theo hướng “Nhà nước ít như cần thiết, cộng đồng nhiều như có thể” Để có được một hệ thống an sinh xã hội phát triển, đủ sức chống đỡ với các rủi ro xã hội ngày một tăng lên đòi hỏi nhà nước và mỗi cá nhân trong xã hội phải nỗ lực hết mình và chia sẻ những rủi ro cho nhau, có như vậy hoạt động an sinh xã hội mới thể hiện được đúng bản chất “tương trợ cộng đồng” của nó
1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc ưu đãi người có công với cách mạng
1.3.1 Vai trò của ưu đãi người có công với cách mạng
Về chính trị: Trong tình hình hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ xây
Trang 25dựng và phát triển kinh tế nhưng các thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá cách mạng bằng các hoạt động và các thủ đoạn diễn biến hòa bình Trước những biến đổi, những tác động của mặt trái cơ chế thị trường chính sách ưu đãi đối với NCC có ý nghĩa lớn lao, nó thể hiện rõ rệt quyền con người Mỗi sai lầm trong việc thực hiện chính sách NCC không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của họ mà còn đem lại những hậu quả khó lường
Về kinh tế: Việc đảm bảo đời sống vật chất cho NCC trong sinh hoạt hằng ngày nhất là đối với những người có công lao thành tích đặc biệt, có thương tật, bệnh tật nặng hoặc bù đắp một phần mất mát của họ Được sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước, các văn bản pháp quy lần lượt ra đời đưa ra những chính sách ưu đãi đối với NCC, trong đó qui định các loại trợ cấp, mức trợ cấp phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội
Về pháp lý: Dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta và hàng loạt những chính sách về ƯĐXH đối với NCC đã ra đời, đánh dấu sự phát triển về mặt lập pháp của nước ta Chính những văn bản quy phạm pháp luật này đã mang lại sự công bằng trong xã hội đối với những người đã hy sinh một phần xương máu vì sự nghiệp độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Khi có chế độ ưu đãi, sự ưu tiên suy tôn của xã hội trở thành quyền pháp lý của NCC, quyền này được đảm bảo thực hiện một cách chắc chắn Pháp luật ƯĐXH là sự thể chế hóa những chính sách
ưu đãi đối với NCC của Đảng, Nhà nước ta, là sự đảm bảo sự ưu tiên ưu đãi cho NCC được thực hiện hay nói cách khác là sự đảm bảo về mặt pháp lý cho những quyền được hưởng ưu đãi của NCC
1.3.2 Ý nghĩa của ưu đãi người có công với cách mạng
- Về chính trị: Qua các gia đoạn phát triển của đất nước, các thế lực thù địch
vẫn không ngừng chống phá cách mạng Nước ta bằng nhiều hoạt động khác nhau, nhất là chiến lược “Diễn biến hòa bình” và trước những biến đổi, những mặt trái của kinh tế thị trường thì chính sách ưu đãi người có công với cách mạng có ý nghĩa vô cùng lớn lao, nó thể hiện rõ rệt quyền con người Văn kiện Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “Giải quyết tốt các vấn đề xã hội … Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận
Trang 26động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh và cha mẹ, vợ con liệt sĩ, người hưởng chính sách xã hội” Thực hiện tốt chính sách đối với người có công là việc làm có ý nghĩa quan trọng, không chỉ ổn định đời sống của bộ phận dân cư đặc biệt này mà còn góp phần vào sự ổn
định chính trị và phát triển xã hội
- Về xã hội và nhân văn: Ưu đãi xã hội thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp,
thể hiện truyền thống đạo lý quý báu của dân tộc ta, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Ưu đãi xã hội thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm của Nhà nước và cộng đồng đối với người có công chứ không phải ban ơn, làm phúc, làm từ thiện, nhân đạo Những năm qua, riêng việc luôn điều chỉnh và mở rộng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng cho phù hợp với tình hình kinh tế -
xã hội của đất nước đã góp phần quan trọng vào việc ổn định đời sống, từng bước nâng cao mức sống của các đối tượng chính sách trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, số người là người có công với cách mạng lại rất lớn … mà chúng ta thực hiện đạt kết quả lớn Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công với cách mạng trở thành động lực thúc đẩy xã hội có tác dụng trong việc giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc cho thế hệ trẻ
- Về kinh tế: Việc đảm bảo đời sống vật chất cho người có công với cách mạng
trong sinh hoạt hằng ngày nhất là đối với người có công lao thành tích đặc biệt, có thương tật, bệnh tật nặng hoặc bù đắp một phần mất mát của họ Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các văn bản pháp quy lần lượt ra đời đưa ra những chính sách ưu đãi đối với người có công, trong đó có quy định các loại trợ cấp, mức trợ cấp phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo người có công có cuộc sống ổn định để phát triển kinh tế: hỗ trợ việc làm, đảm bảo việc làm, cung cấp vốn đầu tư, xây nhà ở hay sửa chữa nhà, … góp phần vào sự ổn định xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển
- Về pháp lý: Chính sách ưu đãi xã hội là vấn đề tất yếu khách quan Pháp luật
ưu đãi xã hội người có công với cách mạng là sự thể chế hóa những chính sách ưu
Trang 27đãi đối với người có công cách mạng của Đảng, Nhà nước ta là sự đảm bảo ưu tiên
ưu đãi cho người có công với cách mạng được thực hiện hay nói cách khác là sự đảm bảo về mặt pháp lý cho những quyền được hưởng ưu đãi của người có công Việc đưa ra những chính sách ưu đãi thành văn bản pháp luật đã khẳng định rõ việc thực hiện ưu đãi xã hội là trách nhiệm của Nhà nước, của các ngành, các cấp có liên quan và việc hưởng những trợ cấp, ưu đãi đó chính là quyền của những người có công với cách mạng Do vậy, khi nhận những ưu đãi xã hội này của người có công với cách mạng là sự ghi nhận những cống hiến, hy sinh, đóng góp của người có công với cách mạng Chính các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã mang lại sự công bằng trong xã hội đối với những người đã
hy sinh vì sự nghiệp độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng
- Thể chế chính sách người có công với cách mạng: Chính sách người có công
với cách mạng là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, thể hiện trong việc Nhà nước tổ chức nghiên cứu, hoạch định, ban hành hệ thống chính sách, chế độ và tổ chức thực hiện Việc tổ chức thực hiện chính sách người có công với cách mạng phải thích hợp, đảm bảo chắc chắn và ổn định Chính sách luôn được bổ sung, sửa đổi, cải thiện nhằm từng bước cải thiện đời sống của những người có công với cách mạng Các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương, sự phối hợp kết hợp với các cấp, ngành có liên quan về việc chỉ đạo điều hành triển khai thực hiện chính sách người có công với cách mạng, nên chính sách sẽ phù hợp với thực tiễn cuộc sống thì việc thi chính sách sẽ thuận lợi, khả thi
- Môi trường thực hiện chính sách: Yếu tố liên quan về điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội của từng địa phương Những địa phương có vị trí thuận lợi, có điều kiện kinh tế xã hội phát triển, và có điều kiện tự nhiên thuận lợi, người dân nhận thức, hiểu biết tốt về chính sách người có công với cách mạng sẽ tác động thúc đẩy việc thực hiện chính sách người có công với cách mạng thuận lợi Ngược lại, những địa phương có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, điều kiện kinh tế xã
Trang 28hội kém phát triển, người dân nhận thức, hiểu biết kém về chính sách người có công với cách mạng sẽ kìm hãm, ngăn trở các hoạt động này, dẫn đến thực hiện chính sách người có công với cách mạng kém hiệu quả Chính vì vậy, địa phương ổn định, ít biến đổi về chính trị xã hội, kinh tế phát triển, sẽ đưa đến sự ổn định về hệ thống chính trị, cũng góp phần thực hiện hiệu quả chính sách người có công với cách mạng
- Nhận thức của xã hội và người dân: Cần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ
của người dân vì đây là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của chính sách người có công với cách mạng Đây là vấn đề lớn, cần sự đóng góp của người dân, người dân vừa là trực tiếp tham gia thực hiện chính sách, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích từ chính sách Nếu chính sách người có công đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và biện pháp thừa hành thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ trong việc thực hiện Nếu chính sách người có công với cách mạng không thiết thực với đời sống nhân dân, không phù hợp với điều kiện và trình độ hiện có của nhân dân thì sẽ bị tẩy chay hoặc” bỏ rơi”, chính sách người có công với cách mạng sẽ khó triển khai trong thực tiễn
- Thể chế tổ chức bộ máy và cán bộ thực thi: Cần sự quan tâm đến năng lực
cán bộ công chức thực hiện chính sách người có công với cách mạng, vì đây là yếu
tố có vai trò quyết định đến kết quả của tổ chức thực hiện chính sách Các cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ liên quan đến chính sách người có công với cách mạng, cần nêu cao tinh thần trách nhiệm và chấp hành tốt kỷ luật,kỷ cương, chấp hành nghiêm pháp luật mới đạt hiệu quả thực hiện chính sách
Trang 29Tiểu kết chương 1
Pháp luật ưu đãi xã hội người có công với cách mạng là tổng thể những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hình thành trong việc tổ chức và thực hiện chính sách đối với NCC trên tất cả các lĩnh vực của đời sống Pháp luật ưu đãi xã hội người có công với cách mạng không chỉ mang tính chính trị, kinh tế, xã hội mà còn mang tính nhân văn sâu sắc Pháp luật ưu đãi người
có công với cách mạng là sự thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam từ ngŕn đời nay vŕ giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức trách nhiệm, lòng dũng cảm
và phấn đấu rèn luyện không ngừng để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Chương 1 đã nêu lên một số vấn đề lý luận về người có công với cách mạng; phân tích làm rõ nhân tố cơ bản ảnh hưởng, tác động đến việc thực hiện chính sách người có công với cách mạng Đây là những luận cứ khoa học quan trọng làm cơ sở tiền đề cho việc đánh giá tình hình tổ chức thực hiện chính sách người có công với cách mạng ở cấp quốc gia và địa phương trong giai đoạn hiện nay
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI QUẬN NGŨ HÀNH
SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Thực trạng pháp luật Ưu đãi người có công với cách mạng
2.1.1 Đối tượng người có công với cách mạng được hưởng ưu đãi xã hội
Theo Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ quốc hội: về sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, đối tượng hưởng chế độ ưu đãi bao gồm: Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng Nhóm người có công với cách mạng theo pháp lệnh bao gồm 12 đối tượng Cụ thể bao gồm:
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;
- Liệt sĩ;
- Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
- Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
- Bệnh binh;
- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;
- Người có công giúp đỡ cách mạng
Các đối tượng trên đã được các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể điều kiện để xác nhận Người có công với cách mạng
Trang 312.1.2 Các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng
- Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng
+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đã chết mà chưa hưởng chế độ ưu đãi quy định ở nội dung trên thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần;
+ Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng sống cô đơn không nơi nương tựa, con mồ côi cả cha mẹ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng;
+ Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ
18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được Nhà nước mua bảo hiểm y tế
Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm
1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
Trang 32- Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 còn sống bao gồm:
- Các chế độ ưu đãi khi người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm
1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 chết bao gồm:
+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đang hưởng chế độ ưu đãi quy định ở nội dung trên mà chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp;
+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đã chết mà chưa hưởng chế độ ưu đãi quy định ở nội dung trên thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần;
+ Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng sống cô đơn không nơi nương tựa, con mồ côi cả cha mẹ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng;
+ Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ
18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được Nhà nước mua bảo hiểm y tế
Chế độ ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ
Trang 33- Các chế độ ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ bao gồm:
+ Trợ cấp tiền tuất một lần khi báo tử;
+ Trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo các mức thân nhân của một liệt sĩ, thân nhân của hai liệt sĩ, thân nhân của ba liệt sĩ trở lên đối với cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ, con liệt sĩ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, vợ hoặc chồng liệt sĩ cô đơn không nơi nương tựa, con liệt sĩ mồ côi
cả cha mẹ quy định tại điểm này thì được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng;
+ Khi báo tử, liệt sĩ không còn thân nhân thì người thừa kế của liệt sĩ giữ Bằng
"Tổ quốc ghi công" được hưởng khoản trợ cấp tiền tuất một lần như đối với thân nhân liệt sĩ;
+ Liệt sĩ không còn thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng thì người được giao thờ cúng liệt sĩ được hưởng trợ cấp mỗi năm một lần;
+ Thân nhân liệt sĩ được Nhà nước mua bảo hiểm y tế; được ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ về nhà ở;
+ Cha đẻ, mẹ đẻ; người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; vợ hoặc chồng; con liệt sĩ bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ chỉ có một con mà người con đó là liệt sĩ hoặc cha đẻ, mẹ đẻ có hai con là liệt sĩ trở lên được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm;
+ Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng được cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết căn cứ vào hoàn cảnh của từng người, khả năng của Nhà nước; khi chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp
- Các chế độ ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng bao gồm:
+ Các chế độ ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ;
Trang 34+ Phụ cấp hàng tháng;
+ Trợ cấp người phục vụ đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình; + Điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm;
+ Nhà nước và xã hội tặng nhà tình nghĩa hoặc hỗ trợ về nhà
+ Người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình được Nhà nước mua bảo hiểm y tế
- Các chế độ ưu đãi đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến bao gồm:
+ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến chết trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần
+ Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ
18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến được Nhà nước mua bảo hiểm y tế
- Các chế độ ưu đãi đối với thương binh bao gồm:
+ Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động và loại thương binh;
+ Bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào thương tật của từng người và khả năng của Nhà nước;
+ Điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần; trường hợp thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm;
Trang 35+ Ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, được miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ về nhà ở +Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên sống ở gia đình được trợ cấp người phục vụ Người phục vụ thương binh quy định tại khoản này được Nhà nước mua bảo hiểm y tế
+ Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được Nhà nước mua bảo hiểm y tế cho cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng
+ Khi thương binh chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp
+ Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất như sau: Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng; Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng và trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng
+ Cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho thương binh, bệnh binh được Nhà nước hỗ trợ cơ sở vật chất ban đầu, bao gồm nhà xưởng, trường, lớp, trang bị, thiết bị, được miễn hoặc giảm thuế, vay vốn ưu đãi theo quy định của pháp luật
- Các chế độ ưu đãi đối với bệnh binh bao gồm:
+Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động;
+ Bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào tình trạng bệnh tật của từng người và khả năng của Nhà nước;
+ Điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần; trường hợp bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm; + Ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản
Trang 36xuất, miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ về nhà ở
+ Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên sống ở gia đình được trợ cấp người phục vụ Người phục vụ bệnh binh quy định tại khoản này được Nhà nước mua bảo hiểm y tế
+ Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được Nhà nước mua bảo hiểm y tế cho cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng
+ Khi bệnh binh chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp
+ Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên chết thì thân nhân được trợ cấp tiền tuất như sau: Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng; Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ sống cô đơn không nơi nương tựa; con mồ côi cả cha mẹ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng và trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng
- Chế độ trợ cấp hàng tháng đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học như sau:
+ Người có công với cách mạng được hưởng trợ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động theo các mức từ 21% đến 40%, từ 41% đến 60%, từ 61% đến 80% và từ 81% trở lên;
+ Người có công với cách mạng mắc bệnh với mức độ suy giảm khả năng lao động dưới 61% thì được hưởng trợ cấp hàng tháng như người suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 60%; trường hợp mắc bệnh với mức độ suy giảm khả năng lao động
từ 61% trở lên được hưởng trợ cấp hàng tháng tương ứng với mức độ suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%, từ 81% trở lên quy định tại điểm a khoản này
Trang 37+ Các chế độ ưu đãi khác đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học bao gồm: Bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào tình trạng bệnh tật của từng người và khả năng của Nhà nước; Điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần; trường hợp người suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm; Người suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được hưởng phụ cấp hàng tháng, nếu sống ở gia đình được trợ cấp người phục vụ Người phục vụ người hoạt động kháng chiến
bị nhiễm chất độc hóa học quy định tại điểm này được Nhà nước mua bảo hiểm y tế; Ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật, được hỗ trợ về nhà ở; Khi người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp
- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất như đối với thân nhân của bệnh binh
- Các chế độ ưu đãi đối với thân nhân của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bao gồm:
+ Con đẻ bị dị dạng, dị tật do hậu quả của chất độc hóa học không tự lực được trong sinh hoạt hoặc suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt được hưởng trợ cấp hàng tháng; được Nhà nước mua bảo hiểm y tế, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết căn cứ vào tình trạng dị dạng, dị tật;
+ Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ
18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được Nhà nước mua bảo hiểm y tế;
- Khi con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học đang hưởng trợ cấp hàng tháng chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí
- Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày bao gồm:
Trang 38+ Tặng Kỷ niệm chương;
+ Trợ cấp hàng tháng;
+ Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào tình trạng bệnh tật của từng người và khả năng của Nhà nước
+ Khi người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp
+ Trường hợp người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày đã chết mà chưa được hưởng chế độ ưu đãi người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần
- Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế bao gồm:
mà còn thể hiện sự ghi nhận, tinh thần đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với người có công
2.1.3 Tổ chức thực hiện và quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng trong toàn quốc và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng Bộ, ngành và địa
Trang 39phương cụ thể như sau:
- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:
+ Xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về người có công với cách mạng;
+ Quy hoạch, tổ chức quản lý hệ thống cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng;
+ Quy hoạch, hướng dẫn thực hiện quy hoạch các công trình ghi công liệt sĩ; quy định về công tác quản lý các công trình ghi công liệt sĩ;
+ Hướng dẫn, chỉ đạo công tác tiếp nhận hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin và thông tin về mộ liệt sĩ;
+ Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức các phong trào đền ơn đáp nghĩa, quản lý Quỹ Đền ơn đáp nghĩa; tuyên truyền, vận động, tổng kết, đánh giá, nhân rộng điển hình tiên tiến và công tác thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực người có công với cách mạng;
+ Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan quy định chế
độ, định mức, phương thức trang cấp dụng cụ chỉnh hình và phương tiện trợ giúp cho người có công với cách mạng;
+ Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo việc thực hiện pháp luật về người có công với cách mạng;
+ Thực hiện hợp tác quốc tế về người có công với cách mạng;
+ Thực hiện công tác thống kê về người có công với cách mạng
- Bộ quốc phòng
Bộ Quốc phòng chỉ đạo công tác xác minh, cung cấp thông tin, tổ chức tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trong và ngoài nước; ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện chính sách, chế độ của Pháp lệnh này
- Bộ Công an
Bộ Công an ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện chính sách, chế