1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng

89 103 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 898,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm các giai đoạn và ý nghĩa của định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm Trong lý luận hình sự Việt Nam, việc áp dụng các quy phạm PLHS được hiểu là một q

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH NHƯ THƯƠNG

ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM THEO

PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH NHƯ THƯƠNG

ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM THEO

PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số : 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS HỒ SỸ SƠN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Luận văn này chưa từng được

ai công bố trong các công trình khác

Tác giả luận văn

Huỳnh Như Thương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM 7

1.1 Cơ sở lý luận của định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm 7 1.2 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm 11 1.3 Các điều kiện đảm bảo định tội danh đúng các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI PHẠM VỀ

MA TÚY TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 31

2.1 Tình hình xét xử các vụ án về ma túy trong trường hợp đồng phạm tại thành phố Đà Nẵng 31 2.2 Thực tiễn định tội danh các tội phạm ma túy trong trường hợp đồng phạm tại thành phố Đà Nẵng 34 2.3 Những tồn tại, bất cập, vướng mắc trong định tội danh các tội phạm về

ma túy trong trường hợp đồng phạm và nguyên nhân 50

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH TỘI DANH ĐÚNG CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM

64 3.1 Tăng cường hoàn thiện pháp luật, giải thích pháp luật, tổng kết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật 64 3.2 Nâng cao năng lực chuyên môn, kiến thức pháp luật, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp đối với chức danh Tư pháp, đặc biệt đối với đội ngũ

Trang 5

Thẩm phán, tăng cường đầu tư kinh phí đáp ứng trang bị đầy đủ các trang thiết bị giám định ma túy 71 3.3 Các giải pháp khác bảo đảm định tội danh đúng 73

KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự BLHS : Bộ luật hình sự

LHS : Luật hình sự PLHS : Pháp luật hình sự TNHS : Trách nhiệm hình sự TTHS : Tố tụng hình sự

Trang 7

32

2.2

Mức độ tăng, giảm số vụ án, bị cáo phạm tội

về tội phạm ma túy có đồng phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (giai đoạn 2015 - 2018) so với năm 2015 là năm định gốc

32

2.3

Số liệu tương quan (tỉ lệ) qua xét xử tội phạm

về ma túy với số liệu tỉ lệ tương quan về các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm tại thành phố Đà Nẵng (giai đoạn 2015

- 2018)

33

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, vấn đề ma tuý đã trở thành vấn đề có tính toàn cầu, tất cả các Quốc gia đều phải đối mặt Việc sử dụng ma tuý đang ngày càng lan rộng trong xã hội, ở mọi tầng lớp dân cư, việc sản xuất, buôn bán ma tuý phổ biến khắp nơi trên thế giới, đã hình thành những tập đoàn buôn bán ma tuý lớn trên phạm vi toàn cầu

Ma tuý không những huỷ hoại sức khoẻ của nhân loại, mà còn ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, đe dọa an ninh, trật tự xã hội, đe dọa sự phát triển lành mạnh của con người và sự ổn định xã hội

Trước sự gia tăng đáng báo động của tội phạm ma túy Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh nhằm ngăn chặn và từng bước đẩy lùi loại

hiểm cùng những hậu quả to lớn tội phạm về ma túy gây ra, Chính phủ Việt Nam cũng đã tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh bằng việc tham gia ký kết hiệp định song phương và đa phương với nhiều nước và tổ chức trên thế giới trong công tác đấu tranh phòng, chống và kiểm soát

ma tuý

Trên tinh thần kế thừa các Bộ luật trước, BLHS Việt Nam hiện quy định các tội phạm về ma túy từ điều 247 đến điều 259 với khá nhiều điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng thể hiện xu hướng phát triển nhân đạo hóa, phân hóa và quốc tế hóa các quy định về tội phạm làm tiền đề cho định tội danh đúng, trong đó có định tội danh trong trường hợp đồng phạm Tuy nhiên, bởi đồng phạm là trường hợp đặc biệt của tội phạm, hơn nữa các tội phạm về ma túy có những hành vi đan xen, thường được thực hiện bởi nhiều người nên việc định tội danh gặp rất nhiều khó khăn Trong khi

đó định tội danh phải đảm bảo đúng tội, đúng người, đúng pháp luật

Nghiên cứu thực tiễn định tội danh các tội phạm về ma túy có tính chất đồng phạm tại thành phố Đà Nẵng trong những năm qua cho thấy bên cạnh những ưu điểm, còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa được giải quyết, hiệu quả định tội có lúc chưa

Trang 9

nhiều nguyên nhân khác nhau cần thiết phải được nghiên cứu và hoàn thiện

Từ những nhận thức trên, thấy rằng định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn, bởi lẽ nếu định tội danh đúng giúp công lý được thực thi nghiêm minh, nếu định tội danh sai sẽ làm oan người vô tội, thậm chí bỏ lọt tội phạm Đặc biệt các tội danh ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, liên quan đến tính mạng, sức khỏe, sinh mạng, danh dự, nhân phẩm con người Vì vậy quá trình định tội danh các tội phạm về ma túy đòi hỏi cần phải thận trọng, trung thực, khách quan, toàn diện có những nghiên cứu giải pháp đồng bộ, hoàn thiện cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn nhằm giúp cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có cơ sở pháp lý ổn định để định tội danh đạt kết quả cao hơn, đó cũng là yêu cầu trong chiến lược cải cách Tư pháp trong tình hình mới Xuất phát từ thực tế trên, bản thân tôi đã chủ

động nghiên cứu, lựa chọn đề tài “Định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp Cao học luật, chuyên ngành luật

hình sự và tố tụng hình sự

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, vấn đề định tội danh nói chung và định tội danh trong trường hợp đồng phạm đã được nhiều nhà luật học, nhiều chuyên gia trên thế giới đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, như: Kudrjavxev V.N: Lý luận chung về định tội danh, Mátxcơva, 1972; GS.TS Võ Khánh Vinh "Lý luận chung về định tội danh", Nxb khoa học xã hội, Hà Nội 2013

PGS.TS Dương Tuyết Niên: Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2004

Ngoài những vấn đề lý luận như khái niệm và ý nghĩa của định tội danh, cơ sở phương pháp luận định tội danh, cơ sở pháp lý của định tội danh, các giai đoạn của quá trình định tội danh các công trình nói trên ở những mức độ khác nhau có đề cập đến định tội danh trong trường hợp đồng phạm Đặc biệt công trình khoa học của GS.TS Võ Khánh Vinh đề cập sâu đến cơ sở của việc định tội danh trong

Trang 10

trường hợp đồng phạm, định tội danh hành vi phạm tội được thực hiện bằng đồng phạm Những tri thức được thể hiện trong các công trình nghiên cứu nói trên là tiền

đề quan trọng cho học viên thực hiện những vấn đề lý luận về định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm

Trong thời gian gần đây cũng đã công bố các luận văn thạc sỹ luật học về định tội danh một nhóm tội hoặc một tội Chẳn hạn, "Định tội danh tội cướp giật tài sản theo PLHS Việt Nam từ thực tiễn Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh" của Nguyễn Thủy Chung, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, 2018; "Định tội danh tội giết người theo PLHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định" của Bùi Kim Châu Nghĩa, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, 2017; "Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo PLHS Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội" của Nguyễn Duy Hùng, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, 2017 trong những công trình khoa học này có nội dung định tội danh trong những trường hợp đồng phạm, nhưng chủ yếu là nêu các

vụ án hình sự rồi phân tích nhận xét nêu phần lý luận thể hiện chưa được nhiều Cũng có một số ít luận văn đề cập nghiên cứu định tội danh một nhóm tội trong trường hợp đồng phạm, chẳn hạn như "Định tội danh trong trường hợp đồng phạm đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên" của Nguyễn Thanh Nga, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, 2017; "Định tội danh các tội phạm

về ma túy trong trường hợp đồng phạm theo PLHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình" của Đoàn Thị Thu, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, 2017

Ở những mức độ khác nhau, các công trình này đều nghiên cứu khái niệm, cơ

sở pháp lý, các yếu tố tác động đến định tội danh trong trường hợp đồng phạm, song

là đối với các tội phạm khác trên các địa bàn khác Riêng đối với luận văn Đoàn Thị Thu nghiên cứu quy định của BLHS năm 1999 về các tội phạm về ma túy và địa bàn nghiên cứu là tỉnh Hòa Bình Song những kiến thức của những công trình đó ít nhiều giúp học viên hoàn thành luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của định tội danh các tội

Trang 11

phạm về ma túy để đánh giá thực tiễn định tội danh các tội này trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất các giải pháp bảo đảm định tội danh đúng các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm trong thời gian tới

3.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Đi sâu phân tích cơ sở lý luận về định tội danh trong trường hợp đồng phạm như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở pháp lý của định tội danh và những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc định tội danh trong trường hợp đồng phạm

- Phân tích cơ sở pháp lý của định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm mà cụ thể là các quy định của BLHS năm 2015 Sữa đổi, bổ sung năm 2017 về các tội này

- Phân tích, đánh giá thực trạng định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, phân tích chỉ ra những ưu điểm, tồn tại, hạn chế bất cập và nguyên nhân

- Trên cơ sở đó rút ra các kết luận và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm định tội danh đúng các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm theo PLHS Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn lấy các quan điểm khoa học được nêu ra trong lý luận về tội phạm

và lý luận định tội danh; các quy định của BLHS năm 2015 về các tội phạm về ma túy, thực tiễn định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (giai đoạn 2015 - 2018) để nghiên cứu, phân tích,

tổng hợp những vấn đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài đặt ra 4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài luận văn được nghiên cứu theo chuyên ngành LHS và TTHS

- Các số liệu, vụ án hình sự được thu thập từ thực tiễn xét xử hình sự tại thành

Trang 12

5.2 phương pháp nghiên cứu

Luận văn còn vận dụng, sử dụng các phương pháp như: logic, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, diễn dịch, quy nạp, phân tích án điển hình để nghiên cứu đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Bởi những kết quả nghiên cứu nhất là giải pháp được luận văn đưa ra trong quá trình nghiên cứu đề tài, dựa trên cơ sở lý luận và hoạt động thực tiễn của Tòa án nên chúng sẽ góp phần tích cực vào việc nhận thức sâu hơn về định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đồng thời kết quả nghiên cứu còn phục vụ, cung cấp những thông tin cần thiết cho Tòa án và các cơ quan tham gia thực hiện quyền Tư pháp, cho những người làm công tác pháp luật áp dụng các quy định của BLHS 2015 Sữa đổi, bổ sung năm

2017 trong định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm để tham khảo, nghiên cứu, vạch ra đường lối, chủ trương, chính sách, cũng như triển khai các biện pháp điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm về ma tuý trong trường hợp đồng phạm ở nước ta

7 Kết cấu của luận văn

Bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết luận Luận văn được cấu

Trang 13

trúc, bố cục phân chia gồm 03 chương cụ thể như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp luật của định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm

Chương 2 Thực trạng định tội danh các tội phạm về ma túy trong các trường đồng phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Các giải pháp bảo đảm định tội danh đúng các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH TỘI DANH CÁC

TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM

1.1 Cơ sở lý luận của định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm

1.1.1 Khái niệm các giai đoạn và ý nghĩa của định tội danh các tội phạm về

ma túy trong trường hợp đồng phạm

Trong lý luận hình sự Việt Nam, việc áp dụng các quy phạm PLHS được hiểu

là một quá trình đa dạng và phức tạp được tiến hành qua các giai đoạn nhất định như: giải thích PLHS, xác định hiệu lực của văn bản pháp luật về không gian và thời gian, định tội danh, quyết định hình phạt…

Trong đó, định tội danh là một trong những giai đoạn cơ bản, một trong những nội dung chính của quá trình áp dụng pháp luật Định tội danh còn là tiền đề, cơ sở quan trọng trong việc áp dụng LHS, TTHS và các quy phạm PLHS khác

Theo quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh "Định tội danh là việc xác định

và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự"

[31, tr.9-10]

Định tội là hoạt động được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của TTHS, từ khi khởi tố vụ án cho tới khi xét xử sơ thẩm, thậm chí là xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm

Từ những phân tích khái quát nêu trên có thể thấy được định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm là việc chủ thể định tội danh xác định

và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa hành vi phạm tội ma túy cụ thể được thực hiện bởi đồng phạm với cấu thành tội phạm về ma túy được thực hiện bởi đồng phạm đã được ghi nhận trong quy phạm pháp luật hình sự, từ đó kết luận hành vi phạm tội ma túy cụ thể đó được thực hiện là tội gì ? thuộc trường hợp đồng phạm hay không phải là đồng phạm làm tiền đề cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình

Trang 15

sự về các tội phạm về ma túy

Tóm lại, định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm được xem là hoạt động áp dụng PLHS được thể hiện trên cơ sở xác định đầy đủ, chính xác, khách quan những tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện,

đó là những quy phạm PLHS được cụ thể hóa trong cấu thành tội phạm tương ứng nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu đặc trưng của một cấu thành tội phạm nhất định với các tình tiết cụ thể của từng hành vi phạm tội

1.1.2 Các giai đoạn của định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm

Từ khái niệm định tội danh, có thể xác định việc định tội danh các tội phạm về

ma túy trong trường hợp đồng phạm bao gồm ba quá trình:

Một là, xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành vi

phạm tội về ma túy được thực hiện bằng đồng phạm đã xảy ra trên thực tế Quá trình này bao gồm các hoạt động chứng minh và thực hiện các biện pháp tố tụng khác theo quy định của BLTTHS

Hai là, phải nhận thức đúng đắn các quy định của BLHS về yếu tố đồng phạm,

về cấu thành tội phạm tương ứng của tội phạm ma túy

Ba là, xác định sự phù hợp giữa hành vi phạm tội cụ thể được thực hiện và cấu

thành tội phạm tương ứng thuộc trường hợp đồng phạm

Ba quá trình trên được phân tích độc lập với nhau về mặt lý thuyết, nhưng trong thực tế nó liên quan chặt chẽ với nhau, quan hệ qua lại và hoà quyện với nhau thành một quá trình thống nhất được đồng thời thực hiện trong cả quá trình định tội

mà không tách rời nhau

Như vậy, định tội danh các tội về ma túy trong trường hợp đồng phạm xét đến cùng là hoạt động pháp luật, là giai đoạn của áp dụng PLHS và các pháp luật khác như pháp luật TTHS, pháp luật về tổ chức điều tra hình sự, luật phòng chống và kiểm soát ma túy Trong khi đó, áp dụng pháp luật là một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó định tội danh và quyết định hình phạt là các giai đoạn quan trọng, cơ bản của quá trình đó Vậy việc định tội bao gồm những nội dung gì

Trang 16

là một câu hỏi cần được xác định cụ thể Các tội phạm về ma tuý là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách

cố ý, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà Nước về các chất ma tuý Việc thực hiện đồng thời cả ba quá trình trong việc định tội nhằm đi đến những quyết định sau đây:

Hành vi được thực hiện có cấu thành tội phạm hay không Hay nói cách khác, người bị truy cứu TNHS có phạm tội hay không Trước hết cần xác định tội danh đối với hành vi phạm tội nhằm xác định xem người bị truy cứu TNHS phạm tội gì, điều luật nào của BLHS quy định về tội đó

Thực tế, một hành vi có thể cấu thành một tội phạm nhưng cũng có những trường hợp một hành vi cũng có thể cấu thành nhiều tội phạm riêng lẽ Thông thường nếu có sự tranh chấp về các cấu thành khác nhau về hành vi phạm tội thì chủ thể định tội danh cần dựa vào mối quan hệ giữa chúng (cái chung, cái riêng và cái đơn nhất) để xác định cụ thể cấu thành tội phạm nào cho phù hợp nhất với hành vi phạm tội được thực hiện để xác định tội danh tương ứng cho cụ thể Nếu đó là quan

hệ giữa cấu thành tội phạm cơ bản cái chung với cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS (cái riêng) thì định tội danh theo cấu thành riêng Nếu có sự tranh chấp giữa các cấu thành riêng với nhau tức cấu thành tội phạm cùng có dấu hiệu tăng nặng (hoặc cùng có dấu hiệu giảm nhẹ) thì xác định tội danh theo cấu thành nặng nhất (hoặc nhẹ nhất)

Nếu có sự tranh chấp giữa cấu thành riêng với nhau vừa có dấu hiệu tăng nặng đặc biệt, vừa có dấu hiệu giảm nhẹ đặc biệt thì xác định tội danh theo cấu thành giảm nhẹ hơn Thông thường tội phạm do các điều luật tương ứng của phần các tội phạm và ở phần chung quy định tại Điều 14 BLHS; Điều 15 BLHS và Điều 17 BLHS 2015 (Sữa đổi, bổ sung năm 2017) vv

Trái lại sau khi xác định tội danh được thực hiện theo điều luật nào của BLHS, chủ thể định tội tiếp tục xác định cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ (nếu có) đối với người phạm tội Để định tội danh theo cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ, trước hết hành vi của người phạm tội phải thoả mãn các dấu hiệu đặc

Trang 17

trưng của cấu thành cơ bản được quy định trong điều luật, rồi mới xác định có cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ hay không?

1.1.3 Ý nghĩa của định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm

Định tội danh đúng các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm có ý nghĩa sâu rộng đến tất cả các mặt của đời sống, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức và pháp lý rất lớn Thể hiện sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật, thể hiện ý chí của Nhân Dân

Định tội đúng sẽ loại trừ việc kết án vô căn cứ những người có hành vi không nguy hiểm cho xã hội, không trái PLHS và tạo tiền đề pháp lý cho việc quyết định hình phạt công bằng đối với những người phạm tội

Vì vậy, định tội danh đúng các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm có ý nghĩa rất lớn về mặt pháp lý, là điều kiện cần thiết và quan trọng của việc thực hiện chính sách pháp luật của nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm ma túy nói riêng nhằm bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của Đảng, của Nhà nước và của Công dân

Hậu quả của việc định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm rất phức tạp, nhưng hậu quả cơ bản nhất trong số đó là việc áp dụng hình phạt hoặc những biện pháp tác động khác do luật quy định Do đó, việc định tội danh ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Trường hợp định tội danh không đúng tác động đến việc quyết định hình phạt không công bằng đối với người phạm tội, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các các biện khác như áp dụng không có căn cứ hoặc không áp dụng một loạt các hạn chế pháp lý khác "quyết định hình phạt bổ sung", áp dụng hoặc không áp dụng đặc xá, miễn TNHS, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tính toán không đúng thời hiệu, án tích…vi phạm trực tiếp đến lợi ích hợp pháp của người bị kết án, ảnh hưởng đến quyền con người được hiến định trong Hiến pháp 2013

Nếu sai lầm khi định tội danh đối với hành vi người phạm tội có lỗi cấu thành tội phạm nghiêm trọng nhưng vì lý do gì đó đã tác động lại định tội nhẹ hơn so với

Trang 18

lỗi người phạm tội vì vậy khi định tội danh cần phải hết sức thận trọng, khách quan, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện, đầy đủ Nếu định tội danh sai vi phạm các nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc công bằng trong hoạt động tố tụng cần phải kiên quyết chống, loại trừ ra khỏi hoạt động Tư pháp

Định tội danh đúng còn có ý nghĩa làm cơ sở cho việc kết thúc điều tra, truy tố; là cơ sở để xác định các loại thẩm quyền; áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng (biện pháp ngăn chặn); áp dụng các thời hạn tố tụng giúp cho các hoạt động tố tụng được thực hiện đúng đắn, bảo đảm lợi ích công dân

Từ góc độ thực tiễn, định tội danh đúng các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm giúp cho việc thống kê, xác định chính xác tình hình tội phạm về

ma túy để trên cơ sở đó đánh giá chính xác tình hình tội phạm nói chung và tình hình các tội phạm về ma túy nói riêng, từ đó khắc phục những tồn tại nhằm đưa công tác xét xử đi vào trọng tâm của chiến lược cải cách Tư pháp

1.2 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm

1.2.1 Các quy phạm PLHS được áp dụng trong khi định tội danh

BLHS 2015 được hiểu gồm hai phần là quy phạm pháp luật phần chung và quy phạm pháp luật phần riêng Trong đó phần chung nêu nhiệm vụ, nguyên tắc, chế định cơ bản của LHS Việt Nam, không nêu dấu hiệu cụ thể của bất kỳ hành vi phạm tội nào

Phần các tội phạm nêu mô hình cụ thể của tội phạm và chế tài tương ứng đối với mỗi tội phạm được quy định đó Cả hai phần (Phần chung và phần riêng) của BLHS có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó liên hệ mật thiết với nhau, bổ trợ cho nhau không thể thiếu trong quá trình định tội danh với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để truy cứu TNHS với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật Hình sự

Việc áp dụng phần các tội phạm cụ thể cần phải dựa trên các nguyên tắc, các luận điểm chung được quy định ở phần chung của BLHS Tình tiết đó phải được cân nhắc khi tiến hành định tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội Trong hoạt động Tư pháp, định tội có nghĩa là lựa chọn một quy phạm pháp luật cụ thể mà nó

Trang 19

đề cập tới trường hợp cụ thể nào đó Quy phạm PLHS phần các tội phạm quy định TNHS đối với mỗi hành vi phạm tội

Như vậy, khi tiến hành định tội danh đối với mỗi hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải căn cứ vào cả quy định phần chung và quy định phần các tội phạm của BLHS, đồng thời phải kết hợp viện dẫn một cách chính xác và đầy đủ điều, khoản, điểm hay một số điều luật liên quan, bao quát được toàn bộ hành vi nguy hiểm cho

xã hội được nêu trong phần các tội phạm của BLHS

Khi áp dụng quy phạm pháp luật cần đặc biệt chú ý tới hiệu lực của điều khoản được viện dẫn về không gian và thời gian Để định tội danh trước hết, căn cứ chủ yếu vào BLHS năm 2015 (Sữa đổi, bổ sung năm 2017) các quy phạm pháp luật hiện tại được áp dụng khi định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm được nhà làm luật quy định cả ở phần chung lẫn cả ở phần các tội phạm cụ thể của BLHS, trong số đó có thể kể đến: Điều 2 BLHS năm 2015 "cơ sở của trách nhiệm hình sự"; Điều 3 "nguyên tắc xử lý"; các điều 5, 6 và 7 BLHS năm 2015 về "hiệu lực của BLHS"; Điều 8 "khái niệm tội phạm"; Điều 12 "tuổi chịu trách nhiệm hình sự"; Điều 14 "chuẩn bị phạm tội"; Điều 15 "phạm tội chưa đạt"; Điều 16 "tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tội"; Điều 21 "tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự"; Điều 27 "thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự"vv ; các điều luật được quy định tại chương XX BLHS năm 2015

Việc định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm ngoài các quy định được ghi nhận trong BLHS năm 2015, còn phải kết hợp với các văn bản hướng dẫn dưới luật như thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSND-TANDTC ngày 24/12/2007, Thông tư liên tịch 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015; Các Nghị quyết của Quốc hội; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định Chính phủ ban hành (kèm theo danh mục các chất

ma túy và tiền chất ma túy)

1.2.2 Cấu thành tội phạm - mô hình pháp lý của định tội danh các tội phạm

về ma túy trong trường hợp đồng phạm

Bản chất của quá trình định tội là quá trình tìm sự giống nhau giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được xác định với các dấu hiệu tương ứng của cấu

Trang 20

thành tội phạm do BLHS quy định Do vậy, cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của việc xác định một hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra trong thực tế là tội phạm, vì PLHS quy định cấu thành tội phạm mà nhờ đó ta xác định được sự phù hợp của các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được coi là cơ sở thực tế của việc định tội

Với ý nghĩa là cơ sở pháp lý của việc định tội danh, xác định tội phạm trước hết phải thõa mãn yếu tố khách thể theo điều 8 BLHS năm 2015 Theo đó điều luật quy định, liệt kê tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS ; đồng thời xác định tội phạm là một thể thống nhất gồm bốn yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm Các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, thế nhưng mỗi yếu tố lại có ý nghĩa riêng và có thể tách ra nghiên cứu một cách độc lập tương đối trong mối quan hệ với các yếu tố khác Vì vậy, trong khoa học pháp lý hình sự khi nghiên cứu quá trình định tội danh người ta tách riêng xem xét việc định tội danh theo từng nhóm dấu hiệu nêu trên của tội phạm

Theo truyền thống, việc định tội danh các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm được tiến hành theo các nhóm yếu tố đặc trưng của cấu thành tội phạm cụ thể Định tội danh theo các nhóm yếu tố khách quan của tội phạm (khách thể và mặt khách quan) và định tội theo các nhóm yếu tố chủ quan của tội phạm (chủ thể và mặt chủ quan)

Cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS là cơ sở pháp lý duy nhất của việc định tội Khi định tội danh, chủ thể chỉ việc lấy các quy định của BLHS làm căn cứ duy nhất để so sánh với hành vi phạm tội đã được thực hiện trên thực tế Xét khía cạnh các tội phạm về ma túy thì so với các loại tội phạm khác được quy định trong BLHS năm 2015, tội phạm ma túy là loại tội phạm phát sinh muộn hơn so với một số tội phạm khác Nhưng tội phạm ma túy, lại phát triển nhanh cả về

số lượng và quy mô cũng như tính chất và mức độ nguy hiểm cao cho xã hội, không những gây ra những thiệt hại to lớn cho lợi ích của nhà nước và xã hội, của công dân mà còn làm băng hoại đạo đức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức

Trang 21

khỏe của con người, ảnh hưởng tới việc phát triển giống nòi, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội

Như vậy, tội phạm ma túy được hiểu đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS, thực hiện có lỗi, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, sử dụng các chất ma túy của Nhà nước, từ đó gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội

Khi nói đến tội phạm bao giờ cũng là một thể thống nhất gồm bốn yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan Các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, thế nhưng mỗi yếu tố lại có ý nghĩa riêng và có thể tách ra nghiên cứu một cách độc lập tương đối trong mối quan hệ với các yếu tố khác Vì vậy, trong khoa học pháp lý hình sự khi nghiên cứu quá trình định tội danh người ta tách riêng xem xét việc định tội danh theo từng nhóm dấu hiệu nêu trên của tội phạm, xem xét các dấu hiệu tương ứng đã được mô tả trong cấu thành tội phạm tại phần các tội phạm cụ thể tại chương XX của BLHS 2015

Căn cứ vào các nhóm quan hệ xã hội khác nhau được LHS bảo vệ BLHS đã phân tội phạm thành các nhóm, quy định tại các chương của BLHS với các cấu thành tội phạm cụ thể Trong đó cấu thành tội phạm của các tội phạm về ma túy cũng có những đặc điểm chung như các tội phạm khác được quy định như sau:

* Khách thể của các tội phạm về ma tuý

Ma túy là loại độc dược gây nghiện cho người sử dụng các chất ma túy Con người chỉ cần sử dụng một vài lần chất ma túy hoặc chất hướng thần sẽ bị mắc nghiện, có nhu cầu đòi hỏi thường xuyên với liều lượng ngày một nhiều hơn, nếu không có biện pháp quản lý triệt để sẽ tác động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự và ma túy được xem là cội nguồn của các tội phạm khác Chính

vì vậy, Nhà nước cần phải độc quyền quản lý, nghiêm cấm việc trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy Nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt các chất ma túy, cũng như các tiền chất ma túy dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy Điều 8 BLHS 2015 quy

Trang 22

định cụ thể chi tiết về khách thể chung của tội phạm được LHS Việt Nam bảo vệ

Do vậy, khách thể tội phạm ma túy được hiểu đó là đã xâm phạm tới chính sách chế độ độc quyền quản lý, sử dụng của Nhà nước về ma túy, về hành vi đã phạm vào các điều quy định tại chương XX BLHS 2015 đó là các chất ma túy, tiền chất ma túy và các vật dụng phục vụ sản xuất, vận chuyển, tiêu thụ và việc sử dụng trái phép chất ma túy Hiện chúng ta xác định các chất ma túy, các chất hướng thần

và các tiền chất ma túy dựa trên cơ sở tham khảo các bảng quy định về các chất ma túy và các chất hướng thần chủ yếu theo quy định BLHS và danh mục các chất ma túy, tiền chất ma túy do Chính phủ ban hành

Đối tượng tác động của tội phạm là các chất ma túy như thuốc phiện; lá, rễ, thân, cây, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca ; Hêrôin ; côcain ; Methamphetamine ; Amphetamine ; MDMA và các tiền chất để sản xuất ra chất ma tuý (quy định BLHS, danh mục về chất ma túy và tiền chất ma túy tại NĐ/82/2013/ NĐ-CP ngày 19/7/2013; NĐ126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015 và mới đây chính phủ ban hành Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 sữa đổi, bổ sung một số quy định các chất ma túy và tiền chất ma túy) Theo quy định của BLHS 2015 thì thấy hầu hết các tội phạm về ma túy đều được quy định là những tội có cấu thành hình thức Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan

* Mặt khách quan của các tội phạm về ma tuý

Hành vi khách quan của các tội phạm về ma túy Đó là những hành vi thực hiện những điều mà Nhà nước cấm các cá nhân làm hoặc có thể là những hành vi của những người có trách nhiệm được Nhà nước giao đã không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc làm những việc ngoài phạm vi những quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy Tùy thuộc vào từng tội danh cụ thể được quy định tại chương XX BLHS năm 2015 mà đó có thể là hành vi trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần

sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy; sản xuất trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy, chiếm đoạt chất ma túy; tàng trữ, vận chuyển mua bán hoặc chiếm đoạt chất ma túy dùng vào việc sản xuất

Trang 23

trái phép chất ma túy; sản xuất, tàng trữ vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy vv Tất cả các dạng hành vi nguy hiểm cho xã hội nêu trên được thực hiện bằng hành động, tức người phạm tội làm một việc mà pháp luật hình sự cấm làm Một số tội phạm về ma túy có cấu thành vật chất, tức người phạm tội chỉ cần thực hiện hành vi mô tả trong cấu thành tội phạm cơ bản là tội đã hoàn thành và đã có tội

Cần lưu ý rằng, đối với các tội phạm về ma túy có cấu thành vật chất, khi không có dấu hiệu hậu quả thể hiện ở số lượng gam chất ma túy, số lượng cây có chứa chất ma túy, tiền chất ma túy ở thể lỏng hoặc thể rắn vv , thì vẫn cấu thành tội phạm nếu có một trong các dấu hiệu định tội khác như đã bị xử phạt hành chính

về hành vi đó hoặc đã bị kết án nhưng chưa xóa án tích Ngoài cấu thành tội phạm

cơ bản, nhà làm luật còn xây dựng các cấu thành tội phạm tương ứng

* Chủ thể của các tội phạm về ma túy

Chủ thể của các tội phạm về ma túy là các cá nhân Năng lực TNHS của người

thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở việc người đó có khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi

Người có năng lực TNHS là người có một trong hai yếu tố trên Như vậy thiếu một trong hai yếu tố thì người thực hiện hành vi nguy hiểm vẫn phải chịu TNHS Các tội phạm ma túy thì chỉ có tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 247) thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, về độ tuổi theo quy định tại Điều 12 BLHS về tuổi chịu TNHS, thì chủ thể của hai tội phạm này chỉ có thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên Còn 12 điều luật quy định các tội phạm về ma túy còn lại đều là các tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, do vậy nếu người phạm tội bị truy tố theo khoản 2 của các tội này thì chủ thể của tội phạm có thể là những người có từ đủ 14 tuổi trở lên Theo quy định tại Điều 12 BLHS 2015, trong nhóm các tội phạm về ma túy thì người từ đủ 14 trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi chỉ phải chịu TNHS đối với các tội danh sau: tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249); tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250); tội mua bán trái phép chất ma túy

Trang 24

(Điều 251); tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252) Riêng Điều 259 quy định "tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần" thì chủ thể của tội phạm còn có dấu hiệu quy định là người có trách nhiệm trong công tác này (chủ thể đặc biệt)

* Mặt chủ quan của các tội phạm về ma túy

Nội dung của mặt chủ quan của tội phạm thể hiện quan hệ tâm lý của bị cáo đối với hành vi nguy hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà y thực hiện Tùy thuộc vào tội phạm cụ thể mà Mặt chủ quan của các tội phạm về ma túy

có lỗi (cố ý hoặc vô ý), động cơ và mục đích phạm tội Phản ánh mối liên hệ giữa ý thức và ý chí của người phạm tội với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó thực hiện Hình thức lỗi cố ý hay vô ý là sự kết hợp giữa nhận thức và ý chí đối với hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm Khi định tội danh theo mặt chủ quan cần xác định nội dung yếu tố lý trí và ý chí đối với loại hành vi phạm tội cụ thể

Khi xây dựng cấu thành tội phạm loại này hay loại khác, người làm luật đưa vào trong nội dung mặt chủ quan của tội phạm quan hệ tâm lý của bị cáo đối với tất

cả các tình tiết thực tế mà những tình tiết ấy cũng được người làm luật nêu trong nội dung của khách thể và mặt khách quan của tội phạm Khi định tội danh nếu có sự trùng hợp giữa các tình tiết thực tế của hành vi nguy hiểm cho xã hội với các dấu hiệu nói về mặt chủ quan của tội phạm thì không được định tội danh hành vi đó như một tội phạm thuộc dạng trên

Tất cả những gì được nêu trong cơ cấu của khách thể và mặt khách quan tội phạm cần được phản ánh trong nội dung chủ quan của tội phạm Mặt chủ quan của tội phạm được xác định thông qua yếu tố khách quan

Mỗi một loại hành vi đều thông qua động cơ hoặc mục đích nào đó của con người quyết định Đây là những dấu hiệu bắt buộc nằm trong nội dung của mặt chủ quan của tội phạm

Động cơ, mục đích có ý nghĩa pháp lý khác nhau trong định tội Đó có thể là dấu hiệu của tội phạm; cũng có thể chỉ là dấu hiệu định khung hay có ý nghĩa quyết định hình phạt Riêng các tội phạm về ma túy đa số đều phạm tội theo lỗi cố ý trực

Trang 25

tiếp Riêng người phạm tội vào các tội quy định tại Điều 256 và điều 259 BLHS

2015 có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp

Các tội phạm về ma túy là nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao, là những tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, do vậy ngoài cấu thành tội phạm cơ bản, nhà làm luật còn quy định các cấu thành tội phạm tăng nặng, tức những cấu thành tội phạm mà trong đó có những tình tiết trên hoặc thuộc về hành vi hoặc thuộc về nhân thân người thực hiện hành vi làm cho mức đọ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cao hơn cần xử lý nghiêm khắc hơn Chính vì vậy, trong 13 điều luật quy định các tội về ma túy thì có ba điều luật

có quy định mức hành phạt cao nhất là chung thân hoặc tử hình (Điều 248, 250, 251), sáu điều luật quy định mức hình phạt cao nhất là từ hai mươi năm tới tù chung thân (Điều 249,252, 253, 255, 257, 258), một điều luật có mức hình phạt quy định cao nhất là đến mười lăm năm (Điều 256), hai điều luật có mức còn lại có mức hình phạt cao nhất là 15 năm (Điều 254, 259), một điều luật quy định hình phạt thuộc trường hợp nghiêm trọng hình phạt cao nhất tới 07 năm Bên cạnh những hình phạt chính rất nghiêm khắc, đối với các tội phạm về ma túy, BLHS còn quy định hình phạt bổ sung như phạt tiền với mức thấp nhất là năm triệu đồng và cao nhất là tới

500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm những chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm So với BLHS năm 1985 thì hình phạt bổ sung đối với các tội phạm về ma túy là bắt buộc song theo quy định của BLHS năm 1999 và BLHS 2015 thì hình phạt bổ sung được quy định không phải là bắt buộc, mà có thể áp dụng hoặc không áp dụng tuỳ theo từng trường hợp

cụ thể

1.2.3 Các dấu hiệu của đồng phạm theo BLHS Việt Nam năm 2015

Điều 17 BLHS 2015 quy định đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên

cố ý cùng thực hiện tội phạm Cũng như các tội phạm khác thì để xác định đồng phạm ở các tội phạm về ma túy, thì cũng áp dụng tương tự cần căn cứ vào các dấu hiệu khách quan cũng như mặt chủ quan của tội phạm

Trang 26

Căn cứ khách quan ở đây được thể hiện ở việc, phải có sự tham gia của hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm và những người đồng phạm phải có cùng hành vi phạm tội, hành vi của mỗi người được thực hiện không phải là biệt lập

mà nằm trong sự liên kết, hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một tội phạm nhất định và để đạt được hiệu quả thống nhất

Trong đồng phạm các hành động của những người phạm tội thông thường được bổ trợ cho nhau, có mối quan hệ khăn khít, chặt chẽ nằm trong khuôn khổ một hành vi phạm tội, mặc dù hành động cụ thể của những người trong đồng phạm có thể khác nhau

về tính chất và mức độ Chính vì vậy, hậu quả trong đồng phạm là kết quả của tất cả các hành vi của những người tham gia, hành vi của mỗi người đều có mối quan hệ nhân quả với hậu quả chung của tội phạm Xác định mối quan hệ biện chứng, nội tại tất yếu, bản chất bên trong giữa hành vi của từng người tham gia với hậu quả chung của đồng phạm khác với trường hợp phạm tội riêng lẻ Đối với các tội phạm về ma túy, người tổ chức là người trực tiếp thực hiện các hành vi khách quan được quy định trong cấu thành các tội phạm về ma túy, có thể vừa là vai trò người tổ chức, vừa là người cầm đầu, chỉ huy, điều hành hoạt động của cả đường dây buôn bán ma túy Còn hành vi của những người đồng phạm khác (người thực hành, xúi giục, giúp sức) phải được xem xét căn cứ vào hành vi của người thực hành

Về căn cứ chủ quan, trong đồng phạm những người trong đồng phạm phải cùng cố ý, tức là mỗi người trong đồng phạm đều phải có thái độ cố ý đối với hành

vi tham gia thực hiện tội phạm của mình, đều biết và mong muốn những người đồng phạm cùng hành động với mình Như vậy đồng phạm chỉ có ở hình thức lỗi cố ý

Cố ý trong đồng phạm thể hiện ở các nội dung sau:

Về lý trí, mỗi người đồng phạm đều nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của mình, nhận thức được tính chất nguy hiểm của những người đồng phạm khác, thấy trước việc gây ra hậu quả chung

Về ý chí, những người đồng phạm đều mong muốn cùng thực hiện tội phạm

và đều mong muốn hậu quả chung của tội phạm xảy ra, có ý kiến cho rằng đồng phạm đều có ý thức để mặc cho hậu quả của tội phạm xảy ra Trong tội phạm về ma

Trang 27

túy thì tất cả các tội phạm đều được thực hiện do lỗi cố ý, do vậy đều có thể xuất hiện đồng phạm

Đồng phạm là một hình thức phạm tội đặc biệt có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với những trường hợp phạm tội riêng lẻ đối với cùng một tội danh, được biểu hiện ở sự tham gia tội phạm của nhiều người và hành vi của họ có thể gây ra những thiệt hại lớn cho các quan hệ xã hội mà LHS bảo vệ

Về nguyên tắc, những người tham gia đồng phạm phải chịu TNHS đối với tội

mà họ cùng tham gia Điều 58 BLHS 2015 quy định: “Khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, phải xét đến tính chất đồng phạm, tính chất và mức

độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc loại trừ TNHS riêng cho người đồng phạm nào phạm tội thì chỉ áp dụng đối với người đó” Nhưng mức độ tham gia của từng người khác nhau, mặc dù về phương diện chủ quan họ đều có những đặc điểm giống nhau, nên LHS căn cứ vào những đặc điểm khách quan để phân biệt các loại người trong đồng phạm như: ngư-

ời thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức Trên cơ sở phân biệt này mà áp dụng TNHS đúng với mức độ hành vi của từng người tham gia Khi xác định TNHS của những người đồng phạm đối với các tội phạm về ma túy, cần tuân thủ nguyên tắc xử lý được quy định tại điều 03 BLHS, cùng với nguyên tắc TNHS đối với đồng phạm Ngoài những nguyên tắc chung, thực tiễn áp dụng PLHS nước

ta đã thừa nhận một số nguyên tắc có tính riêng biệt sau:

Nguyên tắc thứ nhất, tất cả những người trong đồng phạm phải chịu trách

nhiệm chung về toàn bộ tội phạm Trong đồng phạm mỗi người tham gia đều có ý thức lựa chọn việc tham gia phạm tội cùng với những người đồng phạm khác và đều thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi của mỗi người đồng phạm đều góp phần gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ; tất cả những người đồng phạm đều phải chịu TNHS về cùng một tội danh, theo cùng một điều luật và trong phạm vi chế tài mà điều luật ấy quy định; những tình tiết định khung, tăng nặng giảm nhẹ TNHS liên quan đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho

xã hội của tội phạm mà những người đồng phạm nhận thức được đều được áp dụng

Trang 28

đối với những người đó

Nguyên tắc thứ hai, những người tham gia đồng phạm trong các tội phạm phải chịu TNHS độc lập về việc đã cùng thực hiện tội phạm Theo đó các tội phạm về

ma túy cũng áp dụng tương tự như vậy Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm cho rằng TNHS là trách nhiệm cá nhân, mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm mà họ cùng thực hiện với những người đồng phạm khác, song việc xác định TNHS đối với mỗi người đồng phạm vẫn phải căn

cứ vào hành vi cụ thể của từng người Nguyên tắc này thể hiện:

Thứ nhất, những người đồng phạm không phải chịu TNHS về hành vi vượt

quá của người khác Hành vi vượt quá của một người được hiểu là hành vi mà người đó thực hiện vượt ra ngoài ý định của những người đồng phạm khác Hành vi

đó có thể cấu thành một tội độc lập khác hoặc cấu thành một khung hình phạt tăng nặng khác

Thứ hai, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ riêng cho người đồng phạm nào

thì chỉ áp dụng đối với người đó Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng riêng cho mỗi người đồng phạm thông thường là những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội, như tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt, phạm tội nhiều lần các tình tiết giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với những trường hợp phạm tội được quy định tại điều 51 BLHS 2015

Thứ ba, những tình tiết loại trừ TNHS hoặc miễn hình phạt đối với người

đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó (quy định tại điều 29 BLHS 2015)

Thứ tư, hành vi của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức dù chưa dẫn

đến việc thực hiện tội phạm của người thực hành vẫn có thể phải chịu TNHS

Nguyên tắc thứ ba, nguyên tắc cá thể hoá TNHS của những người đồng phạm

Trong các tội phạm về ma túy, thì có những vụ án tính chất phạm tội mang tính đơn

lẻ, song không ít những vụ án có nhiều người tham gia, mang tính ổ nhóm, đường dây có tổ chức chặt chẽ, song trong những vụ án có đồng phạm như vậy, thì những người đồng phạm tuy cùng thực hiện một tội phạm nhưng tính chất và mức độ tham gia phạm tội của mỗi người là khác nhau Ví dụ trong đường dây buôn bán ma túy

Trang 29

thì những kẻ nằm trong đường dây đó bao giờ cũng nguy hiểm hơn với những người do túng quẫn mà phải tàng trữ hay vận chuyển ma tuý thuê Do vậy, khi xác định TNHS của mỗi người đồng phạm phải xét đến tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người trong vụ đồng phạm

Tính chất tham gia của mỗi người đồng phạm được xác định bởi vai trò của họ trong vụ đồng phạm: là người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức hay là người thực hành Mức độ tham gia của mỗi người đồng phạm được xác định chủ yếu bởi ảnh hưởng thực tế của người đó đối với những người đồng phạm khác trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hiện tội phạm, cũng như đóng góp thực tế của người đó trong việc gây ra tội phạm và hậu quả của tội phạm

Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối , nguyên tắc này được quy định chính là bắt nguồn từ nguyên tắc cá thể hóa TNHS trong đồng phạm

Theo các dấu hiệu trên cho ta thấy rằng LHS nước ta chẳng những quy định TNHS đối với các tội phạm hoàn thành, mà còn quy định TNHS đối với những trường hợp tội phạm đang được thực hiện, thậm chí chuẩn bị thực hiện (Điều 14, 15 BLHS 2015)

Theo BLHS thì các giai đoạn thực hiện tội phạm được hiểu là những bước trong tiến trình thực hiện một tội phạm cố ý gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành

Đối với các tội phạm về ma túy thì các giai đoạn thực hiện tội phạm thường không tách bạch một cách cụ thể và khó phân biệt vì trong các tội phạm về ma túy luôn bao gồm một hệ thống hành vi, từ việc trồng cây có chất ma tuý, đến sản xuất, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy Vì vậy, một hành vi phạm tội về ma túy thường có một hành vi phạm tội xảy ra trước đó và sẽ có hành vi phạm tội tiếp theo sau Giai đoạn chuẩn bị chính là tiền đề, điều kiện cho việc thực hiện tội phạm tiếp theo, giai đoạn phạm tội chưa đạt là do yếu tố khách quan mang lại chứ không phải

ý thức chủ quan của tội phạm Do vậy, các giai đoạn thực hiện tội phạm ở các tội phạm về ma túy nhiều lúc không được thể hiện một cách rõ ràng

Trang 30

Các hành vi chuẩn bị phạm tội bao giờ cũng xảy ra trước việc trực tiếp thực hiện tội phạm và không phải là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể Điều đó thể hiện mức độ nguy hiểm thấp cho xã hội của chuẩn bị phạm tội so với các giai đoạn sau đó của việc thực hiện tội phạm

Thông thường, chuẩn bị phạm tội được thể hiện ở các hành vi tìm kiếm công

cụ, phương tiện theo các dấu hiệu chủ quan, việc chuẩn bị phạm tội chỉ có thể thực hiện bằng cố ý trực tiếp Ví dụ: để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì người phạm tội phải tìm kiếm nguồn ma túy để mua, tìm chỗ cất giấu, tìm địa bàn tiêu thụ, thăm dò các tuyến đường có thể vận chuyển ma túy đi qua, hay để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì người phạm tội phải chuẩn bị địa điểm, tìm kiếm dụng cụ như bàn đèn, xi lanh, bật lửa, giấy bạc

Hành vi chuẩn bị phạm tội chưa trực tiếp xâm phạm đến khách thể của tội phạm chưa trực tiếp thực hiện các hành vi khách quan được nhà làm luật chỉ ra trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, mà chỉ tạo ra các điều kiện vật chất hoặc các điều kiện tinh thần để hành vi phạm tội được thực hiện một cách thuận lợi nhất

Đối chiếu với các tội phạm về ma tuý được quy định tại chương XVIII BLHS

1999 thì trừ các tội được quy định tại Điều 192, 199, thì hành vi chuẩn bị phạm tội được quy định tại các điều luật còn lại đều có thể phải chịu TNHS và theo BLHS

2015 riêng đối với tội sử dụng ma túy đưa ra khỏi luật và chỉ áp dụng đối với hành

vi tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy quy định tại điều 255 BLHS 2015 Vấn đề phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là giai đoạn thứ hai của quá trình thực hiện tội phạm cố ý, là hành vi cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội, đã thực hiện sự xâm hại, đã thực hiện một phần hành vi được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, nhưng vì một lý do gì đó người phạm tội không thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội, do đó dẫn đến hành vi đã thực hiện chưa thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể Phạm tội chưa

Trang 31

đạt có thể xảy ra trong những trường hợp sau:

Thứ nhất, chưa thực hiện đầy đủ nội dung hành vi khách quan quy định trong

cấu thành tội phạm, mà mới chỉ thực hiện được một phần hành vi như: để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy người phạm tội đã móc nối được với người

có hàng, đôi bên đã trao đổi xem hàng, thống nhất giá cả, địa điểm giao nhận, ngày giờ giao nhận, đến ngày giao nhận hàng thì người có hàng trên đường mang hàng đến địa điểm giao hàng lại bị bắt trên đường mang hàng tới

Thứ hai, đã thực hiện đầy đủ hành vi khách quan nhưng hậu quả chưa xảy ra

hoặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra nhưng chưa phù hợp với quy định của cấu thành ví dụ: Một người có hành vi lén lút gieo trồng cây thuốc phiện, song do thiên tai mà các hạt thuốc phiện không thể nảy mầm được hoặc có nảy mầm song không phát triển và không cho ra được nhựa thuốc phiện, buộc ngời đó phải hủy đi

Về tội phạm hoàn thành

Trong trường hợp này người phạm tội thực hiện đầy đủ các dấu hiệu khách quan và chủ quan của một cấu thành tội phạm được quy định trong phần các tội phạm cụ thể của BLHS Song cũng còn nhiều quan điểm khác nhau về tội phạm hoàn thành như: hiện nay, trong sách báo pháp lý hình sự nước ta phổ biến coi tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu hiệu được

mô tả trong cấu thành tội phạm tương ứng Ở giai đoạn này, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm được thực hiện đầy đủ, các dấu hiệu khách quan của hành vi

đã thực hiện hoàn toàn phù hợp với việc mô tả chúng trong phần quy định của điều luật cụ thể của phần các tội phạm của BLHS Ví dụ: hành vi mua bán trái phép chất

ma túy được coi là hoàn thành khi kẻ phạm tội đã giao ma tuý cho người khác và nhận được tiền của người mua dù đã đủ tiền hay chưa, hay hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là việc người phạm tội đã sử dụng địa điểm là nhà của mình hay là nhà thuê, cùng các phương tiện khác để giúp cho người nghiện đưa chất ma túy vào chính cơ thể họ

Việc xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm có ý nghĩa thực tế quan trọng Việc định tội danh đúng hành vi phạm tội ở giai đoạn nào tuỳ thuộc vào việc

Trang 32

xác định thời điểm đó Cần phải thừa nhận quan điểm hợp lý khi coi các cấu thành tội phạm được quy định tại các điều luật cụ thể phần các tội phạm của BLHS là các

“cấu thành tội phạm hoàn thành” Trên cơ sở đó, theo tôi, có thể định nghĩa tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi đã thực hiện thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định tại điều luật cụ thể phần các tội phạm của BLHS Hay nói cách khác, tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi đã thực hiện thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được LHS quy định

Khi xem xét đến tội phạm hoàn thành cần phân biệt giữa tội phạm hoàn thành với tội phạm kết thúc, theo quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh thì tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội do người phạm thực hiện chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu khách quan và chủ quan của một cấu thành tội phạm được quy định

trong quy phạm pháp luật tương ứng của phần các tội phạm của BLHS 243] Trong nhiều trường hợp tội phạm đã hoàn thành nhưng hành vi phạm tội vẫn

[11,Tr.240-tiếp tục diễn ra, tức là người phạm tội vẫn chưa kết thúc hành vi phạm tội của mình Ngoài ra cũng có những trường hợp tội phạm đã kết thúc trên thực tế nhưng hành vi phạm tội được thực hiện vẫn chưa có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể tức là tội phạm chưa hoàn thành Ví dụ: một người mua ma túy thì thời điểm mua đó đã hoàn thành, tuy nhiên sau khi mua tiến hành vận chuyển ma túy đi các địa phương khác Mặt khác, cũng có trường hợp khi tội phạm hoàn thành, thì đồng thời người phạm tội cũng đạt được mục đích của mình, nhưng cũng có trường hợp người phạm tội chưa đạt được mục đích của mình Ví dụ một người mua ma túy về với ý đồ để bán kiếm lời để mua ma túy sử dụng cho cá nhân, tuy nhiên khi mua về chưa bán được thì đã bị bắt Tôi đồng ý với quan điểm trên

Còn tội phạm kết thúc là trường hợp hành vi phạm tội đã chấm dứt thực sự,

mà thời điểm tội phạm chấm dứt được gọi là tội phạm kết thúc [11, tr.242] Thời

điểm tội phạm hoàn thành có thể trùng với thời điểm tội phạm kết thúc Ngoài ra tội phạm cũng có thể kết thúc ở thời điểm nào đó thuộc giai đoạn chuẩn bị phạm tội, hoặc phạm tội chưa đạt như trong quá trình chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng được người thân trong gia đình,

Trang 33

khuyên bảo nên người phạm tội đã từ bỏ ý định đó dù đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết Hay người phạm tội mặc dù đã thực hiện đầy đủ các hành vi về mặt khách quan của tội phạm, song do yếu tố khách quan mà kết quả không như ý muốn Sau đó vì sợ bị phát hiện mà người phạm tội đã từ bỏ hẳn ý định phạm tội của mình

Xác định đúng thời điểm tội phạm hoàn thành, thời điểm tội phạm kết thúc và phân biệt giữa chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đồng phạm, áp dụng các quy định của BLHS về thời hiệu truy cứu TNHS Chẳng hạn, đồng phạm có thể

xuất hiện khi tội phạm hoàn thành nhưng chưa kết thúc [11, tr.243]

1.3 Các điều kiện đảm bảo định tội danh đúng các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm

1.3.1 Chất lượng của các quy phạm pháp luật, chất lượng của các văn bản giải thích hướng dẫn áp dụng pháp luật

Định tội danh các tội phạm về ma túy, như đã nhấn mạnh là hoạt động áp dụng pháp luật có cơ sở thực tiễn là hành vi phạm tội đã xảy ra và cơ sở pháp lý là các quy định của BLHS và các cấu thành tội phạm cụ thể Bởi là hoạt động pháp luật và

là hoạt động áp dụng pháp luật nên chất lượng, hiệu quả của hoạt động định tội danh tùy thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan vố rất đa dạng phong phú khác nhau, trong số đó đáng kể đến là chất lượng của các quy phạm PLHS, pháp luật TTHS, pháp luật điều tra hình sự vv và chất lượng, khả năng, năng lực của đội ngũ cán bộ định tội danh: điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán vv Bên cạnh đó trình độ cuộc sống, điều kiện kinh tế - xã hội, ý thức pháp luật xã hội cũng tác động không nhỏ đến chất lượng định tội danh Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ luật học, tác giả luận văn này chỉ phân tích một số yếu tố sau đây:

Để định tội danh đúng tội phạm về ma túy ở nước ta điều kiện cần đặt ra phải

có đường, chủ trương, chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, nhất quán, không chồng chéo, không mâu thuẫn với các luật khác Điều đó có nghĩa là các quy phạm pháp luật hình sự về các tội phạm về ma túy, về đồng phạm phải được xây dựng một cách rõ ràng phù hợp và có tính khả thi đối với định tội danh Đồng thời chất

Trang 34

lượng của giải thích áp dụng thống nhất pháp luật phải rõ ràng, kịp thời Tuy nhiên hiện nay BLHS 2105 vì nhiều lý do cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 Tuy nhiên thực tiễn từ khi BLHS cho đến nay vẫn còn những vướng mắt, khó khăn trong việc vận dụng, hướng dẫn áp dụng pháp luật, nhiều nghị quyết, văn bản dưới luật chậm đổi mới, ban hành để thi hành đồng bộ với BLHS mới, do đó trong quá trình định tội danh các cơ quan Tư pháp chủ yếu căn cứ vào BLHS và BLTTHS còn phải vận dụng nhiều văn bản dưới luật để xem

các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, căn cứ vào danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy do Chính phủ ban hành Trong khi đó nội dung

trong một số vụ án, do cách hiểu khác nhau về điều luật trong số trường hợp phạm tội về ma túy

Đặc biệt trong BLHS năm 1999 các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy được nhà làm luật xây dựng trong một điều luật (Điều 194) gây không ít khó khăn cho định tội danh chính xác đối với các hành vi (tội phạm) trong tội ghép này Thực tiễn cho thấy, chính vì vậy đôi khi xảy

ra việc định tội danh thiếu thống nhất đối với cùng một hành vi xảy ra, thậm chí là định tội danh không chính xác dẫn đến xử lý không đúng tội, vi phạm các nguyên tắc của LHS, nhất là các nguyên tắc pháp chế, công bằng, nhân đạo trong định tội danh Cũng chính bởi vậy, trong BLHS năm 2015 nhà làm luật nước ta đã khắc phục bằng cách tách các hành vi ghi nhận tại điều 194 của BLHS năm 1999 thành những tội danh độc lập tại các điều luật độc lập Tuy nhiên, việc tách ra thành những tội độc lập dẫn đến những khó khăn nhất định cho định tội danh chính xác theo từng tội Chính vì vậy, cần phải có sự giải thích thông qua tổng kết, hướng dẫn

áp dụng thống nhất pháp luật, nhất là đối với những phạm trù liên quan đến khối lượng hoặc thể tích vv

Về nguyên tắc, các quy định về các tội phạm về ma túy, về đồng phạm hoặc các giải thích về chúng càng rõ ràng bao nhiêu thì định tội danh càng chính xác bấy

Trang 35

nhiêu và ngược lại Cần nhắc lại rằng mô hình pháp lý - cơ sở pháp lý của định tội danh là cấu thành tội phạm Do rằng các cấu thành tội phạm phải được xây dựng rõ ràng để phù hợp nhau

1.3.2 Trình độ, năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị nghề nghiệp, đạo đức của chủ thể định tội danh và các yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình định tội danh Điều kiện về vật lực (phương tiện công tác nhất là phương tiện giám định chất ma túy)

Hoạt động trung tâm của quá trình định tội danh và quyết định hình phạt được

tiến hành bởi chủ thể chính thức là Tòa án Cho nên yếu tố quyết định tội danh đúng hay sai là do chủ thể trong các cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, nguyên nhân tác động dẫn đến định tội danh sai, không đảm bảo đó là các chủ thể đã không nắm vững các kiến thức pháp lý, nhất là kiến thức về pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, chuyên môn, chuyên môn nghiệp vụ còn non yếu, do chưa trang bị, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ đầy đủ dẫn đến lạc hậu, không nắm bắt được luật mới, không nắm rõ trình tự, thủ tục của hoạt động điều tra, truy tố và xét xử nên nhiều trường hợp đã gặp sự lúng túng, phán đoán phiến diện một chiều dẫn đến đánh giá

vụ án không có căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm để xem xét hành vi của bị can, bị cáo, không tổng hợp được và không đánh giá được chứng cứ, lời khai, phân tích đơn lẽ, phiến diện và chỉ căn cứ vào lời khai bị can, bị cáo, kết luận điều tra

hoặc bản cáo trạng của Viện kiểm sát để định tội danh

Vì vậy, để để định tội danh đúng, đảm bảo đầy đủ, chính xác đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần phải thường xuyên giáo dục cho người định tội danh nhận thức đầy đủ về ý thức pháp luật, trong đó vấn đề giáo dục lương tâm, đạo đức

và ý thức về uy tín nghề nghiệp, lòng yêu nghề, lòng tự trọng không bao giờ chỉ duy

ý chí theo hướng xấu trước một hành vi, sự việc hay trước một con người, mà cần tin vào cả những điều tốt đẹp, cái thiện trong những hiện tượng đó, luôn có ý thức tuân phủ pháp luật, có thái độ làm việc thận trọng, công tâm, khách quan, phải xem xét toàn diện chứng cứ, không được chủ quan lơ là trong đánh giá chứng cứ, xét xử độc lập không bị lệ thuộc vào những ý kiến của những cơ quan, tổ chức, người có

Trang 36

chức vụ, quyền hạn, không bị áp lực, không bị đe dọa hoặc can thiệp từ bên ngoài đảm bảo về nguyên tắc xét xử Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, quyết định theo đa số

Tập trung nâng cao năng lực, trình độ, tinh thần trách nhiệm của chủ thể tiến hành tố tụng như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm bảo đảm xem xét, khách quan toàn diện các tình tiết trong quá trình định tội danh Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động Tòa án Nếu phát hiện quá trình xét xử quyết định hình phạt không đúng tội danh hoặc kết án vô căn cứ, dẫn đến oan sai, bỏ lọt tội phạm ma túy, có bản án, quyết định bị hủy hoặc bị sửa do có sai lầm nghiêm trọng gây thiệt hại lớn tổ chức, cá nhân, tập thể thì phải kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm để có biện pháp xử lý phù hợp

Tiếp tục thể chế các Nghị quyết của Đảng và quy định của Hiến pháp 2013 bảo đảm quá trình định tội danh các tội phạm về ma túy của cơ quan tố tụng phải được kiểm soát chặt chẽ, minh bạch, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan tố tụng cấp trên phải kiểm tra hoạt động của cơ quan tố tụng cấp dưới; quy định kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tố tụng; bảo đảm sự kiểm soát giữa các khâu trong tiến hành tố tụng, khâu sau giám sát kết quả tố tụng của khâu trước, hủy bỏ những chứng cứ do khâu trước thu thập bằng biện pháp trái luật, bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội theo Hiến pháp 2013 "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã

Trang 37

về giá thành cao, nguồn nhân lực chưa được đào tạo, bổ sung, đáp ứng kịp thời do

đó khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp nghi liên quan đến tội phạm ma túy trước hết cần giám định các chất ma túy để làm cơ sở, căn cứ áp dụng các biện pháp

tố tụng tiếp theo Nhưng hiện nay tại địa phương các chất ma túy mới chủ yếu được chuyển đến các trung tâm giám định của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đóng tại thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mới có thể xác định được Vì vậy để định tội danh đúng rất cần sự đầu tư của Nhà nước và xã hội hóa các nguồn lực, để có thể trang cấp trước mắt cho các tỉnh thành được đánh giá trọng điểm về

ma túy để có điều kiện giám định kịp thời phục vụ tốt cho công tác điều tra, truy tố

và xét xử

Kết luận Chương 1

Để định tội danh đúng các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm là một nhiệm vụ đòi hỏi người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng Trong đó cốt lõi định tội danh là Tòa án, bởi Tòa án giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa hết sức quan trọng, phán quyết của Tòa án quyết định đến sinh mệnh chính trị, quyền con người cũng như lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo Chính vì vậy yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ Thẩm phán là hết sức nặng nề Để tuyên một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của nhà nước đòi hỏi người định tội danh phải nắm vững tinh thông về nghiệp vụ, công tâm

và bản lĩnh, có đạo đức trong sáng, thanh liêm, nắm chắt kiến thức pháp luật là yêu cầu tối thiểu Trong đó BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 là nguồn trực tiếp áp dụng trong quá trình định tội danh Khi định tội danh các cơ quan như Điều tra, Kiểm sát và Tòa án cần phải cân nhắc, tuân thủ, lựa chọn, cấu thành tội phạm trong

Bộ luật hình sự (Phần chung và phần riêng) phù hợp với từng tội danh tương ứng

mà tội phạm gây ra, đồng thời kết hợp các văn bản chế định pháp lý khác để định tội danh đúng là cần thiết nhằm để bản án tuyên ra đối với các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm phải bảo đảm nguyên tắc đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo quyền con người trong hoạt động tố tụng, tránh oan sai hoặc không bỏ lọt tội phạm là yêu cầu trọng tâm trong tiến trình cải cách Tư pháp

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN

ma túy Tội phạm ma tuý không chỉ diễn ra ở các khu vực thành phố, khu đông dân cư, khu công nghiệp mà đã lan cả về những vùng quê yên tĩnh Nguy hại hơn, ma tuý còn len lỏi vào cả học đường đầu độc thế hệ trẻ, gây ra nhiều hệ lụy, hậu quả vô cùng to lớn cho mỗi con người, mỗi gia đình và toàn xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ đời sống xã hội, đến nền an ninh trật tự, đến sự an bình của người dân cả nước nói chung, thành phố Đà Nẵng nói riêng

Trong 04 năm qua (2015-2108), tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm diễn ra hết sức phức tạp, về phương thức hoạt động không có sự thay đổi nhiều, chủ yếu thủ đoạn hoạt động rất tinh vi, xảo huyệt, câu kết chặt chẽ với nhau, tính chất rất manh động, liều lĩnh, nguy hiểm, sẵn sàng chống trả quyết liệt nếu bị phát hiện, vây bắt và nếu bị bắt tìm mọi cách chối tội, không nhận tội trong quá trình Điều tra, Truy tố và Xét xử Qua nghiên cứu cho thấy số vụ án về tội phạm ma tuý diễn biến theo từng năm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng được thể hiện như sau:

Trang 39

Bảng 2.1 Số liệu thống kê số vụ và số bị cáo đã xét xử (Sơ thẩm, phúc thẩm) về các tội phạm ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (2015 - 2018)

Nguồn: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng

Thông qua bảng 2.1 Cho thấy tại địa bàn thành phố Đà Nẵng (giai đoạn 2015 - 2018), tội phạm ma túy chủ yếu hoạt động phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (Đ.251 BLHS) chiếm 67,67% và tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Đ.249 BLHS) chiếm 31,56%, riêng các tội còn lại chiếm tỉ lệ rất nhỏ như tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Đ.250 BLHS) chiếm 0,56%, các tội ma túy khác chiếm 0,21% Số liệu trên phản ảnh thực tế chiều hướng phạm tội ngày càng tăng, các đối tượng tập trung

ở phân khúc mua đi, bán lại, tàng trữ để kiếm lợi nhuận hoặc tổ chức sử dụng là chủ yếu, tập trung vào ma túy dạng hàng đá, thuốc lắc, cỏ Mỹ, cỏ Canađa , nguồn hàng tiêu thụ chủ yếu lấy từ các đối tượng đầu nậu ở các tỉnh, thành phía bắc cung cấp

Bảng 2.2 Mức độ tăng, giảm số vụ án, bị cáo phạm tội về tội phạm ma túy có đồng phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (giai đoạn 2015 - 2018) so với năm

Trang 40

Nhìn bảng thống kê số liệu (Bảng 2.2) ở trên cho thấy các tội phạm ma tuý có đồng phạm trong các vụ phạm tội về ma tuý ở mức độ cao Thông qua số liệu các

vụ án được đưa ra xét xử nhận thấy, trong các vụ án về ma tuý tỷ lệ đồng phạm chiếm tỉ lệ khoảng 50%, có chiều hướng tăng theo từng năm Đa số các vụ án có tính chất đồng phạm về quy mô chủ yếu ở dạng đồng phạm giản đơn là chủ yếu Theo số liệu thống kê của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng (giai đoạn 2015-2018) các vụ án phạm tội về ma túy có yếu tố đồng phạm chiếm tỉ lệ cao so với các

bị cáo phạm tội ma túy đơn lẽ, đa số đồng phạm tập trung vào các nhóm tội mua bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy chiếm tỉ lệ trên 90% số vụ án

Bảng 2.3 Số liệu tương quan (tỉ lệ) qua xét xử tội phạm về ma túy với số liệu tỉ

lệ tương quan về các tội phạm về ma túy trong trường hợp đồng phạm tại

Số vụ

(1)

Số bị cáo (2)

Số vụ (3)

Số bị cáo (4)

Nguồn: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng

2.3 Số liệu tương quan (tỉ lệ) giữa tình hình các tội phạm về ma túy và các tội

phạm ma túy trong trường hợp đồng phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (giai đoạn 2015 - 2018)

Ngày đăng: 02/07/2019, 09:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Lê Văn Đệ (2004), Nghiên cứu vấn đề định tội danh và mối liên hệ giữa định tội danh và quyết định hình phạt "Định tội danh quyết định hình phạt trong luật Hình sự Việt Nam", Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh quyết định hình phạt trong luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Đệ
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2004
10. Nguyễn Ngọc Hòa (2009), Cấu thành tội phạm: Lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu thành tội phạm: Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2009
11. Trần Văn Hưởng, TS Trịnh Tiến Việt (2011), những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng Pháp luật TTHS ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng Pháp luật TTHS ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Hưởng, TS Trịnh Tiến Việt
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
13. Trần Văn Luyện (2000), Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy
Tác giả: Trần Văn Luyện
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
16. Hồ Sỹ Sơn (2013), dưới góc độ so sánh có bài viết "Chế định đồng phạm trong luật hình sự nhìn từ góc độ so sánh pháp luật hình sự một số nước trên thế giới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (số 11), tr.30-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định đồng phạm trong luật hình sự nhìn từ góc độ so sánh pháp luật hình sự một số nước trên thế giới
Tác giả: Hồ Sỹ Sơn
Năm: 2013
17. Lê Thị Sơn (2012), “Tội phạm có tổ chức và việc bổ sung chế định tổ chức tội phạm trong BLHS Việt Nam”, Tạp chí luật học, (số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm có tổ chức và việc bổ sung chế định tổ chức tội phạm trong BLHS Việt Nam”, Tạp chí l"uật học
Tác giả: Lê Thị Sơn
Năm: 2012
19. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự 1999, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự 1999, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2009
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2009
20. Quốc hội (2015), Bộ luật hình sự 2015 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự 2015 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2015
21. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2013
22. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự 2003 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự 2003 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2003
23. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng hình sự 2015 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb Chính trị quốc gia sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự 2015 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2015
24. uốc hội (2017), Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Tác giả: uốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2017
25. Quốc hội (2017), Luật trợ giúp pháp lý, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật trợ giúp pháp lý, Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật"
Năm: 2017
26. Quốc hội (2017), Luật tổ chức cơ quan Điều tra hình sự năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức cơ quan Điều tra hình sự năm 2015
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2017
27. Quốc hội (2008), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật phòng, chống ma túy năm 2000, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật phòng, chống ma túy năm 2000
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2008
28. Tôn Nữ Ngọc Trâm (2010), Chế định đồng phạm trong BLHS Việt Nam năm 1999 và thực tiễn áp dụng chế định này trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định đồng phạm trong BLHS Việt Nam năm 1999 và thực tiễn áp dụng chế định này trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Tôn Nữ Ngọc Trâm
Năm: 2010
29. Phạm Minh Tuyên (2018), Kỹ năng xét xử các vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng xét xử các vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Tác giả: Phạm Minh Tuyên
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2018
30. Võ Khánh Vinh (2013), Giáo trình Lý luận chung về định tội danh, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về định tội danh
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2013
31. Võ Khánh Vinh (2014), Giáo trình luật hình sự phần chung, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự phần chung
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2014
32. Võ Khánh Vinh (2014), Giáo trình luật hình sự phần các tội phạm, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự phần các tội phạm
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w