1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác từ thực tiễn huyện chư sê, tỉnh gia lai

84 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 765,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN DŨNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯ SÊ,

TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN DŨNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯ SÊ,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn thạc sĩ Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác từ thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Dũng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 7

1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác: 7 1.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác: 13 1.3 Phạm vi thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác: 14 1.4 Nội dung thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác: 15 1.5 Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác: 30

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

33 2.1 Tình hình, đặc điểm có liên quan đến thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 33 2.2 Những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai: 36

Trang 5

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI 59

3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai: 59 3.2 Những giải pháp: 60

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự ĐTV : Điều tra viên

KSV : Kiểm sát viên QCT : Quyền công tố THQCT : Thực hành quyền công tố VKS : Viện kiểm sát

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

CQCSĐT : Cơ quan cảnh sát điều tra CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng NTHTT : Người tiến hành tố tụng

NQ : Nghị quyết

TW : Trung ương

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Viện kiểm sát nhân dân là một cơ quan trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoạt động thực hành quyền công tố trong điều tra các vụ án hình sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện chức năng của ngành kiểm sát nhân dân được quy định tại Điều

107 của Hiến pháp năm 2013: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công

tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”; tại Điều 2 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Điều 20 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội”

Đây là hoạt động thể hiện quyền lực Nhà nước, một trong những biện pháp hữu hiệu của Nhà nước dùng để đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời thể hiện quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước ta trong việc đảm bảo điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vì vậy, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS của Viện kiểm sát là một đòi hỏi cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Trong những năm vừa qua, ngành Kiểm sát đã phối hợp với các

cơ quan tiến hành tố tụng tấn công mạnh mẽ và có hiệu quả vào các loại tội phạm hình sự nói chung và tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng

đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần to lớn trong việc bảo vệ pháp

Trang 8

2

chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền con người, tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của công dân…giữ gìn và bảo đảm tình hình trật tự trị an, ổn định tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận

Tuy nhiên, thực tiễn thực hành quyền công tố của VKS còn cho thấy có nhiều hạn chế trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án mà do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân cơ bản là nhận thức về thực hành quyền công tố còn thiếu đầy đủ toàn diện; nhận thức về hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự chưa được nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ toàn diện; thực tiễn công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và các tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng chưa được tổng kết rút kinh nghiệm thường xuyên; tình hình vi phạm, tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác trên địa bàn cả nước, địa bàn tỉnh Gia Lai nói chung

và địa bàn huyện Chư Sê nói riêng đang diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng, tính chất mức độ ngày càng nguy hiểm và gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn

Vì vậy, để góp phần thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố thì việc tiếp tục nghiên cứu, làm rõ cả về mặt lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố trong

tố tụng hình sự là vấn đề cần thiết hiện nay nên em đã lựa chọn đề tài: “Thực hành

quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác từ thực tiễn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học

của mình

2 Tình hình nghiên cứu:

Thực hành quyền công tố là một trong những chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nên trong nhiều năm qua đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, có nhiều bài viết liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong điều tra các vụ án hình sự, cụ thể như:

Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ những năm 1945 đến nay, của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (năm 1999) Một số vấn đề về quyền công tố của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Độ, đăng

Trang 9

Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra của Tiến sĩ Lê Hữu Thể chủ biên và đồng tác giả; Nhà xuất bản tư pháp Hà Nội năm 2008

Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần tập trung làm tốt việc tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra của Tiến

sĩ Trần Công Phàn, đăng trên Tạp chí kiểm sát, số 8/2012

Thẩm quyền của Kiểm sát viên theo quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam và Liên Bang Nga, luận án tiến sỹ luật học của Tiễn sĩ Mai Đắc Biên, Liên bang Nga, 2012

Bàn về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Sơn; đăng trên Tạp chí kiểm sát, số 9/2013

Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, của Tiến sĩ Lê Hữu Thể Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao (năm 2014)

Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008-VTC ngày 02/01/2008 Tại tỉnh Gia Lai đã có một số luận văn Thạc sĩ liên quan đến hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân nhưng chưa có luận văn nào nghiên cứu đề tài thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác; trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tập

Trang 10

4

trung làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và thực tiễn thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Trên cơ sở thực tiễn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong 05 năm, từ năm 2014 - 2018; luận văn tiến hành phân tích, đánh giá việc thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai để tìm ra những hạn chế, thiếu sót từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong thời gian tới nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố trong điều tra các

vụ án hình sự đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không để xảy ra oan sai; với cách tiếp cận và thể hiện như vậy, nội dung của luận văn không trùng với bất cứ luận văn nào đã được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích của luận văn là nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện công tác thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại VKSND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Trên cơ sở thống nhất về mặt nhận thức, kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm tìm ra những khó khăn vướng mắc, tồn tại, bất cập và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của công tác này Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện cả lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại VKSND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, góp phần cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác đấu tranh phòng, chống hiệu quả hơn với loại tội phạm này trong thời gian tới

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Nghiên cứu làm sáng tỏ lý luận về chức năng thực hành quyền công tố

Trang 11

5

trong điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Tổng kết, phân tích, đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại VKSND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong 05 năm, từ năm 2014 - 2018

Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng, xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong thời gian tới đồng thời khẳng định vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động bảo vệ pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề thực hành quyền công

tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo quy định của BLTTHS năm 2015 và thực tiễn THQCT của VKSND huyện Chư sê, tỉnh Gia Lai trong 05 năm qua, từ năm 2014 đến năm 2018

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm sức khỏe của người khác

nói riêng

Phương pháp nghiên cứu của luận văn được sử dụng bao gồm phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và trao đổi khoa học; khảo cứu các văn bản, tài liệu có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống loại tội

phạm này…

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn:

Ý nghĩa về lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận chuyên ngành Luật tố tụng hình sự về chức năng thực hành quyền công tố của

Trang 12

6

VKSND

Ý nghĩa về thực tiễn: Luận văn nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng và của VKS cấp huyện trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói chung; từ đó học viên thấy việc nghiên cứu làm sáng tỏ các lý luận về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự là cần thiết, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta Trên cơ sở thực tiễn áp dụng pháp luật để tìm

ra những hạn chế, vi phạm để từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác Thông qua đó giúp Viện kiểm sát ngày một nâng cao hơn vị thế

của mình trong hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật

7 Cơ cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác

Chương 2: Thực tiễn thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công

tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

Trang 13

7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA

NGƯỜI KHÁC

1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác:

1.1.1 Khái niệm quyền công tố:

Cho đến nay, trong các nghiên cứu có nhiều quan điểm về quyền công tố trong

tố tụng hình sự Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền công tố là quyền lực công, gắn liền với sự phát triển của khoa học pháp lý, khi mà các khái niệm dân chủ và quyền con người được đề cao, đòi hỏi cần phải có một cơ quan thay mặt Nhà Nước đứng

ra bảo vệ quyền của người bị xét xử bởi các cơ quan tư pháp

Quan điểm thứ hai, coi công tố là một quyền độc lập, chỉ có trong xã hội dân chủ, nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia quá trình tố tụng tại phiên tòa và thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật (có thể nằm trong cơ cấu của Tối cao pháp viện)

Quan điểm thứ ba cho rằng, với việc tách các cơ quan Tòa án ra khỏi hệ thống các cơ quan hành pháp, cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật thì công tố mới xuất hiện Không đồng ý với các quan điểm nêu trên, quan niệm thứ tư cho rằng, quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nước

và xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật

Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Tiến sĩ Lê Hữu Thể khi đưa ra định nghĩa

về quyền công tố: “Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội

Trang 14

8

Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà”

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng: “quyền công tố là quyền lực Nhà

Nước, do cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền tiến hành trong tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự, truy tố và buộc tội người phạm tội”

1.1.2 Khái niệm thực hành quyền công tố:

Trong thời gian gần đây có một số công trình khoa học nghiên cứu về thực hành quyền công tố hoặc nghiên cứu về các vấn đề pháp lý khác trong đó có một số vấn đề liên quan đến thực hành quyền công tố mới chỉ dừng lại ở mức đưa ra được một số biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát như kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát giam, giữ và cải tạo, kiểm sát thi hành án Các công trình này vận dụng những nguyên lý của V.I Lênin về pháp chế xã hội chủ nghĩa và vai trò của VKS, về vai trò và bộ phận của ủy viên công tố làm cơ sở

lý luận và lấy các quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

từ năm 1960 đến nay làm cơ sở pháp lý Bởi vậy trong nhận thức của không ít những người làm công tác nghiên cứu và thực tiễn trong cũng như ngoài ngành kiểm sát đã nhầm lẫn quyền công tố với thực hành quyền công tố trên nhiều phương diện như đối tượng, nội dung, phạm vi Đồng thời các công trình này luôn gắn quyền công tố chỉ với VKS, coi đó là quyền của VKS Do đó đã không lý giải được một số vấn đề là khi một số cơ quan khác (CQĐT, Tòa án ) sử dụng một số biện pháp như khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì có phải các cơ quan này cũng thực hành quyền công tố hay không

Để thực hiện quyền lực nhà nước trên một lĩnh vực cụ thể thì nhà nước tổ chức

ra một hệ thống cơ quan nhất định để thực hiện quyền lực đó Hệ thống cơ quan này đóng vai trò chính trong sự phối hợp cùng với cơ quan nhà nước khác để thực hiện quyền lực nhà nước đã được xác định Ở các nước, đa phần họ thành lập cơ quan công tố để thực hành quyền công tố với các quyền hạn, trách nhiệm tố tụng trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử của TTHS

- Sách chuyên khảo “Luật tố tụng hình sự” của Se-Men Sốp V A xác định,

Trang 15

- Cuốn sách “Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự Liên bang Nga” của Tu

Sốp A.A xác định, Viện kiểm sát/Kiểm sát viên khi THQCT có các chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn sau:

1) Đấu tranh chống tội phạm;

2) Kiểm sát hoạt động tư pháp;

2) Chức năng, nhiệm vụ của VKS/KSV Việt Nam trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án hình sự bao gồm: kiểm sát việc tuân theo pháp luật, truy tố hình sự, phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm, định hướng và đưa ra yêu cầu điều tra cho CQĐT Hai chức năng, nhiệm vụ đầu tiên là cơ bản, hai chức năng tiếp theo có tính chất bổ sung;

3) Đánh giá về sự đặc biệt trong chế định THQCT của VKS/KSV theo quy định của BLTTHS Việt Nam trong sự so sánh với chế định THQCT của VKS/KSV

Trang 16

10

Liên bang Nga, thấy rằng: VKS/KSV Việt Nam có sự linh hoạt trong thực hiện các hoạt động tố tụng và ban hành các quyết định, có quyền hạn lớn để tác động vào hoạt động tố tụng của CQĐT/ĐTV nhằm bảo đảm việc điều tra đúng quy định của

pháp luật

Ở nước ta, VKS là cơ quan duy nhất được giao thực hành quyền công tố; không có cơ quan nào có thể thay Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, bởi lẽ: Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất về mặt pháp lý có quyền độc lập phát động quyền công tố như: ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu CQĐT; các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi

tố, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can

VKS có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; gia hạn các biện pháp trên; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT

Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, VKS có trách nhiệm đảm bảo đủ các

chứng cứ để truy tố, buộc tội bị can; khi có đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm

tội thì VKS quyết định truy tố người phạm tội ra xét xử trước Tòa án

Tại phiên tòa, VKS có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố, buộc tội bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật; bản án kết tội của Tòa án chính là việc chấp nhận lời buộc tội của VKS đối với người phạm tội

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố

trong tố tụng hình sự như sau: Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự là

việc cơ quan công tố (Viện kiểm sát) sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định

để truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội đối với người phạm tội; truy tố người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó

1.1.3 Khái niệm điều tra vụ án hình sự đối với các vụ án xâm phạm sức khỏe của người khác

Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó cơ quan Điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng

Trang 17

11

cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can

Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra

vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các

cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm; Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng Những hoạt động điều tra đối với nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác gồm: lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác; hỏi cung bị can; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi (trong trường hợp hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến nạn nhân chết); giám định tỷ lệ tổn thương của người bị hại; giám định tuổi của người phạm tội, của người bị hại; đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra; khám xét; thu giữ tài liệu,

đồ vật và một số hoạt động điều tra khác Những hoạt động điều tra này cần nhanh chóng, đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn Những hoạt động điều tra này nhằm thu thập một cách toàn diện, đầy đủ chứng cứ buộc tội và gỡ tội đối với người phạm tội, các tình tiết khác có liên quan để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự CQĐT, Điều tra viên có trách nhiệm đánh giá các chứng Trên cơ sở đánh giá chứng cứ đó, CQĐT sẽ quyết định: Đình chỉ điều tra vụ

án hình sự, đình chỉ điều tra đối với bị can hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của

vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị

Trang 18

12

can

Như vậy, điều tra vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người

khác là một giai đoạn tố tụng, trong đó cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật để xác định tội phạm và người phạm tội xâm phạm sức khỏe của người khác, làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình

để thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự, việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác Trong giai đoạn này, VKS thực hành quyền công tố bằng các hoạt động: phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy

bỏ các quyết định của CQĐT, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành hoạt động điều tra hoặc trực tiếp ra các quyết định tố tụng, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác Trong giai đoạn điều tra này, mọi quyết định của CQĐT đều phải được gửi cho VKS để VKS xem xét, đánh giá tính có căn cứ và tính hợp pháp của các quyết định, từ đó thực hiện quyền hạn thực hành quyền công

tố của mình Nếu quyết định của CQĐT có căn cứ và hợp pháp thì VKS sẽ đồng ý hoặc phê chuẩn quyết định đó Nếu quyết định của CQĐT không có căn cứ hoặc không hợp pháp thì VKS tùy từng trường hợp theo quy định của pháp luật mà không phê chuẩn hoặc hủy bỏ Đồng thời, căn cứ kết quả kiểm sát hoạt động điều tra, VKS có thể yêu cầu CQĐT tiến hành những hoạt động điều tra cụ thể, yêu cầu cung cấp hồ sơ tài liệu có liên quan, yêu cầu thay đổi ĐTV Ngoài ra, VKS có thể trực tiếp ban hành các quyết định hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra

Trang 19

13

để giải quyết đúng đắn vụ án Tuy nhiên, những hoạt động này của VKS chỉ được thực hiện trong những trường hợp pháp luật quy định Khi thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, VKS chú trọng đến những yêu cầu CQĐT tiến hành một số hoạt động đặc thù chỉ có trong nhóm tội này, như yêu cầu CQĐT tiến hành giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe của người bị hại; yêu cầu bị hại có đơn yêu cầu khởi tố; yêu cầu làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của người phạm tội khi phạm tội

Phạm vi thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được thực hiện từ thời điểm CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc quyết định đình chỉ

vụ án hình sự Đối tượng của thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác là tội phạm và người phạm tội xâm phạm sức khỏe của người khác Để làm rõ đối tượng của tội phạm, VKS phải yêu cầu CQĐT làm rõ mọi tình tiết của vụ án, như thời gian, địa điểm tội phạm xảy ra, hành vi phạm tội, công cụ, phương tiện người phạm tội sử dụng; lỗi, động cơ, mục đích của người phạm tội; nhiệm vụ, quyền hạn của người phạm tội (Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137); hậu quả của tội phạm, như thương tật của người bị hại, chi phí cho việc chữa trị thương tích; nhân thân, tiền án, tiền sự của người phạm tội những tình tiết khác có liên quan đến

việc buộc tội, gỡ tội đối với người phạm tội

Như vậy, thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của

người khác là việc cơ quan công tố/ Viện kiểm sát sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội, truy tố người phạm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó

1.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm

sức khỏe của người khác:

Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác là hoạt động áp dụng pháp luật vào thực tế nhằm truy cứu trách nhiệm

Trang 20

14

hình sự đối với người có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác bắt đầu từ thời điểm CQĐT khởi tố vụ án hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác Tuy nhiên, cần phải xem xét cả các tố giác, tin báo về các tội liên quan như: Hủy hoại tài sản; cố ý làm hư hỏng tài sản; bắt, giữ người trái pháp luật… Thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác luôn đặt trong sự so sánh, ly lai với các tội phạm khác khi mà hành vi phạm tội ở mức chưa cấu thành như: giữa tội giết người chưa đạt với tội cố ý gây thương tích, giữa tội cố ý gây thương tích với tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh…

Hậu quả gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác là một trong các yếu tố định tội quan trọng đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác nên VKS phải bảo đảm cho việc xác định đúng đắn tỷ lệ thương tích của người bị hại Đồng thời, đối với nhóm tội này, có những tình tiết định tội hoặc địnhkhung tăng nặng nhưng mang tính định tính (như tính chất côn đồ, dùng hung khí nguy hiểm) nên hoạt động thực hành quyền công tố cần đánh giá đúng đắn để bảo đảm cho việc khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp

Chủ thể thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sức khỏe của người khác chỉ có thể là Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên Hoạt động này gắn chặt với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra

và đòi hỏi sự phối hợp cũng như chế ước đối với hoạt động của Cơ quan điều tra Hoạt động này đòi hỏi phải áp dụng mọi quy định của pháp luật tố tụng hình sự để thực hiện tổng thể quyền năng của Viện kiểm sát, bảo đảm việc điều tra đúng quy định của pháp luật, nhanh chóng phát hiện và làm rõ tội phạm, xử lý đúng quy định

Trang 21

15

trong đó VKS thực hành quyền công tố của mình Căn cứ theo Chương X của BLTTHS: “Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự”, tác giả luận văn xác định phạm vi thực hành quyền công tố của VKS trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được bắt đầu từ khi CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án Trước khi ra quyết định khởi tố vụ án, CQĐT đã phải thực hiện các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố bằng các hoạt động kiểm tra, xác minh để xác định có tội phạm hay không Nếu qua quá trình kiểm tra, xác minh, CQĐT xác định có tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác thì sẽ ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra Quyết định khởi tố cùng toàn bộ hồ sơ vụ án được chuyển cho VKS để thực hành quyền công tố

1.4 Nội dung thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác:

Viện kiểm sát các cấp thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trên cơ sở các quy định tại Điều 134, Điều 135, Điều 136, Điều 137, Điều 138, Điều 139 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm

2017 (trước đây là Điều 104, Điều 105, Điều 106, Điều 107, Điều 108, Điều 109 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009); Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014; Điều 165 Bộ luật TTHS năm 2015; Thông tư liên tịch số: 05/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 giữa VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa VKSND tối cao và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng

“Trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật TTHS năm 2003”, (Nay là Thông

tư liên tịch số: 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 giữa VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa VKSND tối cao và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng “Trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật TTHS năm 2015” (TTLT số 04.); Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền

công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Ban hành kèm theo Quyết định số

03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, sau đây gọi tắt là Quy chế số 03/2017) Theo các quy định trên thì công tác thực

Trang 22

Một là, thực hành quyền công tố trong việc yêu cầu Cơ quan điều tra,

cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự:

Theo các quy định của pháp luật, sau khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm về xâm phạm sức khỏe của người khác và kiến nghị khởi tố thì CQĐT phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết khi chưa xác định được căn cứ để khởi tố hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án Nếu có đủ căn cứ để ra quyết định khởi tố vụ án thì CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, CQĐT phải gửi cho VKS cùng cấp

Trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được quyết định không khởi tố hoặc quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, lãnh đạo đơn

vị, lãnh đạo Viện (sau đây gọi chung là lãnh đạo Viện) phân công KSV kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự để xem xét, xử lý như sau:

Nếu thấy chưa đủ căn cứ thì có văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ; nếu thấy không có căn cứ để ra quyết định không khởi tố thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đó không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 153, khoản

6 Điều 159 Bộ luật Tố tụng hình sự và gửi cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra; nếu thấy đủ căn cứ thì thông báo bằng văn bản cho CQĐT đã ra

Trang 23

17

quyết định không khởi tố vụ án hình sự biết về sự đồng ý của VKS

Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp thì gửi quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố cho cơ quan ra quyết định; nếu thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng

cứ để làm rõ; nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó; nếu cơ quan đã ra quyết định không nhất trí thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan có thẩm quyền điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ quyết định đó Nếu cơ quan đã ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự không hủy bỏ thì lãnh đạo Viện trực tiếp ra quyết định hủy bỏ

Hai là, thực hành quyền công tố trong việc yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ

quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can:

Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác thì CQĐT ra quyết định quyết khởi tố bị can Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải gửi ngay quyết định khởi tố và các tài liệu liên quan đến việc khởi

tố bị can cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố bị can để xử lý như sau: Nếu thấy quyết định khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho cơ quan

Trang 24

18

đã ra quyết định;nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm

rõ căn cứ khởi tố Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được tài liệu, chứng

cứ bổ sung, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can

Kiểm sát viên có thể phối hợp với Điều tra viên thụ lý vụ án để lấy lời khai người bị khởi tố, người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can Đối với những trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị khởi tố lúc nhận tội, lúc không nhận tội, tài liệu, chứng cứ có mâu thuẫn hoặc chưa rõ, thì trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, Kiểm sát viên phải trực tiếp lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị khởi tố Biên bản ghi lời khai những người này được chuyển cho cơ quan đã ra quyết định khởi tố để đưa vào hồ sơ vụ án; nếu thấy ngoài bị can đã bị khởi tố còn

có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố bị can Nếu Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can đối với người đó Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra

Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, nếu phát hiện còn có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để xem xét, quyết định việc khởi tố

bị can và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung theo quy định tại khoản

4 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự; nếu hết thời hạn tạm giữ mà không đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì Kiểm sát viên

Trang 25

19

thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bị can trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Trường hợp Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, nếu thấy quyết định khởi tố bị can ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can, hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố mà phạm vào tội khác hoặc còn có hành

vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi

tố bị can theo quy định tại khoản 3 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự

Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn

vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can; trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung, Viện kiểm sát xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can

Nếu quá trình điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào tội được quy định tại khoản khác với khoản trong cùng một điều luật về cùng một tội danh

đã khởi tố đối với bị can thì không phải thay đổi quyết định khởi tố bị can Nếu thấy cần tạm giam bị can theo thời hạn của tội phạm quy định tại khoản của điều luật có khung hình phạt nặng hơn hoặc chuyển vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền

Trang 26

20

thì phải ghi rõ lý do này trong lệnh tạm giam hoặc trong quyết định chuyển vụ án Trường hợp phải thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can theo quy định tại khoản 2 Điều này thì lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự; trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự

1.4.2 Thực hành quyền công tố trong việc phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định của Cơ quan điều tra: (lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam….trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và khởi tố vụ án hình

sự, điều tra):

Một là, thực hành quyền công tố việc phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy

bỏ lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp:

Sauk hi nhận được hồ sơ thì Kiểm sát viên nghiên cứu, nếu thấy có dấu hiệu lạm dụng việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc chưa đủ căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc người bị giữ không nhận tội, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có mâu thuẫn, người bị giữ là người nước ngoài, người có chức sắc trong tôn giáo, là nhân sĩ, trí thức, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số hoặc trong trường hợp cần thiết khác thì Kiểm sát viên trực tiếp hỏi người bị giữ trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc phê chuẩn Khi cần hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Kiểm sát viên thông báo trước cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để phối hợp trong quá trình hỏi Biên bản ghi lời khai của người bị giữ do Kiểm sát viên lập phải thực hiện theo Mẫu

do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành và đúng quy định tại Điều 133 Bộ luật

Tố tụng hình sự, được lưu vào hồ sơ vụ việc, hồ sơ vụ án và hồ sơ kiểm sát

Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, lãnh đạo Viện phải quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn; thời hạn này được tính liên tục, kể cả trong và ngoài giờ làm việc

Trang 27

21

Hai là, thực hành quyền công tố trong việc tạm giữ; phê chuẩn, không phê

chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định gia hạn tạm giữ:

Trong quá trình điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, ngay sau khi nhận được quyết định tạm giữ, hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của việc tạm giữ, gia hạn tạm giữ để báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau: nếu thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và yêu cầu cơ quan đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự; nếu thấy việc gia hạn tạm giữ có căn cứ

và cần thiết thì trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, lãnh đạo Viện phải ra quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ

Ba là, thực hành quyền công tố việc việc phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc

hủy bỏ lệnh bắt bị can phạm để tạm giam, lệnh tạm giam, gia hạn tạm giam bị can:

Thực tiễn điều tra các vụ án về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác cho thấy, đa số các vụ án có kết quả giám định mức độ tổn hại sức khỏe…thì sau khi CQĐT khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì đồng thời cũng ra lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được lệnh bắt bị can

để tạm giam, lệnh tạm giam, văn bản đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Kiểm sát viên kiểm tra tài liệu, chứng cứ, đối chiếu với quy định tại các điều 113, 119 và 173 Bộ luật Tố tụng hình sự để xác định thẩm quyền, đối tượng, căn cứ, điều kiện tạm giam, thời hạn tạm giam đối với từng bị can; báo cáo,

đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn và trả hồ sơ cho cơ quan đề nghị phê chuẩn ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn

Nếu thấy đủ căn cứ để tạm giam bị can theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự và cần thiết phải tạm giam bị can, nhưng Cơ quan điều tra không ra lệnh bắt bị can để tạm giam, thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề

Trang 28

22

xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra lệnh bắt

bị can để tạm giam; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra lệnh bắt bị can để tạm giam và chuyển cho Cơ quan điều tra để thực hiện

Sau khi phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam bị can, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm sát chặt chẽ việc thi hành lệnh và thời hạn tạm giam bị can để kịp thời báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau: Trường hợp còn thời hạn tạm giam nhưng xét thấy biện pháp tạm giam đối với bị can không còn cần thiết thì yêu cầu Cơ quan điều tra ra văn bản đề nghị Viện kiểm sát quyết định việc hủy bỏ biện pháp tạm giam hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác trong giai đoạn điều tra hoặc Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác trong giai đoạn truy tố; trước khi hết thời hạn tạm giam 10 ngày, nếu Cơ quan điều tra chưa có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam bị can thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra văn bản đề nghị gia hạn hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam

Chậm nhất 05 ngày, trước khi hết thời hạn tạm giam, Kiểm sát viên phải báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để xem xét, quyết định gia hạn tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam

Bốn là, thực hành quyền công tố việc việc phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc

hủy bỏ biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm:

Trong quá trình thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định về việc bảo lĩnh hoặc quyết định về việc đặt tiền để bảo đảm, đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu khác có liên quan về việc bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm, Kiểm sát viên phải kiểm sát căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, thời hạn bảo lĩnh, đặt tiền theo quy định tại Điều 121 hoặc Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự để báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định về việc bảo lĩnh hoặc quyết định về việc đặt tiền để bảo đảm

Trường hợp bị can đã được áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo

Trang 29

23

đảm nhưng vi phạm nghĩa vụ thì Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can

Năm là, thực hành quyền công tố việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư

trú: Sau khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can phạm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, Kiểm sát viên phải kiểm sát căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, thời hạn và việc thông báo về việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với

bị can của Cơ quan có thẩm quyền điều tra Nếu phát hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan có thẩm quyền điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo,

đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ lệnh đó Nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan có thẩm quyền điều tra

Trường hợp phát hiện bị can vi phạm việc thực hiện các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can

Sáu là, thực hành quyền công tố việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh:

Ngay sau khi nhận được thông báo về việc quyết định tạm hoãn xuất cảnh của

Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm sát căn cứ, thẩm quyền, thời hạn tạm hoãn xuất cảnh Trường hợp xét thấy quyết định tạm hoãn xuất cảnh của Cơ quan điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ quyết định tạm hoãn xuất cảnh Nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm hoãn xuất cảnh của

Cơ quan điều tra theo quy định tại Điều 41 và khoản 5 Điều 165 Bộ luật Tố tụng

hình sự

Bảy là, thực hành quyền công tố việc áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải:

Trong quá trình điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, nếu xét thấy

Trang 30

24

cần thiết phải áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải các đối tượng quy định tại khoản

1 và khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất

lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện trước khi ra quyết định áp giải, dẫn giải

Khi kiểm sát việc áp giải, dẫn giải của Điều tra viên, Cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ đối tượng bị áp giải, dẫn giải; điều kiện áp dụng, thẩm quyền; nội dung quyết định, trình tự thi hành; cơ quan có trách nhiệm thi hành quyết định áp giải, quyết định dẫn giải Nếu phát hiện vi phạm phải báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu khắc phục vi phạm và kiểm sát việc khắc phục vi phạm

Tám là, thực hành quyền công tố việc kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản:

Trong quá trình điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, sau khi nhận được lệnh kê biên tài sản, lệnh phong tỏa tài khoản, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ đối tượng bị áp dụng, căn cứ, điều kiện, thẩm quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản; nội dung biên bản kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản theo quy định tại Điều 128 và Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự

Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, nếu xét thấy có đủ căn cứ, điều kiện và cần thiết phải áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản mà Cơ quan điều tra chưa áp dụng thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện

ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra áp dụng; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra lệnh kê biên tài sản, lệnh phong tỏa tài khoản

Trường hợp Cơ quan điều tra ra lệnh kê biên tài sản, lệnh phong tỏa tài khoản không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ lệnh đó; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ

Chín là, thực hành quyền công tố việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp kê biên

tài sản, phong tỏa tài khoản:

Trong quá trình điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ trường hợp, căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục hủy bỏ, thay thế biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản theo quy định tại Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự Trường hợp có đủ căn cứ hủy bỏ biện pháp kê

Trang 31

25

biên tài sản, phong tỏa tài khoản của Cơ quan điều tra theo quy định tại khoản 1 Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự mà Cơ quan điều tra không ra quyết định hủy bỏ thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì lãnh đạo

Viện ra quyết định hủy bỏ

Trường hợp xét thấy không còn cần thiết áp dụng hoặc có thể thay thế biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của Cơ quan điều tra bằng biện pháp khác theo quy định tại khoản 2 Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự mà Cơ quan điều tra không ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế, thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế Trường hợp Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản theo quy định tại khoản 2 Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng xét thấy quyết định hủy bỏ hoặc thay thế của Cơ quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ quyết định đó; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, quyết định áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản do Viện kiểm sát ban hành thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế

1.4.3 Thực hành quyền công tố trong việc đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh; yêu cầu điều tra vụ án, yêu cầu thay đổi ĐTV, các yêu cầu khác:

Một là, thực hành quyền công tố trong việc đề ra yêu cầu điều tra vụ án: Trong

quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, khi cần làm rõ về tội phạm, người phạm tội và những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hoặc để hoàn thiện thủ tục tố tụng thì Kiểm sát viên đề ra yêu cầu điều tra; yêu cầu điều tra có thể được thực hiện nhiều lần, bằng văn bản hoặc bằng lời nói; văn bản yêu cầu điều tra được đưa vào hồ sơ

vụ án và lưu hồ sơ kiểm sát; nội dung yêu cầu điều tra phải cụ thể, rõ ràng, sát với nội dung vụ án, định hướng thu thập chứng cứ để làm rõ cấu thành tội phạm, những

Trang 32

26

vấn đề phải chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 85, Điều 441 Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát viên chủ động phối hợp, yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra thực hiện đầy đủ nội dung yêu cầu điều tra; nếu Điều tra viên, Cán bộ điều tra không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu điều tra, thì tùy từng trường hợp, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện kiến nghị bằng văn bản với Thủ trưởng, Cấp trưởng Cơ quan có thẩm quyền điều tra hoặc yêu cầu thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; trường hợp do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được đầy đủ yêu cầu điều tra thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra giải thích, nêu rõ lý do trong bản kết luận điều tra Trường hợp ĐTV tiến hành điều tra không theo đúng yêu cầu điều tra để làm sai lệch hồ sơ vụ

án, gây hậu quả nghiêm trọng thì KSV đề nghị lãnh đạo Viện xử lý theo quy định của pháp luật, như, khởi tố về hình sự đối với ĐTV

Hai là, thực hành quyền công tố trong việc yêu cầu thay đổi ĐTV, các yêu cầu

khác: Trong quá trình thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác nếu thấy Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều 49 và Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên trao đổi ngay để Điều tra viên, Cán bộ điều tra từ chối tiến hành tố tụng hoặc báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện yêu cầu Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Cấp trưởng, Cấp phó Cơ quan có thẩm

quyền điều tra thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra Trường hợp Phó Thủ trưởng,

Cấp phó Cơ quan có thẩm quyền điều tra thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng, Cấp trưởng Cơ quan có thẩm quyền điều tra thay đổi

Nếu Thủ trưởng, Cấp trưởng Cơ quan có thẩm quyền điều tra thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra tiến hành thủ tục đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra Nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không có văn bản đề nghị thì Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án Viện kiểm

Trang 33

Để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xem xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan có thẩm quyền điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai,

bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện; khi cần kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố; khi Tòa án yêu cầu điều tra; bổ sung tài liệu, chứng cứ mà Viện kiểm sát xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung

Khi trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên được phân công thụ lý giải quyết vụ án phải thực hiện các hoạt động sau đây:

Trước khi tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên phải xây dựng kế hoạch điều tra, báo cáo lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra;

Trong quá trình điều tra, Kiểm sát viên tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra Đối với vụ việc phức tạp, Kiểm sát viên có thể phối hợp với Điều tra viên để tiến hành một số hoạt động điều tra;

Kết thúc việc tiến hành hoạt động điều tra, Kiểm sát viên nghiên cứu, đánh giá tài liệu, chứng cứ, báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện kết quả điều tra

Tài liệu, chứng cứ Kiểm sát viên thu thập được trong quá trình điều tra phải được đưa vào hồ sơ vụ án và lưu hồ sơ kiểm sát theo quy định của pháp luật

Trang 34

28

1.4.5 Những đặc trưng khác nhau để phân biệt giữa thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát điều tra trong điều tra các tội xâm phạm sức khoẻ của người khác:

Theo Luật tổ chức VKSND năm 20014 thì giữa thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát điều tra trong điều tra các tội xâm phạm sức khoẻ của người

khác cũng có sự khác nhau, bao gồm:

Theo quy định tại Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình

sự, bao gồm:

Một là, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi

tố bị can

Hai là, hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết

định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn, hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can trái pháp luật

Ba là, khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong

những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định

Bốn là, phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn

cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân

Năm là, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm

giam, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật

Sáu là, phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng khác của

Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Bày là, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao

nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can

Trang 35

29

Tám là, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm

tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật

mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục

Chín là, khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát

hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm

Mười là, quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, chuyển

vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Mười một là, tực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền

công tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Theo quy định tại Điều 15 Luật tổ chức VKSND năm 2014, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự:

Một là, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ

sơ vụ án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Hai là, kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu

cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật

Ba là, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra

Bốn là, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết

Năm là, kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến

hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra

Sáu là, yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến

hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, cán bộ điều tra; xử lý nghiêm minh Điều tra viên, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng

Trang 36

30

Bảy là, kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội

phạm và vi phạm pháp luật

Tám là, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát điều tra vụ án hình

sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

1.5 Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác:

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, giữa VKS và CQĐT luôn tồn tại mối quan

hệ có tính phối hợp và chế ước

Mối quan hệ phối hợp: Sự phối hợp giữa CQĐT và VKS trong tố tụng hình sự

là sự hợp tác trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS và của CQĐT nhằm mục đích phát hiện, khởi tố, điều tra và xử lý tội phạm theo đúng quy định của pháp luật Việc phối hợp dựa trên căn cứ quy định của BLTTHS về nhiệm vụ quyền hạn của CQĐT và VKS trong đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ Nhà Nước, tổ chức, xã hội và cá nhân Về hình thức phối hợp có thể theo quy chế hai bên ký kết, theo chương trình kế hoạch công tác hoặc đột xuất thông qua việc giải quyết vụ án cụ thể Về chủ thể có thể phối hợp giữa lãnh đạo hai cơ quan hoặc giữa Điều tra viên với Kiểm sát viên thông quan văn bản hoặc trao đổi trực tiếp Về nội dung sự phối hợp trong từng chế định tố tụng cụ thể như nắm, quản lý tin báo tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố, trong khám nghiệm hiện trường Chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp phụ thuộc vào sự tích cực, chủ động của hai chủ thể này Các hoạt động trên của VKS nhằm giúp CQĐT, Điều tra viên nhanh chóng, chính xác phát hiện, xử lý các hành vi phạm tội và tội phạm

Mối quan hệ chế ước: Giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự có mối quan

hệ tố tụng đặc biệt, trong đó VKS có quyền giám sát, yêu cầu, hủy bỏ các quyết định, hành vi không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT và ĐTV Quyền này của VKS có hiệu lực rất cao và CQĐT phải chấp hành nên có thể nói nó mang tính chế ước của VKS đối với CQĐT Tính chế ước của VKS nhằm bắt buộc CQĐT, ĐTV

Trang 37

31

thực hiện đúng các quy định của pháp luật về điều tra vụ án hình sự, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, ngăn ngừa, loại bỏ các vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bảo đảm các lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Thời điểm VKS chế ước hoạt động điều tra ngay từ khi CQĐT bắt đầu thực hiện các hoạt động tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố, đồng thời thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án Quyền chế ước của VKS chỉ được tiến hành đối với hoạt động của CQĐT, có nghĩa là đối tượng của sự chế ước chính là quyết định, hành vi của CQĐT và Điều tra viên, Cán bộ điều tra trong quá trình tố tụng còn những nội dung khác như tổ chức, kỷ luật nội bộ không phải là đối tượng chịu sự điều chỉnh của VKS Sự chế ước được thực hiện thông qua quyền kiểm sát của VKS đối với hoạt động khám nghiệm hiện trường, tử thi, hỏi cung bị can trong việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn, yêu cầu thay đổi, hủy bỏ các quyết định của cơ quan điều tra cũng như việc đề ra các yêu cầu điều tra Theo quy định tại Điều 162, 167 BLTTHS thì CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ mọi yêu cầu, quyết định của VKS trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự

Trang 38

32

Kết luận chương 1:

Toàn bộ nội dung Chương 1, tác giả phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm, đối tượng, nội dung và phạm vi quyền công tố, thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung và tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng để từ đó đưa ra nhận thức của mình về vấn

đề này Tác giả cũng đã phân tích nội dung của thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 165 Bộ luật

tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2014 Thực hiện tốt các nội dung thực hành quyền công tố nêu trên là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê Những nhận thức được trình bày ở Chương 1 là cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê trong 5 năm qua, từ năm 2014 đến năm

2018

Trang 39

33

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TẠI VIỆN KIỂM SÁT

NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

2.1 Tình hình, đặc điểm có liên quan đến thực hành quyền công tố trong điều tra các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai

2.1.1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội:

2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên:

Huyện Chư Sê nằm ở phía Nam của tỉnh Gia Lai, thuộc khu vực Tây Nguyên,

có địa giới hành chính: phía bắc giáp huyện Đắk Đoa và thành phố Pleiku, phía Nam giáp huyện Chư Pưh, phía Đông giáp huyện Mang Yang, phía Tây giáp huyện Chư Prông Huyện Chư Sê cách thành phố Pleiku khoảng 40 km về phía nam, huyện có tuyến Quốc lộ 14 nối ngã ba Chư Sê với các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh và Quốc lộ 25, từ ngã ba Chư Sê (ngã ba Cheo Reo) đến thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên Toàn huyện có diện tích từ nhiên là 642,96 km2, dân số toàn huyện khoảng 100.000 người Huyện Chư Sê có 15 xã, thị trấn, trong đó có 01 thị trấn và 14 xã

2.1.1.2 Về kinh tế:

Huyện Chư Sê là huyện miền núi nằm trong khu vực Tây Nguyên, trong những năm gần đây kinh tế phát triển theo hướng đa ngành nghề, làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, nghề trồng các cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, bông và một số cây trồng ngắn ngày như lạc, đậu, ngô, khoai…trong đó diện tích cà phê là 12.000 ha, diện tích cao su là 20.000 ha, hồ tiêu kinh doanh là 4.000 ha Ngoài ra, hiện nay còn trồng thêm một số loại cây công nghiệp mang tính chiến lược khác như: Ca cao, ca ri, thuốc lá đây là những cây công nghiệp mang lại giá trị kinh tế cao Cách thành phố Pleiku khoảng 45 km về phía Tây Nam là thác Phú Cường thuộc xã Dun; thác có độ cao cột nước khoảng 45

m, đã từ lâu thác Phú Cường được nhiều người biết đến bởi vẻ đẹp tự nhiên, thảm thực vật xanh tốt, nằm trên dòng chảy suối La Pết đổ ra sông Ayun về hạ nguồn

Trang 40

34

xuống hồ Ayun Hạ là điểm đến hấp dẫn đối với du khách cả nước Ngoài ra, huyện Chư Sê còn phát triển một số nghề khác như chăn nuôi các loại động vật có giá trị kinh tế cao như dê, bò…

2.1.1.3 Về chính trị:

Tình hình chính trị trên địa bàn huyện ổn định, không có khiếu kiện đông người xảy ra; các tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật Hệ thống chính trị của huyện được xây dựng vững chắc, hoạt động có hiệu quả; quốc phòng an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm

2.1.1.4 Về văn hóa - xã hội:

Huyện Chư Sê là huyện miền núi nằm trong khu vực Tây Nguyên, có nhiều dân tộc anh em sinh sống nên có nền văn hóa đa dạng tạo nên những nét văn hóa độc đáo riêng, đây cũng là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Nền giáo dục đào tạo của huyện Chư Sê phát triển tốt, là một trong những đơn vị đứng đầu tỉnh Gia Lai về thành tích học tập Sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đạt nhiều kết quả tốt với hệ thống Trung tâm y tế từ tuyến huyện đến các Trạm y tế

xã, thị trấn Ngoài ra, hệ thống các phòng khám, dịch vụ y tế tư nhân cũng phát triển khá nhanh trong thời gian gần đây Tuy nhiên, huyện Chư Sê có những khó khăn đó

là trình độ dân trí của một bộ phận dân tộc thiểu số thấp, tập quá đang còn lạc hậu, vẫn còn phép vua thua lệ làng…nên công tác giải quyết việc làm, giải quyết các mâu thuẫn trong cuộc sống hằng ngày đang còn gặp rất nhiều khó khăn, đồng thời xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật ngày một tăng cao, diễn biến phức tạp Trong sản xuất nông nghiệp, nhất là trông các cây công nghiệp chưa được ứng dụng các khoa học kỹ thuật nên sản lượng không cao, sản phẩm xuất ra thị trường tiêu thụ chưa ổn định Đây là những yếu tố ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai:

Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội Chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các chức năng nói trên của Viện

Ngày đăng: 02/07/2019, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh (2012), Giáo trình Luật Hình sự, Tập I, II, dùng cho hệ Cao học luật, chuyên ngành Tội phạm học và điều tra tội phạm, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự, Tập I, II, dùng cho hệ Cao học luật, chuyên ngành Tội phạm học và điều tra tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2012
2. Mai Đắc Biên (2012), Thẩm quyền của Kiểm sát viên theo quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam và Liên Bang Nga, Luận án tiến sỹ luật học, Liên bang Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của Kiểm sát viên theo quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam và Liên Bang Nga
Tác giả: Mai Đắc Biên
Năm: 2012
3. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự (Phần chung), Nxb đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb đại học Quốc gia
Năm: 2005
4. Lê Cảm (2001), Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố của Tiến sĩ Lê Cảm, đăng trên Tạp chí chuyên ngành, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố của Tiến sĩ Lê Cảm
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
6. TS. Võ Thành Đủ (2018) Thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ ở nước ta hiện nay, Luận văn án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ ở nước ta hiện nay
7. TS. Nguyễn Văn Khoát (2018), Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam, Luận văn án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Khoát
Năm: 2018
8. Trần Công Phàn (2012), Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần tập trung làm tốt việc tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, đăng trên Tạp chí kiểm sát, số 8/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần tập trung làm tốt việc tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, đăng trên Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Trần Công Phàn
Năm: 2012
9. Tôn Thiện Phương (2017), Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An, Luận văn án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An
Tác giả: Tôn Thiện Phương
Năm: 2017
17. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội (2003)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003
19. Đinh Văn Quế (2002), Bình luận khoa học BLHS, phần các tội phạm, tập II, Bình luận chuyên sâu, Nxb TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS, phần các tội phạm, tập II, Bình luận chuyên sâu
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb TPHCM
Năm: 2002
22. Lê Hữu Thể (2000), Bàn về khái niệm quyền công tố, Tạp chí kiểm sát số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm quyền công tố
Tác giả: Lê Hữu Thể
Năm: 2000
23. Lê Hữu Thể (chủ biên) và đồng tác giả (2008) về “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra ”, NXB Tư pháp Hà Nội 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
Nhà XB: NXB Tư pháp Hà Nội 2008
5. Trần Văn Độ (2001), Một số vấn đề về quyền công tố của đăng trên Tạp chí Luật học số 03/2001 Khác
10. Quốc hội (2014), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 Khác
11. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Khác
12. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Khác
13. Quốc hội (1980), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 Khác
14. Quốc hội (1960), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
15. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Khác
16. Quốc hội (2017), Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w