Tuy nhiên, cũng giống như tình trạng của các địa phương, việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách chưa đem lại hiệu quả như mong muốn: tinh giản biên chế chưa gắn với sắp xếp
Trang 11
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM ĐỨC HUÂN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TẠI THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 22
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM ĐỨC HUÂN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TẠI THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
Trang 33
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề xây dựng, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là nhiệm vụ xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, đặc biệt từ năm 1986 đến nay Qua mỗi giai đoạn phát triển, công tác này càng trở nên cần thiết và cấp bách và thực tế hiện nay, công tác này được đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng Sắp xếp bộ máy đồng thời cũng chính là công tác đổi mới hệ thống chính trị cho đồng bộ với đổi mới trên lĩnh vực kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến trình hội nhập quốc tế đang diễn ra hết sức mạnh mẽ hiện nay Sắp xếp tổ chức bộ máy không phải quá trình tùy tiện, vô nguyên tắc mà trong đó phải bao hàm thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị, phát huy vai trò quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân Bên cạnh đó, việc bảo đảm tính chất mới, tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, kết hợp hài hoà giữa kế thừa, ổn định với phát triển; giữa đổi mới bộ máy tổ chức với đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh giản biên chế và cải cách tiền lương; xử lý hài hoà mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, là những vấn đề hiện thực nóng bỏng đang đặt ra đối với hệ thống chính trị và đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp hữu hiệu để giải quyết nhằm đạt được những mục tiêu phát triển
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách khá hiệu quả trong việc tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức phù hợp với yên cầu, điều kiện cụ thể qua từng giai đoạn phát triển của đất nước Có thể nói, với những chính sách đúng đắn đó, hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được đổi mới; mối quan hệ giữa các đơn vị trong hệ thống
Trang 44
chính trị được phân định và điều chỉnh hợp lý hơn; chức năng và nhiệm vụ rõ ràng hơn, có tính liên đới và tính trách nhiệm cao hơn để từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, so với yêu cầu đề ra, công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn nhiều bất cập Hệ thống cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới hoạt động kém hiệu quả của các
cơ quan quản lý nhà nước Bên cạnh đó, sự chồng chéo về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy cũng gây ra không ít khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề của hiện thực phát triển của đất nước Xuất phát từ việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp và trong từng cơ quan, tổ chức chưa hợp lý dẫn đến tình trạng bao biện, làm thay hoặc bỏ sót nhiệm vụ Nhiều chủ trương, chính sách được xây dựng với mục đích giải quyết triệt để những vướng mắc trong công tác sắp xếp và tổ chức bộ máy từ Trung ương tới địa phương, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, với những đặc thù địa phương cũng như những yếu tố văn hóa, xã hội, tâm lý, v.v các chính sách của chúng
ta chưa thực sự phát huy được hiệu quả như mong muốn
Với một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, thành phố Lạng Sơn có những điều kiện tương đối đặc thù so với các địa phương khác Là đơn vị hành chính trung tâm của một tỉnh biên giới có mối giao thương lớn với Trung Quốc, nhiệm vụ phát triển được đặt ra khá nặng nề với thành phố Lạng Sơn Để đạt được những mục tiêu phát triển đòi hỏi thành phố phải xây dựng được hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển Trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy với mục tiêu xây dựng được bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả như Nghị quyết số
Trang 55
10-NQ/TW, ngày 09/2/2007 về “Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”, Kết luận số 64-KL/TW, ngày 28/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ về việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; Nghị định số 132/2007/NĐ-
CP ngày 8/8/2007 về chính sách tinh giản biên chế; Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh, cấp ủy, chính quyền thành phố
đã ban hành các chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện công tác tinh giản biên chế sắp xếp lại tổ chức bộ máy Tuy nhiên, cũng giống như tình trạng của các địa phương, việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách chưa đem lại hiệu quả như mong muốn: tinh giản biên chế chưa gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy, chưa sàng lọc được những cán bộ công chức năng lực yếu, kém
ra khỏi bộ máy mà chủ yếu vận dụng giải quyết chế độ theo nguyện vọng, chưa mạnh dạn thí điểm sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính, đội ngũ cán bộ cấp xã, khối thôn còn lớn hoạt động kém hiệu quả vì vậy bộ máy tổ chức của thành phố Lạng Sơn hiện nay cũng khá cồng kềnh, hoạt động chưa thật sự hiệu quả như kỳ vọng Tình trạng chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ của một số đơn vị trực thuộc thành phố gây ra những khó khăn nhất định trong công tác điều hành và chỉ đạo hoạt động tại địa phương Bên cạnh đó, tư duy bao cấp trong hoạt động của bộ máy chính quyền không những không giúp cho vấn đề tinh giản biên chế được thực hiện trơn tru mà ngược lại, tình trạng công chức, viên chức không đảm đương được vị trí và nhiệm vụ của mình ngày một
Trang 66
gia tăng Những điều này đặt ra đòi hỏi phải có những phân tích, đánh giá và đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ để hoàn thiện và thúc đẩy mạnh mẽ chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp bộ máy tổ chức hoạt động thật sự có hiệu quả tại thành phố Lạng Sơn
Với nhận thức như vậy, chúng tôi lựa chọn chủ đề “Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tại thành phố Lạng Sơn”
làm đề tài luận văn Thạc sĩ Chính sách công của mình với hi vọng đóng góp một phần nghiên cứu của mình vào quá trình thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy một cách có hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương nói riêng, của đất nước nói chung trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước khi có Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc đổi mới, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của
hệ thống chính trị được nhìn nhận là một quá trình liên tục từ những năm 1986 đến nay, được đề ra trong các văn kiện Đại hội và nghị quyết của nhiều Hội nghị Trung ương, như: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng
ta đã chỉ rõ: “Việc đổi mới hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến
sự rối loạn Nhưng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới hệ thống chính trị, nhất là về tổ chức bộ máy và các bộ; mối quan hệ giữa đảng, Nhà nước và nhân dân, bởi đó là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và thực hiện dân chủ” Văn kiện Hội nghị Trung ương 8, khóa VII xác định cải cách nền hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Hội nghị Trung ương 7 (khóa VIII) đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 16/8/1999 về “Một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị về
Trang 7số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Bên cạnh đó Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến đổi mới sắp xếp tổ chức bộ máy như: Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ về việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; Nghị quyết số 09/2003/NQ-CP ngày 28/7/2003 về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ về việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; Nghị định số 132/2007/NĐ-
CP ngày 8/8/2007 về chính sách tinh giản biên chế; Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế, v.v Các văn bản nêu trên, nhìn chung đều thể hiện khá rõ chủ trương, mục tiêu, giải pháp thực hiện việc tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy
đó là: Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy từ trung ương đến cơ sở nhằm xây dựng bộ máy đồng bộ, tinh gọn, có tính ổn định, phù hợp với chức năng nhiệm vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và có tiền lương, thu nhập bảo đảm cuộc sống Việc hoàn thiện hệ thống chính trị theo hướng đổi mới căn bản cần
Trang 88
phải được thực hiện quyết liệt hơn nữa Các nghị quyết, kết luận của Đảng, nghị định của Chính phủ đã đưa ra các nhóm giải pháp cụ thể cho hệ thống chính trị, từ hệ thống tổ chức của Đảng, hệ thống tổ chức của Nhà nước; chính quyền địa phương; MTTQ và các đoàn thể Có thể nói, những chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước nêu trên chính là cơ sở lý luận để chúng ta đi sâu vào nghiên cứu, phân tích và đánh giá những vấn đề có liên quan
Trong bài viết Đổi mới tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả yêu cầu từ thực tiễn, tác giả Xuân Phong đăng trên tạp chí Xây dựng
Đảng, số 6-2017 đã chỉ ra những hạn chế, bất cập: Tổ chức bộ máy cồng kềnh, nhiều đầu mối, nhiều tổ chức, số lượng công việc không đều Nếu xét theo từng khối đảng, Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đã thấy tổ chức
bộ máy cồng kềnh, nhiều đầu mối Nếu xét trong mối quan hệ công tác giữa 3 khối cũng thấy sự chồng chéo, trùng lắp nhiều tổ chức có đối tượng và chức năng, nhiệm vụ tương đồng; nhiều tổ chức cùng làm một việc Cơ cấu cán bộ bất hợp lý, nhiều phòng ban chỉ có lãnh đạo, không có nhân viên Một số cơ quan quá nhiều việc (ban tổ chức tỉnh ủy), nhưng cũng có một số cơ quan ít nhiệm vụ như ban nội chính, ban dân vận, nhiều cơ quan, đơn vị còn chồng chéo, tương đồng về chức năng, nhiệm vụ (tổ chức với nội vụ; nội chính với thanh tra, kiểm tra )
Trao đổi về thực tiễn thực hiện ở cơ sở, tác giả Minh Anh trong bài viết
Từ kết quả bước đầu thí điểm một mô hình, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9-2017
nhận định: Sự chồng chéo, “lấn sân” của nhiều tổ chức chính trị- xã hội đã cản trở nhiều hiệu quả hoạt động của mỗi tổ chức, đồng thời là một nguyên nhân gây khó tinh giản biên chế Sắp xếp lại, kiện toàn tổ chức bộ máy của Mặt trận
tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội sẽ là bước ngoặt trong thực hiện cải cách hành chính, tinh giản biên chế, tạo được phong cách làm việc chuyên
Trang 99
nghiệp, hoạt động có hiệu quả Đó là mục đích của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội
Tác giả Hà Thanh trong bài viết Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ
máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới đăng trên Tạp chí Cộng sản số 133 (1-2018)
khẳng định: Thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tuy từng bước được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn, điều chỉnh hợp lý hơn, song vẫn còn những hạn chế, yếu kém Vì vậy,
tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị phải đặt trong
tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, kết hợp hài hòa giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển
Bàn về vấn đề tinh giản biên chế, sắp xếp bộ máy tổ chức trọng hệ thống
chính trị, tác giả Quang Lê trong bài viết Tinh giản biên chế và yêu cầu dứt
khoát của Chính phủ, Báo điện tử Chính phủ ngày 29/01/2018 nhận định trong
khi dư luận xã hội và cả các cơ quan chức năng nói nhiều đến việc tinh giản biên chế thì trong thực tế lại đang diễn ra tình trạng ngược lại: biên chế vẫn đang tăng lên Nguyên nhân, theo tác giả chính là vấn đề việc giải quyết tinh giản biên chế chủ yếu theo nguyện vọng cá nhân, chưa thể hiện trách nhiệm của người đứng đầu và căn cứ vào kết quả đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức [13]
TS Nguyễn Thị Thanh Thủy trong bài viết Tinh giản biên chế trong bộ
máy hành chính nhà nước - vấn đề và giải pháp đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà
nước, ngày 10/5/2017 cho rằng mục đích của tinh giản biên chế không chỉ đơn thuần là giảm cơ học số lượng nhân sự (thay đổi về lượng) mà hơn thế, đây là cách thức để các cơ quan nhà nước tinh lọc lại nhân sự (thay đổi về chất) nhằm
Trang 1010
làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước có hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp Tuy nhiên, quá trình thực hiện tinh giản biên chế ở nước ta trong những năm qua đã không đạt được mục tiêu mong muốn Vì thế, cần phải tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế với những cách thức khác cùng với các giải pháp khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện tinh giản biên chế thời gian qua [23]
Chỉ rõ thực trạng của vấn đề thực thi chính sách tinh giản biên chế ở
nước ta hiện nay, tác giả Văn Tất Thu trong công trình Thực trạng, nguyên
nhân tăng biên chế và các giải pháp tinh giản biên chế đăng tải trên Tạp chí Tổ
chức Nhà nước ngày 29/02/2016 đã cho rằng nguyên nhân chủ yếu chính là chính sách của chúng ta chưa rõ ràng [22] Việc sát nhập và chia tách các đơn
vị hành chính cấp cơ sở còn tùy tiện, chưa có lộ trình cụ thể Tác giả nhận định chủ trương cải cách, sắp xếp, hoàn thiện tinh gọn bộ máy chính là để tinh giản biên chế, giảm số lượng CBCC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định tổ chức bộ máy, biên chế phù hợp với từng cơ quan chưa được làm rõ Xã hội hóa dịch vụ công còn chậm, chưa có đầu mối thống nhất quản lý biên chế cho cả hệ thống chính trị Việc chuyển cán bộ cấp xã thành công chức trên diện quá rộng
Tác giả Lê Vĩnh Tân trong công trình nghiên cứu Tinh giản biên chế và
cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII trên Tạp chí Cộng sản ngày 10/06/2018 đã nhận
định rằng tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải cách chính sách tiền lương
Trong diễn đàn “ Về đổi mới, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống
chính trị ở tỉnh phía bắc” trên tạp chí Xây dựng Đảng số ra ngày 12/11/2018,
Tác giả Vũ Ngọc Dũng, Vụ trưởng Vụ địa phương I, Ban Tổ chức Trung ương
Trang 1111
đã rút ra 11 kinh nghiệm trong hơn 3 năm thực hiện việc đổi mới, sắp xếp cơ cấu lại và thí điểm một số mô hình về tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế trong
hệ thống chính trị các tỉnh trong khu vực phía Bắc [4], cụ thể:
Thứ nhất, đổi mới phải bắt đầu xuất phát từ thực tiễn: Phải tiến hành rà
soát một cách tổng thể và hết sức kỹ lưỡng tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị từ cấp tỉnh, đến cơ sở; đánh giá quá trình hoạt động, triển khai thực hiện chức năng nhiệm vụ; đánh giá hiệu quả đạt được, theo hướng: tự đơn vị đánh giá, cấp trên trực tiếp đánh giá, đội ngũ công chức làm việc tại cơ quan đánh giá, lãnh đạo cơ quan đánh giá Sau đó, nhận định đánh giá của Tỉnh ủy để thấy được những mặt mạnh, yếu tố bất cập, yếu tổ chồng chéo, đan xen và cách tháo gỡ; đề xuất những giải pháp thiết thực, hiệu quả để thống nhất triển khai thực hiện
Thứ hai, phải có quyết tâm chính trị cao: Sắp xếp lại tổ chức bộ máy thực
sự không đơn giản, khi thực hiện sẽ kéo theo nhiều vấn đề cần được nghiên cứu
thấu đáo để giải quyết, đó là: (i1) Ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng do thay đổi
môi trường làm việc, phải rời bỏ bộ phận mà công chức, viên chức đang làm,
phải làm thêm nhiều việc hơn, làm những việc mới, chưa quen ; (i2) Khi hợp
nhất số lượng lãnh đạo sẽ giảm, nên việc sắp xếp đội ngũ cán bộ một cách hợp lý
là hết sức quan trọng, tránh gây tâm tư và mất động lực (i3) Vấn đề chế độ
chính sách khi thực hiện tinh giảm do sắp xếp lại, cần phải được sử lý một cách linh hoạt, đồng bộ Vì vậy, đòi hỏi người đứng đầu tổ chức phải quyết liệt, dám làm và biết cách làm, tạo động lực để cơ quan mới hoạt động tốt hơn
Thứ ba, phải tạo được sự đồng thuận: Trước hết phải đồng thuận về chủ
trương từ lãnh đạo cao nhất đến cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; phải phân tích một cách thấu đáo về hiệu quả đạt được khi thay đổi tổ chức, những lợi ích chung của cơ quan, đơn vị, người dân; trong đó, cần phân tich sự
hy sinh về quyền lợi cá nhân, nhưng nhất thiết phải giải quyết thấu tình đạt lý, ưu
Trang 1212
tiên chính sách cao nhất có thể, hoặc đề xuất cơ chế hỗ trợ riêng để cán bộ chia
sẻ, đồng tình với tổ chức
Thứ tư, phải kiên trì, bền bỉ thuyết phục: Mô hình hợp nhất chưa có trong
tiền lệ, nên không có khuôn mẫu, không có hướng dẫn thực hiện, thậm chí mô hình mới có thể làm mất đi tổ chức mà ngành dọc đang chỉ đạo Hơn nữa, khi thực hiện không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc; nên không cầu toàn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, đồng thời vừa điều chỉnh để từng bước hoàn thiện
Vì vậy phải xây dựng đề án một cách cụ thể, chi tiết, đưa ra được hướng tháo gỡ những bất cập mới xuất hiện, tạo được sự thống nhất cao trong tập thể lãnh đạo
Thứ năm, phải có lộ trình thực hiện khoa học: Khi hợp nhất các cơ quan,
tổ chức phải nghiên cứu kỹ thời điểm khi có đủ điều kiện hợp nhất Trong đó, có
tính đến điều kiện của địa phương (về địa lý, quy mô dân số, trụ sở làm việc khi
bố trí hợp nhất); ý chí người đứng đầu; năng lực đội ngũ; thực hiện bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng chuẩn ngạch bậc, đáp ứng vị trí việc làm mới; nên làm thí điểm trước, sau đó rút kinh nghiệm rồi mới triển khai ra diện rộng
Thứ sáu, phải đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ: Trước khi thực hiện
hợp nhất phải thực hiện nhất thể hóa chức danh người đứng đầu, đồng thời có lộ trình và rất thận trọng về công tác cán bộ Cần bố trí, sắp xếp, điều chuyển một cách hợp lý để phát huy năng lực, sở trường của cán bộ Việc lựa chọn cán bộ đủ tầm và am hiểu lĩnh vực, uy tín và có phẩm chất để bố trí là cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành công của tổ chức bộ máy mới; đây là một bài học cực kỳ quan trọng để dẫn đến sự thành công trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy
Thứ bảy, xây dựng quy chế làm việc: Bộ máy mới, chưa có tiền lệ phải
chú trọng xây dựng quy chế hoạt động để đảm bảo vận hành một cách đồng bộ, tránh sát nhập một cách cơ học Việc phân công nhiệm vụ phải theo hướng: một người thực hiện nhiều nhiệm vụ; một nhiệm vụ chỉ giao cho một người chủ trì và
Trang 1313
chịu trách nhiệm chính Xây dựng quy trình thực hiện nhanh, gọn, loại bỏ khâu trung gian trong vận hành của bộ máy
Thứ tám, tạo sự khích lệ lan tỏa: Trong quá trình triển khai thực hiện một
mô hình mới thí điểm, nên chọn địa phương, đơn vị có điều kiện thực hiện tốt nhất, Tỉnh ủy phải bám sát để lãnh đạo, chỉ đạo và đồng hành cùng hướng dẫn tháo gỡ, rút kinh nghiệm; bên cạnh đó, nghe báo cáo kết quả từ cách làm mới cũng là cách tạo ra sự lan tỏa tốt nhất Sau khi thực hiện thí điểm, nhất thiết phải tiến hành sơ kết, đánh giá nghiêm túc, rút kinh nghiệm; đồng thời thấy hiệu quả phải được triển khai đồng bộ ngay ra diện rộng
Thứ chín, phải có sự đột phá một cách mạnh dạn: Khi thấy vấn đề đã chín
muồi, đã có thực tế kiểm nghiệm, đã có lộ trình triển khai hiệu quả, đã có sự chuẩn bị nhân sự thì phải có quan điểm chỉ đạo rõ ràng, dứt khoát, nhanh, dứt điểm, không chần chừ
Mười, phải có sự chỉ đạo sát sao, giám sát việc thực hiện, nhất là vấn đề kiểm soát quyền lực khi thực hiện nhất thể hóa chức danh bí thư cấp ủy đồng
thời là chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã: Ngăn ngừa tối đa những tiêu cực do
tập trung quyền lực, bằng cách phân định thẩm quyền giữa các cấp theo hướng tăng cường phân cấp; yêu cầu xây dựng quy chế mới trong đó quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu ở từng chức danh Đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát của cấp trên đối với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cấp dưới…; tăng cường giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; chọn được cán bộ có phẩm chất, đạo đức
để bố trí nhất thể hóa là nhân tố quyết định
Mười một, phải thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương trong triển khai thực hiện: Việc đổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại và thực hiện thí điểm một
số mô hình tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, sẽ
Trang 14Đây là những công trình mà trong quá trình xây dựng luận văn chúng tôi
đã khảo sát Tuy vậy, có thể đánh giá khái quát rằng đến nay chưa thật sự có nhiều đề tài, công trình khoa học nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu, đưa ra giải pháp tổ chức thực hiện thực hiện chính sách đổi mới sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị thành phố Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay mà mới chỉ dừng lại ở mức độ chung nhất, những chính sách áp dụng cho toàn bộ hệ thống chính
trị Chính vì vậy, việc khảo cứu tài liệu để triển khai đề tài Thực hiện chính sách
sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị tại thành phố Lạng Sơn sẽ đóng
vai trò tiên phong trong công cuộc nghiên cứu chính sách có liên quan tại một địa phương cụ thể
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị tại thành phố Lạng Sơn để từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách này trong các giai đoạn tiếp theo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách và thực hiện
chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
Thứ hai, nghiên cứu và đánh giá những thành công và hạn chế trong việc
thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tại thành phố Lạng Sơn
Trang 1515
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ
chức bộ máy của hệ thống chính trị thành phố Lạng Sơn phù hợp với điều kiện thực tế trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn việc thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị thành phố Lạng Sơn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị thành phố Lạng Sơn giai đoạn 2013 – 2018, trong đó chú trọng giai đoạn 2015 – 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển hệ thống chính trị Bên cạnh đó, luận văn bám sát các chính sách và pháp luật của Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Với định hướng nghiên cứu đã trình bày ở trên, đề tài sử dụng một số phương pháp như sau:
Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin về việc thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy qua các phương tiện truyền thông, sách báo, internet, đồng thời tham khảo các quyết định, các công văn của cơ quan và một
số giáo trình khác
Trang 1616
Phương pháp so sách, phân tích và tổng hợp: Đây là phương pháp được
áp dụng nhiều nhất để viết một bài báo cáo khoa học hoàn chỉnh, đúng quy định, bảo đảm chất lượng
Phương pháp đánh giá: Đánh giá quá trình thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trên địa bàn thành phố Lạng Sơn để từ đó đề ra những giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần bổ sung những vấn đề lý luận có liên quan cũng như chỉ
ra các giải pháp có tính chất định hướng nhằm bổ sung vào quá trình hoàn thiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy hiện nay của Việt Nam
Trang 1717
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần đổi mới việc thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của
hệ thống chính trị tại thành phố Lạng Sơn để từ đó năng cao hiệu quả chất lượng của việc thực hiện chính sách trong những năm tiếp theo
Góp phần cung cấp thêm những cơ sơ khoa học cho các cơ quan, phòng, ban, ngành thành phố Lạng Sơn trong quá trình hoạch định và tổ chức thực thi chính sách một cách hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng hệ thống chính trị của thành phố ngày càng ổn định, vững mạnh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1 Những vấn đề chung về chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
của hệ thống chính trị
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của
hệ thống chính trị thành phố Lạng Sơn hiện nay
Chương 3 Giải pháp tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ
máy của hệ thống chính trị thành phố Lạng Sơn
Trang 1818
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH SẮP XẾP
TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1.1 Chính sách công và thực hiện chính sách công
1.1.1 Chính sách công và những đặc trưng cơ bản
Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về chính sách mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này Trên thế giới có thể kể
đến một số khái niệm về chính sách như:“Chính sách là một quá trình hành
động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vần đề mà họ quan tâm” (James Anderson) hay“Chính sách là quyết tâm và định hướng Chính sách định hướng nhưng không bao gồm các chương trình và chi tiết hành động”(Glen Milne) Tại Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam
đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ
thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó” Chúng ta có thể hiểu chính
sách là hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình
Trên thế giới hiện nay cuộc tranh luận về khái niệm chính sách công vẫn chưa có hồi kết Các học giả xuất phát từ góc nhìn của mình đưa ra những khái
niệm chính sách công rất khác nhau“Chính sách công là tập hợp các quyết định
có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”
(William Jenkin) Theo quan điểm này, chính sách công là một tập hợp các quyết định khác nhau có liên quan với nhau trong một khoảng thời gian dài mà trong đó chủ thể ban hành chính sách công là các cơ quan nhà nước Có thể nói,
Trang 1919
chính sách công nhằm vào những mục tiêu nhất định theo mong muốn của nhà nước và bao gồm các giải pháp để đạt được mục tiêu đã chọn
Theo Thomas R Dye “Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm
hay không làm” Định nghĩa này của Thomas R Dye hướng tới vấn đề thừa nhận
rằng các chính sách phản ánh sự lựa chọn làm hay không làm Việc quyết định không làm cũng có thể quan trọng như việc quyết định làm và chính sách là cái chính phủ làm hoặc không làm chứ không phải là cái mà họ muốn làm hoặc lập
kế hoạch để làm
Theo Peter Aucoin “Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do
chính phủ tiến hành” Aucoin cho rằng, chính sách có thể vừa là hành động riêng
biệt của chính phủ vừa là kết quả của hàng loạt quyết định đa dạng
B Guy Peter đưa ra định nghĩa “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động
của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” Định nghĩa này tiếp cận ở góc độ tác động của chính sách công đến đời
sống của người dân với tư cách là một cộng đồng
Ở Việt Nam, PGS.TS Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia) đưa ra
cách hiểu về thuật ngữ chính sách công “là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các
quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt
ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định ”
* Đặc trưng của chính sách công
Theo cách hiểu như trên, chính sách công có bốn đặc trưng cơ bản đó là:
Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước, cụ thể là các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách
Thứ hai, các quyết định của nhà nước mang tính hành động, tức là bao
hàm trong nội dung lý luận có cả những hành vi thực tiễn Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà nước về một vấn đề cụ thể mà còn phải bao gồm biện pháp và bước đi cụ thể nhằm thực hiện các hành vi
Trang 2020
Thứ ba, chính sách công giải quyết các vấn đề cụ thể do thực tiễn xã hội
đặt ra theo những nhu cầu và mục đích cụ thể
Thứ tư, chính sách công gồm tập hợp các quyết đinh có liên quan với
nhau nhằm giải quyết mục đích chính sách của nhà nước trước yêu cầu của thực tiễn xã hội
1.1.2 Thực hiện chính sách công
Có thể hiểu thực hiện chính sách là quá trình chuyển đổi ý chí, quyết tâm
và những nỗ lực của chủ thể chính sách trong việc hoạch định chính sách nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể phát sinh trong đời sống xã hội ra ngoài hiện thực Đây là bước chuyển quan trọng bậc nhất trong chu trình chính sách, là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội Tất nhiên, chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của chủ thể chính sách cũng như chủ thể chịu sự tác động của chính sách trong thực hiện chính sách Trong quá trình thực thi chính sách, các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ và con người được đưa vào các hoạt động có tính định hướng để đạt được các mục tiêu đã đề ra Nói cách khác, đây là quá trình kết hợp giữa con người với các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ nhằm
sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đề ra
Chủ thể thực thi chính sách trước hết là quan trọng nhất là các cơ quan hành chính nhà nước, bởi vì đây chính là các cơ quan có nhiệm vụ quản lý và tổ chức triển khai các công việc hàng ngày của Nhà nước Tuy nhiên, các cơ quan lập pháp và tư pháp cũng như các tổ chức Đảng, đoàn thể cũng có vai trò quan trọng trong việc huy động và tổ chức lực lượng tham gia triển khai chính sách
1.2 Hệ thống chính trị và vấn đề sắp xếp, tổ chức bộ máy
1.2.1 Hệ thống Chính trị
Hệ thống chính trị là một hệ thống các tổ chức (thiết chế) gắn liền với quyền lực chính trị của nhân dân, được tổ chức để thực hiện các nhiệm vụ và
Trang 2121
quyền hạn do nhân dân giao phó và ủy quyền; đây là phương thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình dưới các hình thức, cấp độ khác nhau
Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, hệ thống chính trị nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm:
- Đảng Cộng sản Việt Nam (là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội);
- Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân;
- Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
- Các tổ chức chính trị - xã hội khác (Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam)
Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức theo một hệ thống từ Trung ương đến cơ sở
1.2.2 Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
1.2.2.1 Tổ chức bộ máy của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngoài cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hệ thống tổ chức của Đảng gồm:
- Hệ thống các đảng bộ, chi bộ (có 68 đảng bộ trực thuộc Trung ương; 1.290 đảng bộ cấp huyện và tương đương; 57.093 tổ chức cơ sở đảng)
- Các đảng đoàn, ban cán sự đảng (ở Trung ương có 40 đảng đoàn, ban cán sự đảng; ở mỗi cấp tỉnh có từ 9-11 đảng đoàn, ban cán sự đảng; Thành phố
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều hơn)
- Các cơ quan tham mưu, giúp việc chuyên trách của cấp ủy (ở Trung ương có 8 cơ quan; ở cấp tỉnh có 6 cơ quan; ở cấp huyện có 5 cơ quan)
- Các đơn vị sự nghiệp của cấp ủy (ở Trung ương có 4 đơn vị, ở cấp tỉnh
có 2 đơn vị; ở cấp huyện có 1 đơn vị)
Trang 2222
- Các ban chỉ đạo (ở Trung ương có 4 ban chỉ đạo), Hội đồng Lý luận Trung
ương và các ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ ở Trung ương, ở cấp tỉnh
1.2.2.2 Tổ chức bộ máy Nhà nước
Hệ thống tổ chức của Nhà nước bao gồm hệ thống các cơ quan: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương theo các cấp Các cơ quan nhà nước hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
- Quốc hội (cơ quan lập pháp): có Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Kiểm toán Nhà nước, 9 ủy ban của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội có 2 ban và Viện Nghiên cứu lập pháp
- Chủ tịch nước: Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác theo quy định của Hiến pháp Bộ Chính trị quy định về mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Chủ tịch nước Văn phòng Chủ tịch nước là cơ quan giúp việc Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước
- Chính phủ (cơ quan hành pháp): Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm 27 thành viên (Thủ tướng, 5 phó thủ tướng và các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ) và 30 cơ quan, trong đó có 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ, 8 cơ quan thuộc Chính phủ
- Các cơ quan tư pháp (Tòa án và Viện kiểm sát)
Tổ chức bộ máy của hệ thống tòa án nhân dân gồm 4 cấp: Tòa án nhân dân tối cao, tòa án nhân dân cấp cao, tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án nhân dân cấp huyện Hệ thống viện kiểm sát nhân dân có bốn cấp, gồm: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị
Trang 231.2.2.3 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội
MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội (Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân) được
tổ chức từ Trung ương đến cơ sở cùng với các tổ chức quần chúng khác đã từng bước đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục một bước tình trạng hành chính hoá, coi trọng nhiệm vụ tập hợp và giáo dục vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền, đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất xoá đói giảm nghèo, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
- Cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm: Ở T rung ương có Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan tham mưu, giúp việc, ở địa phương có Ủy ban và Ban Thường trực, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã và cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp tỉnh, cấp huyện Dưới cấp xã có ban công tác mặt trận ở thôn, tổ dân phố và tương đương
- Hệ thống tổ chức Bộ máy của Công đoàn gồm: Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam; 63 liên đoàn lao động tỉnh, thành phố và 20 công đoàn ngành ở Trung ương và tương đương; 713 liên đoàn lao động cấp huyện và 1.245 công đoàn ở địa phương Công đoàn các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; công đoàn tổng công ty và một số công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đặc thù khác; 126.527 công đoàn, nghiệp đoàn cơ sở
Trang 2424
- Hội Nông dân Việt Nam tổ chức theo 4 cấp từ Trung ương đến cơ sở:
Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, 63 Hội Nông dân cấp tỉnh; 681 Hội Nông dân cấp huyện; 10.575 Hội Nông dân cấp xã, 95,359 chi hội, 158.538 tổ hội Cả nước có trên 10,5 triệu hội viên Tất cả xã, phường, thị trấn có nông dân thì đều
có tổ chức Hội Nông dân
- Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam gồm 4 cấp: Trung ương Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam; 63 Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, thành phố và 2 tổ chức Hội Phụ
nữ của lực lượng vũ trang; hơn 700 hội Liên hiệp Phụ nữ cấp huyện; 14.423 hội Liên hiệp Phụ nữ cấp xã và tương đương (trong đó có 11.162 hội Liên hiệp Phụ
nữ xã, phường, thị trấn)
- Hệ thống tổ chức Hội Cựu chiến binh Việt Nam gồm 4 cấp: Trung ương
Hội Cựu chiến binh Việt Nam; 110 Hội Cựu chiến binh Việt Nam cấp tỉnh (trong đó có 63 Hội Cựu chiến binh tỉnh, thành phố thuộc Trung ương); 837 Hội Cựu chiến binh Việt Nam cấp huyện và 16.462 Hội Cựu chiến binh Việt Nam cấp cơ sở
- Hệ thống tổ chức của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh gồm 4 cấp: Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; 67 tỉnh, thành đoàn
và tương đương; 1.502 tổ chức Đoàn cấp huyện và tương đương; 44.454 Đoàn
cơ sở và chi đoàn cơ sở; cả nước có trên 6,4 triệu đoàn viên
1.2.3 Một số vấn đề về chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
1.2.3.1 Kết quả đạt được
Trong những năm qua, Đảng ta đã có một số chủ trương, nghị quyết, kết luận về xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và tổ chức thực hiện đạt được những thành quả, quan trọng, góp phần vào thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới
Trang 2525
Công tác quán triệt, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm, chỉ đạo, triển khai thực hiện bằng nhiều hình thức cụ thể, phù hợp
Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, tổ chức của nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội đã thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương, đường lối về đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy tinh gọn thành các quy định, quy chế, pháp luật, điều lệ, chương trình, kế hoạch để thực hiện
Hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội được củng cố, từng bước kiện toàn hợp lý hơn; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác giữa các cơ quan, tổ chức của
hệ thống chính trị được bổ sung và ngày càng hoàn thiện, chất lượng hoạt động từng bước được nâng lên
Việc tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo Nghị quyết của Bộ Chính trị đã có một số kết quả, biên chế cán bộ, công chức của cả hệ thống chính trị bước đầu đã được kiểm soát
1.2.3.2 Hạn chế, bất cập
Một số cấp ủy, tổ chức đảng còn lúng túng, bị động trong lãnh đạo, chỉ đạo; vẫn còn tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng, bỏ sót sự lãnh đạo đối với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị;
Thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng chưa được làm rõ
Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị chưa theo kịp với đổi mới kinh tế, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội, chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng Tổ chức bộ máy của các tổ chức trong
hệ thống chính trị chưa tinh gọn, còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao; số lượng tổ chức sự nghiệp công lập tăng nhanh Việc
Trang 2626
xây dựng tổ chức bộ máy chưa thật sự gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ
và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của mỗi cơ quan đơn vị tổ chức
Một số bộ, ngành còn trùng lắp về nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý; cơ cấu tổ chức bên trong của các bộ ngành, cơ quan thuộc chính phủ chưa thật tinh gọn; số
bộ và cơ quan ngang bộ giảm, nhưng lại tăng thêm nhiều tổng cục, cục trực thuộc, mô hình tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương cơ bản giống nhau, chưa phân biệt rõ cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của chính quyền nông thôn
và chính quyền đô thị, hải đảo
Hệ thống tổ chức của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội chậm đổi mới, số đầu mối bên trong còn nhiều, có biểu hiện nhà nước hóa, hành chính hóa, công chức hóa: cơ cấu đội ngũ cán bộ chuyên trách chưa hợp lý, còn tập trung nhiều ở cấp trung gian và văn phòng, chưa thật sự bám sát và gắn với phong trào ở cơ sở, với đoàn viên, hội viên; chất lượng, hiệu quả hoạt động còn hạn chế
Biên chế ở các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị tăng, nhất là biên chế sự nghiệp công lập và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; tinh giản biên chế chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra Tổng số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách lớn, nhất là cấp xã; chi thường xuyên ngày càng tăng và chiếm
tỷ trọng cao trong tổng chi ngân sách nhà nước, trong đó chủ yếu chi lương và các khoản phụ cấp, làm giảm nguồn lực chi cho đầu tư phát triển, nợ công tăng
và ở mức cao
1.3 Chính sách sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
Trong hệ thống chính trị của nước ta, chính sách sắp xếp, tổ chức bộ máy được thể hiện ở một số điểm như sau:
Trang 2727
1.3.1 Về quan điểm sắp xếp tổ chức bộ máy
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và quyền làm
chủ của nhân dân; bám sát Cương lĩnh, Hiến pháp, Điều lệ và các văn kiện của
Đảng trong việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thực hiện đồng bộ với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
- Có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả Lãnh đạo tập trung, thống nhất; thực hiện thường xuyên, liên tục, tích cực, mạnh mẽ, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình, bước đi vững chắc, đáp ứng yêu cầu cả trước mắt và lâu dài
Những việc đã rõ, cần thực hiện thì thực hiện ngay; những việc mới, chưa được quy định, hoặc những việc đã có quy định nhưng không còn phù hợp thì mạnh dạn chỉ đạo thực hiện thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện, mở rộng dần, không cầu toàn, không nóng vội; những việc chưa rõ, phức tạp, nhạy cảm, còn có ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để
Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Trang 2828
Mục tiêu cụ thể:
Đến năm 2021 hoàn thành việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng giảm đầu mối, giảm tối đa cấp trung gian, giảm cấp phó; Thực hiện mô hình mới về kiêm nhiệm chức danh nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, góp phần làm rõ về lý luận và thực tiễn;
Từ năm 2021 đến năm 2030 hoàn thành việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu, điều kiện cụ thể của nước ta trong giai đoạn mới; giảm biên chế
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập từ nay đến năm 2030: Thực hiện có hiệu quả theo lộ trình, mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết Trung ương 6 khoá XII về "Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập"
* Nhiệm vụ
Thực hiện Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của toàn hệ thống chính trị, ở Trung ương trực tiếp là Bộ Chính trị, ở địa phương trực tiếp là ban thường vụ cấp uỷ cấp tỉnh
Tập trung rà soát, sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn đầu mối bên trong các tổ chức của hệ thống chính trị gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Không thành lập mới các tổ chức trung gian trên cơ sở giải thể hoặc sắp xếp lại các tổ chức hoạt động không hiệu quả
Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng, Nhà nước về
tổ chức bộ máy của các cấp, các ngành, các địa phương, bảo đảm đồng bộ, thống nhất Mạnh dạn thí điểm một số mô hình mới về thu gọn tổ chức bộ máy và kiêm nhiệm chức danh để tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; kịp thời sơ kết, tổng kết và mở rộng dần những mô hình phù hợp, hiệu quả
Trang 2929
Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện cơ chế cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, dân chủ trong bổ nhiệm, đề bạt cán bộ và tuyển dụng công chức, viên chức để thu hút người thực sự có đức, có tài vào làm việc trong các tổ chức của hệ thống chính trị Tiến hành sơ kết, tổng kết và đổi mới việc thi tuyển,
bổ nhiệm, sử dụng, đánh giá và thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán
bộ, công chức, viên chức; đẩy mạnh cải cách tiền lương
Thực hiện nghiêm chế độ miễn nhiệm, bãi nhiệm, từ chức, cho thôi việc hoặc thay thế kịp thời những người kém năng lực, phẩm chất đạo đức, không đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn của chức danh, không hoàn thành nhiệm vụ được giao Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ, công chức, viên chức
Bố trí đủ nguồn lực và có cơ chế, chính sách phù hợp đối với những cán
bộ, công chức, viên chức chịu tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bộ máy Cảnh giác và chủ động có các giải pháp ngăn chặn các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và phần tử xấu Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo sự thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội
Trang 3030
trong việc xác định hợp lý thời gian thực hiện chính sách Cùng với xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách, phải xây dựng quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách Để xây dựng được kế hoạch thực hiện chính sách chính xác, có tính khả thi cao đòi hỏi cán bộ, công chức, viên chức có nhiệm vụ tham mưu, xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách phải hiểu và nắm chắc mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, nội dung, nhiệm
vụ, các nguồn lực (nhân lực và vật lực), thời gian và các giải pháp tổ chức thực
Công tác tuyên truyền, vận động thực thi chính sách cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thi hành để mọi đối tượng cần tuyên truyền luôn được củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách cần thực hiện bằng nhiều
hình thức, hoạt động phù hợp để mang lại hiệu quả cao nhất
Trang 31tổ chức điều hành chính sách này một cách chặt chẽ, khoa học và hợp lý Thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học hợp lý nhiều nhân tố tích cực nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách sẽ được phát huy
Trong phân công nhiệm vụ thực hiện chính sách sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị cần đặc biệt chú ý đến khả năng, trình độ năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, cơ quan, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và không rõ trách nhiệm
Thứ tư, duy trì công tác thực hiện chính sách
Duy trì chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị bảo đảm cho chính sách này tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực
tế Khi thực hiện chính sách gặp những khó khăn do môi trường thực tế biến động đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách phải có năng lực hay kiến thức sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách này trên thực tế
Đồng thời, cần chủ động tham mưu, đề xuất với chủ thể ban hành chính sách và áp dụng các giải pháp, biện pháp thực hiện chính sách phù hợp với hoàn cảnh mới Việc duy trì chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị có ý nghĩa vô cùng quan trọng bảo đảm cho chính sách này tồn tại và phát huy tác dụng bền vững Nếu không duy trì chính sách sẽ dẫn đến hiệu quả chính
sách thấp gây lãng phí, không đáp ứng được yêu cầu của chính sách
Trang 3232
Thứ năm, điều chỉnh những nội dung không phù hợp với thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
Để điều chỉnh chính sách hợp lý cán bộ, công chức, viên chức thực thi chính sách phải am hiểu, nắm chắc các quy định, các công cụ thực hiện chính sách, đồng thời phải có kiến thức, kỹ năng phân tích các hạn chế, bất cập của chính sách, các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong thực hiện chính sách để có cơ sở khoa học đề xuất điều chỉnh các giải pháp, biện pháp và cơ chế chính sách, phải
để cao trách nhiệm trong tham mưu điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách, phải tôn trọng nguyên tắc khi điều chỉnh chính sách
Thứ sáu, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách sắp xếp
tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
Quá trình thực thi chính sách cần phải có kiểm tra, đôn đốc đây là bước rất quan trọng Kiểm tra, theo dõi sát sao tình hình tổ chức thực thi chính sách giúp kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực thi chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách
Thứ bảy, tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách sắp xếp tổ
chức bộ máy trong hệ thống chính trị là việc làm cần thiết và là một khâu, một
nhiệm vụ rất quan trọng không thể thiếu được trong quá trình thực hiện chính sách này Đánh giá, kết thực hiện chính sách là quá trình xem xét kết luận về sự chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách (các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức có chức năng thực hiện chính sách) và việc chấp hành, thực hiện của cán bộ, công chức là đối tượng thụ hưởng chính sách
Trang 3333
Tiểu kết chương
Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, có ý nghĩa, tầm quan trọng rất lớn và cũng vô cùng nhạy cảm, tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân, đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cả nước, được cả xã hội quan tâm, vì vậy để chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đạt được kết quả cao đòi hỏi toàn hệ thống chính trị phải chủ động, tích cực vào cuộc, coi đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
là một nhiệm vụ cơ bản và cấp bách, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu
Chương 1 của luận văn tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị với một số nội dung chính sau: Lý luận về chính sách công và đặc trưng của chính sách công, Tính tất yếu của việc thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị, Hệ thống chính trị và vấn đề sắp xếp, tổ chức bộ máy và việc tổ chức thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị Để thực hiện có hiệu quả chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị phải nắm vững nội dung cơ bản về thực hiện chính sách, đặc biệt là các bước thực hiện chính sách chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị Tác giả cũng phân tích các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị trong đó có có yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài tác động đến chính sách Việc nắm được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách sẽ giúp cho cơ quan, tổ chức, đơn
vị có trách nhiệm thực hiện chính sách có những biện pháp tổ chức thực hiện điều chỉnh phù hợp trong quá trình thực thi chính sách này
Trang 3434
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC
BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
2.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội và những đặc điểm cơ bản của hệ thống chính trị của thành phố Lạng Sơn
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội
a Điều kiện tự nhiên, địa giới hành chính
Thành phố Lạng Sơn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Lạng Sơn, với tổng diện tích tự nhiên 7.793,75 ha, nằm ở 21045’-22000’ vĩ Bắc và 106039’-107000’ kinh Đông Thành phố có 08 đơn vị hành chính xã, phường (05 phường: Hoàng Văn Thụ, Tam Thanh, Vĩnh Trại, Đông Kinh, Chi Lăng và 03 xã: Hoàng Đồng, Quảng Lạc, Mai Pha); cách thủ đô Hà Nội 154 km
về hướng Đông Bắc, cách biên giới Việt - Trung 18 km đồng thời nằm liền kề với khu tam giác kinh tế năng động Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Có các tuyến đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, 1B, 4B, đường sắt liên vận quốc tế Việt - Trung
Thành phố có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế xã hội và các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ; phát triển đô thị với vai trò là đô thị hạt nhân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn tỉnh Lạng Sơn Bên cạnh đó, thành phố còn có nhiều danh lam, thắng cảnh và là đầu mối thuận tiên đến các điểm du lịch, di tích, danh thắng cấp quốc gia, cấp tỉnh (có khu di tích Nhất, Nhị, Tam Thanh, chùa Thành, chùa Tiên, cách Đền Mẫu Đồng Đăng 10km, cách chùa Bắc Nga 11km, cách khu du lịch núi Mẫu Sơn khoảng 30km, cách biên giới Việt Nam – Trung Quốc 18km) là điều kiện đặc biệt phát triển du lịch, dịch vụ
Trang 3535
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí thành phố Lạng Sơn
Về dân số, tính đến hết năm 2017 trên địa bàn thành phố Lạng Sơn có 96.347 người (chỉ tính số có hộ khẩu thường trú), nếu tính cả dân số quy đổi gồm: lực lượng học sinh, sinh viên tại các cơ sở đào tạo, dạy nghề, số người lao động tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, bệnh nhân từ các vùng lân cận đến khám chữa bệnh, khách đến du lịch, lưu trú, khách tham dự hội nghị hội thảo trên địa bàn là khoảng 200.000 người Dân cư thành phố bao gồm nhiều dân tộc, trong đó khoảng trên 60% là dân tộc Tày, Nùng, 30% là dân tộc Kinh, khoảng 10% là các dân tộc khác như: Hoa, Dao, Mông, Cao Lan, Sán Chỉ… Tốc độ tăng dân số, đặt biệt là tốc độ đô thị hóa nhanh tạo nên sức ép và nhiều khó khăn, thách thức đối với công tác quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố
b Tình hình kinh tế xã hội của thành phố Lạng Sơn giai đoạn 2015-2017 Với sự nỗ lực cố gắng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Lạng Sơn, trong giai đoạn từ năm 2015-2017, thành phố Lạng Sơn đã có những
Trang 3636
bước phát triển vượt trội, đạt kết quả tích cực, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội chung của tỉnh Lạng Sơn, đặc biệt là sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu kinh tế trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
(Nguồn: Chi cục Thống kê thành phố Lạng Sơn)
Hình.2.2: Tỷ trọng các ngành kinh tế trên địa bàn năm 2017
(Nguồn: Chi cục Thống kê thành phố Lạng Sơn)
Hoạt động thương mại, du lịch, dịch vụ được duy trì, nguồn cung hàng hóa, phong phú, giá cả thị trường ổn định, các mặt hàng thiết yếu đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Lượng khách du lịch đến địa bàn bình quân hàng năm tăng 5% Sản xuất nông – lâm nghiệp phát triển theo hướng
Trang 3737
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả Một
số mô hình kinh tế trang trại, chăn nuôi tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa tiếp tục hình thành và phát triển Thu ngân sách cơ bản đáp ứng nhiệm vụ chi ngân sách phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và nhiệm vụ chính trị của thành phố Tổng thu ngân sách giai đoạn 2015-2017 đạt 1.227,6 tỷ đồng, tăng 25% so với cả giai đoạn 2010- 2015, chi ngân sách đạt 1.112 tỷ đồng, phục vụ tốt yêu cầu, nhiệm vụ phát triển thành phố
Thành phố thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện cho các thành phần kinh
tế phát triển, Trên địa bàn hiện có 506 cơ sở sản xuất kinh doanh thương mại,
dịch vụ, công nghiệp, 24 hợp tác xã, gần 5.000 hộ kinh doanh cá thể
Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai thực hiện tích cực, năm 2017 thành phố được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, năm 2018 thành phố đã hoàn thành hồ sơ đề nghị công nhận đô thị loại II
Hệ thống giao thông nội thành được đầu tư tương đối hoàn chỉnh với các tuyến phố khang trang, sạch đẹp Phong trào làm đường giao thông nông theo cơ chế “nhà nước và nhân dân cùng làm” tiếp tục được thực hiện tốt Đến nay 100% tuyến đường, ngõ khu vực nội thành cơ bản đã được bê tông hóa; đường giao thông nông thôn bê tông hóa được 81,84% Hệ thống cấp nước cơ bản đáp ứng nhu cầu hiện tại, tỷ lệ dân số được cấp nước tại nội thành là 99%, ngoại thành là 60%, còn lại là dùng nước giếng khoan, đảm bảo 100% dân cư thành phố được
sử dụng nước hợp vệ sinh Hiện thành phố đang triển khai đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải trên 132 tuyến đường, ngõ, với chiều dài 37.466 m và nhà máy xử lý nước thải để đảm bảo thoát nước và vệ sinh môi trường của thành phố Hệ thống điện chiếu sáng công cộng được đầu tư 100% các tuyến đường chính trong nội thành và trên 80% đường ngõ Tại các tuyến đường, vườn hoa, khuôn viên tượng đài được lắp đặt hệ thống đèn trang trí, cây
Trang 3838
xanh, bồn hoa
Công tác giáo dục và đào tạo tiếp tục được phát triển ổn định, quy mô phù hợp, đáp ứng yêu cầu Trên địa bàn hiện có 40 trường và cơ sở giáo dục Công tác phổ cập các bậc học được duy trì; công tác xã hội hóa giáo dục, khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được đẩy mạnh Công tác thông tin, tuyên truyền, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở khu dân cư được đẩy mạnh, ngày càng đi vào chiều sâu Hàng năm, tỷ lệ hộ gia đình đạt gia đình văn hóa từ 90-91%; tỷ lệ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa
từ 95-97%; 104/104 khối, thôn có nhà văn hóa và xây dựng quy ước, hương ước phù hợp với quy định của pháp luật Nếp sống văn minh đô thị, và phong cách ứng xử văn hóa của người dân thành phố có sự chuyển biến tích cực Phong trào thể dục, thể thao phát triển rộng khắp Hiện nay, thành phố có 14 sân quần vợt,
47 sân cầu lông, 07 sân bóng chuyền, một số sân bóng đá mini và bể bơi, sân chơi, bãi tập thể thao Hệ thống thông tin, bưu chính viễn thông phát triển nhanh
và mạnh, việc sử dụng công nghệ thông tin, internet được được áp dụng phổ biến trong hoạt động của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn Khu vực nội thành có bình quân số thuê bao Internet là 21,01 thuê bao/1000 dân và tỷ lệ phủ sóng thông tin
di động là 96,87%, điều đó cho thấy tình hình phát triển, tiềm năng và nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân thành phố Lạng Sơn rất lớn
Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ, cơ sở vật chất từng bước được đầu tư, nâng cấp Công tác xã hội hóa y tế được đẩy mạnh, tạo điều kiện cho 160 cơ sở y tế hành nghề y, dược tư nhân hoạt động, khuyến khích các cơ sở đầu tư phương tiện, trang thiết bị y tế hiện đại, đa dạng hóa các loại hình chăm sóc sức khỏe, góp phần đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh nhân dân 8/8 phường, xã đã hoàn thành
Bộ tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình tiếp tục được quan tâm, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì ổn định ở mức 0,9%/năm,
Trang 3939
giảm mức sinh hàng năm đạt 0,2‰; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 8,4% vào năm 2017 Chương trình giảm nghèo được triển khai thực hiện tích cực; tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn hiện còn khoảng 0,15% 100% người nghèo được cấp thẻ BHYT miễn phí và hưởng các dịch vụ khám, chữa bệnh theo quy định Các chính sách về an sinh xã hội luôn được quan tâm thực hiện, kịp thời Các chương trình đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được quan tâm, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 60%
Hình 2.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo,
- Hệ thống các đảng bộ, chi bộ: Đảng bộ thành phố hiện có 67 chi, đảng
bộ trực thuộc, trong đó có 15 Đảng bộ, 52 chi bộ cơ sở Có 179 chi bộ trực thuộc Đảng uỷ cơ sở (45 chi bộ thôn; 59 chi bộ khối; 01 chi bộ trạm y tế xã; 05 chi bộ
cơ quan phường, xã; 05 chi bộ công an phường; 27 chi bộ trường học; 36 chi bộ
Trang 4040
khối cơ quan, đơn vị; 02 chi bộ Quân sự xã, phường) Tổng số đảng viên trên địa bàn tính đến 15/6/2018 có 6.560 đảng viên (trong đó chính thức 6.328; dự bị 232) Đảng viên thuộc các cơ quan, đơn vị của Trung ương, của tỉnh tham gia sinh hoạt tại nơi cư trú theo quy định 76-BCT trên địa bàn thành phố khoảng hơn 9.000 người
Ban chấp hành Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2015-2020 hiện có 42 đồng chí, trong đó nữ 13/42 (31%); dân tộc thiểu số 12/42 (29%) Ban Thường vụ Thành ủy gồm 13 đồng chí, nữ 04/13 (30%); dân tộc thiểu số 01/13 (7,7%)
- Các cơ quan tham mưu giúp việc của Thành ủy gồm 05 cơ quan: Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy và Văn phòng Thành ủy Tổng biên chế cán bộ, công chức khối đảng Thành uỷ được tỉnh giao năm 2018 là 34 người
b Các cơ quan đoàn thể chính trị - xã hội thành phố, cấp cơ sở
Gồm Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Lạng Sơn và 05 tổ chức chính trị xã hội: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Liên đoàn Lao động và Thành Đoàn Lạng Sơn Tổng biên chế cán bộ, công chức các cơ quan đoàn thể của thành phố năm 2018 được giao