25 2.1 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người .... 252.2 Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về thực hành qu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ NHẬT NAM
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ NHẬT NAM
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực, chỉ rõ nguồn gốc
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học – Xã hội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học – Xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Hồ Nhật Nam
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI7
1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố đối với các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người 71.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người 131.3 Đối tượng và phạm vi thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người 171.4 Nội dung và ý nghĩa thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người 19
CHƯƠNG 2 THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH 25
2.1 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người 252.2 Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Bình Định 32
CHƯƠNG 3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH 56
3.1 Nâng cao chất lượng quản lý, điều hành trong công tác thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người 56
Trang 53.2 Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra 573.3 Chủ động đề ra yêu cầu điều tra có chất lượng, toàn diện 593.4 Nâng cao nhận thức về hoạt động thực hành quyền công tố đối với các vụ
án xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người 613.5 Xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra 633.6 Nắm vững quan điểm và thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực hành quyền công tố 673.7 Tăng cường hướng dẫn áp dụng thực hiện BLTTHS 2015 69
KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số vụ, số bị can các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người do VKS thụ lý giai đoạn 01/12/2014 đến 30/11/2018 so với các tội phạm khác: 39Bảng 2.2: Tổng hợp báo cáo số việc người bị hại từ chối giám định về thương tích trong cá vụ cố ý gây thương tích từ ngày 01/12/2014 đến 30/11/2018 tại các huyện trên địa bàn tỉnh Bình Định 42
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hành quyền công tố của VKSND là chức năng đã được ghi nhận trong các Nghị quyết của Đảng Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của
Bộ Chính trị đưa ra các nội dung về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới, trong Nghị quyết này đã nhấn mạnh “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố của VKS luôn phải được bắt đầu thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và đến trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo vấn đề không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội; không làm oan những người vô tội và phải xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng trong khi thi hành nhiệm vụ được giao…” [5,
Tr.12-13]
Đây là những chủ trương hết sức quan trọng về trách nhiệm, chức năng công tố của Viện kiểm sát và sau này được thể chế hóa trong tại khoản 1 Điều
107 Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”
Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung có vị trí địa lý, kinh tế đặc biệt quan trọng trong việc giao lưu với các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á và quốc tế Trong tiến trình đổi mới, Bình Định đã có nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh những thành tựu đạt được đó, là tình hình tội phạm ngày càng phức tạp, đối tượng thực hiện hành vi phạm tội rất đa dạng, tinh vi, liều lĩnh, gây khó khăn cho quá trình xác minh, giải quyết của các cơ quan tiến hành tố tụng; đặc biệt là các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Trang 92
Ngoài các yếu tố lý do khách quan về tình hình tội phạm, đa số những
vụ án gặp phải vướng mắc có một phần trách nhiệm của các Kiểm sát viên, chưa bám sát tiến độ điều tra; năng lực phân tích, tổng hợp, đánh giá chứng
cứ còn hạn chế; nhận định lỗi chưa phù hợp với diễn biến thực tế của tội phạm dẫn đến những khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử Vì thế, công tác thực hành quyền công tố cần phải được nâng cao hơn nữa, để VKS phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm
Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ngoài việc giải quyết vụ án hình sự một cách công khai, dân chủ, công bằng, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm; đồng thời phải đảm bảo công lý được thực thi Đây cũng là đòi hỏi cấp thiết của xã hội, nhất là khi chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Để góp phần nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố đối với các vụ án hình sự nói chung, các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người nói riêng Đồng thời, để tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và đưa ra các giải pháp từ thực tiễn hoạt động công tác thực hành quyền công tố
trên địa bàn tỉnh Bình Định, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người từ thực tiễn tỉnh Bình Định” là luận văn Thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động thực hành quyền công tố của Viện KSND là vấn đề đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới góc độ lý luận, trên nhiều phương diện khác nhau, trong đó phải kể đến một số công trình điển hình như sau:
- Nguyễn Hồng Chương (2012), Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện KSND, Luận văn thạc
sĩ Luật học, Hà Nội [3]
Trang 10- Hoàng Công Hạnh (2011), Thực trạng chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội
[15]
- Bùi Mạnh Cường (2012), Gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội [4]
Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu hoạt động THQCT cụ thể đối với vụ án xâm phạm tình mạng, sức khỏe của con người
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người từ thực tiễn tỉnh Bình Định” là một
đòi hỏi cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc của các công trình khoa học
đi trước để làm sâu sắc thêm lý luận và làm rõ thực trạng, đưa ra các đề xuất, phương hướng để nâng cao chất lượng THQCT các tra vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người nói riêng và các vụ án hình sự nói chung Qua đó góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người; pháp luật tố tụng hình sự trong THQCT các
vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đề ra
Trang 114
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được những mục đích đã đề ra, luận văn cần phải nghiên cứu, làm rõ được những vấn đề như sau:
- Phân tích nhằm làm rõ lý luận về thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người;
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực trạng của công tác thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trên địa bàn tình Bình Định từ năm 2014 đến 2018
- Nghiên cứu và làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trên địa bàn tỉnh Bình Định làm cơ sở cho việc đưa
ra giải pháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn, đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố, thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng quy định này BLTTHS 2015 đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Bình Định
Do thời điểm làm luận văn là thời kỳ giao thoa giữa việc áp dụng BLTTHS năm 2003 và BLTTHS 2015 nên trong quá trình phân tích tác giả sẽ
so sánh, đối chiếu những điểm mới của BLTTHS 2015 so với BLTTHS năm
2003 về thực hành quyền công tố của VKSND qua các giai đoạn tố tụng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn tác giả đã đề cập, nghiên cứu một số vấn đề về thực hành quyển công tố trong các giai đoạn tiếp nhận tố giác tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với các vụ án xâm phạm sức khỏe con người quy định tại các điều từ Điều 123 - 140 BLHS
Trang 125
năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (và tại các điều từ Điều 104 - 110 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009) theo quy định của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 trên địa bàn Bình Định trong thời gian 05 năm (từ năm
2014 đến năm 2018)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra còn, dựa trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh nhận thức về Nhà nước và pháp luật Các đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền Những vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện thông qua các chính sách về hình sự, tố tụng hình sự Các Nghị quyết của Đảng về nâng cao chất lượng thực hành Quyền công tố Nghị quyết Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005; các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học điều tra hình sự và các phương pháp, và các kỹ năng khác như: phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp quy nạp; phương pháp diễn dịch; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học về tội phạm cố ý gây thương tích, giết người để tổng hợp các tri thức khoa học luật tố tụng hình
sự và luận chứng các vấn đề được đưa ra nghiên cứu trong luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài “Thực hành quyền công tổ đối với các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người từ thực tiễn tỉnh Bình Định”có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, giải quyết
nhiều vấn đề quan trọng trong việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự và hình
sự để làm sáng tỏ các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự thông qua hoạt động THQCT của Viện kiểm sát
Trang 136
Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Phản ánh được thực trạng THQCT vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người; Phân tích, đánh giá, chỉ ra được những tồn tại, hạn chế
mà hoạt động THQCT vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người thường gặp phải;
- Đưa ra những vấn đề cần lưu ý, những kinh nghiệm khi THQCT xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người; Đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự cũng như pháp luật hình sự liên quan đến THQCT xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trong chiến lược cải cách tư pháp hiện nay
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật, mà đặc biệt là cán
bộ VKSND tỉnh Bình Định trong công tác thực tiễn
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn, nội dung gồm có 3 chương, bên cạnh đó là các phần phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Cụ thể các chương như sau:
Chương 1: Lý luận thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người
Chương 2: Thực trạng thực hành quyển công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người từ thực tiễn tỉnh Bình Định
Chương 3: Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người từ thực tiễn tỉnh Bình Định
Trang 147
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM
PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI
1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố đối với các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Khi nghiên cứu chức năng của VKS chúng ta hay nhắc đến khái niệm thực hành quyền công tố, ngoài ra còn xuất hiện khái niệm quyền công tố hay Công tố quyền Cho đến nay, trong các nghiên cứu có rất nhiều quan điểm về quyền công tố; có quan điểm cho rằng: quyền công tố gắn liền với sự phát triển của khoa học pháp lý, khi mà các khái niệm dân chủ và quyền con người được đề cao, đòi hỏi cần phải có một cơ quan thay mặt nhà nước đứng ra bảo
vệ quyền bị xét xử bởi các cơ quan tư pháp Quan điểm khác lại coi công tố là một quyền độc lập, chỉ có trong xã hội dân chủ, nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia quá trình tố tụng tại phiên tòa và thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật Quan điểm thứ ba cho rằng, khi chúng ta tách Tòa án ra khỏi hệ thống các cơ quan hành pháp, đồng thời với
sự phát triển của hệ thống pháp luật thì chức năng công tố mới xuất hiện Ngoài ra không đồng ý với các quan điểm nêu trên, một số học giả cho rằng, quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nước
và xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật Quyền công tố gắn liền với hầu hết các kiểu nhà nước mà lịch sử ghi nhận, từ nhà nước chủ nô đến các nhà nước hiện đại ngày nay
Từ những phân tích trên, quan điểm của tác giả cho rằng: “quyền công
tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của nhà nước Nó xuất hiện
và gắn liền với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, tồn tại bên cạnh nhà nước
và mất đi khi không còn nhà nước” Đồng thời, đồng ý với quan điểm của TS
Trang 158
Lê Hữu Thể khi đưa ra định nghĩa về quyền công tố: “Quyền công tố là quyền của một Cơ quan, cơ quan này nhân danh, đại diện nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người thực hiện hành vi phạm tội Quyền công tố này là Quyền thuộc về nhà nước, và nhà nước ta đã giao phó cho một cơ quan nhất định thực hiện (ở Việt Nam ta là Cơ quan Viện kiểm sát) nhằm phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để thực hiện những vấn đề này, cơ quan có chức năng (ở đây là Viện Kiểm Sát) thực hành quyền công tố phải luôn đề cao, có trách nhiệm đảm bảo công tác thu thập chứng cứ phải hoàn thiện, đầy đủ tài liệu, để chứng minh hành vi phạm tội Dựa trên những cơ sở đó để quyết định truy tố
bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà” [35, Tr 18]
Khi nghiên cứu về thực hành quyền công tố, trong giới nghiên cứu luật học hiện nay vẫn còn bảo vệ quan điểm, hai xu hướng khác nhau: Thứ nhất,
họ cho rằng việc thực hành quyền công tố luôn đi đôi với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của những Công tố viên trong tố tụng hình sự Thứ hai, một số nhà nghiên cứu họ chỉ đưa ra một số biện pháp (hoạt động) pháp lý cụ thể như: Lập cáo trạng, luận tội trước phiên tòa sơ thẩm hình sự và xem đó là thực hành quyền công tố, thậm chí một số người còn cho rằng thực hành quyền công tố chỉ là sự buộc tội của công tố viên trước phiên tòa sơ thẩm
Những năm trở lại đây, có một số học giả đã nghiên cứu một số công trình khoa học về thực hành quyền công tố hoặc một số bài bình luận liên quan đến thực hành quyền công tố, tuy nhiên những công trình này mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra được một số biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát như thực hiện công tác kiểm sát điều tra, công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam, giam, giữ
và cải tạo, kiểm sát việc thi hành án hình sự Ngoài ra những công trình này còn bộc lộ một số hạn chế về mặt nhận thức của một số học giả luật học làm
Trang 169
công tác nghiên cứu và thực tiễn trong, ngoài ngành kiểm sát đã có sự nhầm lẫn giữa quyền công tố với thực hành quyền công tố trên nhiều phương diện như đối tượng, nội dung, phạm vi Đồng thời các công trình nghiên cứu này luôn luôn gắn quyền công tố chỉ với VKS, coi đó là quyền năng của duy nhất
cơ quan VKS Vì những nguyên nhân như vậy nên các học giả đã chưa giải thích được một số vấn đề là khi một số cơ quan tiến hành tố tụng như CQ CSĐT, TA thực hiện các biện phải như khởi tố vụ án, khởi tố bị can cho nên cần phải nhận thức, trong thực tiễn các cơ quan này có phải cũng thực hành quyền công tố hay không
Nhà nước ta đã tổ chức một hệ thống cơ quan cụ thể nhằm thực hiện quyền lực của nhà nước trên một lĩnh vực nhất định Hệ thống tập hợp các cơ quan này có một vai trò vô cùng quan trọng trong công tác phối hợp giữa cơ quan nhà nước với nhau nhằm thực hiện quyền lực nhà nước (các quyền lực
mà Nhà nước đã giao quyền) Hầu hết các nước trên thế giới thành lập cơ quan công tố chuyên biệt để thực hành quyền công tố, với một số quyền hạn
và trách nhiệm tố tụng được pháp luật TTHS ghi nhận trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử
Không thể tồn tại một cơ quan nhà nước nào khác để có thể thay thế được Viện kiểm sát trong việc sử dụng quyền công tố; Các công tác bắt tạm giữ, tạm giam, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc, trách nhiệm của Viện kiểm sát phải bảo đảm cho hợp
lý, tốt Những vấn đề này đã được quy định cụ thể tại vào Hiến pháp, Bộ Luật
Tố Tụng Hình Sự, Luật Tổ chức Viện KSND và các quy định hiện hành Chắc chắn không thể có một cơ quan nào khác có thể đảm đương, thay thế Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, vì các lý do sau:
Trang 1710
a Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất trong hệ thống pháp luật hiện hành
về mặt pháp lý có quyền tự mình độc lập phát động quyền công tố
b.VKS có quyền áp dụng, hoặc thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, CQĐT chỉ có quyền đề nghị trên cơ sở Phê chuẩn của VKS
c.Trong quá trình thực hành hoạt động điều tra vụ án hình sự, VKS có trách nhiệm đánh giá, đảm bảo các chứng cứ đủ căn cứ để truy tố bị can
d.Thông qua các biện pháp xác minh, điều tra, VKS ban hành quyết định truy tố bị can trước pháp luật (Tòa án) khi và chỉ khi, VKS nhận thấy có
đủ căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội Ngay tại phiên tòa hình sự, VKS
có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật Bản án của Tòa án là việc HĐXX đã chấp nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, khái niệm thực hành quyền
công tố trong tố tụng hình sự có thể được hiểu như sau: Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý do pháp luật quy định để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Con người là một thực thể của xã hội, là đối tượng hàng đầu được pháp luật bảo vệ đặc biệt Thực hiện việc bảo vệ con người trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và tự do của họ, bởi đó là những vấn đề
có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với bất kỳ một ai Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã đánh dấu một bước tiến lớn trong lĩnh vực quyền con người Nếu như quyền con người trong Hiến pháp
1992 chỉ thể hiện tại Điều 50 thì Hiến pháp năm 2013 đã dành một chương riêng (chương II) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân
Trang 1811
Trong chương này, các quyền con người, trong đó có quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe được quy định cụ thể và phù hợp, tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia Điều 19
quy định: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”
Đặc biệt, quyền này còn được bảo vệ bởi văn bản luật quan trọng là Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự Việt Nam cũng cấm những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người và đưa ra những chế tài đối với loại hành vi này
Tuy nhiên, để hiểu rõ khái niệm "các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe của con người", chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “tính mạng” "sức khỏe" Tính mạng chính là sự sống của con người Theo quan niệm của Tổ chức Y tế Thế giới thì "Sức khỏe không phải là yếu đuối, hay không có bện tất mà chính
là có một trạng thái sảng khoái về mặt thể chất, tinh thần và xã hội chứ, có đủ điều kiện phát triển thể chất tốt, trí tuệ được nâng cao, phát triển trong một xã hội lành mạnh" Cho nên, sức khỏe là một vấn đề cá nhân của mỗi con người
Vì vậy, mỗi người đều được quyền tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của mình
Trong các Giáo trình luật hình sự Việt Nam và một số tài liệu nghiên cứu, bình luận chuyên sâu hiện nay chủ yếu đưa ra khái niệm chung về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, ít có khái niệm riêng về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, có thể điểm qua như sau:
GS.TS Trần Quang Hòa đưa ra quan điểm: "Các tội xâm phạm tính mạng và sức khỏe chính là những hành vi (có thể biểu hiện là hành động hoặc không hành động); là một hành vi có lỗi (lỗi này có thể là cố ý hoặc vô ý) của một cá nhân cụ thể, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người khác" [16, Tr.11]
Trang 1912
TS Nguyễn Thái Phúc thì có một quan điểm khác cho rằng: các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người chính là những hành vi nguy hiểm cho xã hội của một cá nhân, với hành động cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến sức khỏe của con người [26, Tr.9]
ThS Trần Văn Luyện quan niệm đó chắc chắn chính là những hành vi nguy hiểm cho xã hội của một cá nhân (không thể là pháp nhân), đây là hành
vi có lỗi nhằm gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến quyền sống, quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người [18,Tr.8]
TS Đỗ Hải Hà quan niệm: "Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người được thể hiện qua những hành vi có lỗi cố ý hoặc vô ý, nhằm mục đích xâm phạm đến quan hệ nhân thân của một cá nhân (không phải là pháp nhân); và các nội dung của vấn đề này là quyền được sống; tôn trọng và bảo
vệ sức khỏe ".[14, Tr.12]
Về cơ bản các quan điểm trên đều tiếp cận dưới góc độ pháp lý, đều phản ánh nội hàm khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của con người Các khái niệm trên đều đưa ra những phân tích cụ thể, cho ta thấy được được đặc điểm của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người Đây là những hành vi có chủ đích (cố ý) hoặc vô ý (những hành vi nguy hiểm cho xã hội),
có đặc điểm có lỗi và xâm phạm quyền được sống; bảo hộ về sức khỏe của một cá nhân, con người cụ thể
Tuy nhiên, ở chừng mực nhất định, có quan điểm lại không đề cập đến dấu hiệu chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự, dấu hiệu tuổi chịu trách nhiệm hình sự của chủ thể hoặc chưa khẳng định rõ khách thể của tội phạm này là quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ
Từ những phân tích trên, theo tác giả, dưới góc độ khoa học pháp lý luật hình sự, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người là những
Trang 2013
hành vi có lỗi (cố ý hoặc vô ý) gây nguy hiểm cho xã hội; những hành vi này phải do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện; ngoài ra những hành vi này cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự; và hành vi này được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của người khác được Hiến pháp và pháp luật hình sự quy định
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người như sau:
“Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người là việc Viện Kiểm Sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý do pháp luật quy định để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người khác nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”
1.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Khi thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người chúng ta cần lưu tâm đến vấn đề có hay không có yêu cầu khởi tố, nếu rơi vào trường hợp khoản 1 Điều 134 BLHS thì cần phải có yêu cầu khởi tố của người bị hại hoặc đại diện bị hại, cơ quan chức năng mới xử
lý Ngoài ra tỉ lệ tổn thương cơ thể cũng là một đặc trưng riêng biệt đối với loại tội phạm này, nếu tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên, hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS thì không cần có yêu cầu khởi tố, cơ quan chức năng vẫn vào cuộc xử lý, vì vậy giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể
Trang 2114
là một yêu cầu bắt buộc đối với nhóm tội phạm này Ngoài ra để thực hiện tốt hoạt động THQCT đối với các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe cần phải xem xét các đặc điểm đặc trưng của nhóm tội này như:
Khách thể của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, của con người
Khách thể của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, của con người được thể hiện đó là, các tội phạm này xâm phạm đến quyền sống, quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người Đối tượng tác động của các tội phạm này
là con người cụ thể Theo đó, con người phải là một cơ thể còn sống và có thời điểm tính từ khi sinh ra cho đến khi chết Điều này cho thấy, không thể coi một con người đang còn sống khi chưa lọt lòng mẹ (còn ở trong bào thai) hoặc khi người đó đã chết
Tính mạng ở đây được hiểu là quyền sống của con người Quyền sống chính là quyền tự nhiên có được khi con người sinh ra, đây là một quyền rất thiêng liêng và hết sức cao quý được hiến pháp và pháp luật bảo vệ Các hành
vi của các cá nhân xâm phạm tới tính mạng con người có thể được hiểu là sự tác động làm thay đổi hiện trạng của đối tượng tác động là con người đang còn sống
Sức khỏe của con người là tình trạng sức lực của con người đang sống trong điều kiện bình thường, là trạng thái tâm sinh lý, sự hoạt động hài hoà trong cơ thể cả về thần kinh và cơ bắp, tạo nên khả năng chống lại bệnh tật Hành vi xâm phạm sức khỏe con người là hành vi một người nào đó dùng tác động ngoại lực hoặc bất kỳ hình thức nào làm cho người đó yếu đi hoặc gây
ra những tổn thương ở các bộ phận trong cơ thể, gây bệnh tật, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người đó Nó làm tổn hại đến khả năng suy nghĩ, học tập, lao động, sáng tạo của nạn nhân
Trang 22Mặt khách quan của tội phạm còn thể hiện ở hậu quả nguy hiểm cho xã hội Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm này là những thiệt hại về thể chất như chết người; thiệt hại về sức khỏe; cách ly trẻ em khỏi sự quản lý của gia đình hoặc người thân; truyền bệnh nguy hiểm cho người khác… Phần lớn các tội phạm thuộc Chương XIV Bộ luật hình sự đều có cấu thành vật chất, tức là hậu quả là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm Để truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm này cần phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra
Chủ thể của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện Tuy nhiên do phần Chung của Bộ luật hình
sự quy định pháp nhân thương mại chỉ có thể là chủ thể của một số tội phạm nhất định, trong đó không có các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
Trang 2316
nhân phẩm, danh dự nên các tội phạm này chủ thể chỉ có thể là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt một độ tuổi nhất định Tuy nhiên, đối với một số tội phạm, thì ngoài dấu hiệu chung, chủ thể của tội phạm còn cần có các dấu hiệu đặc biệt như: người đang thi hành công vụ trong Điều 137; người
có chức vụ, quyền hạn hoặc có quan hệ nhất định đối với người bị lệ thuộc (Điều 130, Điều 140)
Mặt chủ quan của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Phần lớn các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp (như tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, v.v ) Tuy vậy, cũng có tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý (như tội vô ý làm chết người (Điều 128); vô ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác (Điều 138), v.v Ngoài ra, một số tội phạm ở Chương này còn được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp, như tội bức tử (Điều 130), tội gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trong khi thi hành công
vụ (Điều 137), v.v
Đối với một số tội, mục đích và động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm như tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126); tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 136) Ngoài ra, Bộ luật hình sự còn quy định động cơ hoặc mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tăng nặng ở một số cấu thành tăng nặng như động cơ đê hèn (điểm q khoản 1 Điều 123 tội giết người; điểm c khoản 2 các điều 151, 152, 153 – các tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em);
để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác, để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân (điểm g, h khoản 1 Điều 123 – tội giết người); để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác (điểm d khoản 2 Điều 133 tội đe dọa giết
Trang 2417
người); để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm n khoản 1 Điều 134 tội cố ý gây thương tích, v.v ); để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo, để đưa ra nước ngoài (điểm b khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 150 – tội mua bán người; điểm h, e khoản 2 các điều 151, 152, 153 – các tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em) Đối với các tội khác, động
cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc
1.3 Đối tượng và phạm vi thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
1.3.1 Đối tượng thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người nằm trong hệ thống các quyền cơ bản của con người được pháp luật quốc tế
và pháp luật của nhiều quốc gia ghi nhận và bảo vệ Trong thời đại toàn cầu hóa, việc đảm bảo quyền con người nói chung và quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe nói riêng được xem là thước đo trình độ phát triển, tính ưu việt của mọi chế độ Tính mạng, sức khỏe vốn là tài sản vô giá của mỗi con người, mọi hành vi xâm phạm trái luật đến tính mạng, sức khỏe của con người đều phải bị xử lý nghiêm minh Tuy nhiên, không phải trường hợp nào xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người cũng đều bị xử lý hình sự; để có đủ căn cứ xử lý hình sự đối với tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe thì cần phải căn cứ vào độ tuổi của người thực hiện hành vi, thực tế diễn biến của hành vi làm chết người: như hành vi gây chết người trong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết thì không phạm tội giết người; hoặc là định lượng của hành vi gây tổn hại đến sức khỏe của người khác dưới 11% mà không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 điều 134 BLHS 2015 và không có đơn yêu cầu xử lý hình sự thì cũng không phạm tội
Trang 25và hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe nói riêng, nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Khi có tội phạm xảy ra, quyền công tố được thực hiện và kết thúc khi bản án được tòa án tuyên tại phiên tòa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật Quyền công tố bao gồm các hoạt động làm rõ tội phạm, hành vi phạm tội, truy tố tội phạm và người phạm tội ra trước tòa án và bảo vệ cáo trạng, quyết định truy tố của cơ quan công tố, Viện kiểm sát tại phiên tòa
Một số quan điểm cho rằng, VKS thực hiện việc truy tố và buộc tội bị cáo trước phiên tòa chính chính là phạm vi thực hành quyền công tố của VKS Bên cạnh đó cũng có một số nhận định cho rằng, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi có hành vi phạm tội, tội phạm xảy ra cho đến khi người phạm tội thi hành xong bản án đã được TA tuyên
Trong TTHS nước ta, VKS là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố và thực hiện xuyên suốt ở các giai đoạn tố tụng, bởi
vì việc tiến hành các hoạt động tố tụng suy cho cùng bao giờ cũng gắn với việc buộc tội Tuy nhiên ở giai đoạn thi hành án thì không còn việc buộc tội
Trang 26- Trong quá trình thực hành quyền công tố, VKS có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án trong một số trường hợp và có thể tự mình tiến hành các biện pháp điều tra làm rõ hành vi phạm tội, tội phạm; áp dụng các biện ngăn chặn được pháp luật quy định hoặc bảo đảm điều kiện tốt nhất cho các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, truy tố người phạm tội và bảo vệ cáo trạng trước tòa án
1.4 Nội dung và ý nghĩa thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
1.4.1 Nội dung thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Thực hành quyền công tố là một trong hai chức năng của Viện Kiểm sát bên cạnh chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Quyền này là quyền hiến định của VKS được quy định tại Khoản 1, Điều 107 Hiến pháp năm 2013 Nước CHXHCN Việt Nam “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”; ngoài ra còn được quy định tại Điều Luật tổ chức VKSND năm 2014 “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Trang 2720
Nhằm quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong từng giai đoạn tố tụng, khắc phục những hạn chế của Bộ luật hiện hành, BLTTHS năm 2015 dành 09 điều luật để quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong 04 giai đoạn tố tụng Cụ thể là:
+ Trong giai đoạn khởi tố: Điều 159 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; Điều 160 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận
và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; Điều 161 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố
vụ án hình sự
+ Trong giai đoạn điều tra: Điều 165 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; Điều 166 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự
+ Trong giai đoạn truy tố: Điều 236 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố; Điều 237 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố
+ Trong giai đoạn xét xử: Điều 266 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi VKS thực hành quyền công tố, trong giai đoạn xét xử; Điều 267 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử
Từ quy định tại 9 điều luật nêu trên, BLTTHS năm 2015 đã quy định
cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, cũng như cơ chế bảo đảm Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình BLTTHS năm 2003: chỉ quy định
“Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” BLTTHS năm 2015: bổ sung 03 điều luật để quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố; quy định trách
Trang 2821
nhiệm của Viện kiểm sát phải giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phục BLTTHS 2015 đã có bước tiến mới, phù hợp với Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã thay đổi trước đó nhằm tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội Và cũng có một quy định cụ thể về Quyền công tố tại Khoản 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 : Thực hành quyền công tố
là hoạt động nhằm mục đích chính là thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội; Quyền công tố được phát động ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến cả trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Cho nên có thể khẳng định rằng, Viện KSND thực hành quyền công tố trong những lĩnh vực sau:
– Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc bắt người
đề ra yêu cầu kiểm tra xác minh, quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tin báo, trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; hủy bỏ các quyết định tạm giữ; hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và các quyết định không khởi tố vụ án hình sự …
– Thực hành quyền công tố việc khởi tố vụ án hình sự: yêu cầu CQĐT tiến hành một số hoạt động điều tra; hủy bỏ, thay đổi, bổ sung quyết định khởi
tố vụ án hình sự ……
– Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự: yêu cầu CQĐT tiến hành một số hoạt động điều tra, khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết
Trang 2922
định khởi tố không có căn cứ và trái pháp luật; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp; áp dụng, thay đổi hủy bỏ các biện pháp ngắn chặn; đề ra yêu cầu điều tra; quyết định gia hạn thời hạn điều tra ……
– Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự: công
bố cáo trạng, quyết định khác về việc buộc tội bị cáo tại phiên tòa; xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chổ; luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kháng nghị bản án, quyết định của tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội ……
Từ những phân tích nếu trên, có thể khẳng định phạm vi thực hành quyền công tố chính là việc sử dụng tất cả các biện pháp có thể, những quyền năng tố tụng mà pháp luật TTHS đã quy định nhằm phát hiện mọi hành vi tội phạm một cách chính xác, kịp thời; xử lý thích đáng, nghiêm minh; không bỏ lọt tội phạm, không để xảy ra tình trạng oan, sai
Chức năng thực hành quyền công tố được BLTTHS năm 2015 quy định tiến hành từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm mà không phải từ khi khởi tố vụ án như hiện nay với nhiều thẩm quyền cụ thể Đồng thời, để nắm bắt kịp thời việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, khắc phục bất cập của Thông tư liên tịch số 06 ngày 02/8/2013 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố “Sau khi tiếp nhận thông tin liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra phải tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu Nếu xác định thông tin đó là tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố, thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật”,
Trang 3023
BLTTHS năm 2015 quy định: Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp
1.4.2 Ý nghĩa thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Khác với kiểm sát hoạt động tư pháp trong TTHS, thực hành quyền công tố không hướng tới mục đích nhằm đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự
… đúng quy định pháp luật; mọi vi phạm pháp luật trong hooạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh
Từ bản chất, nội dung, phạm vi hoạt động thực hành quyền công tố nêu trên có thể thấy công tác thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm:
– Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
– Không để bất cứ cá nhân nào bị cơ quan chức năng khởi tố hoặc bị bắt, tạm giữ, tạm giam và bị hạn chế các quyền công dân, hoặc bị xâm phạm đến tính mạng, đến sức khoẻ, và cả tài sản, sự tự do, danh dự nhân phẩm một cách trái pháp luật
– Hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can của Viện Kiểm sát phải đảm bảo tính có căn cứ và đúng pháp luật quy định
Có thể nói rằng, VKS sử dụng mọi quyền năng để thực hành quyền công tố nhằm góp phần bảo đảm cho pháp luật hình sự được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất trên toàn hệ thống, thông qua đó sẽ bảo vệ tốt Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Trang 312 VKS thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người được thực hiện từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và cả trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử VAHS, như vậy có phạm vi rộng hơn
3 Nội dung và ý nghĩa của công tác thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe khác với kiểm sát hoạt động tư pháp
và chỉ được thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Trang 3225
CHƯƠNG 2 THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI TỪ THỰC TIỄN TỈNH
Để khắc phục tình trạng trên, BLTTHS năm 2015 đã quy định VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
Trang 3326
phạm, kiến nghị khởi tố với 11 điều luật cụ thể và 40 điều khoản sửa đổi, bổ sung xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia
tố tụng Theo đó, VKS chuyển từ nhiệm vụ kiểm sát (mang tính thụ động) sang thực hành quyền công tố và kiểm sát (mang tính chủ động, tích cực, gắn
và đồng hành với hoạt động của CQĐT) Những quy định cụ thể tại Điều 159 BLTTHS 2015 là một bước tiến mới trong việc nhận thức và cụ thể hóa thẩm quyền của VKS trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, góp phần quan trọng vào việc chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm
2.1.2 Quy định về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ
án hình sự
BLTTHS năm 2015 đã có những bước phát triển mới, hoàn thiện hơn
so với BLTTHS 2003 BLTTHS 2003 không có điều luật cụ thể nào quy định
về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố VAHS Tuy nhiên, đến khi BLTTHS năm 2015 được ban hành và có hiệu lực, thực hành quyền công
tố trong giai đoạn khởi tố vụ án đã được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 161 BLTTHS 2015
Tại BLTTHS năm 2003 chỉ có 10 điều luật; và BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể hóa, chi tiết với 20 điều luật Lý do là để bổ sung những quy định còn thiếu như: trình tự, thủ tục tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; các biện pháp tố tụng được áp dụng; trách nhiệm thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát Như vậy, đã phù hợp với Luật tổ chức VKSND năm 2014, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội
2.1.3 Quy định về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự
Điều 165 BLTTHS năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của
Trang 3427
VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự; trách nhiệm của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra Nhiệm vụ hết sức quan trọng và hoàn toàn mới đề cập trong BLTTHS 2015 đó là VKS “đề ra yêu cầu điều tra”
- BLTTHS năm 2015 nêu rõ đối tượng mà VKS ra bản YCĐT không chỉ là CQĐT mà cả cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân
- Nội dung trong YCĐT nhằm mục đích làm rõ tội phạm cũng như người phạm tội và một số nội dung khác cần thiết liên quan đến vụ án Đây là một nội dung mới được đề cập trong BLTTHS năm 2015 mà BLTTHS 2003 chưa đề cập, vấn đề này nhằm giải quyết triệt để các vụ án, giúp cho VKS tham gia sâu vào quá trình điều tra nhằm bao quát đến toàn bộ vụ án hình sự
2.1.4 Quy định về thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Giai đoạn truy tố là giai đoạn tiếp theo của hoạt động tố tụng hình sự Giai đoạn nàyđược tính: bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố cùng các tài liệu thu thập được trong hồ sơ của vụ án
và giai đoạn này kết thúc khi Viện kiểm sát ra một trong ba quyết định như sau: Quyết định truy tố bị can (Cáo trạng); Quyết định trả HSĐTBS; Các Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hoặc Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ
án
Đây là một giai đoạn mang tính chất độc lập trong quá trình tố tụng hình sự Trong giai đoạn này, VKS sử dụng các quyền năng pháp lý của mình trong phạm vi luật định để đánh giá lại toàn bộ quá trình điều tra, các trình tự thủ tục tố tụng có căn cứ hay không, có hợp pháp hay không Ngoài ra, nó còn
Trang 3528
giúp cho VKS đưa ra các quyết định có tính khách quan và toàn diện; góp phần đảm bảo pháp luật được áp dụng một cách thống nhất, truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm, oan, sai người vô tội; tăng cường pháp chế xã hội chủ nhgiax, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, bị can, và những người liên quan trong vụ án hình sự
Nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố của VKS không được quy định cụ thể tại BLTTHS 2003 và Luật Tổ chức VKSND 2002 nên trong thực tiễn gặp phải nhiều vướng mắc khi áp dụng pháp luật Để giải quyết những bất cập đó, BLTTHS 2015 và Luật Tổ chức VKSD 2014 đã có những sự thay đổi, bổ sung, quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn trong từng khâu công tác, trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể về thực hành quyền công tố từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm cho đến quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Những quy định trên rất quan trọng và lần đầu tiên được quy định trong Luật Tổ chức VKSND và BLTTHS, tạo cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát tăng cường vai trò, trách nhiệm, thực hiện hiệu qủa chức năng, nhiệm vụ trong tố tụng hình sự Việc này đã giúp cho công tác thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn truy tố được rõ ràng, cụ thể hơn, đảm bảo sự toàn diện khi Viện Kiểm sát thực hiện chức năng của mình, vì nó mang lại tính chủ động, để tạo sự hiệu quả trong công việc
2.1.5 Quy định về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ
án hình sự
Với những quy định về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử thì BLTTHS năm 2003 đã không nêu ra cụ thể những điều luật quy định về chức năng này, cụ thể về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ
án hình sự Các nhà làm luật đã nhận thấy được những thiếu sót đó, và họ đã
Trang 3629
tập hợp, bổ sung một điều luật cụ thể, riêng biệt quy định về nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi VKS thực hành quyền công tố giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm
Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm: Thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội, không làm oan người vô tội, pháp nhân thương mại vô tội Khi VKS thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát có nhiệm
vụ, quyền hạn theo Điều 266 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 18 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các quy định pháp luật khác có liên quan
2.1.6 Đánh giá quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố
Qua gần 15 năm thực hiện, BLTTHS năm 2003 đã góp một phần không nhỏ vào việc bảo đảm trật tự an toàn xã hội; bảo đảm
các điều kiện tối ưu để phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập Nhưng trong quá trình thực thi BLTTHS năm 2003, Bộ luật
đã bộc lộ nhiều hạn chế, không theo kịp với nhu cầu, thực tiễn xã hội trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, vì vậy vấn đề bổ sung và sửa đổi BLTTHS năm 2003 là một đòi hỏi cấp thiết và mang tính thực tế
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ra đời đã kế thừa BLTTHS năm
2003 và phát triển một cách vượt bật, đáp ứng đầy đủ nhu cầu, đòi hỏi thực tiễn của xã hội, cụ thể hóa chủ trương của Đảng trong công cuộc cải cách tư pháp; các quy định của Hiến pháp năm 2013; và là một công cụ pháp lý quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo lợi ích Nhà nước, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân Quá trình áp dụng BLTTHS 2015 phần nào đã tháo gỡ những bất cập, vướng mắc mà BLTTHS 2003 gặp phải Ngoài ra, BLTTHS
2015 còn quy định cụ thể tăng cường trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền
Trang 37+ Điều 104 BLTTHS 2003 quy định: cơ quan điều tra có thẩm quyền ban hành quyết định khởi tố vụ án; sau đó chuyển cho viện kiểm sát để thực hiện kiểm sát việc khởi tố Và phải có sự phê chuẩn của VKS đối với các quyết định khởi tố bị can Trên thực tế, với quy định như vậy, Viện Kiểm sát không thể nắm rõ được việc khởi tố của cơ quan điều tra do còn nhiều bất cập trong quá trìnhtiếp nhận và xác minh thông tin tội phạm Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2003 tại Điều 103 quy định rất chung chung, không cụ thể trách nhiệm của VKS và CQĐT trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm VKS chỉ có trách nhiệm khi tiếp nhận các tố giác, tin báo về tội phạm và các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền Cho nên, VKS không nắm được tố giác, tin báo về tội phạm thực tế CQĐT các cấp tiếp nhận về số lượng lẫn nội dung tin báo Vấn
đề này không chỉ ảnh hưởng trực tếp đến việc thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm cụ thể như nắm tình xác minh tội phạm tới đâu, diễn biến thế nào? Mà còn ảnh hưởng đến việc ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của VKS cùng cấp
Để khắc phục bất cập như đã nêu ra, BLTTHS năm 2015 đã quy định
Trang 3831
một cách cụ thể những vấn đề về trách nhiệm và thủ tục tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các cơ quan tố tụng, công
an xã, phường, thị trấn tại điều 146 Ngoài ra, BLTTHS 2015 còn bổ sung quy định trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm cho Viện kiểm sát
+ Đối với việc khởi tố bị can, khoản 5 Điều 126 BLTTHS quy định VKS chỉ thực hiện thẩm quyền khởi tố bị can sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong
vụ án chưa bị khởi tố Trong thực tiễn thực hiện quy định trên có nhiều bất cập khi trong giai đoạn điều tra, VKS phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố thì VKS chỉ có thẩm quyền yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can nhưng thực tế có nhiều trường hợp VKS yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện Để hạn chế bất cập này, tại khoản 4 Điều 179 BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định: Trường hợp phát hiện có người đang thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm chưa bị khởi
tố thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can nếu đã yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện
+ Về phục hồi vụ án, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định: khi có
lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án thì VKS ra quyết định phục hồi vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS Nếu vụ án bị đình chỉ theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 157 của BLTTHS mà bị can không đồng ý và yêu cầu phục hồi vụ án thì VKS ra quyết định phục hồi vụ án
Những quy định trong BLTTHS năm 2015 đã ra đời và thay thế BLTTHS năm 2003 là một đòi hỏi hết sức cấp thiết Việc này đã góp phần giải quyết những bất cập trong thực tiễn hoạt động tố tụng của VKS; ngoài ra,
Trang 392.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người trên địa bàn tỉnh Bình Định
Bình Định nằm ở khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam Lãnh thổ của tỉnh trải dài khoảng 110 km, diện tích tự nhiên: 6.025 km², diện tích vùng lãnh hải: 36.000 km² Bình Định có địa thế gia thông là cửa ngõ ra biển gần nhất và thuận lợi nhất của các vùng Tây Nguyên, nam Lào, đông bắc Campuchia và Thái Lan Năm 2017, dân số trung bình tỉnh Bình Định là 1.529.020 người Mật độ dân số trung bình 251,1 người/km2, bằng 93% mật
độ trung bình của cả nước (274 người/km²); tỷ lệ dân số thành thị chiếm 31,03%; nam giới chiếm 48,85%, nữ giới chiếm 51,15%, nông thôn chiếm 68,97% Bình Định có dân tộc Kinh (chiếm 98%), ngoài ra còn có các dân tộc khác cùng sinh sống trên địa bàn, trong đó chủ yếu là 3 dân tộc Chăm, Ba Na
và Hrê sinh sống ở các huyện miền núi An Lão, Vân Canh, Vĩnh Thạnh và trung du Hoài Ân, Phù Cát
Do có vị trị là cửa ngõ giao thoa của khu vực miền Trung và Tây nguyên, nên sự giao lưu của nhiều nền văn hóa đan xen nên không thể tránh khỏi những sự khác biệt về phong tục, tập quán và cách sống, khi không thể dung hòa được lợi ích cá nhân thì sẽ nảy sinh mâu thuẫn và trường hợp tệ nhất là tự giải quyết mâu thuẫn với nhau bằng các hành vi cố ý gây thương tích, giết người
Trong tình hình các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người
Trang 4033
trên địa bàn tỉnh Bình Định ngày càng tăng về số lượng, tính chất và quy mô; đòi hỏi từng cán bộ, kiểm sát viên phải luôn không ngừng nâng cao trách nhiệm công tố, thực hành quyền công tố bằng các biện pháp như: tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tô với điều tra nhằm chống oan sai và bỏ lọt tội phạm Bên cạnh đó, Viện KSND tỉnh Bình Định thường xuyên tổ chức các hội nghị trực tuyến nhằm thảo luận, hướng dẫn nghiệp vụ đối với cấp huyện Tuy nhiên, công tác thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe vẫn chưa đạt được hiệu quả cao, bởi vẫn còn một số tồn tại như:
Về cơ cấu tổ chức, đến thời điểm tháng 12/2018, Viện KSND tỉnh Bình Định có 11 Viện KSND cấp huyện trực thuộc, với 225 cán bộ, KSV Trong số
đó có 110 KSV: 01 KSV cao cấp, 42 KSV trung cấp, 67 KSV sơ cấp; Hơn 90% cán bộ có trình độ Cử nhân trở lên, 50 cán bộ, KSV đã tốt nghiệp và đang theo học Cao học trong nước, trong đó có có 01 đồng chí bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ tại Úc Đây cũng là một thuận lợi không nhỏ về nguồn nhân lực trình đồ cao để ngành KSND tỉnh Bình Định thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, đa số các KSV còn trẻ, mặc dù đã được các KSV có thâm niên hướng dẫn, giúp đỡ nhưng kinh nghiệm còn hạn chế
Bên cạnh đó, trong khi vẫn còn thiếu 26 chỉ tiêu KSV trung và sơ cấp theo Quyết định số 53/QĐ-VKSTC-V9 ngày 02/4/2015 của Viện trưởng Viện KSND Tối cao, thì theo Nghị quyết số 522e/NQ-UBTVQH13 ngày 16/8/2012 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định tổng biên chế, số lượng Kiểm sát viên, Điều tra viên thì toàn ngành KSND nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng phải tinh giản 10% chỉ tiêu bên chế, trong khi lượng án ngày càng tăng lên thì đây cũng là một trong số những khó khăn gặp phải trong công tác thực hành quyền công tố các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe con người tại tỉnh Bình Định