Quận Thanh Xuân đã năng động, sáng tạo thực hiệncác nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước và có các chính sách để xâydựng, phát triển giáo dục Quận nhằm nâng cao chất lượng giáo dụ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌCPGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Đề tài này do cá nhân tôi tự nghiên cứu, không vi phạm đạo đức trongnghiên cứu, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, bố cục,phông chữ của luận văn đúng với quy định và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 27 tháng 02 năm 2019
Tác giả luận văn
Trần Thị Nhiên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở CẤP HUYỆN 8
1.1 Lý luận về thực hiện chính sách công 81.2 Lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục 13
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TẠI QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 25
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Thanh Xuân 252.2 Tình hình thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận ThanhXuân 272.3 Đánh giá chung 49
Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TẠI QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 53
3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo 533.2 Mục tiêu phát triển giáo dục của quận Thanh Xuân 543.3 Một số giải pháp thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quậnThanh Xuân trong những năm tới 57
KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Quy mô trường, lớp, số học sinh 29
Bảng 2.2: Kết quả đánh giá toàn diện các trường - cấp Mầm non 31
Bảng 2.3: Kết quả khen thưởng học sinh cuối năm học - cấp Tiểu học 32
Bảng 2.4: Kết quả xếp loại các mặt giáo dục cuối năm học - cấp THCS 34
Bảng 2.5: Số trường công lập đạt chuẩn quốc gia 43
Trang 7sự phát triển của kinh tế tri thức Những chuyển biến hết sức mạnh mẽ này đãlàm thay đổi, nếu không nói là đảo lộn nhiều triết lý, quan niệm, phương thức
tổ chức và hoạt động của hầu hết các lĩnh vực mà trước hết và chủ yếu chính
là giáo dục và đào tạo Giáo dục và chính sách phát triển giáo dục có vị trí đặcbiệt quan trọng đối với mỗi quốc gia trên thế giới Tri thức, khoa học - côngnghệ đang trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) trong giaiđoạn hiện nay Phát triển giáo dục là phát triển khoa học công nghệ, phát triểnnguồn nhân lực của thế hệ hiện nay và mai sau
Sau hơn 30 năm, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng cộng sản ViệtNam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn Việt Namđang bước vào thời kỳ phát triển mạnh với vị thế về diện mạo mới Kinh tếliên tục phát triển đạt tốc độ tăng trưởng cao Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) Hội nhập kinh tế quốc tếtừng bước đưa Việt Nam khẳng định được vị thế trên trường quốc tế và thuhút các nhà đầu tư Tuy vậy, nền kinh tế nước ta vẫn ở mức thấp so với nhiềunước khu vực và trên thế giới Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa (XHCN) chưa đồng bộ, đòi hỏi ngày càng cao với nguồn nhân lực
và chất lượng nguồn nhân lực trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất
Trang 8nước và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Xây dựng một thế hệ ngườiViệt Nam đáp ứng yêu cầu tình hình mới, yêu cầu phát triển KT-XH là đòihỏi không thể thiếu của ngành giáo dục Đảng ta đã xác định: Giáo dục và đàotạo (GD&ĐT) là quốc sách hàng đầu; tư tưởng, quan điểm của Đảng được thểchế hoá, hoạch định thông qua các chính sách của Nhà nước, của ngànhGD&ĐT và gần đây nhất là Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” (viết
tắt là Nghị quyết 29-NQ/TW) Thực trạng phát triển giáo dục, hoạch địnhchính sách và việc triển khai tổ chức thực hiện chính sách giáo dục của nước
ta đang đứng trước những thuận lợi, khó khăn, đòi hỏi phải có những giảipháp để đổi mới giáo dục, trong đó, đặc biệt quan tâm đến đến xây dựng hệthống chính sách
Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội là một quận có nhiều thay đổi lớn
do quá tình đô thị hóa nhanh sau khi Hà Tây sáp nhập vào thành phố Hà Nộitheo tinh thần Nghị quyết 15 của Quốc hội khoá XII về mở rộng địa giới hànhchính Thủ đô Hà Nội Quận Thanh Xuân đã năng động, sáng tạo thực hiệncác nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước và có các chính sách để xâydựng, phát triển giáo dục Quận nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,từng bước vươn lên trở thành Quận phát triển giáo dục hàng đầu của Thủ đô.Quá trình triển khai, tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo dụcđang rất cần một hướng nghiên cứu mới, một cái nhìn mới Từ hướng tiếp cậnchính sách công về quá trình thực hiện chính sách phát triển giáo dục của
ngành GD&ĐT quận Thanh Xuân, tác giả chọn: “Thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” làm đề tài Luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 92.1 Tiếp cận dưới góc độ lý thuyết chính sách công
Trang 10Tác giả Nguyễn Đăng Thành (Chủ nhiệm đề tài, 2004), “Chính sáchcông: Cơ sở lý luận” đã đưa ra một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơbản về chính sách công như: Lý thuyết chính sách công; các công cụ nghiêncứu chính sách công; các cách tiếp cận khi nghiên cứu chính sách công [28].Tác giả Chu Văn Thành (Chủ biên, 2004) cuốn sách “Dịch vụ công và xãhội hoá dịch vụ công, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Cuốn sách là tậphợp các bài viết về dịch vụ công, trong đó có giáo dục với tư cách là nhữngdịch vụ công chủ yếu mà Nhà nước có nghĩa vụ cung cấp Trong cuốn sáchnày, vấn đề nghiên cứu được đề cập đến dưới góc độ vĩ mô, mang tầm quốcgia, đó là việc hoạch định và thực thi chính sách giáo dục dưới góc độ chung[29].
Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên, 2006), Giáo trình hoạch định và phân tíchchính sách công, NXB Giáo dục Cuốn sách đã đề cập đến chính sách côngdưới góc độ chung nhất, bao gồm các vấn đề như: Nhận thức về chính sáchcông; hoạch định chính sách công; tổ chức thực thi chính sách công; phân tíchchính sách công [15]
2.2 Tiếp cận dưới góc độ lý luận về chính sách giáo dục
Đề tài “Luận cứ khoa học cho việc đề xuất chủ trương, chính sách pháttriển giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ” của “Quỹ Hoà bình vàphát triển” của tác giả Nguyễn Thị Bình (nguyên Phó Chủ tịch nước) làm Chủtịch đề tài Các tác giả cho rằng, đây là công trình lớn của quốc gia, đề xuấtviệc đầu tiên cần làm là lập Uỷ ban cải cách giáo dục, Uỷ ban có nhiệm vụsoạn thảo chiến lược giáo dục và phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020 vớitầm nhìn 2030 và xa hơn
Tác giả Trần Văn Hùng với Đề tài “Tác động của các chính sách đổi mớigiáo dục đại học đối với sự phát triển quy mô của hệ thống giáo dục đại học”
Trang 11đã nêu và phân tích thực trạng về sự tác động của các chính sách đổi mới giáodục đại học đối với sự phát triển quy mô của hệ thống giáo dục đại học Việt
Trang 12Nam trong giai đoạn vừa qua ở nước ta và đề xuất những định hướng cho việcxây dựng chính sách phát triển giáo dục đại học đến năm 2010.
Trong Đề án “Cải cách giáo dục Việt Nam - phân tích và đề nghị” củanhóm nghiên cứu giáo dục Việt Nam (người Việt ở nước ngoài và trongnước) đã xem xét một cách tương đối toàn diện tính hợp lý của chiến lược thịtrường hoá nền giáo dục Việt Nam (ở nước ta được gọi bằng “xã hội hoá”),phân tích và rút ra những vấn đề rất hữu ích cho giáo dục Việt Nam: Mục tiêucủa giáo dục và trách nhiệm xã hội; giáo dục và vấn đề ngân sách nhà nước;
kế hoạch cho hệ thống giáo dục
Nghiên cúu về Thực hiện chính sách xã hội hóa trong giáo dục của tácgiả Trần Khánh Đức đã đề cập đến những thành tựu và bất cập trong việc thựchiện chính sách xã hội hóa trong giáo dục phổ thông ở nước ta trong thời kỳhội nhập
Tác giả Nguyễn Khắc Bình (2007) đã có công trình nghiên cứu về
“Chính sách giáo dục suốt đời ở Việt Nam từ 1945 đến nay) đã tổng kết đánhgiá việc hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách phát triển giáodục suốt đời ở Việt Nam kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa (nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến những năm đầu củathế kỷ 21 [4]
Tác giả Trần Thị Hà và Nguyễn Khắc Bình trong nghiên cứu “Nhữngthành tựu và bất cập trong việc thực hiện chính sách đổi mới phát triển giáodục đại học ở Việt Nam theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệmcho cơ sở đào tạo” đã nêu trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâurộng, giáo dục đại học Việt Nam đã có những đổi mới trong hoạch định chínhsách giáo dục đại học theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, theo xu thế hộinhập Trong nghiên cứu, các tác giả cũng đã đề cập đến những bất cập trongthực hiện chính sách phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục đại
Trang 13học nói riêng và những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách pháttriển giáo dục ở nước ta hiện nay.
Để thực hiện công cuộc phát triển đất nước, chính sách phát triểnGD&ĐT có tầm quan trọng và gắn liền với yêu cầu đáp ứng nhân lực chấtlượng cao để phục vụ phát triển KT-XH của đất nước Với ý nghĩa to lớn đó,
từ năm 2010 đến nay, công tác thực hiện chính sách phát triển giáo dục đã cónhiều cuộc hội thảo về đánh giá việc tổ chức thực hiện các chính sách đổi mớigiáo dục ở nước ta Các nghiên cứu trong các hội thảo đã nêu lên tầm quantrọng của khâu thực hiện chính sách phát triển giáo dục trong quy trình chínhsách giáo dục Bên cạnh đó các nghiên cứu cũng đã nêu những bất cập trongviệc tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay Vìvậy, hy vọng nghiên cứu này sẽ góp phần nhỏ bé đánh giá thực trạng thựchiện chính sách phát triển giáo dục tại một quận của Thủ đô để làm tài liệu,kinh nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ quản lý trong các
cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục tham khảo
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấphuyện, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quậnThanh Xuân, thành phố Hà Nội để đưa ra một số giải pháp thực hiệnchính sách phát triển giáo dục ở Quận trong những năm tới; góp phần nângcao chất lượng GD&ĐT phục vụ cho việc phát triển KT-XH ở Quận và Thủ đô
Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục cấp huyện
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách chính sách phát triển giáo dụctại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội trong thời gian 2016-2018
Trang 14- Đề xuất một số giải pháp thực hiện chính sách phát triển giáo dục tạiquận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách phát triển giáo
dục tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Thực hiện chính sách phát triển giáo dục (giáo
dục mầm non (MN), giáo dục tiểu học (TH), giáo dục trung học cơ sở(THCS); không bao gồm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên) tạiquận Thanh xuân, thành phố Hà Nội
4.3 Hướng tiếp cận nghiên cứu: Luận văn tiếp cận theo hướng kết quả
thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân, thành phố HàNội
4.4 Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2016 đến năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách công, cácgiai đoạn trong quy trình chính sách công, thực hiện chính sách công và đặcbiệt là lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục với những nội dungthực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:
* Phương pháp thống kê - phân tích
+ Thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập số liệu từ các tài liệu, báo cáo đãban hành và công khai trên Cổng thông tin điện tử quận Thanh Xuân
+ Thu thập tài liệu sơ cấp: Toàn bộ số liệu phục vụ cho nghiên cứu luậnvăn tác giả thu thập qua thống kê, phân tích số liệu từ các tài liệu có sẵn
* Phương pháp tổng hợp - so sánh
- Phương pháp phân tích: Phân tích các báo cáo, tài liệu liên quan đếntình hình thực hiện chính sách phát triển giáo dục của các đơn vị thuộc Quận
Trang 16- Phương pháp so sánh: Sử dụng so sánh để đối chiếu giữa các kỳ vànăm thực hiện chính sách phát triển giáo dục của các đơn vị thuộc Quận.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Luận văn hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm, các vấn đề
lý luận cơ bản liên quan thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện;phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển giáo dục ởcấp huyện
Về thực tiễn: Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tế về thực hiện chính
sách phát triển giáo dục ở cấp huyện tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội,Luận văn nêu lên thực trạng thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại mộtQuận của thành phố Hà Nội; một số giải pháp thực hiện chính sách phát triểngiáo dục ở Quận trong những năm tới Đây là những tư liệu kinh nghiệm chocác nhà quản lý ở các cơ quan hành chính nhà nước, địa phương tham khảotrong việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục của đơn vị, địa phươngmình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục ởcấp huyện
Chương II: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quậnThanh Xuân, thành phố Hà Nội
Chương III: Giải pháp thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quậnThanh Xuân, thành phố Hà Nội
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở CẤP HUYỆN
1.1 Lý luận về thực hiện chính sách công
1.1.1 Khái niệm chính sách công
Chính sách công là một trong những công cụ quan trọng của quản lýNhà nước, thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, những mụctiêu của Nhà nước được hiện thực hóa Chủ thể ban hành chính sách côngchính là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực và các cơ quan thực hiệnchức năng quản lý nhà nước
Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về chính sách công được các họcgiả đưa ra Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các địnhnghĩa đều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là chính sách công bắt nguồn từcác quyết định của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung vì lợiích của đời sống cộng đồng
Tác giả Nguyễn Văn Thọ dẫn giải định nghĩa về chính sách công củaThomas Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công là: “bất kỳnhững gì mà Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” Khái niệm về chínhsách công của William Jenkins cụ thể thơn so với định nghĩa trên Theo ông,chính sách công là: “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau đượcban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt độngchính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mụctiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ” CònJames Anderson đưa ra một định nghĩa chung hơn, mô tả chính sách như là:
“một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một nhà hoạt độnghoặc một nhóm các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh, hoặcvấn đề quan tâm” [30, tr.15]
Trang 18Tác giả Nguyễn Khắc Bình cho rằng: Chính sách công là hoạt động màchính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung độttrong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định [5,tr.13].
Tôi sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Khắc Bình trong nghiên cứu này
1.1.2 Vai trò của chính sách công
Vai trò cơ bản của chính sách công thể hiện ở chỗ là công cụ hữu hiệuchủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồntại và phát triển của nhà nước, phát triển KT-XH và phục vụ người dân Dướigóc độ quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng chính sách công như mộtcông cụ quan trọng tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội để đạt đượcmục tiêu định hướng của nhà nước
Các thay đổi xã hội lớn đều có nguồn gốc từ sự thay đổi chính sách, mởđường cho những thể chế mới đi vào cuộc sống Công cuộc đổi mới từnăm
1986 là một minh chứng cho sự đi trước của chính sách trong phát triển
KT-XH tại Việt Nam, khắc phục được cuộc khủng hoảng KT-KT-XH, huy động đượclực lượng sản xuất từ đó nâng cao mức sống, giải quyết các vấn đề an sinh xãhội Chính sách công đóng vai trò quan trọng, thể hiện dưới một số hướng tiếpcận cụ thể sau:
Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh
tế - xã hội Do chính sách phản ánh thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với
một vấn đề công, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lêncác chủ thể trong xã hội, giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai
mà nhà nước mong muốn Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợpvới những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội Nếu các chủ thể kinh tế, xã hộihoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàngđạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía nhà nước
Trang 19hay xã hội Điểu đó có nghĩa là, cùng với mục tiêu định hướng, cách thức tácđộng của CSC cũng có vai trò định hướng cho các chủ thể hành động.
Trang 20Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế
-xã hội theo mục tiêu chung Muốn đạt được các mục tiêu phát triển KT-XH
chung, nhà nước phải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi chính sách lại
có những cách thức tác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thểthuộc mọi thành phần Sự tác động của chính sách công không mang tính bắtbuộc, mà chỉ khuyến khích các chủ thể hành động theo ý chí của nhà nước
Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và
các quy luật thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vàosảnxuất kinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất laođộng, chất ượng sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xãhội Nhờ đó mà cả xã hội và từng người dân, tổ chức đều được hưởng lợi.Nhưng, sự vận hành của thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực gâyảnh hưởng không tốt lên toàn xã hội và mỗi người dân Trong tình hình đó,nhà nước phải sử dụng hệ thống chính sách công để giải quyết những vấn đềbất cập về kinh tế, khắc phục những thất bại của thị trường thông qua trợ cấp,cung ứng dịch vụ công cho người dân do các doanh nghiệp nhà nước, các đơn
vị sự nghiệp công hay hội, tổ chức phi chính phủ thực hiện
Thứ tư, tạo lập các cân đối trong phát triển Để KT-XH phát triển một
cách ổn định bền vững, nhà nước phải dùng chính sách để tạo lập các cân đối
vĩ mô cơ bản, đồng thời, nhà nước còn dùng chính sách để điều tiết đảm bảocho sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước
Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội Nhà nước
luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho pháttriển Mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng về lượng và cải thiện
về chất trong hiện tại và tương lai Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theohướng bền vững, nhà nước thông qua các chính sách thực hiện kiểm soát quá
Trang 21trình khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xãhội.
Trang 22Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội
Thông qua các chính sách, nhà nước tạo những điều kiện cần thiết để hìnhthành môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động như: chính sáchphát triển thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học và côngnghệ, thị trường bất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng
Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành Việc
thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách không chỉ và không thể domột cơ quan nhà nước đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia của nhiều cơ quanthuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cá mân Vì vậy,thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cơquan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân, góp phầntạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thi chính sách công
1.1.3 Các giai đoạn trong quy trình chính sách công
Quy trình chính sách công gồm 3 giai đoạn cơ bản:
- Hoạch định chính sách:
Trong giai đoạn này, các chính sách được nghiên cứu đề xuất để Nhànước phê chuẩn và ban hành công khai Quá trình đề xuất chính sách bao gồmviệc xác định vấn đề cần ra chính sách, xác định các mục tiêu mà chính sáchcần đạt được và xác định các giải pháp cần thiết để đạt tới các mục tiêu đó.Muốn xác định được vấn đề chính sách, cần phải thường xuyên quan sát vàphân tích tình hình thực tế để dự báo được những mâu thuẫn cơ bản cần giảiquyết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội
- Tổ chức thực thi chính sách:
Đây là giai đoạn thực hiện các mục tiêu chính sách công trên thực tế.Nói cách khác, đây là giai đoạn vận dụng những giải pháp định trước để đạtđược các mục tiêu chính sách Chính trong giai đoạn này, chính sách đượcbiến thành kết quả thực tế Giai đoạn này bao gồm các hoạt động triển khai,
Trang 23phối hợp thực hiện, kiểm tra đôn đốc và hiệu quả chính sách cùng các biệnpháp tổ chức thực thi để chính sách phát huy tác dụng trong cuộc sống.
- Đánh giá chính sách:
Đây là một giai đoạn quan trọng trong quy trình chính sách Trong giaiđoạn này, người ta tiến hành so sánh các kết quả của chính sách công với cácmục tiêu đề ra, phân tích hiệu quả KT-XH đạt được thông qua việc thực thichính sách trên thực tế
1.1.4 Khái niệm về thực thi chính sách công
Chính sách được hoạch định ra xuất phát từ yêu cầu khách quan củathực tế, từ những nhu cầu của xã hội Trải qua rất nhiều thời kỳ, từ năm 1930đến 1960, các nhà nghiên cứu quy trình chính sách hầu như chỉ tập trung tìmtòi về việc hoạch định chính sách công Song cho đến tận ngày nay, người tavẫn khó có thể khẳng định rằng, một chính sách đề ra là tốt hay xấu, điều đóchỉ có thể được đánh giá bằng thực tế là chính sách đó được xã hội chấp nhậnhay không Chỉ có thực tiễn mới phán xét chính xác nhất chính sách nào làtích cực và chính sách nào là tiêu cực Trong thập kỷ 70, các nhà nghiên cứu
đã chuyển trọng tâm sang giai đoạn thực thi chính sách
Theo nguyên lý triết học, chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệtnên nó cũng cần thực hiện những chức năng để tồn tại Song muốn thực hiệnđược chức năng, chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các vậtchất khác Nghĩa là sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai trongđời sống xã hội Do vậy, tổ chức thực thi chính sách là tất yếu khách quan đểduy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý Nhà nước vàcũng là để đạt mục tiêu đề ra của chính sách Với cách tư duy này có thể điđến khái niệm về tổ chức thực thi chính sách như sau:
“Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước” [30, tr.1].
Trang 24Trong quá trình thực thi chính sách, các nguồn lực vật chất, tàichính, khoa học công nghệ và con người được đưa vào các hoạt động có tínhđịnh hướng để đạt được các mục tiêu đã đề ra Nói cách khác, đây là quá trìnhkết hợp giữa con người với các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học côngnghệ nhằm sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả theo những mụctiêu đề ra.
Chủ thể thực thi chính sách trước hết là quan trọng nhất là các cơ quanhành chính nhà nước, bởi vì đây chính là các cơ quan có nhiệm vụ quản lý và
tổ chức triển khai các công việc hàng ngày của Nhà nước Tuy nhiên, các cơquan lập pháp và tư pháp cũng như các tổ chức Đảng, đoàn thể cũng có vaitrò quan trọng trong việc huy động và tổ chức lực lượng tham gia triển khaichính sách
1.2 Lý luận về thực hiện chính sách phát triển giáo dục
1.2.1 Khái niệm về giáo dục và chính sách phát triển giáo dục
Theo Từ điển Bách khoa: Giáo dục là quá trình đào tạo con người mộtcách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội,tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyềnthụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người
Thực hiện chính sách phát triển giáo dục là một khâu quan trọng trongchu trình chính sách công Trong thực tiễn có nhiều loại chính sách khác nhau,xuất phát từ tầm quan trọng của GD&ĐT, chính sách phát triển giáo dục
là một trong những chính sách quan trọng, nhằm phát triển giáo dục với tưcách là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển xã hội và có tácđộng mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia
Qua những nghiên cứu, phân tích khái niệm ở trên tác giả Phạm MinhHạc cho rằng: “Chính sách phát triển giáo dục là hệ thống những quan điểm,đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; các bộ, ngành trung ương vàchính quyền địa phương về hoạt động giáo dục nhằm phát triển và hoàn thiện
Trang 25công tác GD&ĐT với mục đích nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài” [16, tr.20].
Dựa vào các quan điểm trên về chính sách giáo dục, tác giả cho rằng:Chính sách phát triển giáo dục là các hoạt động của Nhà nước để điều tiếtcác hoạt động GD&ĐT thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luậtnhằm mục đích phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước
Từ quan niệm về chính sách phát triển giáo dục như trên, theo tác giả,thực hiện chính sách phát triển giáo dục là quá trình biến các chính sách giáodục thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chứctrong bộ máy nhà nước nhằm hiện thực hoá các chính sách giáo dục đã đề ra
1.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục
Cơ cấu tổ chức: Xem trang bên
Trang 26Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về giáo dục
- Giáo dục-đào tạo trong cả nước.
- Cải cách nội dung chương trình cấp học.
Báo cáo Quốc hội:
- Hoạt động giáo dục-đào tạo.
- Thực hiện ngân sách giáo dục.
BỘ, CQ NGANG BỘ
Phối hợp
với Bộ GD&ĐT, QLNN về GD&ĐT theo thẩm quyền quy định.
Viện nghiên cứu Khoa học giáo dục
Cơ quan sản xuất, kinh doanh
Trường thuộc Bộ GD&ĐT
TTGDTXHN-DN thuộc Sở GD&ĐTPhối hợp, hướng dẫn thực hiện, kiểm tra:
Trang 271.2.3 Nội dung chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện
Chính sách phát triển giáo dục được thể hiện trong Luật Giáo dục 2005(sửa đổi năm 2009), Luật Giáo dục đại học (2012), Luật Giáo dục Nghềnghiệp (2014), các nghị quyết về GD&ĐT của Quốc hội, các nghị định củaChính phủ, quyết định của Thủ tướng về giáo dục và một số thông tư của BộGD&ĐT và một số bộ có liên quan về giáo dục Trong chính sách phát triểngiáo dục nói chung có chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện Nội dungcủa chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện cụ thể như sau:
Mục tiêu
- Đối với Giáo dục Mầm non
Phấn đấu đến năm 2015, hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục MN chotrẻ em 5 tuổi
Phấn đấu đến năm 2020, ở tất cả các địa phương có ít nhất 30% trẻ trong
độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tạicác cơ sở giáo dục MN; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáodục MN xuống dưới 10%
- Đối với Giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở
Từng bước nâng cao chất lượng chất lượng giáo dục toàn diện cho họcsinh; đặc biệt nâng cao chất lượng giáo dục văn hóa, đạo đức, kỹ năng sống,pháp luật, ngoại ngữ, tin học cho học sinh
Phấn đấu đến năm 2020, các địa phương đạt tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở
TH là 99%, THCS là 95%; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học tại các cơ sởgiáo dục ở địa phương
Tổ chức thực hiện
Trên cơ sở định hướng phát triển KT-XH của tỉnh/thành phố trực thuộctrung ương, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện xây dựng quy hoạch, kếhoạch, chương trình, đề án phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn, trìnhcấp có thẩm quyền phê duyệt
Trang 28Trên cơ sở trách nhiệm Quy định quản lý nhà nước về giáo dục củaChính phủ, UBND cấp huyện thực hiện kiểm tra giám sát các cơ sở giáo dụcthuộc thẩm quyền quản lý trong việc thực hiện các văn bản quy phạm phápluật về giáo dục; chỉ đạo, kiểm tra tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch,chương trình, đề án giáo dục đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Dựa trên chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương và thựctiễn phát triển giáo dục của địa phương, UBND cấp huyện quyết định thànhlập (đối với các trường công lập), cho phép thành lập (đối với các trường ngoàicông lập), hoặc sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể (bao gồm cảcác cơ sở giáo dục có sự tham gia đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài)đối với các cơ sở giáo dục MN, TH, THCS, trường phổ thông có nhiều cấp học(trong đó không có cấp học trung học phổ thông), trung tâm học tập cộng đồng
và các cơ sở giáo dục khác (nếu có) thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấphuyện nhằm phục vụ nhu cầu học tập của tất cả mọi người
Từ thực tiễn phát triển hệ thống các nhà trường ở địa phương, UBNDcấp huyện phải bảo đảm đủ biên chế cán bộ, công chức, viên chức cho ngànhgiáo dục; tổ chức thực hiện việc xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục ở Phòng GD&ĐT và ở các nhà trường đáp ứng yêu cầucủa đổi mới toàn diện GD&ĐT
Thông qua Ngân sách của Nhà nước để bảo đảm các điều kiện về tàichính, tài sản, cơ sở vật chất để phát triển giáo dục trên địa bàn; thực hiện xãhội hóa giáo dục, khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội để phát triểngiáo dục
Trên cơ sở các quy định của Nhà nước và thực tiễn phát triển KT-XH ởđịa phương, UBND cấp huyện có thể xây dựng và ban hành các cơ chế chínhsách đặc thù để bảo đảm quyền tự chủ, nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm của các
cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn
Trang 29Tổ chức thực hiện công tác phổ cập giáo dục, chống mù chữ và xâydựng xã hội học tập trên địa bàn cấp huyện theo các kế hoạch đã được UBNDcấp tỉnh phê duyệt.
Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách của Nhà nước, ban hành cơchế chính sách đặc thù để chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũnhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn; tổchức phong trào thi đua; khen thưởng các tổ chức, cá nhân có nhiều công laođối với sự phát triển của giáo dục trên địa bàn cấp huyện
UBND cấp huyện thực hiện chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra PhòngGD&ĐT, các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyệntrong việc bảo đảm chất lượng giáo dục; thực hiện công tác thống kê, thôngtin, báo cáo theo định kỳ và hàng năm về tổ chức và hoạt động giáo dục
Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và
xử lý vi phạm về giáo dục theo quy định của pháp luật; kiểm tra, giám sát việcthực hiện công khai chất lượng giáo dục, công khai điều kiện bảo đảm chấtlượng giáo dục, công khai tài chính của các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyềnquản lý của UBND cấp huyện; thực hiện cải cách hành chính, công tác thựchành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí trong giáo dục
1.2.4 Nội dung thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện
Giai đoạn thực hiện chính sách phát triển giáo dục là giai đoạn quyếtđịnh, biến chính sách phát triển giáo dục thành hiện thực Vì vậy, cấp ủyĐảng, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội cùng phối hợpthực hiện; đặc biệt cơ quan quản lý nhà nước ở cấp huyện - UBND cấp huyệncần chỉ đạo cụ thể việc thực hiện chính sách giáo dục trên ở địa phương vớicác nội dung sau đây:
1.2.4.1 UBND cấp huyện ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện cơchế chính sách đặc thù về hoạt động giáo dục ở địa phương trên cơ sở các quyđịnh về chính sách giáo dục của Chính phủ và các chủ trương của tỉnh/thành
Trang 30phố Đặc biệt chú trọng đến xây dựng chiến lược phát triển giáo dục ở địaphương nhằm phục vụ công cuộc phát triển KT-XH của đất nước vàtỉnh/thành phố.
1.2.4.2 Thường xuyên chỉ đạo Phòng GD&ĐT triển khai các quy định
về hoạt động dạy, học, các hoạt động khác trong nhà trường, công tác thi cử,tuyển sinh, công tác phổ cập giáo dục, xây dựng xã hội học tập và các côngtác khác về giáo dục; cho phép và giám sát hoạt động của các cơ sở giáo dụckhác theo quy định phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục
1.2.4.3 Thường xuyên tuyên truyền về chính sách phát triển giáo dục ởcấp huyện cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tại địa phương; vậnđộng mọi lực lượng trong xã hội, nhất là các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm ởđịa phương tham gia phát triển giáo dục góp phần và thực hiện nội dung xãhội hóa giáo dục trong chính sách giáo dục ở nước ta hiện nay Hằng năm, tổchức tốt thống kê, thông tin về giáo dục; báo cáo tình hình hoạt động giáo dụctại địa phương tới các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục cấp trên
1.2.4.4 UBND cấp huyện xây dựng kế hoạch biên chế cho sự nghiệpgiáo dục hàng năm Trên cơ sở chiến lược phát triển giáo dục của địa phương,UBND cấp huyện xây dựng kế hoạch phát triển lâu dài đội ngũ giáo viên chocác bậc học ở địa phương thuộc cấp huyện quản lý Từ thực trạng phát triểngiáo dục ở cấp xã, UBND cấp huyện ra quyết định phân bổ biên chế cơ sởgiáo dục thuộc thẩm quyền Bên cạnh đó UBND cấp huyện tổ chức kiểm tra,thanh tra việc bổ nhiệm cán bộ quản lý nhà trường và công tác luân chuyểncán bộ quản lý, giáo viên kể cả ở các cơ sở giáo dục tư thục Tiếp tục thựchiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáoviên; thực hiện chính sách đãi ngộ đối với nhà giáo tại địa phương
1.2.4.5 Trên cơ sở chiến lược phát triển giáo dục và thực trạng phát triểnKT-XH của cấp huyện, UBND cấp huyện xây dựng ngân sách cho giáo dục;phân bổ ngân sách cho từng cơ sở giáo dục ở địa phương thuộc cấp quản lý
Trang 31Từ ngân sách được cấp tỉnh giao cho giáo dục, UBDN cấp huyện cần phốihợp với cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn về giáo dục xây dựng kếhoạch ngân sách hàng năm và kế hoạch ngân sách cho giáo dục trong nhữngnăm tiếp theo UBND cấp huyện kiểm tra, giám sát việc sử dụng ngân sáchNhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác cho giáo dục tại các nhà trường vàcác cơ quan chuyên môn giúp việc UBND cấp huyện.
1.2.4.6 Chỉ đạo các nhà trường và các cơ quan có liên quan thực hiệnchính sách đổi mới giáo dục đi đôi với cải cách thủ tục hành chính; thực hànhtiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí Thực hiện chính sách khenthưởng trong giáo dục đi đôi với việc xử lý vi phạm chính sách phát triển giáodục Công tác thanh tra thực hiện chính sách phát triển giáo dục phải luônđược thực hiện cùng với các hoạt động trong tổ chức thực hiện chính sáchgiáo dục ở địa phương Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát sẽngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục; điều chỉnh kịp thời những bất cậptrong việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở địa phương và góp phầnđộng viên cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân tham giavào việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở địa phương
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển giáo dục
Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển giáo dục, có nhiều yếu tốkhách quan, chủ quan tác động đến kết quả thực hiện chính sách, một số yếu
tố quan trọng đó là:
1.2.5.1 Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức giáo dụcĐây là yếu tố quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách pháttriển giáo dục ở địa phương Như chúng ta đều biết: Năng lực tổ chức thựchiện chính sách giáo dục và các hoạt động giáo dục của đội ngũ cán bộ, côngchức, viên chức được thể hiện ở các mặt đạo đức công vụ, năng lực thiết kế
tổ chức các hoạt động giáo dục, năng lực chuyên môn về các hoạt động dạy
Trang 32học, năng lực phân tích, dự báo sự phát triển giáo dục ở địa phương, nhàtrường, năng lực xử lý các tình huống xảy ra trong giáo dục.
Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong các cơ quan quản lý nhànước về giáo dục ở địa phương, các cán bộ quản lý ở các nhà trường khi thựchiện nhiệm vụ được giao phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, đạo đực công
vụ, đạo đức nhà giáo để biến chính sách phát triển giáo dục thành hiện thựctại địa phương
1.2.5.2 Tính chất của vấn đề chính sách phát triển giáo dục
Vấn đề chính sách giáo dục phức tạp hay đơn giản nó sẽ quyết định đếnviệc thực hiện chính sách giáo dục khó khăn hay thuận lợi Thậm chí nó cóthể ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở địaphương Ví dụ ở nước ta chính sách phổ cập giáo dục và xóa mù chữ là chínhsách giáo dục mà tính chất của chính sách rất phức tạp Nó liên quan đến đốitượng trẻ em và cả người lớn, liên quan đến tất cả các địa phương Ở miền núiviệc giao thông không thuận tiện, người dân tộc thiểu số nhiều nên thực hiệnchính sách này rất khó khăn Từ 1945 Chính phủ đã đề ra chính sách diệt giặcdốt (chính sách chống mù chữ) và đến nay (2018) chúng ta vẫn đang tiếp tụcthực hiện chính sách chống mù chữ ở miền núi và hải đảo
1.2.5.3 Sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị
- xã hội và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân
Chính sách phát triển giáo dục cấp huyện chỉ thành công khi được cáccấp ủy Đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương quan tâmchỉ đạo và thực hiện Bên cạnh đó việc tuyên truyền và vận động nhân dân ởđịa phương tham gia vào việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục với tưcách là đối tượng của chính sách và là chủ thể tham gia xây dựng và thực hiệnchính sách phát triển giáo dục Một chính sách phát triển giáo dục đáp ứngđược nhu cầu thực tế của xã hội, được sự quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực
Trang 33hiện bởi các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức xã hội, các nhà trường và đôngđảo người dân tham gia thì chắc chắn sẽ thu được kết quả tốt nhất.
1.2.5.4 Sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Sự phát triển KT-XH bao gồm các hoạt động về kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương sẽ tác động tích cực hoặc tiêucực đến thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện
Kinh tế phát triển kèm theo những điều kiện về cơ sở vật chất của nhàtrường, ngân sách cho giáo dục được đầu tư thích đáng thì việc tổ chức cáchoạt động giáo dục ở nhà trường sẽ thuận lợi Các hoạt động văn hóa, xã hộiphát triển sẽ góp phần làm cho các hoạt động giáo dục gắn liền với thực tiễn
và làm phong phú các hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các nhà trường.Bên cạnh đó môi trường an ninh trật tự tốt cũng góp phần cho các hoạt độnggiáo dục được thực hiện thuận lợi, nhất là trong bối cảnh đổi mới giáo dụctheo hướng giáo dục toàn diện cho học sinh
1.2.5.5 Thực hiện đúng quy trình thực hiện chính sách công
Thực hiện đúng quy trình thực thi chính sách công được coi là nhữngnguyên lý khoa học trong chu trình chính sách công Do đó, việc thực hiệnchính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện phải tuân thủ quy trình thực hiệnchính sách công về giáo dục Các giai đoạn trong quy trình thực hiện chínhsách đều có vị trí quan trọng và có những đặc điểm riêng từ nội dung, cáchthức tổ chức thực hiện
Ở nước ta, các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách giáo dụcđều cho rằng giai đoạn tuyên truyền vận động về chính sách giáo dục là hếtsức quan trọng và đã thực hiện giai đoạn này đầu tiên như trong quy trìnhthực hiện chính sách công Tuy nhiên, việc tuyên truyền chính sách phát triểngiáo dục thường hướng về người dân với tư cách là đối tượng hưởng thụchính sách Một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý nhà nước về giáo dục;thậm chí có lãnh đạo ở địa phương không nắm được nội dung chính sách giáo
Trang 34dục nên đã có những ứng xử sai trái gây bức xúc trong dư luận xã hội; làmảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục ở địa phương Những bất cập trong giáodục hiện nay ở địa phương có một phần nguyên nhân do đội ngũ cán bộ, côngchức viên chức trong cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và ở trong cácnhà trường không hiểu đầy đủ các nội dung của chính sách phát triển giáodục Việc hiểu sai hoặc không đầy đủ chính sách giáo dục đã dẫn đến việc tổchức thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở địa phương không tuân thủđúng các quy định của chính sách; gây thiệt hại về kinh tế, làm ảnh hưởng xấuđến uy tin của ngành giáo dục.
Tiểu kết chương
Chương 1, Luận văn đã trình bày những khái niệm về chính sách công, tổchức thực thi chính sách công Đặc biệt, luận văn đi vào nội dung trọng tâm làviệc tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở cấp huyện Cụ thể, luận
văn đã trình bày quy trình tổ chức thực hiện chính sách, từ đó đi sâu phân tích nội dung tổ chức thực hiện chính sách giáo dục ở cấp huyện với chủ thể tổ chức thực thi chính sách giáo dục là phòng GD&ĐT Trên cơ sở nghiên cứu
những vấn đề nội dung tổ chức thực thi chính sách phát triển giáo dục, Luậnvăn cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực thi chínhsách phát triển giáo dục ở cấp huyện của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
TẠI QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Thanh Xuân
2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên
Theo lịch sử ghi lại, Thanh Xuân nằm trong vùng đất cổ có nhiều dấu ấnlịch sử văn hóa, gắn bó chặt chẽ với Thăng Long ngàn năm văn hiến, kề sátKinh thành xưa có con đường Thượng Đạo - Lai Kinh cũ qua đất làng Mọc(Chính Kinh và Quan Nhân) Đầu thế kỷ XX, khi có con đường cái quan số 6chạy qua địa bàn, Thanh Xuân trở thành cửa ngõ quan trọng ra vào Hà Nội, làcầu nối quan trọng với vùng Tây Bắc Về đường thủy có sông Tô Lịch, theosách Đại Nam nhất thống chí: “Sông Tô Lịch ở phía đông thành (tỉnh Hà Nội)
là phân lưu của sông Nhị chảy theo phía Bắc tỉnh thành vào cửa cống thônHương Bài, tổng Đồng Xuân, quận Thọ Xương, chuyển sang mặt Tây quaquận Vĩnh Thuận, xã Nghĩa Đô ở phía đông quận Từ Liêm và các tổngKhương Đình, Quang Liệt, Cổ Điển, Ninh Xá quận Thanh Trì đến xã Hà Liễuvào sông Nhuệ Sông Kim Ngưu ở phía bắc quận Thanh Trì xưa thông vớiTây Hồ, sau quá trình bồi lấp, nay nước sông từ địa phận trại Yên Lãng quậnVĩnh Thuận chảy xuống cầu Đá, qua địa phận các quận Thọ Xương, ThanhTrì, Thượng Phúc, Phú Xuyên rồi hợp về sông Nhuệ”
Ngày 28/12/1996, quận Thanh Xuân được thành lập theo Nghị định số
74/NĐ-CP của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997.Quận Thanh Xuân có diện tích tự nhiên 908,32 ha, nằm ở phía Tây Namcủa Thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp quận Đống Đa và Cầu Giấy, phía Đông giápquận Hai Bà Trưng, phía Nam giáp quận Thanh Trì, phía Tây giáp quận Nam
Trang 36Từ Liêm và quận Hà Đông Quận có 11 phường với dân số 27,8 vạn nhânkhẩu.
Trang 372.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Hai mươi hai năm xây dựng và phát triển của quận Thanh Xuân làkhoảng thời gian ngắn ngủi trong chặng đường hơn 1000 năm Thăng Long –
Hà Nội Với sự trẻ trung, năng động, quận Thanh Xuân đang tạo nên chomình một vị thế và sức sống mới Diện mạo đô thị của quận ngày càng đẹphơn, văn minh hơn, hiện đại hơn Dáng dấp của một đô thị hiện đại đang hiệnhữu với sự hình thành của khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính, các toà nhàcao tầng và hàng loạt các khu chung cư cao cấp như: Hapulico, Golden Land,Starcity Lê Văn Lương, Imperia Garden, đặc biệt là Tổ hợp Royal City tại số72A Nguyễn Trãi, được ví như một “Thành phố châu Âu” thu nhỏ, ; cáctuyến đường Nguyễn Trãi, Khuất Duy Tiến, Nguyễn Xiển, Lê Văn Lương,Trường Chinh, Lê Trọng Tấn, hầm chui, đường sắt đô thị trên cao và nhiềutuyến đường mới trong quận được xây dựng, mở rộng; trụ sở làm việc củaquận, phường và các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang trên địa bàn được xâydựng bề thế, khang trang; các trường học, các nhà văn hoá phường được đầu
tư xây mới, cải tạo nâng cấp, mở rộng đã tạo cho quận một diện mạo mới trêncon đường hội nhập và phát triển, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu đời sốngcủa nhân dân Từ một Quận cửa ngõ phía Tây nam, Thanh Xuân đã trở thànhmột Quận ở trung tâm phía Tây nam của Thủ đô mở rộng theo tinh thần Nghịquyết số 15 của Quốc hội (khóa XII) Từ địa bàn còn nguyên sơ đan xen giữacác phường và xã, giao thoa giữa công nghiệp và nông nghiệp hình thành từ
sự chia tách và hợp nhất về địa giới, quận Thanh Xuân đang chuyển mìnhmạnh mẽ theo cơ cấu dịch vụ - công nghiệp năng động, trở thành một đô thịvăn minh, hiện đại
Với vị thế là một Quận trung tâm ở phía Tây Nam của Thủ đô Hà Nội,quận Thanh Xuân đang phát huy tốt vai trò, tiềm năng, xây dựng quận ThanhXuân giàu đẹp, văn minh, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của Thủ
đô và đất nước Trước mắt, quận tập trung cho việc thực hiện những mục tiêu,
Trang 38chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận lần thứ V (nhiệm kỳ
2015 - 2020), đó là: “Chủ động khai thác tiềm năng thế mạnh và phát huy mọinguồn lực tạo tiền đề vững chắc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-
XH quận Thanh Xuân đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Thúc đẩytăng trưởng kinh tế bền vững Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạtầng xã hội đồng bộ theo hướng văn minh, hiện đại, gắn với nhu cầu dân sinh;đặc biệt là hệ thống giao thông, trường học, thiết chế văn hóa cơ sở Phát triểnvăn hóa, GD&ĐT cả về quy mô và chất lượng; đảm bảo an sinh xã hội, môitrường đô thị xanh - sạch - đẹp; nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinhthần của nhân dân Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Xâydựng Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong sạchvững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; trọng tâm là đổi mới và nâng caochất lượng công tác tổ chức, cán bộ; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng caochất lượng ứng dụng công nghệ thông tin và từng bước xây dựng chính quyềnđiện tử”
2.2 Tình hình thực hiện chính sách phát triển giáo dục tại quận Thanh Xuân
2.2.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng các văn bản về thực hiện chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn Quận
Ngay sau khi Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế” ban hành, Ban Thường vụ Quận ủy Thanh Xuân đã xây
dựng kế hoạch, tổ chức quán triệt đến các cấp uỷ đảng trực thuộc, MTTQ vàcác đoàn thể Quận nghiêm túc thực hiện các nội dung Nghị quyết 29-NQ/TW
và yêu cầu triển khai tuyên truyền sâu rộng tới toàn thể cán bộ, đảng viên,đoàn viên, hội viên trên địa bàn quận
Trang 39Với mục tiêu cụ thể hóa các nhiệm vụ của Nghị quyết số 29-NQ/TW,
để công tác giáo dục đào tạo Quận phát triển toàn diện, bền vững; thực hiện
sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Quận ủy, UBND quận xây dựng Đề án số
1585/ĐA-UBND ngày 10/12/2015 về “Phát triển GD&ĐT quận Thanh Xuân giai đoạn 2016-2020”; Đề án số 02/ĐA-UBND ngày 12/02/2018 về việc
“Triển khai mô hình quản trị trường học cấp THCS”; hằng năm, ban hành kế
hoạch năm học chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị liên quan và các nhà trườngthực hiện nhiệm vụ, trong đó nêu rõ nội dung, phương pháp, biện pháp, thờigian, phân công rõ người, rõ việc và rõ trách nhiệm với phương châm: Dámnghĩ - dám làm - dám chịu trách nhiệm - hiệu quả công tác cao
Đánh giá sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày04/11/2013 và 3 năm thực hiện Đề án của UBND quận Thanh Xuân, ngànhGD&ĐT quận Thanh Xuân luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao vềchuyên môn, nghiệp vụ của Sở GD&ĐT; đặc biệt là sự lãnh đạo, chỉ đạo toàndiện, kịp thời, hiệu quả của Quận uỷ, HĐND, UBND Quận về đầu tư xâydựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, triển khai mô hình mới, nâng caochất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục mũi nhọn trong giáo viên và học sinh;
sự phối kết hợp kịp thời, hiệu quả của các phòng, ban, ngành đoàn thể, cácphường trong quận; sự vào cuộc của toàn thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhânviên ngành GD&ĐT Quận; sự quan tâm, cộng đồng trách nhiệm của cha mẹhọc sinh trong toàn Quận Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chuyên viên phòngGD&ĐT; cán bộ, giáo viên, nhân viên (CB, GV, NV) các trường trong quận
có tinh thần trách nhiệm cao, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ quản lí vững
vàng và đạt được những kết quả đáng tự hào, liên tục được đón nhận “Cờ
xuất sắc trong phong trào thi đua của UBND Thành phố” Đặc biệt 4 năm
liên tục từ năm học 2014 - 2015, ngành Giáo dục quận Thanh Xuân giữ vững vị trí thứ Nhất trong 30 quận, Quận của Thành phố về chất lượng
Trang 40giáo dục; là Quận đầu tiên trên địa bàn Thành phố đạt tuyệt đối 13/13 chỉ tiêuthi đua xếp loại xuất sắc.
2.2.2 Hướng dẫn, tổ chức thực thiện chính sách phát triển giáo dục về công tác chuyên môn, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; công tác tuyển sinh, phổ cập giáo dục, xóa mù chữ
Năm học 2017-2018 trên địa bàn quận có 69 trường học, trong đó có 40trường công lập, 04 trường hiệp quản và 25 trường tư thục ở cả 3 cấp học với
54.711 học sinh (HS) (tăng 3.854 HS so với cùng kì năm trước) Hoàn thành
xây dựng mới trường TH Thanh Xuân Bắc chính thức đi vào hoạt động trong
năm học 2018-2019 Số HS học 2 buổi/ngày đạt tỉ lệ cao (cấp TH: 100%; cấp THCS: 60.4%).
Bảng 2.1: Quy mô trường, lớp, số học sinh N
Số học G h
T ổn
C.
lậ
N C
T ổ
C l
N C
1 9 4
5 9 3
17 7 69
9.
8 1 4
7.
95 5
- T ă n
g 0
1 tr
ổn 6 4 4 2 2 2 1. 48 8 0
6
8 50 .8
40 4
8 0 2
2 2 3
5 7 9
18 1 84
10 1 49
8.
03 5
- Tă
ng
02 trư ờn
g cô
5
3 23 .0
21 3
1.
64 T
ổn 6 9 4 4 2 5 1. 57 8 7 70 54 .7 42.9 11.75
Nguồn: Phòng GD&ĐT quận Thanh Xuân