1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh quảng nam

74 174 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 776,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện dưới góc độ kiểm sát từ giai đoạn tiếp nhận đến giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ CẨM GIANG

KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ CẨM GIANG

KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN

TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số : 8 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiêu cứu khoa học của riêng tôi Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện khoa học

xã hội Hà Nội

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Cẩm Giang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ 7

1.1 Khái niệm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố 7

1.2 Đặc điểm của hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội

phạm và kiến nghị khởi tố 11 1.3 Mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 16

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM 22

VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH QUẢNG NAM 22 2.1 Quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 22 2.2 Thực trạng hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo

về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 32

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 50

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 50 3.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 52

KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là giai đoạn

mở đầu cho các hoạt động tố tụng hình sự, là những căn cứ đầu tiên để Cơ quan điều tra (CQĐT) và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh Hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có vai trò quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm bởi có tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mới có căn cứ xác định được có hay không có tội phạm xảy ra, trên cơ sở đó, Cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hay không khởi tố

vụ án hình sự Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã ghi nhận Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,

cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Với chức năng là cơ quan kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp Một trong những hoạt động quan trọng của VKSND đó là kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Đây là hoạt động đòi hỏi phải thận trọng, theo sát để nắm chắc việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của CQĐT, đôn đốc CQĐT giải quyết

vụ án nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả và chính xác

Trước sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện, Nhà nước ta đang tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự là một trong những phương hướng, nhiệm vụ

Trang 7

công tác cải cách tư pháp Trên cơ sở đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015) có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/01/2018 đã có những quy định mới về nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Những quy định trên cần được nghiên cứu, làm rõ để áp dụng thống nhất trong thực tiễn

Trong thời gian qua, hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của VKSND tỉnh Quảng Nam đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hoạt động này vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc trong thi hành pháp luật, hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn của một số cán bộ, Kiểm sát viên (KSV) chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, mối quan hệ phối hợp giữa CQĐT và Viện kiểm sát (VKS) vẫn chưa hiệu quả, đôi khi còn hình thức dẫn đến chất lượng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chưa cao, tội phạm ẩn còn nhiều, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng

Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật và thực tiễn liên quan đến hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKSND để làm sáng tỏ về mặt khoa học, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này là rất cần thiết, có ý nghĩa về mặt pháp lý và

thực tiễn áp dụng Từ những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận

văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được công bố trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành và một số luận văn thạc sĩ Luật học

Có thể kể đến các bài viết, công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạo chí

như: Những vấn đề cơ bản về thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố

Trang 8

giác, tin báo về tội phạm của tác giả Bùi Mạnh Cường, Tạp chí Kiểm sát số 19/2017; Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giải quyết tin báo, tố giác tội phạm thực trạng và một số giải pháp của ThS Nông Xuân Trường; Hoàn thiện pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của tác giả Mai Thu Hằng, Báo Người đại biểu Nhân dân; Giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và chống oan, sai

của tác giả Đỗ Minh Tuấn;

Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như: Luận văn thạc sĩ Luật học

của tác giả Nguyễn Trung Hiếu “Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”, (Hà Nội, năm 2017); Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Hà Thị Thu Phương “Kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Yên Bái”, (Hà Nội, năm 2017); Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Trần Khánh Trường “Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Kiên Giang”, (Hà Nội, năm 2017); Luận văn thạc

sĩ Luật học của tác giả Dương Tiến Mạnh “Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác

về tội phạm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”, (Hà Nội, năm 2015)

Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích, làm rõ được những vấn đề liên quan đến hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện dưới góc độ kiểm sát từ giai đoạn tiếp nhận đến giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng như chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về những kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam và đưa

ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động này

Trang 9

Vì vậy, với tình hình nghiên cứu trên, một lần nữa khẳng định việc nghiên cứu

đề tài “Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” là

duy nhất và không trùng lặp với bất kỳ đề tài nào đã công bố trước đây

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tại tỉnh Quảng Nam, luận văn đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

và giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo

về tội phạm và kiến nghị khởi tố

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;

- Nghiên cứu, phân tích quy định pháp luật tố tụng hình sự về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và chức năng kiểm sát hoạt động này của VKSND

- Đánh giá thực trạng thực hiện chức năng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKSND tỉnh Quảng Nam, từ đó phần tích, làm rõ những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó trong thực hiện hoạt động này

- Đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát cho Ngành kiểm sát tỉnh Quảng Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình

sự và thực tiễn áp dụng trong hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác,

Trang 10

tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT, các cơ quan được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam có liên quan đến hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Bên cạnh vấn

đề lý luận và quy định của pháp luật, luận văn còn nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

- Về địa bàn và thời gian khảo sát: Đề tài nghiên cứu thực tiễn thực hiện hoạt động kiểm sát tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong phạm vi 05 năm (01/12/2013 – 30/11/2018), không khảo sát ở các tỉnh, thành phố khác

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKSND

Luận văn có sự kế thừa, tham khảo những kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến chức năng kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp như: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp lịch sử cụ thể Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp: Phương pháp so sánh, phương pháp thống kê…để làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn góp phần nhận thức toàn diện, sâu sắc hơn về chức năng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Trang 11

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng để kiến nghị các cơ quan chức năng hướng dẫn áp dụng pháp luật vào thực tiễn một cách thống nhất, đồng bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Bên cạnh đó, đây còn là nguồn tài liệu nghiên cứu, tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu khác, các cán bộ ngành Kiểm sát

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố

giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ

1.1 Khái niệm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

- Khái niệm tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có ý nghĩa quan trọng đối với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm và người phạm tội Ở phương diện điều tra khám phá tội phạm, tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là những thông tin ban đầu, có ý nghĩa rất lớn đối với các cơ quan có thẩm quyền để xem xét tính chất nghiêm trọng của sự việc, là căn cứ để CQĐT tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh theo luật định nhằm làm rõ tính có căn cứ và hợp pháp của các

tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; mở ra một giai đoạn mới trong tố

tụng hình sự là giai đoạn điều tra vụ án hình sự thông qua quyết định khởi tố vụ án

BLTTHS năm 2003 quy định về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố còn khái quát Vì vậy, để áp dụng đúng và thống nhất các quy định về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, ngày 02/8/2013 liên ngành Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 06 hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (TTLT 06/2013) Theo đó, tố giác tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết; Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành

vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan,

tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết; Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát

Trang 13

hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị CQĐT xem xét khởi tố vụ án

về vụ việc phạm tội mà mình biết cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết

Kế thừa các quy định của BLTTHS năm 2003 và TTLT 06/2013, BLTTHS năm

2015 đã quy định rõ khái niệm nguồn tin về tội phạm và khái niệm tố giác, tin báo

về tội phạm và kiến nghị khởi tố tại như sau [19, Điều 144]: Nguồn tin về tội phạm

gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện

Tố giác về tội phạm là việc cá nhân trực tiếp phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu phạm tội với cơ quan có thẩm quyền Pháp luật tố tụng hình sự không hạn chế chủ thể tố giác về tội phạm là công dân Việt Nam mà có thể là bất kỳ cá nhân nào Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân là những thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do các cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện hoặc cơ quan, tổ chức nhận được tố giác, tin báo của cá nhân và chuyển cho CQĐT có thẩm quyền Ngoài ra, tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng cũng là một trong những căn cứ để khởi tố vụ án hình sự

BLTTHS đã quy định tất cả các cơ quan nhà nước đều có quyền kiến nghị khởi

tố [19, Điều 5] Tuy nhiên, trong thực tiễn, các văn bản kiến nghị thông thường là

của cơ quan Thanh tra, Tòa án Đối với cơ quan Thanh tra: Trong quá trình thực

Trang 14

hiện nhiệm vụ thanh tra, nếu cơ quan Thanh tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm, thì trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, phải chuyển hồ sơ vụ việc đó và bản kiến nghị khởi tố đến CQĐT có thầm quyền để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết Đối với tòa án: Kiến nghị khởi tố được thể hiện bằng “Yêu cầu khởi tố

vụ án” của Hội đồng xét xử (HĐXX) [19, Điều 153] Không phải Toà án nói chung

mà chính HĐXX thông qua việc xét xử tại phiên tòa phát hiện tội phạm có thể ra

Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự [43]

Cơ quan nhà nước có thể là chủ thể của tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi

tố và việc phân biệt trường hợp nào cơ quan Nhà nước là chủ thể của tin báo về tội phạm và trường hợp nào là chủ thể của kiến nghị khởi tố là rất cần thiết Trong trường hợp thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, xét xử phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan, kèm theo văn bản kiến nghị khởi tố gửi đến CQĐT, VKSND cùng cấp đề nghị khởi tố vụ án thì lúc này Cơ

quan nhà nước là chủ thể kiến nghị khởi tố [43]

Trường hợp thông qua công tác quản lý hoặc công tác khác, Cơ quan nhà nước phát hiện vi phạm có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực mình quản lý thì cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết thì lúc này Cơ quan nhà nước là chủ thể tin báo về tội phạm

Như vậy, tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền; Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu của tội phạm

Tóm lại: Tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là những nguồn tin về tội phạm được pháp luật quy định do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp bằng các hình thức thông tin khác nhau cho cơ quan có thẩm quyền xem xét và xử lý

Trang 15

Qua các phân tích nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm sau: Tiếp nhận, giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là hoạt động đón nhận, kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án hình sự

- Khái niệm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Như đã đề cập trong phần mở đầu, VKSND có 02 chức năng đó là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất được quy định tại Điều 107 Hiến pháp 2013

và Đều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp, giám sát trực tiếp các hành vi, quyết định, hoạt động cụ thể của CQĐT, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra, Tòa án và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết

vụ án với mục đích nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt

động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [22]

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, thì “kiểm sát là kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước [39, tr.867] Theo đó, “kiểm sát” là hoạt

động kiểm tra, giám sát, với đối tượng kiểm tra, giám sát là việc chấp hành pháp luật

Theo quy định của pháp luật TTHS thì hoạt động “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS” của Viện kiểm sát nhằm kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật của

các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp theo quy định của BLTTHS hiện hành để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này Như vậy, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là hoạt động của VKSND để kiểm tra tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có

Trang 16

thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá

nhân khác theo quy định của pháp luật [12, tr.39]

Trên cơ sở sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố như sau:

Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị

khởi tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm tra tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác trong việc đón nhận, kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự hay tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin

và thống nhất [41]

Hiến pháp trao cho VKSND chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp

“VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [21] Kiểm sát

hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là Quốc hội giao cho VKSND nhằm bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động tư pháp hình sự, tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do

của con người, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm [42] Chức năng này của

VKSND đã được quy định xuyên suốt từ Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức VKSND năm 1960 Theo đó, ngoài chức năng thực hành quyền công tố, VKS còn

có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, các

cơ quan khác thuộc Chính phủ, cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế,

tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân

Trang 17

Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 vẫn khẳng định VKS là cơ quan

“bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”, nhưng phạm

vi hoạt động đã có sự thu hẹp Từ chỗ là nhân tố chính “bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”, thì nay hoạt động của VKS chỉ là

“góp phần” cho quá trình đó mà thôi và mô hình tổ chức cũng có sự thay đổi Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) thì phạm vi hoạt động của VKS chỉ còn “thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”

Tuy qua các thời kì, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND có những thay đổi nhưng về cơ bản Hiến pháp vẫn quy định cho VKSND hai chức năng đó là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Theo đó, khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKSND phải dựa trên các căn cứ pháp

lý tối thượng là Hiến pháp, BLHS, BLTTHS, Luật tổ chức VKSND và các văn bản pháp luật khác có liên quan để xem xét, bảo đảm sự tuân theo pháp luật của các chủ thể bị kiểm sát cũng như bảo đảm tính hợp pháp của chính các hoạt động kiểm sát của VKSND

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp tại Khoản 1 Điều 4 Như vậy, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố là một trong những nội dung đầu tiên trong hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND nhằm bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố được thực hiện đúng quy định của pháp luật

- Đối tượng và phạm vi của hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là hoạt động phát hiện vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý vi phạm của các

cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết nguồn tin ban đầu Do

đó, hoạt động tuân theo pháp luật trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố

Trang 18

giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS là đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Phạm vi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được bắt đầu từ khi Cơ quan có thẩm quyền điều tra tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi ra một trong các quyết định hoặc quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và ban hành thông báo kết quả giải quyết theo quy định tại Khoản 4 Điều 145 BLTTHS

Hệ thống pháp luật được sử dụng trong công tác kiểm sát tiếp nhận, giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trước hết đó chính là BLTTHS hiện hành quy định về trình tự tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan Ngoài ra còn có các quy định về nội dung như BLHS cũng đóng vai trò quan trọng mà các chủ thể giải quyết cần phải tuân theo

- Hình thức kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

VKSND kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát một cách liên tục, cụ thể và trực tiếp đối với những hoạt động tố tụng của các chủ thể có thẩm quyền trong quá trình kiểm tra, xác minh các nguồn tin về tội phạm Tính liên tục thể hiện ở chỗ VKS thực hiện quyền kiểm sát từ khi Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin, phân loại, xác minh cho đến khi nhận được thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố Tính cụ thể là việc VKS có quyền giám sát chi tiết, cụ thể từng hoạt động tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền một cách trực tiếp hoặc gián

tiếp [16] VKS thực hiện quyền giám sát hoạt động điều tra của CQĐT một cách

trực tiếp như việc kiểm sát các hoạt động: Khám nghiệm hiện trường, Khám

Trang 19

nghiệm tử thi hoặc gián tiếp như phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định gia hạn tạm giữ… VKS thực hiện quyền giám sát hoạt động điều tra của CQĐT từ trước đến nay vẫn được coi là một nguyên tắc trong tố tụng hình sự nhằm xác định được hoạt động điều tra được thực hiện đúng hay sai, có khách quan, đầy đủ không

Để thực hiện chức năng hiến định quan trọng này, pháp luật tố tụng hình sự trao cho VKS các quyền hạn nhất định trong hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin, đó là: Quyền giám sát, quyền yêu cầu, quyền hủy bỏ quyết định trái pháp luật của CQĐT, quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền

- VKS thực hiện quyền giám sát thông qua hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Theo quy định của pháp luật, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm có trách nhiệm vào sổ tiếp nhận, ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm và gửi cho VKS để thực hiện chức năng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm Ngoài ra, CQĐT có trách nhiệm báo cáo định kỳ việc tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm Quyền giám sát của VKS thể hiện rõ nhất trong việc kiểm sát các quyền năng và hành vi tố tụng của CQĐT bằng việc nhất trí hoặc không nhất trí với CQĐT thông qua việc phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; phê chuẩn, không phê chuẩn các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân và các quyết định khác của CQĐT trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định

- Trong quá trình kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu VKS phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm đầy đủ, đúng pháp luật; kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và thông báo kết quả cho VKS; cung cấp tài liệu liên

Trang 20

quan về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm người vi phạm; đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm thực hiện; yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự; yêu cầu thay đổi Điều tra viên (ĐTV), Cán bộ điều tra (CBĐT) CQĐT có trách nhiệm phải thực hiện các yêu cầu, quyết định của

VKSND [19, Điều 160]

- Quyền hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT là một quyền năng đặc biệt của VKS được pháp luật quy định Trên thực tế, VKS chỉ thực hiện quyền năng này khi đã thực hiện quyền giám sát, quyền yêu cầu nhưng không có hiệu quả

hoặc khi CQĐT không thể tự khắc phục được, BLTTHS quy định: Trong khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu thấy quyết định của CQĐT trái pháp luật, VKS có quyền ra Quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm và các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra [19, Điều 159]

- Chức năng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của VKS còn được thể hiện thông qua việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin tội phạm; và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của BLTTHS

Đây là các quyền độc lập của VKS nhưng có mối liên hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau Vì nếu chỉ có quyền giám sát mà không có quyền hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT thì quyền yêu cầu của VKS chỉ là hình thức; ngược lại, kết quả thực hiện quyền giám sát là tiền đề để VKS thực hiện quyền yêu cầu, quyền hủy bỏ Không phải lúc nào VKS cũng thực hiện đầy đủ các quyền năng trên, nhất

là khi hoạt động điều tra đã tuân thủ các quy định của pháp luật thì VKS chỉ thực hiện quyền giám sát đối với CQĐT; khi CQĐT tiến hành điều tra vụ án chưa đầy

đủ hoặc có hoạt động tố tụng không có căn cứ, VKS sẽ thực hiện cả quyền giám

Trang 21

sát, yêu cầu và hủy bỏ Nhưng về mặt pháp lý, VKS cần có đầy đủ các quyền năng trên mới có khả năng kiểm soát trực tiếp, toàn diện và hữu hiệu hoạt động điều tra

vụ án hình sự của CQĐT, góp phần quan trọng làm cho hoạt động điều tra tuân thủ các quy định của pháp luật, đồng thời phát huy được vai trò là cơ quan “quyết định việc buộc tội”, tăng cường trách nhiệm công tố trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố để hạn chế oan, sai, bảo đảm quyền, lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật

1.3 Mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Theo Từ điển tiếng Việt năm 2006, NXB Đà Nẵng, “mối quan hệ nghĩa là sự gắn liền chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn nhau về mặt nào đó giữa hai hay nhiều

sự vật với nhau” [14]

Mặc dù CQĐT và VKS có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng đều hướng đến mục tiêu chung của hệ thống TTHS là chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần bảo vệ chế

độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,

tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN Để thực hiện được mục tiêu chung đó, giữa CSĐT và VKSND phải có mối quan hệ tố tụng chặt chẽ Quan hệ tố tụng giữa CQĐT và VKS là mối quan hệ quan trọng trong tố tụng hình sự, là biểu hiện của nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động tố

tụng hình sự [25] Mối quan hệ này được hình thành ngay từ khi có tố giác, tin báo

về tội phạm và kiến nghị khởi tố, tồn tại trong toàn bộ quá trình điều tra (kể cả điều tra lại, điều tra bổ sung), nếu được vận hành tốt, nhịp nhàng, hiệu quả sẽ góp phần bảo đảm việc phát hiện tội phạm, điều tra, xử lý các vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, tiết kiệm thời gian, chi phí và vật chất trong hoạt động tố tụng hình sự

Mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là mối quan hệ phối hợp và chế ước lẫn nhau, phát sinh trong

Trang 22

quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật để hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhau trong quá trình tiếp nhận, giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, đảm bảo việc phát hiện tội phạm, điều tra, xử lý các vụ án hình sự kịp thời, công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm

1.3.1 Nội dung mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Giữa CQĐT và VKS luôn tồn tại mối quan hệ quan trọng, phức tạp và đặc thù,

đó là mối quan hệ phối hợp với nhau và chế ước lẫn nhau trên cơ sở quy định của pháp luật về chức năng nhiệm vụ của mỗi cơ quan và mục tiêu tố tụng nói chung Mối quan hệ này xuất hiện và được cụ thể hóa trong quá trình giải quyết các vụ án

cụ thể, bắt đầu từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Thể hiện qua quan hệ giữa Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT với Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND, giữa các ĐTV phân công thụ lý vụ án với KSV được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát vụ án

- Nội dung quan hệ phối hợp: Mối quan hệ phối hợp giữa VKS và CQĐT trước

hết được thể hiện thông qua việc định kỳ thông báo cho nhau về tình hình tội phạm và hoạt động của hai bên trong hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trao đổi trước với nhau về các quyết định khởi

tố, không khởi tố, quyết định gia hạn, tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin hay áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc quyết định tạm giữ; xây dựng kế hoạch, chuẩn bị nội dung và phương pháp tiến hành bảo đảm kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Trong công tác phối hợp, VKS cũng như CQĐT phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của BLTTHS, cân nhắc một cách toàn diện giữa yêu cầu chính trị, pháp luật, nghiệp vụ để phối hợp với nhau trong hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, không cản trở hoặc làm chậm tiến độ kiểm tra, xác minh nguồn tin BLTTHS 2015 đã có sự phân công rõ ràng, rành mạch về chức năng, nhiệm vụ giữa CQĐT và VKS trong tố tụng hình sự

Trang 23

Vì tầm quan trọng của việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và sự phối hợp giữa CQĐT, Cơ quan được giao thực hiện một số nhiệm vụ điều tra, VKS cần được duy trì thường xuyên, lâu dài, trên cơ sở quy định

rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan và hướng dẫn liên ngành Theo Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy định việc phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện quy định của

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính

01/2017), khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời theo trình tự, thủ tục của BLTTHS năm 2015 và quy định tại Thông tư liên tịch này; chỉ những cơ quan và người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mới được tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, người có thẩm quyền phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình Người làm trái pháp luật trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; cơ quan tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố về việc giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền,

lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa [5]

Như vậy, khái niệm phối hợp giữa VKS với CQĐT trong tố tụng hình sự là: Sự liên kết theo chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm giữa VKS với CQĐT nhằm mục đích phát hiện, khởi tố, điều tra và xử lý tội phạm theo đúng quy định của pháp luật

Trang 24

- Nội dung mối quan hệ chế ước: Trong tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành

tố tụng cũng có hoạt động giám sát, chế ước với các hình thức, mức độ khác nhau Trong đó, VKS giám sát, yêu cầu, hủy bỏ các quyết định, hành vi không có căn cứ, trái pháp luật của CQĐT và ĐTV nhằm đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đúng pháp luật VKS chế ước hoạt động điều tra ngay từ khi CQĐT bắt đầu thực hiện các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và được thực hiện trong suốt quá trình điều tra vụ án Để tạo cơ sở pháp lý cho VKS thực hiện vai trò “quyết định buộc tội”, BLTTHS năm 2015 bổ sung cho VKS nhiều chức năng, nhiệm vụ mới, đặc biệt là quy định VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật ngay

từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Những nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật trao cho VKS xét cho cùng là để VKS chủ động nắm chắc và kiểm sát chặt chẽ toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, đưa ra quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án chính xác, đúng tội, đúng pháp luật, thuyết phục, hạn chế oan, sai ngay từ những giai đoạn đầu của tố tụng hình sự

Tuy nhiên, quyền năng của VKS không phải là tuyệt đối đối với CQĐT Trong phạm vi quyền hạn của mình, CQĐT có thể thực hiện sự chế ước ngược lại đối với

Trang 25

VKS thông qua quyền kiến nghị, đề nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quan điểm đúng đắn trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Nếu giám sát là việc kiểm tra, theo dõi thì chế ước bao gồm cả kiểm tra, theo dõi và thực hiện các biện pháp khác nhằm bảo đảm hoạt động được thực hiện đúng quy định của pháp luật Đối tượng của sự chế ước chính là quyết định, hành vi của CQĐT và ĐTV trong quá trình tiến hành tố tụng, còn đối với những vấn đề khác của CQĐT như: Tổ chức, bộ máy của CQĐT hoặc những hoạt động khác không phải là tiến hành tố tụng (hành chính, dân sự, kỷ luật nội bộ ) thì không phải là đối tượng chịu sự điều chỉnh của VKS

Mối quan hệ giữa CQĐT và VKSND không chỉ tồn tại trong từng vụ án cụ thể

mà còn cần được duy trì thường xuyên, lâu dài, trên cơ sở quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan và hướng dẫn liên ngành về tổ chức xây dựng quan hệ giữa hai cơ quan trong tố tụng hình sự, đặc biệt trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1.3.2 Ý nghĩa của mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Các chế định tố tụng hình sự khác nhau thì yếu tố phối hợp hoặc chế ước cũng khác khau Do đó, khi điều tra, thu thập chứng cứ, tài liệu chủ yếu có sự phối hợp giữa CQĐT và VKS như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để bảo đảm CQĐT cần chủ động, nhanh chóng, kịp thời thu giữ các chứng cứ, tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị can Nhưng khi thực hiện các biện pháp tố tụng liên quan đến quyền con người thì việc chế ước rất chặt chẽ, như: Khởi tố bị can, bắt bị can để tạm giam đòi hỏi phải có sự phê chuẩn của VKS trước khi thi hành

Trong quá trình thực hiện mối quan hệ tố tụng này, CQĐT và VKS phải có sự cân bằng, linh hoạt giữa phối hợp và chế ước, nhất là đối với VKS Nếu VKS thực hiện sự phối hợp không đúng với bản chất của nó hoặc chỉ phối hợp mà không chế ước sẽ dẫn đến hiện tượng hữu khuynh, nể nang, né tránh hoặc phụ thuộc vào CQĐT hoặc không kiên quyết đấu tranh bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải vì thiếu bản lĩnh nghề nghiệp Hậu quả dẫn đến những thiếu sót, vi phạm của CQĐT, ĐTV

Trang 26

không được VKS, KSV yêu cầu khắc phục, bổ sung dẫn đến phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, vụ án bị đình chỉ hoặc bị Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội

Ngược lại, hiện tượng tả khuynh sẽ xảy ra nếu VKS chế ước không đúng hoặc chỉ có chế ước mà không có phối hợp Trên thực tế, một số KSV chỉ tìm những thiếu sót, sai phạm của ĐTV, CQĐT để báo cáo thành tích hoặc cho rằng đó là nhiệm vụ chính, mà không nhận thức được rằng KSV không thể đứng ngoài nhiệm

vụ của ĐTV mà phải cùng ĐTV tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để tìm kiếm chứng

cứ chứng minh và làm rõ sự thật của vụ án nhằm xử lý theo quy định của pháp luật

Do vậy, việc sử dụng đúng đắn, linh hoạt hai yếu tố phối hợp và chế ước giữa CQĐT và VKS trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự sẽ góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, đồng bộ trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm Đây là đặc điểm ưu việt của

hệ thống pháp luật và hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam, cần được kế thừa, phát huy trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay

Tóm lại, mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong tố tụng hình sự là sự phối hợp và chế ước của VKS với CQĐT cùng cấp và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ điều tra ban đầu trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, nhằm bảo đảm việc điều tra vụ án đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Tiểu kết chương 1

Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là tiền đề quan trọng của quá trình đấu tranh, phòng chống tội phạm, bảo đảm việc chống bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội Là cơ quan Hiến định, bên cạnh chức năng thực hành quyền công tố, VKSND được giao chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của CQĐT là một trong những hoạt động luôn được quan tâm, chú trọng CQĐT và VKS phối hợp chặt chẽ và bảo đảm sự chế ước của VKS đối với hoạt động điều tra của CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra theo quy định của pháp luật; bảo đảm việc phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đạt hiệu quả, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

Trang 27

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM

VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

2.1.1 Lịch sử phát triển của pháp luật quy định về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, nước ta xây dựng chính quyền, hệ thống

cơ quan tư pháp được hình thành trong đó có Viện công tố, chức năng của cơ quan công tố được quy định trong nhiều sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Từ năm 1945 đến năm 1958, cơ quan Công tố nước ta chưa được tổ chức thành một hệ thống cơ quan độc lập mà được đặt trong hệ thống cơ quan Tòa án, được giao thực hiện đồng thời hai chức năng là: Thực hành quyền công tố và giám sát các hoạt động tư pháp Đến ngày 29/4/1958, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khóa 1 đã thảo đề án của Chính phủ: Thành lập Tòa án tối cao và hệ thống tòa án, Viện công tố Trung ương và hệ thống viện công tố, cả hai cơ quan tách ra khỏi bộ Tư pháp, có nhiệm

vụ, quyền hạn ngang Bộ, trực thuộc Chính phủ Nghị định 256 của Chính phủ ngày 01/7/1959 quy định nhiệm vụ, tổ chức Viện công tố và hệ thống viện công tố gồm: Viện công tố Trung ương, Viện công tố địa phương các cấp, Viện công tố quân sự các cấp, được giao chức năng công tố, giám sát hoạt động tư pháp Tuy nhiên, đến năm 1959, mô hình Viện công tố chấm dứt, được thay thế bởi mô hình VKSND Giai đoạn năm 1959 – 1960, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới: Nhà nước ta vừa thực hiện nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc, vừa thực hiện nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội theo một kế hoạch thống nhất nhằm tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, cải cách bộ máy nhà nước Nhu cầu đặt ra là pháp luật phải được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất,

vì vậy cần một cơ quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật Trong tình hình đó,

Trang 28

việc cải cách cơ quan Công tố và thành lập VKSND trở thành yêu cầu khách quan, tất yếu Lần đầu tiên chế định VKSND được Hiến pháp năm 1959 quy định tại

Điều 105: “VKSNDTC nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ, Cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân Các VKSND địa phương, VKS quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi luật định” Tháng 7/1960, tại kỳ họp

thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa II đã thông qua Luật Tổ chức VKSND gồm 6 Chương, 25 Điều quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của VKSND và đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công

bố ngày 26/7/1960 Đây là một trong các đạo luật quan trọng, đánh dấu sự ra đời của VKSND trong bộ máy nhà nước ta Bộ công an và VKSNDTC đã ban hành Thông tư 427/TT-LB ngày 28/6/1963 quy định tạm thời một số nguyên tắc về quan

hệ công tác giữa VKSNDTC và BCA Chức năng kiểm sát tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phần nào đã được quan tâm

Sau chiến thắng lịch sử năm 1975, đất nước ta hoàn toàn thồng nhất, Quốc hội quyết định đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và dự thảo Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp năm 1959 Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ

7 Quốc hội khóa VI đã nhất trí thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam với quy định chức năng của VKS là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Giai đoạn này chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy

định một cách cụ thể, chặt chẽ về trình tự, thủ tục của hoạt động kiểm sát của VKS Đến năm 1988, BLTTHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam ra đời đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội đã có những quy định cụ thể trình tự, thủ tục tố tụng hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân

Trang 29

VKS với tư cách là một cơ quan tiến hành tố tụng đã được BLTTHS quy định rõ

nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 23 đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật TTHS, thực hành quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Tại BLTTHS năm 1988 cũng ghi nhận tố giác, tin báo về tội phạm và

nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Tuy nhiên, quy định này còn chung chung, chưa cụ thể và chưa có quy định nào về chức năng kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của VKS

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), BLTTHS năm

2003 tiếp tục ghi nhận hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND Bên cạnh đó, BLTTHS còn quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKS kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố tại Khoản 4 Điều 103 BLTTHS năm 2003 Trên cơ sở đó, ngày 02/8/2013 Bộ công an - Bộ quốc phòng- Bộ tài chính - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn - VKSND tối cao đã ban hành TTLT số 06/2013 TTLT 06/2013 có một số quy định hướng dẫn chi tiết về cơ quan tiếp nhận, giải quyết; nhiệm vụ, tổ chức tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Bên cạnh đó, tại Điều

11, 12 Thông tư còn quy định chức năng kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó

Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên [6] Tuy nhiên, BTTHS năm 2003 và

TTLT 06/2013 vẫn chưa quy định cụ thể, khó thực hiện, thiếu cơ chế kiểm soát, theo đó VKS chỉ thực hiện hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Đối với hoạt động tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm chưa được các nhà làm luật chú trọng đến mặc dù đây là hoạt động tư pháp rất quan trọng cần được kiểm sát để đảm bảo việc tuân theo pháp luật và tránh bỏ lọt tội phạm

2.1.2 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND 2014 về chức năng,

nhiệm vụ “thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND”,

Trang 30

BLTTHS năm 2015 đã có nhiều thay đổi so với BLTTHS năm 2003 Với 11 điều luật cụ thể, và 40 điều khoản sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2015 đã quy định đầy

đủ, rõ ràng, chi tiết hơn về nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục, phương thức, hoạt động kiểm sát trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc một cách kịp thời, nhanh chóng, đúng quy định pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội TTLT 01/2017 cũng quy định rõ nguyên tắc tiếp nhận, trách nhiệm tiếp nhận, thẩm quyền giải quyết, trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Thông tư 01/2017 không chỉ hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mà còn quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

2.1.2.1 Chủ thể kiểm sát

Theo Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định về chức năng, nhiệm vụ của VKSND, chủ thể thực hiện hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong BLTTHS năm

2015 không có sự thay đổi so với BLTTHS 2003, VKS vẫn tiếp tục giữ vai trò kiểm sát hoạt động này Tuy nhiên, nếu BLTTHS năm 2003 chỉ có duy nhất Khoản

4 Điều 103 quy định chung chung về chức năng kiểm sát việc giải quyết của CQĐT đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì BLTTHS năm 2015 đã tách Khoản 4 Điều 103 thành các điều khoản riêng biệt quy định đầy đủ, rõ ràng và chi tiết hơn về nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục, phương thức, hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cụ thể

quy định tại Điều 160 BLTTHS năm 2015 [19, Điều 260]

2.1.2.2 Đối tượng kiểm sát

- Kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Theo quy định tại Điều 145 BLTTHS 2015, TTLT 01/2017 quy định trách

Trang 31

nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc về CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS, Cơ quan, tổ chức khác BLTTHS 2015 cũng quy định mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cá nhân, cơ quan, tổ chức phải được Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời Không Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nào được quyền từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Trình tự, thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là cách thức tổ chức, thực hiện việc tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều

So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung Công an xã,

phường, thị trấn có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm [19, Điều 146] Quy định này xuất phát từ thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội

phạm, các tố giác, tin báo cần được tiếp nhận một cách kịp thời Thực tiễn nhiều vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra cần phải kịp thời được tiếp nhận để không bị xáo trộn, đảm bảo việc giải quyết sau này như hiện trường tai nạn giao thông, hiện trường trộm cắp tài sản

Trang 32

Với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan có thẩm quyền điều tra trong việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, KSV phải kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, phân loại của Cơ quan có thẩm quyền điều tra cùng cấp đối với các tố giác, tin báo về tội phạm, xác định được trình tự, thủ tục tiếp nhận tố giác tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các cơ quan có nhiệm

vụ theo quy định của pháp luật Nếu có những sai sót trong hoạt động này thì VKSND kịp thời ban hành kiến nghị, yêu cầu khắc phục Định kỳ, KSV phụ trách đối chiếu việc thụ lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của CQĐT, tránh tình trạng CBĐT vào sổ thụ lý không đầy đủ dẫn đến sai sót trong thống kê tội phạm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi báo cáo đến cấp trên trực tiếp và chính quyền địa phương cùng cấp Nếu việc phân loại của Cơ quan có thẩm quyền chưa chính xác, KSV phải báo cáo với Lãnh đạo Viện để trao đổi ngay với Cơ quan

có thẩm quyền khắc phục

Ngoài ra, trong quá trình kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố VKS còn phải kiểm sát việc chuyển các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến Cơ quan có thẩm quyền Trường hợp phát hiện vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết, KSV báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện có văn bản yêu cầu cơ quan đã tiếp nhận, đang tiến hành kiểm tra, xác minh chuyển vụ việc đến Cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thông báo đến VKS nơi tiếp nhận để thực hiện kiểm sát Chức năng kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của VKSND có ý nghĩa rất quan trọng, đảm bảo cho hoạt động

này được tiến hành đúng pháp luật và quyền lợi của công dân [33]

- Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Ngoài chức năng kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, VKS còn có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt đồng điều tra đối với tố giác, tin báo về

tội phạm và kiến nghị khởi tố [19, Điều 160]

Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu Nếu nguồn tin

Trang 33

thuộc thẩm quyền giải quyết, Thủ trưởng CQĐT trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, phân công ĐTV, CBĐT thuộc quyền thụ lý, giải quyết hoặc ra Quyết định phân công Phó Thủ trưởng CQĐT tổ chức, chỉ đạo thụ lý, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền

Đối với nguồn tin do Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết, cấp trưởng Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, phân công CBĐT thuộc quyền hoặc ra Quyết định phân công cấp phó trong việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền

Viện trưởng VKS trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên hoặc ra Quyết định phân công Phó Viện trưởng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản cho CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của CQĐT, Cơ quan được giao

nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, [37]

Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật TTHS là 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng Nếu chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định thì Viện trưởng VKS có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng Trong thời hạn trên, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt

Trang 34

động điều tra phải kiểm tra, xác minh CQĐT vẫn để kéo dài thời hạn thì VKSND cần có biện pháp nghiệp vụ cụ thể như kiến nghị, yêu cầu kiểm tra, xác minh để đảm bảo việc giải quyết được nhanh chóng, kịp thời

Trong hoạt động này, KSV cần lập kế hoạch theo dõi, kiểm sát chặt chẽ hoạt động giải quyết của ĐTV, CBĐT, nắm được nội dung cũng như tiến độ giải quyết của phía CQĐT Trong quá trình kiểm sát, KSV nghiên cứu hồ sơ phải đánh giá được việc thu thập chứng cứ dựa trên các nguồn là vật chứng, lời khai, lời trình bày, dữ liệu điện tử, kết luận giám định, định giá tài sản, biên bản hoạt động điều

tra, các tài liệu đồ vật khác [42] Khi thấy có vấn đề cần phải kiểm tra, xác minh

thêm, KSV chủ động đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh bám sát để kiểm tra tính xác thực của tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; thu thập, củng cố chứng cứ, tài liệu, đồ vật để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự để kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kịp thời, đúng hạn, chính xác, khách quan Yêu cầu kiểm tra, xác minh có thể được thực hiện nhiều lần, bằng văn bản hoặc bằng lời nói Văn bản yêu cầu kiểm tra, xác minh phải được đưa vào hồ sơ vụ việc và lưu hồ sơ kiểm sát Trường hợp ĐTV, CBĐT không nhất trí thì KSV yêu cầu ĐTV, CBĐT nêu rõ lý do

và báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, kiến nghị với Thủ trưởng CQĐT Trường hợp CQĐT không thực hiện được đầy đủ các yêu cầu kiểm tra, xác minh vì lý do khách quan thì KSV báo cáo Lãnh đạo Viện yêu cầu CQĐT nêu rõ lý

do trong văn bản thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm

Trường hợp phải áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì việc thi hành lệnh bắt phải tuân theo quy định tại Khoản 2 Điều

113 [19] KSV phải kịp thời theo dõi, đề xuất quan điểm đến lãnh đạo để phê

chuẩn hoặc không phê chuẩn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

- Kiểm sát kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Theo quy định của BLTTHS năm 2015, sau khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh nguồn tin, CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải ra một trong các quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định

Trang 35

không khởi tố vụ án hình sự; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

BLTTHS năm 2003 không quy định chế định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Vì vậy, khi kết thúc thời hạn giải quyết, CQĐT chỉ có một trong hai lựa chọn là ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Thực tiễn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cho thấy nhiều trường hợp phải chờ kết quả trưng cầu giám định, kết quả tương trợ tư pháp mới có thể xác định sự việc có hay không có dấu hiệu tội phạm để làm căn cứ ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án Vì vậy, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định về tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Đây là quy định hoàn toàn mới nhằm hạn chế việc kéo dài thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; là căn cứ pháp lý cho việc tạm dừng xác minh cũng như cơ sở cho việc phục hồi giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố sau này

Sau khi tiến hành các hoạt động thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng vẫn chưa đủ cơ sở để xem xét, “xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm”, thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp: a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả;

b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có

ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có

kết quả [19, Điều 148]

Đồng thời, khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra phải ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội

Trang 36

phạm, kiến nghị khởi tố, trong thời hạn không quá 01 tháng phải ra quyết định khởi

tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự kể từ ngày ra quyết định phục hồi Đối với giai đoạn này, KSV phải chủ động nắm chắc nội dung kiểm tra, xác minh, tiến độ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và yêu cầu ĐTV, CBĐT cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật để kiểm sát; kịp thời nghiên cứu, báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc giải quyết KSV phải kiểm sát chặt chẽ kết quả giải quyết của Cơ quan có thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật Kết thúc việc kiểm tra, xác minh, nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không ra một trong các quyết định quy định tại Khoản 1 Điều 147 BLTTHS thì KSV phải báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ban hành một trong các quyết định đó gửi kèm hồ sơ để kiểm sát kết quả giải quyết Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định kèm theo hồ sơ kết quả giải quyết, KSV phải báo cáo, đề xuất với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện hướng giải quyết theo quy định của BLTTHS, các quy định khác của pháp luật có liên quan Đối với quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có căn cứ và hợp pháp thì phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã ra quyết định biết

VKS phải theo dõi, kiểm sát chặt chẽ các căn cứ tạm đình chỉ, quản lý hồ sơ các

vụ việc tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và phối hợp với Cơ quan có thẩm quyền điều tra rà soát, báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn

vị, lãnh đạo Viện kịp thời xử lý khi lý do tạm đình chỉ không còn VKS tiếp tục kiểm sát toàn bộ quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

đã được phục hồi hoặc khi hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ, đồng thời kiểm sát thời hạn giải quyết tiếp đảm bảo công tác xác minh không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi hoặc quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ giải quyết Quy định mới này của BLTTHS năm 2015 đã giải quyết được vướng mắc về thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

KSV phải kiểm sát chặt chẽ việc gửi thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cho cơ quan, tổ chức, cá nhân KSV thụ lý

Trang 37

giải quyết vụ việc phải kịp thời phát hiện, theo dõi, tổng hợp vi phạm pháp luật trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, ĐTV, CBĐT để yêu cầu khắc phục; báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu Thủ trưởng, Cấp trưởng Cơ quan

có thẩm quyền điều tra xử lý nghiêm minh ĐTV, CBĐT vi phạm pháp luật Nếu vi phạm của ĐTV, CBĐT có dấu hiệu tội phạm thì lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra khởi tố vụ án hình sự; nếu có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thì báo cáo lãnh đạo VKSNDTC, lãnh đạo VKS quân sự trung ương để chỉ đạo CQĐT VKSNDTC, CQĐT VKS quân sự trung ương xem xét, giải quyết theo thẩm quyền KSV có trách nhiệm tổng hợp các vi phạm pháp luật của

Cơ quan có thẩm quyền điều tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan có thẩm quyền điều tra và người tham gia tố tụng, báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật và

xử lý nghiêm người vi phạm theo quy định của pháp luật [37]

Một điểm mới nữa so với BLTTHS năm 2003 đó là BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội

đã thực hiện thắng lợi kế hoạch công tác năm đã đề ra, không có trường hợp bắt oan, sai, tạm giữ, tạm giam quá hạn luật định; truy tố đúng hạn, đúng tội 100%, không để xảy ra trường hợp VKS truy tố Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội, chỉ tiêu công tác vượt so với quy định tại Nghị quyết của Quốc hội và chỉ tiêu của Ngành, tỉ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung thấp hơn tỉ lệ khống chế của Ngành Do

Ngày đăng: 02/07/2019, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w