LỜI CAM ĐOAN Đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn” của luận văn này là kết quả của sự nỗ lực cố
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3HÀ NỘI, 2019
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn” của luận văn này là
kết quả của sự nỗ lực cố gắng, tìm tòi và nghiên cứu của riêng bản thân tôi cùng với
sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Thanh Hiền Tôi xin cam đoan, kết quả nghiên cứu này chưa hề được công bố trong bất cứ công trình nào Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 02 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Nga
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2 Cơ cấu các cơ quan chuyên môn 13
1.3 Vai trò và những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 20
1.4 Một số nội dung cơ bản trong chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh 22
Chương 2 THỰC TRẠNG TH Ự C H I Ệ N CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN 24
2 1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội tỉnh Lạng Sơn 24
2.2 Khái quát về UBND tỉnh Lạng Sơn và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn 28
2.3 Thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn 30
Chương 3 ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤTGIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN TỚI 58
3.1 Đánh giá, nhận xét về thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ chuyên môn tại tỉnh Lạng Sơn 58
3.2 Bài học kinh nghiệm 69
3.3 Đề xuất giải pháp 69
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND Hội đồng nhân dân
Trang 7
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn hành chínhcấp tỉnh 22
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Sở 23
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp cơ cấu tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh năm 2018; Kết quả thực hiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW
và Nghị quyết số 19-NQ/TW 38 Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả thực hiện tinh giản biên chếtừ năm 2015 đến 2018 43 Bảng 2.3: Tổng hợp tổ chức các cơ quan chuyên môntỉnh Lạng Sơn 45 Bảng 2.4: Tổng hợp số lượng người làm việc, hợp đồng lao động theo nghị định số 68/2000/nđ-cp, hợp đồng làm chuyên môn, nghiệp vụ tại các đơn vị sự nghiệp công lập 52 Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả đánh giá, xếp loạithực hiện nhiệm vụ năm 2017 59 Bảng 3.2: Kết quả xếp loại kết quả thực hiện cải cách hành chính các cơ quan chuyên môn năm 2017 61
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Kết luận số 34-KL/TW, Bộ Nội vụ
đã xây dựng dự thảo Nghị định quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và dự thảo Nghị định quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc
Trung ương, trình Chính phủ và báo cáo Ban Cán sự đảng Chính phủ để trình Bộ Chính trị cho ý kiến một số nội dung liên quan đến khung số lượng cơ quan chuyên môn, tiêu trí thành lập tổ chức, biên chế tối thiểu, số lượng cấp phó tối đa của một tổ chức hành chính ở địa phương, làm cơ sở để phân cấp cho chính quyền địa phương cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo và
yêu cầu quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực ở địa phương
Một trong những vấn đề quan trọng hiện nay là đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động trước yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do dân,
vì dân ở nước ta hiện nay Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, Nghị quyết, Kết luận về xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đạt được nhiều kết quả quan trọng Hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội được đổi mới; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng đã chỉ
Trang 102
rõ: “Việc đổi mới hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối loạn Nhưng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới hệ thống chính trị, nhất là về tổ chức bộ máy và các bộ; mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, bởi đó là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và thực hiện dân chủ”; Văn kiện Hội nghị Trung ương 8 khoá VII xác định cải cách nền hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước; Hội nghị Trung ương 3 và 7 khoá VIII, các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX và X, XI và gần đây nhất ngày 17/4/2015, Bộ Chính trị khóa XI
đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TƯ về “Tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định quyết tâm của Đảng trong việc “tinh giản biên chế trong toàn
bộ hệ thống chính trị”
Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước mới chỉ tập trung vào cơ quan lập pháp, tư pháp, mà chưa có sự quan tâm tương xứng với các cơ quan hành chính nhà nước Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ một số cơ quan, tổ chức chưa thật rõ, còn chồng chéo,
trùng lắp Tình trạng công chức "sáng cắp ô đi, tối cắp ô về" vẫn còn, dẫn đến
hiệu quả thực thi nhiệm vụ còn thấp
Trên cơ sở đánh giá thực trạng về tổ chức bộ máy, chất lượng, số lượng công chức, viên chức, người lao động tại các cơ quan hành chính nói chung và tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn nói riêng thì yêu cầu đặt ra cần thực hiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn với các mục tiêu chính: Xây dựng tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn, phù hợp yêu cầu thực hiện
Trang 113
công tác quản lý nhà nước tại địa phương; nâng cao tính tập trung trong công tác quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh Vị trí, chức năng, nhiệm vụ các cơ quan, đơn vị rõ ràng, không chồng chéo, trùng lặp Cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức, người lao động phù hợp, phát huy được năng lực, trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ trên nhiều lĩnh vực để thực hiện công việc được giao Thực hiện tinh giản biên chế công chức, viên chức, người lao động; tăng cường kiêm nhiệm công việc, giảm bớt đầu mối một số chức danh lãnh đạo, quản lý Giảm chi phí quản lý tổ chức bộ máy và chi thường xuyên
Do vậy, việc xây dựng sắp xếp lại tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn là cần thiết, để đáp ứng yêu cầu thực tế và thực hiện theo đúng chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị
và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy
Xuất phát từ thực tế trên, học viên lựa chọn đề tài luận văn Thạc sỹ về
“Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn” nhằm đánh giá thực trạng và cơ cấu tổ
chức bộ máy hiện nay của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn, qua đó làm rõ những điểm bất cập, điểm hạn chế còn tồn tại và đề ra phương hướng giải quyết góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước trong của
các cơ quan chuyên môn hiện nay của tỉnh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, công tác sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính Nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và cũng là vấn đề được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu Sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính Nhà nước đã được một số bài viết, công trình nghiên cứu nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, các bài viết, công trình đó
đã nêu được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ
Trang 124
quan hành chính Nhà nước Ngoài ra, có thể thấy nhiều luận văn, luận án cũng
đã quan tâm đến vấn đề sắp xếp các cơ quan hành chính Nhà nước như:
- Đề tài nghiên cứu “Xây dựng đội ngũ công chức, viên chức đáp ứng đòi
hỏi của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” của
TS Thang Văn Phúc và TS Nguyễn Minh Phương thực hiện, năm 2004
- Luận văn thạc sĩ “Thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn
Bộ Văn hóa thể thao & Du lịch” của học viên Vũ Thị Thanh Nhàn, (năm 2017), Học viện Khoa học xã hội
- Bài viết tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới của tác giả Thanh Hà, Tạp chí Cộng sản
- Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị trong cải cách nền hành chính quốc gia ở nước ta hiện nay của tác giả TS Đỗ Xuân Đông
- Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay của tác giả TS Lê Đình Khiên
- Cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương đáp ứng các yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân của PGS.TS Lê Minh Thông
- Hải Dương sắp xếp lại tổ chức bộ máy gắn với tinh giản biên chế của tác giả Mạnh Tú - Báo thông tấn xã Việt Nam
Các công trình nghiên cứu nêu trên đề cập đến các khía cạnh, phạm vi khác nhau liên quan đến tổ chức và hoạt động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước Do vậy, việc nghiên cứu đồng thời những vấn đề liên quan đến đổi mới và tổ chức hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của của Đảng và trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện
Trang 135
nay là vấn đề có lý luận và thực tiễn Từ đó gợi mở những phương hướng, giải pháp hữu hiệu để nâng cao vai trò của bộ máy hành chính nhà nước
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề chung tôi nhận thấy, chưa
có công trình nào nghiên cứu sâu về việc sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn của tỉnh Lạng Sơn Đây là lý do khiến chúng tôi lựa chọn chủ đề
“Thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn”, làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình Từ đó đề xuất giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả hơn chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luân văn nghiên cứu cụ thể thực trạng chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, và phân tích đánh giá thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luận liên quan đến chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan hành chính Nhà nước
- Phân tích chính sách, đánh giá việc thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức
bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
Trang 146
Đồng thời nghiên cứu hệ thống của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Lạng Sơn hiện nay: cơ chế, chính sách, đội ngũ công chức, viên chức, người lao động đang làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: UBND tỉnh Lạng Sơn
- Về thời gian: Từ năm 2017 đến nay
- Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu và đánh giá việc thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng; Chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách sắp xếp
tổ chức bộ máy các cơ quan Nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin: Được sử dụng
để thu thập và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, luật, tài liệu, Nghị quyết, Kết luận, Quyết định của Đảng, Nhà nước; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu đã được công bố; số liệu từ các báo cáo của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
- Phương pháp nghiên cứu đánh giá chính sách
Phương pháp nghiên cứu chính sách là một quá trình mang tính hệ thống thường gồm các hoạt động: Phân tích và đánh giá các điểm bất hợp lý, hiệu quả
và tính khả thi của các chính sách nhằm đạt được các mục tiêu đề ra; Đánh giá
Trang 15sẽ đánh giá mặt tích cực cũng như các bất cập, thiếu hụt của chính sách trong quá trình theo chu kỳ thực hiện: trước - trong - sau thực hiện chính sách sắp xếp
tổ chức bộ máy hành chính nhà nước Đồng thời đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện quá trình đánh giá thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn về chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính Nhà nước, nhất là các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn Luận văn còn góp phần làm sáng tỏ các nội dung hơn, đánh giá việc thực hiện chính sách công
Từ những nghiên cứu, tư liệu thực tế về chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ chuyên môn tại tỉnh Lạng Sơn luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sách công ở khía cạnh sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp cho UBND tỉnh Lạng Sơn, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn và các đơn vị liên quan có cách nhìn nhận và đánh giá một cách khoa học công tác thực hiện chính sách sắp xếp
tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn Các phân tích, các giải pháp và kiến nghị của luận văn đưa ra có ý nghĩa thực tiễn lớn,
Trang 168
giúp cho công tác thực hiện chính sách này tại tỉnh Lạng Sơn hiệu quả hơn, thiết thực hơn, không bị chồng chéo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục và các từ viết tắt, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được thể hiện trong 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy
của các cơ quan hành chính nhà nước
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của
các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Đánh giá, nhận xét và đề xuất giải pháp thực hiện chính sách
sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới
Trang 179
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÁC CƠ QUAN
Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về chính sách công được các học giả đưa ra Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các định nghĩa đều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là chính sách công bắt nguồn từ các quyết định của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung vì lợi ích của đời sống cộng đồng
Theo PGS.TS Đỗ Phú Hải (Học viện Khoa học xã hội Việt Nam): Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện các quyết định các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền
Theo học giả William Jenkin: Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một Nhà chính trị hay một nhóm Nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được mục tiêu
đó [Dẫn theo 21.Tr.50]
Trang 18- Định nghĩa chính sách công theo nghĩa rộng: Chính sách công là chính sách của Nhà nước, là kết quả của việc cụ thể hóa các đường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền thành các quyết định với mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Nhà nước và duy trì sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và mục đích phục vụ người dân
1.1.2 Tổ chức
Từ "Tổ chức" là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống hằng ngày, nhưng để định nghĩa chưa có định nghĩa chung về thuật ngữ này Tài liệu Quản lý và phát triển tổ chức hành chính nhà nước [10.Tr8] đã định nghĩa về "Tổ chức" và xem "Tổ chức" là một hệ thống của hai hay nhiều người phối hợp với nhau tạo nên một tổ chức với những mục tiêu chung thông qua ở những mức độ khác nhau của sự phân công lao động giữa những con người đó
Nhưng theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex, Nhà xuất bản Đà Nẵng - 2007, thì "Tổ chức" là sắp xếp, bố trí cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định
Vậy xét trên tổng thể, tổ chức đòi hỏi có ít nhất hai người trở lên, có sự liên kết với nhau nhằm hướng đến mục tiêu chung và xét về bản chất thì tổ chức do con người tạo nên
Theo quan niệm trên, tổ chức có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, khi con người
Trang 1911
cần có sự liên kết với nhau để đạt được mục tiêu thì họ sẽ lập nên tổ chức; khi mục tiêu đó đã thành công thì con người tự giải tán tổ chức đó Để nâng được hòn đá nặng, một người không thể làm được, họ cần liên kết nhiều người và khi nâng được xong hòn đá, những người đó có thể tự giải tán
Tổ chức cũng là một phát minh lớn nhất của quá trình phát triển xã hội loài người; mỗi con người cùng nhau hoạt động trong một tổ chức đều đóng những vai trò nhất định để đạt được những mục tiêu chung của nó, tức là công việc mỗi người đảm nhiệm có một mục đích hoặc một một mục tiêu nhất định, các hoạt động đó phù hợp, khớp nối với các hoạt động của những người khác trong tổ chức đó, đồng thời khi con người cùng nhau làm việc trong một tổ chức
để thực hiện một mục tiêu chung thì phải cần đến có sự quản lý tổ chức đó
1.1.3.Ủy ban nhân dân
Theo Điều 8, Luật tổ chức chính quyền địa phương, ngày 19 tháng 6 năm 2015: UBND do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; UBND gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên, số lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định
UBND được ban hành các quyết định, chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình; UBND có các cơ quan chuyên môn để giúp thực hiện các chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản
lý của ngành hoạc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở
1.1.4 Cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh
Theo Đại từ điển Tiếng việt thì cơ quan chuyên môn là cơ quan chuyên trách một Ngành cụ thể của Nhà nước Còn theo Từ điển Tiếng việt, cơ quan chuyên môn là cơ quan chuyên trách một ngành công tác của Nhà nước Theo
Trang 2012
từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì cơ quan chuyên môn thuộc UBND được hiểu là cơ quan có nhiệm vụ giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương và đảm bảo sự thống nhất quản lý của Ngành hoặc lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức và biên chế, công tác của UBND cấp mình đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên theo ngành, lĩnh vực Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBND và cơ quan chuyên môn cấp trên, và khi cần thiết báo cáo công tác trước HĐND
Ngoài ra có ý kiến cho rằng, cơ quan chuyên môn thuộc UBND là cơ quan trực thuộc UBND, có cơ cấu và hoạt động ổn định trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với một số ngành, lĩnh vực nhất định ở địa phương hoặc quan niệm cơ quan chuyên môn là một bộ phận cấu thành của UBND, cụ thể là các
Sở, Ban, Ngành của UBND là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý chuyên môn trong phạm vi địa phương mình Các cơ quan chuyên môn được
tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc hai chiều và phụ thuộc vào UBND cùng cấp và cơ quyên môn cấp trên
Theo Điều 9, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, ngày 19 tháng 6 năm 2015 thì Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về
tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp
Trang 2113
trên Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn Chính phủ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
1.2 Cơ cấu các cơ quan chuyên môn
Theo Điều 8, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định chức năng nhiệm vụ các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh như sau:
- Sở Nội vụ: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Tổ chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính; vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị
sự nghiệp công lập; tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, công chức cấp xã; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, công chức cấp xã; những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; tổ chức hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; công tác thanh niên; thi đua - khen thưởng
- Sở Tư pháp: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính;
Trang 2214
phổ biến, giáo dục pháp luật; pháp chế; công chứng, chứng thực; nuôi con nuôi; trọng tài thương mại; hộ tịch; quốc tịch; lý lịch tư pháp; bồi thường nhà nước; luật sư, tư vấn pháp luật; trợ giúp pháp lý; giám định tư pháp; hòa giải
cơ sở; bán đấu giá tài sản; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật
- Sở Kế hoạch và Đầu tư: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Tổng hợp quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội;
tổ chức thực hiện và đề xuất về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh; đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài ở địa phương; quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn viện trợ phi chính phủ; đấu thầu; đăng ký kinh doanh; tổng hợp về doanh nghiệp, kinh tế tập thể, hợp tác
xã, kinh tế tư nhân
- Sở Tài chính: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Tài chính; ngân sách nhà nước; thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước; tài sản nhà nước; các quỹ tài chính nhà nước; đầu tư tài chính; tài chính doanh nghiệp; kế toán; kiểm toán độc lập; giá và các hoạt động dịch vụ tài chính tại địa phương theo quy định của pháp luật
- Sở Công Thương: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Cơ khí; luyện kim; điện; năng lượng mới; năng lượng tái tạo; dầu khí; hóa chất; vật liệu nổ công nghiệp; công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản; công nghiệp tiêu dùng; công nghiệp thực phẩm; công nghiệp chế biến khác; lưu thông hàng hóa trên địa bàn; xuất khẩu, nhập khẩu; quản lý thị trường; xúc tiến thương mại; thương mại điện tử; dịch vụ thương mại; quản lý cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hội nhập kinh tế; thương mại quốc tế; quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn; quản lý an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Tham mưu, giúp Ủy ban
Trang 2315
nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy sản; thủy lợi và phát triển nông thôn; phòng, chống thiên tai; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản, muối theo quy định của pháp luật
- Sở Giao thông vận tải: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản
lý nhà nước về: Đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt đô thị; vận tải; an toàn giao thông; quản lý, khai thác, duy tu, bảo trì hạ tầng giao thông đô thị gồm: Cầu đường bộ, cầu vượt, hè phố, đường phố, dải phân cách, hệ thống biển báo hiệu đường bộ, đèn tín hiệu điều khiển giao thông, hầm dành cho người đi
bộ, hầm cơ giới đường bộ, cầu dành cho người đi bộ, bến xe, bãi đỗ xe
- Sở Xây dựng: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng và kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: Cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao; quản lý chất thải rắn thông thường tại đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị; công viên, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sỹ; kết cấu hạ tầng giao thông đô thị, không bao gồm việc quản lý khai thác, sử dụng, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đô thị; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng
- Sở Tài nguyên và Môi trường: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo (đối với các tỉnh có biển, đảo)
- Sở Thông tin và Truyền thông: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp
Trang 2416
tỉnh quản lý nhà nước về: Báo chí; xuất bản; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin; điện tử; phát thanh và truyền hình; thông tin đối ngoại; bản tin thông tấn; thông tin cơ sở; hạ tầng thông tin truyền thông; quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin
- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Lao động; việc làm; dạy nghề; tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp); an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Văn hóa; gia đình; thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo (không bao gồm nội dung quảng cáo quy định tại Khoản 10 Điều này); việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật
- Sở Khoa học và Công nghệ: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Hoạt động khoa học và công nghệ; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; sở hữu trí tuệ; ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ; an toàn bức xạ và hạt nhân
- Sở Giáo dục và Đào tạo: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Chương trình, nội dung giáo dục và đào tạo; nhà giáo và công chức, viên chức quản lý giáo dục; cơ sở vật chất, thiết bị trường học và
đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ
- Sở Y tế: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết
Trang 25- Văn phòng Ủy ban nhân dân: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đầu mối Cổng thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động chung của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Phó Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng
Theo Điều 9, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định chức năng nhiệm vụ các
Sở đặc thù được tổ chức ỏ một số địa phương như sau:
- Sở Ngoại vụ: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Công tác ngoại vụ và công tác biên giới lãnh thổ quốc gia (đối với những tỉnh có đường biên giới) Sở Ngoại vụ được thành lập khi đáp ứng các tiêu chí sau:
a) Có đường biên giới trên bộ và có cửa khẩu quốc tế hoặc quốc gia; b) Đối với những tỉnh không có đường biên giới, nhưng phải có đủ các điều kiện sau:
Có các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu kinh
tế mở, Khu kinh tế cửa khẩu được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập;
Trang 26- Ban Dân tộc: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Công tác dân tộc Ban Dân tộc được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi đảm bảo có 2 trong 3 tiêu chí sau:
a) Có trên 20.000 (hai mươi nghìn) người dân tộc thiểu số sống tập trung thành cộng đồng làng, bản;
b) Có trên 5.000 (năm nghìn) người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển;
c) Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại
Đối với những tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đáp ứng các tiêu chí như trên thì thành lập Phòng Dân tộc (hoặc bố trí công chức) làm công tác dân tộc thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Phòng Dân tộc (hoặc công chức) làm công tác dân tộc chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đảm bảo cơ sở vật chất và hành chính quản trị cho hoạt động của Phòng Dân tộc
- Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn là cơ quan quản lý nhà nước trực thuộc UBND tỉnh (Quyết định số 1601/QĐ-TTg ngày 07/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Quản lý khu kinh
tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn) Ngày 13/5/2016, UBND
Trang 2719
tỉnh đã ban hành Quyết định số 22/2016/QĐ-UBND về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
+ Theo đó, Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (sau đây viết tắt là Ban Quản lý) là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn; Khu cửa khẩu Chi Ma, huyện Lộc Bình; các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh được giao (sau đây gọi tắt là Khu kinh tế) và tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính công, dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong Khu kinh tế
+ Ban Quản lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, công chức, viên chức, chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của UBND tỉnh; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực trong công tác quản lý Khu kinh tế; có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh trong công tác quản lý Khu kinh tế
Với vị trí là cơ quan chuyên môn thuộc UBND nên hoạt động của cơ quan chuyên môn mang tính chất "tham mưu giúp việc" cho UBND trong hoạt động quản lý hành chính, cụ thể như dự thảo các Quyết định, các Chương trình, Kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, trung hạn và hàng năm trên các lĩnh vực quản lý được phân công phụ trách hoặc giúp UBND quản lý một số hoạt động đối với tổ chức, cá nhân trong phạm vi thẩm quyền của UBND cùng cấp tại địa phương; thực hiện những nhiệm vụ khi được UBND giao, phân cấp, ủy quyền cũng như thực hiện công tác thanh, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật đối với các cá nhân, tổ chức thuộc ngành, lĩnh vực quản lý Nhà nước tại địa phương
Trang 2820
1.3 Vai trò và những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh
- Thứ nhất, hiện nay với hệ thống pháp luật thì cần có các khung pháp
lý đồng bộ, tương đồng, ổn định, là nền tảng tạo cơ sở pháp lý để thực hiện đổi mới bộ máy hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh
Do kinh tế phát triển mạnh, hệ thống các chính sách pháp luật của Nhà nước ở các thời kỳ quản lý theo cơ chế tập trung, bao cấp không còn phù hợp đã bộc
lộ nhiều bấp cập về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng
và nhiều quan hệ xã hội mới trong các lĩnh vực như thị trường bất động sản, thị trường tài chính tiền tệ, thị trường chứng khoán, hoạt động đầu tư , đặt ra nhiều nhiệm vụ mới về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
để tạo ra các cơ sở pháp lý và công cụ hữu hiệu để quản lý Nhà nước và quản
lý xã hội
- Thứ hai, chức năng quản lý phân định rõ ở mỗi cấp và trên cơ sở đó
có sự phân cấp quản lý rõ ràng, của các tổ chức và cơ quan, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương, đảm bảo tính linh hoạt và chủ động, sáng tạo hơn trong hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Thêm vào nữa xuất phát từ đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đối với các cấp chính quyền địa phương, Nhà nước đã đẩy mạnh việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương trên các lĩnh vực, trong đó phân cấp giao quyền, giao trách nhiệm về tổ chức bộ máy và con người được xác định là một trong những nội dung trọng tâm, nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn về cải cách hành chính của chính quyền địa phương hiện nay Thực tế này cũng đòi hỏi sự thống nhất về không gian chính trị, không gian kinh tế, không gian pháp luật trong tổ chức đơn vị hành chính địa phương, từ đó xác định rõ vị trí, tính chất, nội dung quản lý Nhà nước của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND mỗi cấp hiện nay, làm căn cứ cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động
Trang 2921
được khách quan, mang lại hiệu quả cao
- Thứ ba, tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn được đổi mới thì cần tính đến ảnh hưởng và sự tác động của yếu tố vùng, miền, khu vực Thực tế trong quản lý hành chính nhà nước tại địa phương cho thấy, các yếu
tố vùng, miền có sự tác động, ảnh hưởng lớn đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Do vậy, trong quá trình đổi mới phải đảm bảo sự phù hợp giữa tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên môn với các nguyên tắc quản lý hành chính Nhà nước với nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý địa phương Yếu tố từng vùng, từng miền, từng khu vực ở nước ta phản ánh sự rất khác biệt về điều kiện tự nhiên, xã hội, khu vực, khu vực phân bố dân cư, nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước và một số vấn đề
- Thứ tư, các yếu tố về kinh tế - xã hội, nguồn kinh phí, trình độ dân trí, văn hóa, truyền thống bản sắc dân tộc cũng đều có tác động và ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đến quá trình đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND trong giai đoạn hiện nay
- Thứ năm, đội ngũ công chức, viên chức, người lao động làm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cần được kiện toàn để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và xu thế toàn cầu hóa của đất nước Cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tuyển dụng đội ngũ công chức, viên chức trong các cơ quan chuyên môn, hoặc các đơn vị trực thuộc các cơ quan chuyên môn sao cho phù hợp với tình hình thực tế Nhằm nâng cao chất lượng, năng lực, phẩm chất, trình độ nghiệp vụ có chuyên môn cao của đội ngũ công chức, viên chức ở cấp địa phương nói chung và cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh nói riêng cần phải nâng cao tính kỷ cương, nâng cao đạo đức công vụ theo phương châm:"Đổi mới mạnh mẽ công tác cán
bộ, bảo đảm thật sự dân chủ, khoa học và công minh " Đồng thời, cần phân
Trang 3022
định rõ trách nhiệm, quyền hạn của đội ngũ công chức, viên chức; Đổi mới công tác đánh giá công chức, viên chức thường xuyên và cần đảm bảo đánh giá sát thực
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn hành
chính cấp tỉnh
(Nguồn: Tác giả nghiên cứu qua hệ thống hành chính)
1.4 Một số nội dung cơ bản trong chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh
Theo Điều 5, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì cơ cấu tổ chức của Sở thuộc UBND cấp tỉnh gồm có
- Văn phòng;
- Thanh tra;
- Phòng chuyên môn, nghiệp vụ;
- Chi cục;
- Đơn vị sự nghiệp công lập
Ủy ban nhân dân tỉnh
Chủ tịch UBND tỉnh
Phó Chủ tịch UBND tỉnh
Các Ủy viên UBND tỉnh
Hệ thống Các Sở, ban ngành của tỉnh
Trang 3123
Cơ cấu tổ chức cũng theo nguyên tắc trực tuyến chức năng và các bộ phận của chức năng được cấu thành các đơn vị, vì vậy gọi chung là phòng Số lượng phòng phụ thuộc vào chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị quyết định thành lập, sao cho phù hợp với chức năng nhiệm vụ của mình Việc thành lập các phòng, đơn vị trực thuộc do Sở đề xuất trình thông qua UBND tỉnh quyết định phê duyệt
Người đứng đầu cơ quan chuyên môn gọi chung là Sở thuộc UBND cấp tỉnh (gọi chung là Giám đốc Sở), chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh và trước pháp luật về thực hiện chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan chuyên môn do mình phụ trách
Cấp phó của người đứng đầu cấp Sở (sau đây gọi chung là Phó Giám đốc Sở), là người giúp Giám đốc Sở chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công khi Giám đốc vắng và được ủy quyền, số lượng Phó giám đốc không quá 03 người
Việc bổ nhiệm, miễm nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, từ chức, nghỉ hưu, đề bạt và thực hiện các chế độ chính sách đối với Giám đốc và Phó Giám đốc Sở do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định theo quy định của pháp luật
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Sở
(Nguồn: Tác giả nghiên cứu qua hệ thống hành chính)
Ban Giám đốc Sở
Trang 3224
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn có khoáng sản, tài nguyên phong phú như rừng, phong cảnh tươi đẹp, khí hậu mát mẻ…là những tiềm năng to lớn để phát triển một cách toàn diện, với đặc điểm tự nhiên, xã hội và những tiền năng thế mạnh của mình
2.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí địa lý
Lạng Sơn nằm ở toạ độ 20°27'-22°19' vĩ Bắc và 106°06'-107°21' kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng; Phía Đông Bắc giáp Quảng Tây (Trung Quốc); Phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang; Phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh; Phía Tây giáp tỉnh Bắc Kạn; Phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên [1]
Vị trí địa lý là một thế mạnh nổi bật của tỉnh Lạng Sơn, là điểm đầu tiên của Việt Nam trên tuyến hành lang kinh tế hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng; có 2 cửa khẩu quốc tế (Hữu Nghị - đường bộ; Đồng Đăng - đường sắt), 2 cửa khẩu chính (Chi Ma - Lộc Bình, Bình Nghi - Tràng Định) và 7 cửa khẩu phụ (trong đó có Tân Thanh, Cốc Nam, Bản Chắt, Quốc Khánh, ); có các tuyến đường giao thông quan trọng như quốc lộ 1A nối liền Lạng Sơn - Hà Nội, quốc lộ 1B Lạng Sơn - Thái Nguyên, quốc lộ 4A Lạng Sơn - Cao Bằng, quốc lộ 4B Lạng Sơn - Quảng Ninh, quốc 31 Lạng Sơn - Bắc Giang, quốc lộ 279 Lạng Sơn với Bắc Cạn và tuyến đường sắt liên vận quốc tế Việt - Trung Hà Nội - Lạng Sơn - Trung Quốc Đây là cơ hội, điều kiện thuận lợi để Lạng Sơn thúc đẩy phát
Trang 3325 triển nhanh kinh tế, cải thiện các lĩnh vực xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại [1]
Trang 3426
2.1.1.2 Khí hậu, địa hình và tài nguyên thiên nhiên
Khí hậu: Lạng Sơn chia thành 3 vùng khí hậu chính gồm: Vùng khí hậu
núi cao Mẫu Sơn; Vùng khí hậu núi vừa phía Bắc và phía Đông; Vùng khí hậu núi thấp phía Nam Nét đặc trưng là khí hậu Á nhiệt đới, là điều kiện thuận lợi
để phát triển đa dạng, phong phú các loại cây trồng ôn đới, á nhiệt đới Tuy nhiên, khí hậu Lạng Sơn cũng tương đối khắc nghiệt, mùa đông thường lạnh và khô, ảnh hưởng khá lớn đến cơ cấu mùa vụ và sự sinh trưởng của các loại cây trồng [1]
Địa hình: Lạng Sơn có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, độ phân
tầng lớn hình thành giữa hai dãy núi chính là dãy núi Mẫu Sơn có đỉnh núi cao 1.541 m so với mực nước biển và cánh cung đá vôi Bắc Sơn có hướng Tây Bắc - Đông Nam nằm phía Đông và phía Tây tạo ra các vùng đất thấp trung bình giữa hai dãy núi Địa hình chia cắt, độ phân tầng lớn nên phân đai cao thấp khá rõ rệt, trong đó độ cao từ 150 m - 250 m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh [1]
Tài nguyên thiên nhiên: Chủ yếu là lợi thế về phát triển nghề rừng và
đá vôi; khoáng sản của tỉnh phong phú nhưng trữ lượng thấp Nguồn nước và chất lượng nước mặt, nước ngầm của tỉnh còn tương đối dồi dào và chất lượng nguồn nước tương đối tốt
2.1.1.3 Dân số và nguồn nhân lực
Năm 2015, dân số toàn tỉnh có trên 750 nghìn người; trong đó dân số thành thị chiếm 19,5%, dân số nông thôn chiếm 80,5 %; dân số nữ là 50,13%, nam là 49,87% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong những năm gần đây khoảng
Toàn tỉnh hiện nay có 460.358 lao động trong độ tuổi lao động, chiếm 62,79% tổng dân số, trong đó lao động nữ chiếm 50,71% Tỷ lệ lao động khu vực nông thôn chiếm 79,78%, lao động khu vực thành thị chiếm 20,22% [1]
Trang 3527
Tiềm năng lao động của Lạng Sơn là khá dồi dào; lực lượng lao động
có cơ cấu độ tuổi trẻ, tuy nhiên tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp (32%), thiếu lao động có tay nghề [1]
2.2.2 Tình hình kinh tế
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm(GDP) trên địa bàn bình quân hằng năm giai đoạn 2011 - 2015 ước đạt 8,65% ; trong đó ngành nông lâm nghiệp tăng 3,62%, công nghiệp - xây dựng tăng 9,86%, trong đó công nghiệp tăng 8,84%, xây dựng tăng 11,47%, dịch vụ tăng 10,76% Năm 2015, dự ước tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế là: nông lâm nghiệp chiếm 26,12%, công nghiệp - xây dựng 19,51%, dịch vụ 54,37% Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 34,76 triệu đồng, tương đương 1.620 USD [28]
2.2.3 Khái quát kết quả đầu tư xây dựng ở tỉnh Lạng Sơn
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn trong 5 năm 2011 - 2015 ước đạt 43,3 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách nhà nước chiếm 28,1% (ngân sách tỉnh quản lý 15,36%; vốn trái phiếu chính phủ (TPCP) 3,62%; vốn tín dụng đầu tư nhà nước 1,65%; vốn do Bộ, ngành trung ương quản lý 7,47%) Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước 0,32%, Vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp tư nhân 66,9%, Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4,68% [30]
Nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ được ưu tiên đầu tư cho các công trình hạ tầng cấp thiết (giao thông, điện, thủy lợi, trường học, bệnh viện), tập trung cho các khu vực kinh tế trọng điểm (các khu vực cửa khẩu, khu đô thị mới, cụm công nghiệp…), đồng thời chú trọng đầu
tư cho khu vực nông thôn, vùng cao, biên giới Công tác xã hội hóa đầu tư được tập trung chỉ đạo, đạt kết quả tích cực trên một số lĩnh vực: Dịch vụ công ích đô thị, giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao Thực hiện
tốt phong trào làm đường giao thông nông thôn với phương châm “Nhà nước
và nhân dân cùng làm”, “dân làm là chính, Nhà nước hỗ trợ” (Trong 5 năm
Trang 3628
đã huy động từ các nguồn vốn được trên 569,89 tỷ đồng để xây dựng đường
giao thông nông thôn, trong đó vốn ngân sách Nhà nước trên 249,13 tỷ đồng;
nhân dân đóng góp quy thành tiền 320,76 tỷ đồng, tỉnh đã hỗ trợ 129.000 tấn
xi măng, bình quân mỗi năm hỗ trợ 25.800 tấn.), do đó kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội ngày càng được tăng cường Dự kiến đến hết năm 2015, có 213 xã có đường ô tô đến trung tâm đi lại được 4 mùa, đạt tỷ lệ 94,2% (mục tiêu 95,1%); đường ô tô đến thôn bản đạt 2.207/2.324 thôn bản, chiếm 95%; cứng hóa đường tỉnh đạt 80%, đường huyện đạt 35%; có 97,5% số hộ được sử dụng điện (mục tiêu 99,6%); 85% dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh (mục tiêu 85%); 97% dân cư đô thị được sử dụng nước sạch (mục tiêu 98%); các công trình thuỷ lợi đảm bảo nước tưới cho lúa đạt từ 70 - 71% diện tích canh tác đồng thời tạo nguồn và cung cấp nước phục vụ sinh hoạt và tưới cho các loại cây công nghiệp, cây ăn quả (Trên địa bàn tỉnh có 1.059 công trình thuỷ lợi (271 hồ chứa, 692 đập dâng, 96 trạm bơm), 1.641 km chiều dài kênh mương các loại (trong đó 949 km kênh đã kiên cố, chiếm 57,8%) bảo đảm năng lực tưới cho 26.331 ha lúa, hoa màu vụ xuân và 26.967 ha vụ mùa) [30]
Thành phố Lạng Sơn, các thị trấn, các khu vực cửa khẩu được đầu tư, chỉnh trang, hệ thống giao thông công cộng, bến bãi, các cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ được sắp xếp trật tự hơn, lắp đặt hệ thống biển báo giao thông, điện chiếu sáng đô thị, vỉa hè, cây xanh và vệ sinh môi trường, bộ mặt
đô thị có nhiều đổi thay Đến nay, trên toàn tỉnh có 15 đô thị được chia thành
2 cấp: 01 thành phố thuộc tỉnh (đô thị trung tâm tỉnh) và 14 thị trấn thuộc huyện (10 thị trấn huyện lỵ và 4 thị trấn chuyên ngành) [30]
2.2 Khái quát về UBND tỉnh Lạng Sơn và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
2.2.1 Cơ cấu tổ chức
Trang 37và Xã hội, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Văn hóa Thể thao và
Du dịch, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở
Y tế, Thanh tra tỉnh Các cơ quan đặc thù gồm: Sở Ngoại vụ, Ban Dân tộc, Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng
- Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở tỉnh theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh Cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về những lĩnh vực được giao theo quy định của pháp luật và chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thực hiện theo quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Thông tư, Thông tư liên tịch của các Bộ, ngành Trung ương, các Quyết định của UBND tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn, cơ quan hành chính tỉnh
2.2.3 Đội ngũ công chức, viên chức, người lao động các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
Trang 38+ Số lượng cấp trưởng cơ quan: 23
+ Số lượng cấp phó cơ quan: 59
+ Số lượng công chức chuyên môn, nghiệp vụ: 1.036
- Số lượng người làm việc:
Tổng số lượng người làm việc của sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp
công lập trực thuộc UBND tỉnh được giao: 7.083, có mặt: 6.651
Hợp đồng lao động
- Tổng số hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP của sở, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND tỉnh:
+ Tổ chức hành chính trực thuộc: Được giao: 181, có mặt: 172;
+ Đơn vị sự nghiệp công lập: Được giao: 482, có mặt: 430
Tổng số phòng chuyên môn và đơn vị sự nghiệp trực thuộc năm 2018 như sau:
- Phòng chuyên môn và tương đương: 134 phòng;
- Chi cục trực thuộc: 13 chi cục;
- Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc: 106 ĐVSNCL
2.3 Thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn
2.3.1 Triển khai các văn bản thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ
Trang 3931
quan thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn
Để thực hiện sắp xếp tinh giản biên chế hiện nay UBND tỉnh Lạng Sơn
đã ban hành Kế hoạch số 132/KH-UBND, ngày 23/11/2016 về thực hiện tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố; Kết luận số 325-KL/TU ngày 29/11/2017 của Ban Thường
vụ Tỉnh ủy về Đề án tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các Sở, Ban, ngành tỉnh, UBND huyện, thành phố và Đề án tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các cơ quan khối Đảng, Mặt trật tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh, các huyện uỷ, thành uỷ, Đảng uỷ Khối các cơ quan tỉnh; Quyết định số 2532/QĐ-UBND, ngày 26/11/2017 về việc phê duyệt Đề
án tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của sở, ban, ngành, đơn vị
sự nghiệp công lập thuộc UBND tỉnh; Hướng dẫn số 402/HD-SNV, ngày 29/12/2017 của Sở Nội vụ về hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án Tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị; Kế hoạch số 44/KH-UBND ngày 05/3/2018 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Kế hoạch số 47/KH-UBND ngày 06/3/2018 thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 24/01/2018 của Chính phủ
Thực hiện các văn bản chỉ đạo của cấp trên, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành các văn bản sau:
- Sở Nội vụ Đề án số 63/ĐA-SNV, ngày 30/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở Nội vụ Lạng Sơn
- Sở Tư pháp Đề án số 50/ĐA-STP, ngày 21/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở Tư pháp Lạng Sơn
Trang 4032
- Sở Kế hoạch và Đầu tư Đề án số 291/ĐA-SKHĐT, ngày 20/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Kế hoạch và Đầu tư Lạng Sơn
- Sở Tài chính Đề án số 83/ĐA-STC, ngày 22/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở Tài chính Lạng Sơn
- Sở Công thương Đề án số 296/ĐA-SCT, ngày 13/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở Công thương Lạng Sơn
- Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Đề án số SNN&PTTN, ngày 30/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Lạng Sơn
319/ĐA Sở Giao thông vận tải Đề án số 482/ĐA319/ĐA SGTVT, ngày 15/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Giao thông vận tải Lạng Sơn
- Sở Xây dựng Đề án số 223/ĐA-SXD, ngày 22/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở Xây dựng Lạng Sơn
- Sở Tài Nguyên & Môi trường Đề án số 232/ĐA-STN&MT, ngày 24/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở Tài Nguyên & Môi trường Lạng Sơn
- Sở Thông tin & Truyền thông Đề án số 324/ĐA-STT&TT, ngày 28/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở Thông tin
& Truyền thông Lạng Sơn
- Sở Lao động – Thương binh & Xã hội Đề án số 320/ĐA-LĐTB&XH, ngày 31/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở Lao động - Thương binh & Xã hội Lạng Sơn
- Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Đề án số 402/ĐA-SVHTT&DL, ngày 30/3/2017 về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Lạng Sơn