Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về chức năng của VKSND trong điều tra vụ án hình sự và thủ tục tố tụng đối với dưới 18 tuổi như: luận văn thạc sỹ Thủ tục tố tụng hình sự đối với
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
CÓ BỊ CAN DƯỚI 18 TUỔI TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
CÓ BỊ CAN DƯỚI 18 TUỔI TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số : 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐỨC HẠNH
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN DƯỚI 18 TUỔI 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm của kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi 9 1.2 Ý nghĩa của việc quy định về kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi 19
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN DƯỚI 18 TUỔI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 22
2.1 Quy định của pháp luật về kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi 22 2.2 Thực tiễn thi hành kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 45
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN DƯỚI 18 TUỔI 62
3.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục điều tra các vụ án hình
sự có bị can dưới 18 tuổi 62 3.2 Giải pháp tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát điều tra
vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi 65
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi khởi tố mới trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (2012 – 2018) 45 Bảng 2.2 Số bị can dưới 18 tuổi bị Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (2012-2018) 52
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Sự tăng giảm số vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi và số bị can dưới 18 tuổi từ năm 2012 đến năm 2018 46 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu các tội danh bị can dưới 18 tuổi bị khởi tố từ năm
2012 đến năm 2018 46
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người dưới 18 tuổi (người chưa thành niên) là người chưa phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần Do vậy, khi tham gia tố tụng hình sự đòi hỏi họ phải luôn được bảo vệ Ở Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, người dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng hình sự luôn được điều chỉnh bởi các quy định đặc biệt hơn người đã thành niên nhằm mục đích hỗ trợ họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách tốt nhất, không bị ảnh hưởng bởi sự hạn chế về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của họ Đối với những bị can là người chưa thành niên ở các nước có nền tư pháp tiến bộ quy định của
Bộ luật hình sự cũng như tố tụng hình sự đều hướng tới việc bảo vệ lợi ích tốt nhất cho họ và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội
So với Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật tố tụng năm 2003 thì Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã thay thuật ngữ “người chưa thành niên“ bằng “người dưới 18 tuổi“ nhằm bảo đảm hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật lập pháp, bên cạnh đó trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 các chế định điều chỉnh sự tham gia của người dưới 18 tuổi với các tư cách tố tụng khác nhau là như nhau không phân biệt là bị can, bị cáo hay người bị hại, người làm chứng đây là sự tiến bộ, nhân đạo của Bộ luật trên cơ sở các quy định của luật pháp quốc tế Tuy nhiên, với hàng loạt các chế định pháp luật nhằm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội mới có sự thay đổi việc nhận thức cặn kẽ và áp dụng một cách chính xác trên thực tiễn đời sống pháp
lý vẫn còn có những thách thức, bất cập, hạn chế đòi hỏi phải được nghiên cứu, giải thích và tổng kết một cách cụ thể, thấu đáo
Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của Viện kiểm sát
Trang 8trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu cấp thiết mà Đảng đã chỉ ra tại Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đó là: “Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp” [4] và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của
Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” xác định: “ tăng
cường nhiệm vụ của công tố trong hoạt động điều tra ” [6] Đồng thời, tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta cũng xác định: “Viện kiểm sát được
tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức toà án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra ” [15] Những chủ trương
trên đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 với hai chức năng của VKSND đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Như vậy, nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp trong đó có việc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự, đặc biệt là những vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi là thực hiện chủ chương, đường lối của Đảng và Nhà nước, qua đó, tạo tiền đề ổn định xã hội, phát triển nền kinh tế và bảo vệ pháp chế
Trang 9vẫn còn những bất cập như đội ngũ cán bộ tư pháp như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán chưa được đào tạo chuyên sâu về tâm lý học, về khả năng giao tiếp, làm việc với người dưới 18 tuổi… Đây là những thách thức đòi hỏi phải có những nghiên cứu để hoàn thiện hơn thủ tục tố tụng đối với người dưới
18 tuổi nói chung và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án có bị can dưới 18 tuổi nói riêng
Từ các cơ sở lý luận và thực tiễn trên, học viên lựa chọn đề tài “Kiểm
sát điều tra các vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi từ thực tiễn quận Cẩm
Lệ, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ là cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong khoa học pháp lý hình sự, chức năng của VKSND trong điều tra
vụ án hình sự và thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi nói chung đã được
một số tác giả trong nước nghiên cứu ở các cấp độ và mức độ khác nhau
Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về chức năng của VKSND trong điều tra vụ án hình sự và thủ tục tố tụng đối với dưới 18 tuổi như: luận văn
thạc sỹ Thủ tục tố tụng hình sự đối với những vụ án do người chưa thành niên
thực hiện - Lý luận và thực tiễn của Nguyễn Ngọc Thương (năm 2006), Luận án
tiến sỹ luật học Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên – một số vấn đề lý
luận và thực tiễn của tác giả Đỗ Thị Phượng (năm 2008), Luận văn thạc sỹ Thủ tục giải quyết các vụ án đối với người chưa thành niên trên cơ sở số liệu của địa bàn tỉnh Bình Dương của Võ Huỳnh Ngọc Thủy (năm 2013), luận văn thạc sỹ Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra của Bùi Ngọc Tú (năm
2013), luận văn thạc sỹ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố
tụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên của Vũ Thị Anh Đào (
năm 2014), luận văn thạc sỹ Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm
sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người chưa thành niên của Trần
Quỳnh Hoa (năm 2014), luận án tiến sĩ Hoạt động thực hành quyền công tố và
Trang 10Kiểm sát điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân trong điều tra các vụ ánh hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội của Nguyễn Quang Thành (năm 2015), luận văn
thạc sỹ Chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự
mà bị can là người chưa thành niên của Trần Thị Ánh Tuyết (năm 2016)
Về đề tài khoa học có Nguyên tắc nhân đạo trong các quy định của
pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên ở Việt Nam của tập thể tác giả Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2005) Ngoài ra,
còn có những nghiên cứu đề cập đến những vấn đề lý luận chung hoặc nghiên cứu những đề tài khác nhưng có một số nội dung liên quan đến thủ tục tố tụng
đối với người chưa thành niên như Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp
người chưa thành niên tại Việt Nam, thông tin khoa học pháp lý của Viện
nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (năm 2000); hay Thủ tục điều tra
và xét xử liên quan đến trẻ em và người chưa thành niên: Đánh giá về các thủ tục nhạy cảm đối với trẻ em của Tòa án nhân dân; công trình Đào tạo kiểm sát viên làm việc với người chưa thành niên (Sách dự án Danida) của Trường Cao
số 6 tháng 3 năm 2007; Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội của tác giả Mai
Bộ đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 6 tháng 3 năm 2007; Vấn đề bảo đảm quyền
bào chữa của người chưa thành niên phạm tội của tác giả Phan Trung Hoài
đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 6 tháng 3 năm 2007; Về chức năng, nhiệm vụ
của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự của tác giả Phạm
Hồng Quân đăng trên Tạp chí khoa học, ĐH Quốc gia Hà Nội, Luật học số 28
Trang 11năm 2012; Kỹ năng của Kiểm sát viên khi thụ lý, giải quyết các vụ án do
người chưa thành niên phạm tội của tác giả Trần Thị Minh Thư đăng trên Tạp
chí Kiểm sát, Hà Nội số 07, năm 2014
Những công trình và các bài viết đã nêu trên cho thấy có rất nhiều tác giả nghiên cứu về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra cũng như thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên nói chung dưới các góc độ khác nhau Về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ
án hình sự có bị can là người dưới 18 tuổi nói riêng mới được thể hiện trong một số bài viết nhỏ, chưa được quan tâm nghiên cứu sâu sắc Đồng thời, hiện nay, do Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2018 nên việc áp dụng các thủ tục tố tụng chắc chắn vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng”, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả của công tác này là một yêu cầu cấp thiết và đảm bảo tính mới
mẻ trong nghiên cứu khoa học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống, làm rõ những vấn đề lý luận về kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi
Trang 12- Phân tích, làm rõ quy định của pháp luật TTHS và các văn bản pháp luật liên quan về kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi
- Làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS và các văn bản pháp luật liên quan trong công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi, xác định những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác này trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
- Đưa ra giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu là những vấn đề lý luận cơ bản thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi
- Luận văn nghiên cứu các hoạt động, phương thức kiểm sát điều tra nhằm phát hiện vi phạm, biện pháp xử lý khi phát hiện vi phạm đối với các vụ
án có bị can dưới 18 tuổi của Viện kiểm sát
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian và vấn đề nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS, các văn bản pháp luật liên quan đến công tác kiểm sát điều tra của VKS và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật trong việc kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: Luận văn chỉ khảo sát số liệu thực tiễn trong phạm vi từ năm 2012 đến năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Tác giả nghiên cứu đề tại dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa Mác -
Trang 13Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, vấn đề cải cách tư pháp, về chính sách nhân đạo và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và các tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, thống kê, tiếp cận, tham khảo và trích dẫn ý kiến chuyên gia Các biện pháp này được vận dụng một cách linh hoạt song vẫn đảm bảo tính gắn kết, quan hệ biện chứng với nhau, qua đó làm sáng tỏ mục tiêu của đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Các kết quả của luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về hoạt động của VKS trong kiểm sát điều tra các VAHS có bị can dưới 18 tuổi, thể hiện vai trò quan trọng của VKS trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Ngoài việc nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, luận văn còn nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi nên các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như
làm tài liệu cho các cán bộ Kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát điều tra vụ án hình sự có
bị can dưới 18 tuổi
Trang 14Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành kiểm sát điều
tra các vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành
phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN DƯỚI 18 TUỔI
1.1 Khái niệm, đặc điểm của kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi
1.1.1 Một số khái niệm
* Vụ việc mang tính hình sự: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
do cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các khách thể mà Bộ luật hình sự bảo vệ nên khi một vụ việc xảy ra mà phát hiện trong đó có chứa đựng hậu quả hoặc hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm thì vụ việc đó trở thành vụ việc mang tính hình sự
* Vụ án hình sự: Khái niệm vụ án hình sự được đề cập trong từ điển
Luật học (năm 1999, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa) như sau: “Vụ án hình
sự là vụ án có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự đã được cơ quan điều tra ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy
tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở Bộ luật hình sự tố
* Hoạt động điều tra: Khi có vụ việc mang tính hình sự xảy ra các cơ
quan tố tụng có thẩm quyền có trách nhiệm áp dụng các biện pháp do luật định để tìm kiếm, thu thập, bảo quản, đánh giá, sử dụng các chứng cứ nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội, cá nhân hay pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội, hoạt động tố tụng này nhằm đưa ra được kết luận
Trang 16chính xác nhằm đề nghị VKS truy tố các đối tượng ra trước Tòa án để xét xử gọi là hoạt động điều tra
* Giai đoạn điều tra: Quá trình giải quyết vụ án hình sự hay còn gọi là
quá trình tố tụng hình sự từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải trải qua nhiều giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau Mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về các giai đoạn của tố tụng hình sự, nhưng chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng tố tụng hình sự có bốn giai đoạn là: Khởi tố, Điều tra, Truy tố và Xét xử Trong đó giai đoạn điều tra có thể hiểu theo hai nghĩa:
- Giai đoạn điều tra theo nghĩa hẹp được hiểu là một giai đoạn của tố tụng hình sự, giai đoạn này có thời điểm bắt đầu từ ngay sau khi cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ban hành bản kết luận điều tra và chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử hoặc kết thúc khi có quyết định đình chỉ vụ án hình sự của
cơ quan có thẩm quyền
- Giai đoạn điều tra theo nghĩa rộng được hiểu là một giai đoạn của tố tụng hình sự bao gồm giai đoạn khởi tố và giai đoạn điều tra theo nghĩa hẹp nêu trên Trong đó giai đoạn khởi tố bắt đầu từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (có nguồn tin) và kết thúc khi có quyết định khởi tố
vụ án của cơ quan có thẩm quyền hoặc có quyết định đình chỉ việc giải quyết nguồn tin
Mặc dù giai đoạn điều tra được nhận định là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai sau khi khởi tố vụ án hình sự, tuy nhiên, ngay từ khi tiếp nhận tin báo,
tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền đã tiến hành các biện pháp nghiệp vụ được quy định trong BLTTHS như lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để xác
Trang 17minh, thu thập, củng cố chứng cứ, xác định có hay không có đầy đủ các dấu hiệu tội phạm và người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội Các hoạt động đó phải có sự kiểm sát của Viện kiểm sát để bảo đảm tính có căn cứ, đúng pháp luật và để làm cơ sở cho việc có hay không việc ra quyết định khởi
tố vụ án hình sự và tiến hành một số biện pháp tố tụng của Cơ quan điều tra Với những nhận thức trên đây thì giai đoạn điều tra mà luận văn sẽ nghiên cứu và đề cập dưới đây là giai đoạn điều tra theo nghĩa rộng được bắt đầu kể
từ khi có tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố và kết thúc khi cơ quan
có thẩm quyền tố tụng kết thúc điều tra chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát để đề nghị truy tố hoặc kết thúc khi có quyết định đình chỉ vụ án của cơ quan có thẩm quyền nhằm đảm bảo tính toàn diện của công tác điều tra vụ án hình sự
* Bị can: BLTTHS đưa ra khái niệm về bị can tại Điều 60, theo đó: “Bị
can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự Quyền và nghĩa vụ của bị
can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân theo quy định của Bộ luật này” [28]
* Cách xác định tuổi của bị can: Tuổi của bị can được tính theo cách
tính tuổi của người bị buộc tội được quy định tại Điều 417 BLTTHS và Điều
6 Thông tư liên tịch số BLĐTBXH ngày 21 tháng 12 năm 2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi đó là: do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật Việc xác định tuổi của bị can căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu về nhân thân như giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu hoặc hộ chiếu
06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 417 BLTTHS:
Trang 18“a) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh
b) Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh
c) Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh
d) Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng
sinh” [28]
- Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi Trường hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của họ
* Bị can dưới 18 tuổi: Dựa trên khái niệm về bị can và cách tính tuổi bị
can thì có thể đưa ra khái niệm: Bị can dưới 18 tuổi là người bị khởi tố về hình sự mà tuổi của họ được xác định hoặc tính theo quy định tại Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự mà chưa đủ 18 tuổi
* Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự:
Khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định: “Kiểm sát hoạt động tư pháp được hiểu là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân
Trang 19sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư
pháp khác theo quy định của pháp luật” [27]
Điều 15 Luật tổ chức Viện KSND năm 2014 và Điều 166 BLTTHS năm 2015 tiếp tục cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Kiểm sát hoạt động
tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra; Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết; Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra; Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, cán bộ điều tra, xử lý nghiêm minh Điều tra viên, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng; Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan
áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: Kiểm sát điều tra vụ án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, của người tiến hành tố tụng, kiểm sát việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
Trang 20* Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi
Kiểm sát điều tra các VAHS là hoạt động của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh
Trên cơ sở các khái niệm đã đề cập trên đây, có thể đưa ra khái niệm
kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi như sau: “Kiểm sát điều
tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, của người tiến hành tố tụng kể từ thời điểm có nguồn tin về tội phạm đến khi có kết luận điều tra và hồ sơ được chuyển đến Viện kiểm sát để đề nghị truy tố đối với bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi”
* Mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra vụ án hình sự và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong
tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình
sự Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát có quan hệ mật thiết, gắn bó hữu cơ và tác động qua lại với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong đó có kiểm sát điều tra các vụ án hình sự Theo đó, thực hiện chức năng này làm cơ sở, nền tảng cho thực hiện chức năng kia và ngược lại Mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra vụ án hình sự và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được thể hiện ở các mặt sau:
Trang 21- Nếu chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự được thực hiện một cách hiệu quả, tức là Viện kiểm sát kiểm sát chặt chẽ tính có căn cứ và tính hợp pháp của các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thì công tác phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác của CQĐT sẽ chính xác, đúng pháp luật Trong trường hợp các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra có căn cứ và hợp pháp thì Viện kiểm sát sẽ quyết định phê chuẩn để thi hành, ngược lại nếu xét các quyết định đó không có cơ sở pháp lý, Viện kiểm sát sẽ quyết định không phê chuẩn hoặc ban hành quyết định huỷ bỏ các quyết định này, đồng thời yêu cầu Cơ quan điều tra chấm dứt ngay các hoạt động tố tụng không có căn cứ pháp luật
- Công tác kiểm sát điều tra vụ án hình sự chặt chẽ sẽ làm tiền đề cho hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác Đồng thời, khi Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự thì hoạt động kiểm sát điều tra cũng hình thành Ví dụ, khi Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam của Cơ quan điều tra thì làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc bắt bị can để tạm giam của Cơ quan điều tra nhằm bảo đảm việc bắt bị can phải có lệnh và quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát, đồng thời bảo đảm thời hạn tạm giam đúng theo quy định của pháp luật
Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự được tiến hành song song tồn tại từ khi khởi tố cho đến khi kết thúc việc điều tra Hai lĩnh vực này có chức năng hoàn toàn độc lập nhưng có tác động qua lại với nhau Theo đó, chức năng thực hành quyền công tố có kết quả tốt sẽ hỗ trợ đắc lực cho quá trình kiểm sát điều tra, cũng như tạo điều kiện cho kiểm sát điều tra các vụ án hình sự tiếp cận các biện pháp điều tra, qua đó kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật về tố tụng để yêu cầu Cơ quan điều tra khắc
Trang 22phục Cũng như vậy, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự chất lượng sẽ tạo tiền
đề cho công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra phát huy tối
đa hiệu quả, đảm bảo việc khởi tố, yêu cầu khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, huỷ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra có căn cứ, đúng pháp luật
Những phân tích trên chứng tỏ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự phải được tiến hành song song và hỗ trợ lẫn nhau nhằm phát huy tốt nhất nguyên tắc bảo vệ quyền con người, không
để bất kỳ người nào bị bắt giữ, khởi tố trái pháp luật, không để lọt tội và không làm oan người vô tội, đảm bảo cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đúng pháp luật và có căn cứ, đảm bảo việc tiến hành điều tra phải khách quan, toàn diện, chính xác và đúng pháp luật; kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra và yêu cầu khắc phục
1.1.2 Đặc điểm của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi
Hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bản chất là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra vụ
án hình sự nhằm bảo đảm việc điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Do đó, ngoài những đặc điểm chung của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự thì kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi còn có các đặc điểm riêng biệt được thể hiện
như sau:
- Về phạm vi của kiểm sát điều tra vụ án hình sự nói chung và phạm vi của kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi nói riêng được xác định bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra hoặc phát hiện được dấu hiệu của tội phạm cho tới khi vụ án được kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra của
Trang 23cơ quan có thẩm quyền chuyển cho Viện kiểm sát đề nghị truy tố hoặc khi Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hoặc khi vụ việc mang tính hình sự được đình chỉ việc giải quyết nguồn tin Theo quy định tại Điều 230
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì ngoài các trường hợp như đối với các vụ
án hình sự thông thường, CQĐT còn ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án có
bị can dưới 18 tuổi khi có trường hợp thuộc khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Chủ thể tiến hành kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi là Viện Kiểm sát nhân dân bao gồm Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên VKSND các cấp Kiểm sát viên, Kiểm tra viên khi được phân công kiểm sát việc giải quyết nguồn tin, kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới
18 tuổi Những chủ thể này phải đảm bảo các điều kiện “là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với
người dưới 18 tuổi” [28] được quy định tại Điều 415 BLTTHS năm 2015 và
Điều 5 Thông tư liên tịch số BLĐTBXH ngày 21 tháng 12 năm 2018
06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP Nội dung của kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi của VKSND là kiểm tra, giám sát và điều chỉnh mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác có liên quan trong quá trình điều tra các vụ án hình sự trên cơ sở các quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyều cung cấp hồ sơ, trực tiếp xác minh tin báo, xác minh vi phạm Cụ thể trong quá trình kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi cần phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo quy định tại các Điều 41, 42, 43, các quy định khác của Bộ luật tố tụng hình sự về điều tra, Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21 tháng 12 năm 2018 hướng dẫn phối hợp thực
Trang 24hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi và Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các quy định pháp luật khác có liên quan
Trong đó, cần tập trung kiểm sát các nội dung như tính có căn cứ của các hành vi, quyết định tố tụng của CQĐT, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác có liên quan như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, quyết định giao người dưới 18 tuổi để giám sát, thủ tục lấy lời khai người bị buộc tội, hỏi cung bị can dưới 18 tuổi, do các hành vi, quyết định này được quy định có tính đặc thù, khi áp dụng đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt hơn Bên cạnh đó, khi tiến hành kiểm sát các VAHS có bị can dưới 18 tuổi phải lưu ý việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng về đảm bảo việc tham gia tố tụng của người đại diện, người bào chữa, người trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi, đảm bảo các nguyên tắc tiến hành tố tụng các VAHS có bị can dưới 18 tuổi, đảm bảo những vấn đề cần được xác định khi tiến hành tố tụng đối với bị can dưới 18 tuổi như tuổi, mức độ nhận thức, điều kiện sống, giáo dục, nguyên nhân phạm tội,
- Hậu quả pháp lý của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi đó là khi Viện kiểm sát phát hiện vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ của vi phạm mà Viện kiểm sát ban hành kiến nghị hoặc kháng nghị Đặc biệt, thông qua việc kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới
18 tuổi, Viện kiểm sát cần phát huy khả năng tổng hợp nguyên nhân phát sinh tội phạm để ban hành kiến nghị đối với cơ quan hữu quan có trách nhiệm giáo dục, quản lý người dưới 18 tuổi nhằm góp phần hạn chế và phòng ngừa tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện
Trang 25- Đối tượng của kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi là các hành vi, quyết định của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các chủ thể khác có liên quan trong quá trình điều tra vụ án hình sự có bị can từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Trong đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là cơ quan điều tra và Cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như: Hải quan, Kiểm Lâm, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư, các cơ quan không phải cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ mà phát hiện tội phạm
1.2 Ý nghĩa của việc quy định về kiểm sát điều tra vụ án hình sự có
bị can dưới 18 tuổi
1.2.1 Ý nghĩa chính trị
Quá trình thực hiện chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi của Viện kiểm sát nhân dân không chỉ góp phần đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quá trình tố tụng hình sự được thực hiện một cách đúng luật, đúng trình tự theo quy định, mà còn góp phần đảm bảo quyền con người, đặc biệt quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong tố tụng hình sự
1.2.2 Ý nghĩa pháp lý
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là một nguyên tắc cơ bản của BLTTHS Quá trình VKSND thực hiện chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, đồng thời có tác động tích cực đến chất lượng hoạt động điều tra, truy tố của các cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án,
không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Trang 261.2.3 Ý nghĩa xã hội
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án hình sự có bị can
là người dưới 18 tuổi có một ý nghĩa xã hội hết sức sâu sắc và được thể hiện trên các phương diện khác nhau:
Thứ nhất, việc thực hiện chức năng này của VKSND thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can dưới 18 tuổi, kịp thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp đối với họ, căn cứ vào tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi; điều kiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người đủ 18 tuổi trở lên xúi giục; nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội cũng như thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải để xử lý khoan hồng
Thứ hai, việc thực hiện chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi của VKSND thể hiện tính dân chủ, đảm bảo quyền trình bày
ý kiến của người dưới 18 tuổi, giúp họ chủ động trong quá trình điều tra, nhìn nhận sai lầm của bản thân để tích cực sửa đổi
Trang 27người tiến hành tố tụng kể từ thời điểm có nguồn tin về tội phạm đến khi có kết luận điều tra và hồ sơ được chuyển đến Viện kiểm sát để đề nghị truy tố đối với
bị can là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Những khái niệm này sẽ làm nền tảng, tiền đề để phục vụ cho việc nghiên cứu thực trạng pháp luật về kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi trong Chương 2
Bản chất hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội nên kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi ngoài những đặc điểm chung của kiểm sát điều tra vụ án hình sự, còn có những đặc điểm riêng về phạm vi, nội dung, đối tượng kiểm sát, chủ thể tiến hành và hậu quả pháp lý được thể hiện trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác liên quan đến hoạt động, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
Thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi và mối quan hệ giữa hoạt động thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, Chương 1 của Luận văn cũng khẳng định những ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị, ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa xã hội của việc kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi
Trang 28CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC
VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN DƯỚI 18 TUỔI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Quy định của pháp luật về kiểm sát điều tra vụ án hình sự có
bị can dưới 18 tuổi
2.1.1 Quy định về kiểm sát nguồn tin về tội phạm có người bị tố giác dưới 18 tuổi
Công tác kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có người bị tố giác dưới 18 tuổi không có văn bản pháp quy riêng mà vẫn phải tuân thủ theo các quy định từ Điều 144 đến Điều
152 BLTTHS năm 2015 và các quy định của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNN-VKSNDTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 về việc phối hợp trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 về kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Theo đó, Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra về thẩm quyền tiếp nhận, việc kiểm tra, xác minh, việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm, việc tạm đình chỉ, việc phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm thông qua kiểm sát hồ sơ vụ án hoặc kiểm sát trực tiếp
Về thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 146 BLTTHS năm 2015 Sau đó, “trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được
Trang 29giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện
kiểm sát có thẩm quyền” [28] để tiến hành thụ lý kiểm sát
Tuy nhiên, chỉ có CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, VKS mới có thẩm quyền giải quyết nguồn tin tội phạm VKS kiểm sát thời hạn giải quyết tin báo của CQĐT, cụ thể: thời hạn giải quyết là 20 ngày đối với vụ việc đơn giản hoặc 02 tháng đối với vụ việc phức tạp kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn trên thì
có thể đề nghị VKS gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng
Hết thời hạn được quy định tại Điều 147 BLTTHS năm 2015, cơ quan
có thẩm quyền giải quyết phải ra một trong các quyết định: Quyết định khởi
tố vụ án hình sự; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; hoặc Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và gửi các Quyết định này kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát Bên cạnh đó, VKS cũng kiểm sát việc cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin tội phạm có gửi các quyết định tố tụng cho những người liên quan không
2.1.2 Quy định về việc kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi, khởi tố bị can dưới 18 tuổi
2.1.2.1 Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi
Khởi tố vụ án hình sự là một quyết định mang tính pháp lý của Công
an, VKS, Tòa án và một số cơ quan chức năng khác được pháp luật trao thẩm quyền Trong phạm vi của luận văn chỉ đề cập tới việc khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra của ngành công an nhân dân Khi xác định có một trong các dấu hiệu tội phạm quy định tại Điều 143 BLTTHS năm 2015thif CƠ quan điều tra mới được ra Quyết định khởi tố vụ án
Trang 30Theo quy định tại Điều 161 BLTTHS năm 2015, khi kiểm sát việc khởi
tố vụ án hình sự, VKS có những nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố của CQĐT, bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ và đúng pháp luật; có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự; đồng thời thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc khởi tố vụ
án hình sự theo quy định của Bộ luật này
Do đó, để kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi, cần nắm vững các quy định về khởi tố vụ án hình sự được ghi nhận từ Điều
153 đến Điều 158 BLTTHS Tiếp đó, sau khi nhận được quyết định khởi tố
vụ án hình sự của CQĐT, VKS căn cứ quy định tại Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 12 Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 của VKSND tối cao kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án, kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi
tố vụ án hình sự Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý vụ án hình sự Theo đó, Kiểm sát viên được phân công phải nghiên cứu kỹ các tài liệu dùng làm căn
cứ để khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Tài liệu về tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; các tài liệu khi CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh thu thập được; biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, biên bản khám xét, biên bản bắt người phạm tội quả tang… cùng các tài liệu, vật chứng thu thập được khi tiến hành khám nghiệm; đơn yêu cầu khởi tố, kết luận giám định, biên bản lấy lời khai bị hại, người làm chứng Kiểm sát viên kiểm tra trình tự, thủ tục tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, cơ quan được
Trang 31giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có đúng quy định của BLTTHS hay không Kiểm tra thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự, hình thức và nội dung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT có đúng quy định của BLTTHS hay không Sau khi kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, Kiểm sát viên cần tổng hợp, phân tích, đánh giá xem có hay không vụ việc có tính chất hình sự xảy ra trên thực tế Các tài liệu, chứng cứ thu thập được có đủ để chứng minh sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay chưa Nếu có thì thuộc điều, khoản nào của BLHS, phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi ra sao, mức
độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra như thế nào, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự còn hay hết… Đối với những trường hợp CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, thì khi kiểm sát việc khởi tố vụ
án hình sự, Kiểm sát viên cần phải nghiên cứu, xem xét quyết định khởi tố và các tài liệu có liên quan đến việc khởi tố để xác định xem việc khởi tố vụ án hình sự của CQĐT có thuộc các trường hợp quy định tại Điều 155 BLTTHS hay không Trường hợp bị hại có yêu cầu rút đơn thì phải làm rõ tính khách quan, tính đúng đắn trong nội dung đề nghị rút đơn yêu cầu khởi tố của bị hại, xem xét việc bị hại rút đơn có tự nguyện hay trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức
Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố, Kiểm sát viên phải báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá quyết định khởi tố với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để xem xét, xử lý Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp thì ra quyết định phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án và gửi cho Cơ quan điều tra; Nếu thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ; Nếu thấy quyết định khởi tố vụ
Trang 32án hình sự không có căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định đó; trường hợp CQĐT không nhất trí hoặc là quyết định khởi tố vụ án hình sự của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 6 Điều
159 và khoản 1 Điều 161 BLTTHS Nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT không có căn cứ thì yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ quyết định đó
2.1.2.2 Kiểm sát việc khởi tố bị can dưới 18 tuổi
Kiểm sát khởi tố bị can nói chung và kiểm sát khởi tố bị can dưới 18 tuổi nói riêng là quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng kiểm sát điều tra nhằm bảo đảm việc khởi tố bị can có căn cứ, hợp pháp, đúng người, đúng tội
Theo quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2015 thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải gửi quyết định khởi tố
và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can đó cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can dưới 18 tuổi, Kiểm sát viên kiểm sát quyết định đó có ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình bị can; bị can bị khởi
tố về tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm Ngoài ra, phải yêu cầu CQĐT cung cấp đầy đủ các tài liệu để làm rõ xem việc khởi tố bị can có đúng tội danh, điều khoản của Bộ luật hình sự hay không
Trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu thấy quyết định khởi tố bị can
Trang 33ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can, hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố mà phạm vào tội khác hoặc còn có hành vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can Trong thời hạn
03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của CQĐT, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can
2.1.2.3 Quy định về kiểm sát thẩm quyền, thời hạn điều tra
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự được quy định tại Điều 166 BLTTHS năm 2015, Điều 15 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và các quy định Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Theo đó VKS phải kiểm sát chặt chẽ việc phân cấp thẩm quyền điều tra của CQĐT các cấp nhằm đảm bảo vụ án hình sự được điều tra đúng thẩm quyền CQĐT có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của CQĐT nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can
cư trú hoặc bị bắt
Thời hạn điều tra vụ án hình sự có bị can dưới 18 tuổi cũng tương tự thời hạn điều tra vụ án hình sự thông thường và được quy định tại Điều 172 BLTTHS năm 2015, theo đó: “Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội
Trang 34phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra”[28] Nếu vụ án có tính chất phức tạp thì chậm nhất là 10 ngày trước khi
hết thời hạn điều tra, CQĐT phải có văn bản đề nghị VKS gia hạn điều tra VKS cần xem xét kỹ hồ sơ vụ án, nếu thấy có căn cứ, điều kiện thì gia hạn thời hạn điều tra theo quy định tại Điều 173 BLTTHS năm 2015
Ngoài việc kiểm sát thời hạn điều tra thông thường thì VKS cũng có trách nhiệm kiểm sát thời hạn điều tra tiếp trong trường hợp phục hồi điều tra
và thời hạn điều tra trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung
2.1.3 Quy định về kiểm sát việc áp dụng một số biện pháp điều tra
2.1.3.1 Kiểm sát việc xác minh, thu thập tài liệu, vật chứng, lấy lời khai
và lập hồ sơ vụ án
- Kiểm sát viên chủ động kiểm sát việc ghi biên bản ghi lời khai và các tài liệu liên quan đến việc lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự của CQĐT
Quá trình kiểm sát, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ biên bản ghi lời khai,
trình tự, thủ tục lấy lời khai; việc giải thích quyền và nghĩa vụ của người làm chứng, bị hại, đương sự Nếu phát hiện vi phạm trong việc lấy lời khai, Kiểm sát
viên phải yêu cầu điều tra viên, Cán bộ điều tra khắc phục ngay
- Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật theo quy định tại Chương XIII BLTTHS Theo đó, Kiểm sát viên nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ đề nghị phê chuẩn lệnh khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện; lệnh thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử tại cơ quan, tổ chức, báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh khám xét, lệnh thu giữ của CQĐT Khi nhận được thông báo của Cơ quan có thẩm quyền điều tra
về thời gian, địa điểm tiến hành khám xét, Kiểm sát viên chủ động phối hợp với điều tra viên, Cán bộ điều tra thống nhất kế hoạch khám xét, bảo đảm việc
Trang 35khám xét thực hiện đúng quy định tại các Điều 194, 195 và 198 BLTTHS năm 2015 Trong quá trình khám xét, Kiểm sát viên kiểm sát thành phần tham gia, trình tự, thủ tục thực hiện; việc niêm phong, bảo quản phương tiện, tài liệu, đồ vật đã tạm giữ theo quy định tại các Điều 90, 106 và 199 BLTTHS; việc lập biên bản khám xét, tạm giữ; kịp thời phát hiện vi phạm để yêu cầu chấm dứt, khắc phục
Trường hợp khám xét khẩn cấp theo quy định tại Khoản 2 Điều 193 BLTTHS, thì ngay sau khi nhận được văn bản thông báo của người ra lệnh khám xét, Kiểm sát viên phải kiểm tra lệnh, các tài liệu có liên quan để kiểm sát tính có căn cứ và hợp pháp của việc khám xét khẩn cấp
Trường hợp thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 197 BLTTHS mà sau đó VKS không phê chuẩn lệnh thu giữ thì Kiểm sát viên phải kiểm sát việc hoàn trả thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm cho cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông và việc thông báo cho người có thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ
- Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải giữ bí mật điều tra, yêu cầu điều tra viên, Cán bộ điều tra, người tham gia tố tụng giữ bí mật điều tra; nếu phát hiện vi phạm, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật
- Kiểm sát việc lấy lời khai, hỏi cung bị can dưới 18 tuổi phải theo đúng trình tự, thủ tục, thời gian, bảo đảm sự tham gia của người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 183, Điều 421, các điều luật khác có liên quan của BLTTHS năm 2015, Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi
và Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP
Trang 36ngày 01/01/2018 hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có
âm thanh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Theo đó, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ thời gian lấy lời khai người bị buộc tội và hỏi cung bị can dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 4, 5 Điều 421 BLTTHS, cụ thể: “Thời gian lấy lời khai người dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp Thời gian hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp phạm tội có tổ chức, để truy bắt người phạm tội khác đang bỏ trốn, ngăn chặn người khác phạm tội, để truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật chứng khác của vụ án, vụ án có nhiều
tính tiết phức tạp” [28]
Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 14 Thông tư liên tịch số VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 cũng quy định khá cụ thể về địa điểm và điều kiện nơi lấy lời khai, hỏi cung bị can dưới
06/2018/TTLT-18 tuổi: “Việc lấy khai Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng dưới 18 tuổi có thể thực hiện tại nơi học tập, lao động và sinh hoạt của người đó hoặc nơi tiến hành điều tra Việc hỏi cung bị can dưới 18 tuổi có thể thực hiện tại nơi cư trú của người đó hoặc nơi tiến hành điều tra Trường hợp lấy lời khai, hỏi cung tại nơi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử thì phải sắp xếp, bố trí phòng lấy lời khai, hỏi cung bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý người
Trang 37chọn người bào chữa thì Cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào
chữa theo quy định tại Điều 76 BLTTHS” [28] Việc tham gia tố tụng của
người bào chữa là bắt buộc trừ trường hợp người bị buộc tội dưới 18 tuổi và người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa Theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 thì “trường hợp đã thay đổi người bào chữa được chỉ định mà người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn từ chối người bào chữa quy định tại điểm a khoản 2 Điều này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối, đưa vào hồ sơ vụ án và chấm dứt
việc chỉ định người bào chữa” [10]
Ngoài sự tham gia của người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể đề nghị Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Bảo vệ quyền trẻ em, Trung tâm trợ giúp pháp lý, cơ quan, tổ chức khác nơi tiến hành tố tụng cử người tham gia tố tụng để hỗ trợ, bảo vệ cho người bị buộc tội dưới 18 tuổi không có gia đình, không có nơi cư trú ổn định hoặc khi xét thấy cần thiết
Trước khi lấy lời khai, hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi, cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung cho người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ KSV phải kiểm sát việc thông báo của CQĐT phải bằng văn bản, trong đó phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, điện thoại liên lạc của người ra thông báo và người được thông báo Ngoài ra, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 184 BLTTHS năm 2015, KSV kiểm sát việc Điều tra viên, Cán
bộ điều tra có giải thích quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, người đại diện của bị can hay không, đồng thời, phải kiểm sát kỹ lưỡng việc lập biên
Trang 38bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, theo đó, những người tham gia việc lấy lời khai hoặc hỏi cung đều phải ký tên vào biên bản, nếu người bào chữa được hỏi bị can thì trong biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi và trả lời của bị can
- Trong quá trình khởi tố, điều tra, Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc lập hồ sơ vụ án của điều tra viên, Cán bộ điều tra, bảo đảm từng trang tài liệu trong hồ sơ vụ án phải được đóng dấu bút lục của CQĐT, VKS kèm theo bản thống kê tài liệu Khi nhận được tài liệu liên quan đến vụ án do CQĐT chuyển đến, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính hợp pháp của tài liệu đó Trường hợp phát hiện tài liệu thu thập không đúng quy định của pháp luật hoặc không có giá trị chứng minh thì Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện đúng quy định của pháp luật Việc giao, nhận, đóng dấu và đánh số bút lục hồ sơ vụ
án trong giai đoạn điều tra, truy tố được thực hiện theo quy định tại Khoản 5 Điều 88 BLTTHS và hướng dẫn của liên ngành
2.1.3.2 Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Đối tượng của kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường là sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động của các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm như: Điều tra viên, Giám định viên, Kỹ thuật viên, và của những người có liên quan đến việc khám nghiệm như: Người làm chứng, người chứng kiến, người bị hại, bị can, lực lượng bảo vệ hiện trường
Trong quá trình thực hiện việc kiểm sát hiện trường, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động chụp ảnh, vẽ
sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình; xem xét tại chỗ và thu lượm dấu vết của tội phạm, tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc lập biên bản khám nghiệm hiện trường được lập theo quy định tại Điều 178 BLTTHS
2.1.3.3 Kiểm sát việc khám nghiệm tử thi
Đối tượng của kiểm sát hoạt động khám nghiệm tử thi là sự tuân thủ pháp
Trang 39luật trong hoạt động của các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm như Điều tra viên, Giám định viên kỹ thuật hình sự, Bác sỹ pháp y, và của những người
có liên quan đến việc khám nghiệm như người làm chứng, người chứng kiến, người bị hại, bị can, lực lượng bảo vệ hiện trường
Trong quá trình thực hiện việc kiểm sát tử thi, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc lực lượng khám nghiệm tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu vết để lại trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật phục vụ công tác trưng cầu giám định; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản KSV phải kiểm sát việc lập biên bản khám nghiệm tử thi theo quy định tại Điều 178 BLTTHS
2.1.3.4 Kiểm sát việc trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản
- Khi cần xác định tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án; Tuổi của bị can, bị cáo,
bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu
để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó; Nguyên nhân chết người; Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động; Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý,
đá quý, đồ cổ; Mức độ ô nhiễm môi trường hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định, cơ quan trưng cầu giám định phải giao hoặc gửi quyết định trưng cầu giám định,
hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định cho VKS có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra Kiểm sát viên đươc phân công thụ lý phải kiểm sát các nội dung trong Quyết đinh trưng cầu giám định như tên cơ quan
Trang 40trưng cầu giám định; họ tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định; Tên tổ chức; họ tên người được trưng cầu giám định; Tên và đặc điểm của đối tượng cần giám định; Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có); Nội dung yêu cầu giám định; Ngày, tháng, năm trưng cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định
- Yêu cầu định giá tài sản là hoạt động của Cơ quan tiến hành tố tụng khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự Kiểm sát viên chủ động kiểm sát chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục yêu cầu định giá tài sản theo quy định tại các Điều 215, 216, 217, 218, 219, 220, 221 và
222 BLTTHS Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ kết luận định giá tài sản, bảo đảm kết luận định giá tài sản khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng
cứ thu thập trong quá trình điều tra và đáp ứng được yêu cầu định giá tài sản
Trường hợp cần thiết, KSV tham dự phiên họp định giá tài sản nhưng phải thông báo trước cho Hội đồng định giá tài sản Khi tham dự phiên họp, KSV có quyền đưa ra ý kiến nếu được sự đồng ý của Hội đồng định giá tài sản
2.1.3.5 Kiểm sát việc thực nghiệm điều tra
Để kiểm tra, xác minh tài liệu, tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra có thể thực nghiệm điều tra bằng cách dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc những tình tiết khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết
Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc thực nghiệm điều tra theo quy định tại Điều 204 BLTTHS Theo đó, Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc thực nghiệm điều tra, kiểm sát việc Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động đo đạc, chụp ảnh, ghi hình, vẽ sơ đồ, ghi rõ kết quả thực nghiệm điều tra vào biên bản Trong quá trình kiểm sát, phải đảm bảo việc thực nghiệm điều tra không xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người tham gia thực nghiệm điều tra và người khác