Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp; Điều 25, khoản 1 [34, tr.3] ghi rõ: “Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ KỲ THỤY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI CHO NGƯỜI THU NHẬP THẤP TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ KỲ THỤY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI CHO NGƯỜI THU NHẬP THẤP TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN HỒNG HẠNH
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin trong luận văn là do tôi thu thập, tìm hiểu, phân tích và phản ánh một cách trung thực, phù hợp với tình hình thực tế
Trong luận văn này có sử dụng các tài liệu, số liệu tại các nguồn tạp chí, báo, công trình nghiên cứu, báo cáo tình hình triển khai công tác phát triển nhà ở xã hội của Sở Xây dựng Hà Nội, báo cáo tình hình kinh tế xã hội của UBND quận Hoàng Mai và các giáo trình, tài liệu liên quan trong quá trình học tập, nghiên cứu Khóa VIII - 2017, Cao học ngành Chính sách công – Học viện Khoa học xã hội
Học viên
Đỗ Kỳ Thụy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô hướng dẫn PGS.TS Trần Hồng Hạnh vì đã tận tình hướng dẫn, tư vấn về chuyên môn, truyền đạt kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo Khoa Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội vì đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài Ngoài ra, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn
Sở Xây dựng Hà Nội, UBND quận Hoàng Mai đã cung cấp số liệu, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tư liệu để hoàn thiện luận văn Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Đỗ Kỳ Thụy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 9
1.1 Cơ sở lý thuyết 9
1.2 Tình hình thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội tại thành phố Hà Nội 20
Chương 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP THẤP TẠI QUẬN HOÀNG MAI 27
2.1 Khái quát về quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 27
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 28
2.1.3 Đặc điểm văn hóa 36
2.2 Tình hình thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp ở quận Hoàng Mai 38
2.2.1 Thực trạng nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập thấp ở quận Hoàng Mai 38
2.2.2 Thực trạng nguồn cung nhà ở cho người có thu nhập thấp ở quận Hoàng Mai 42
2.2.3 Thực trạng phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp ở quận Hoàng Mai 47
2.2.4 Thực trạng vận hành và quản lý nhà ở cho người có thu nhập thấp ở quận Hoàng Mai 50
2.3 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp của quận Hoàng Mai 52
2.3.1 Thành tựu 52
2.3.2 Hạn chế, tồn tại 53
2.3.3 Nguyên nhân 58
Trang 6Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO NGƯỜI THU NHẬP THẤP TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ QUẬN HOÀNG MAI 61
3.1 Nhu cầu, mục tiêu định hướng hoàn thiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp 61 3.2 Quan điểm và định hướng hoàn thiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp 63 3.3 Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp 66
KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7UBND Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu phát triển nhà ở (m2 sàn) 23
Bảng 2.1: Dân số chia theo tình trạng cư trú năm 2017 32
Bảng 2.2: Nhu cầu về nhà ở của đối tượng thu nhập thấp năm 2015 41
Bảng 2.3: Tổng quan một số dự án nhà ở xã hội tại quận Hoàng Mai 45
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu có nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người,
là một trong những yếu tố góp phần phát triển nguồn nhân lực của đất nước Đối với phần lớn người dân, nhà là tài sản có giá trị nhất, yếu tố nhà ở cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản quốc gia Dưới góc độ xã hội, quy mô và giá trị của ngôi nhà ở còn thể hiện năng lực tài chính của mỗi cá nhân trong xã hội Nhu cầu nhà ở luôn là vấn đề của mọi tầng lớp nhân dân từ đô thị đến nông thôn, đặc biệt là nhu cầu cải thiện chỗ ở của các đối tượng có thu nhập thấp, người có công với cách mạng, công nhân làm việc trong khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà ở của sinh viên, người nghèo ở các đô thị Vì vậy,
để xã hội phát triển và ổn định, cần thiết phải có các biện pháp thiết thực để giải quyết tốt vấn đề nhà ở
Thời gian qua, vấn đề nhà ở cho nhân dân luôn là trọng tâm trong các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước Điều này được thể chế hóa qua hàng trăm văn bản về cơ chế, chính sách giải quyết, phát triển nhà ở cho người dân được ban hành nhằm mục đích giải quyết vấn đề an cư cho người lao động, từ đó họ càng thêm động lực hăng say công tác, cống hiến cho xã hội Luật nhà ở số 56/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, trong đó vấn đề giải quyết nhà ở cho người thu nhập thấp và phát triển nhà ở xã hội được coi là trọng tâm của chính sách nhà ở nước ta trong thời kỳ mới
Hà Nội đã và đang vươn mình trở thành một thành phố hiện đại và xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước Báo cáo kết quả giám sát thực hiện luật Thủ đô ngày 15/06/2018 của Ủy ban pháp luật và Quốc hội cho biết với mức tăng dân số trung bình 3%/năm thì đến năm 2020, dân số Hà Nội ước tính đạt 10,5 triệu người [24, tr.1] Tốc độ tăng dân số mạnh nhất là ở những quận có các khu đô thị mới Thống kê cho thấy, số
Trang 10lượng người nhập cư vào các quận Hoàng Mai, Long Biên, Bắc Từ Liêm, Nam
Từ Liêm, Thanh Xuân là khá cao, năm 2013 là 33.900 người, đến năm 2017 là 78.100 người Nhờ việc vận dụng linh hoạt các cơ chế chính sách xã hội, đặc biệt đẩy mạnh chủ trương đổi đất lấy hạ tầng đã tạo ra diện mạo tươi sáng cho thành phố với số lượng nhà ở được xây dựng ngày càng nhiều, chất lượng và tiện nghi sử dụng ngày càng hiện đại Công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị, phát triển nhà ở được sự chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy và UBND thành phố nên ngày càng chuyển biến tích cực, nhiều khu dân cư mới được đầu tư xây dựng và các khu cũ được cải tạo đã làm số lượng nhà ở tăng lên rõ rệt
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp tại Hà Nội trong thời gian vừa qua nhưng phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung khai thác một khía cạnh trong tổng thể chính sách phát triển nhà ở xã hội tại thủ đô như chính sách tài chính tín dụng, chính
sách vận hành và quản lý, hợp đồng mua bán nhà ở xã hội, chứ chưa có nhiều nghiên cứu mang tính kết hợp giữa chính sách phát triển nhà ở xã hội tại thành phố Hà Nội và trên địa bàn các quận - huyện cụ thể Đặc biệt, quận Hoàng Mai có bức tranh sôi động về các dự án nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp trong thời gian qua nhưng lại chưa có một nghiên cứu có giá trị nào được công bố về chính sách phát triển nhà ở xã hội tại địa bàn quận Do vậy,
việc triển khai nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp từ thực tiễn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” là
cần thiết có tính cấp bách cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu về nhà ở xã hội và chính sách về nhà ở xã hội ở nước ngoài
Quyền có nhà ở là một trong những quyền cơ bản của con người được các tổ chức quốc tế quy định trong các điều ước Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền về các quyền cơ bản của con người được Đại Hội đồng Liên Hiệp
Trang 11Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp; Điều 25, khoản 1 [34, tr.3] ghi rõ: “Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.” “The builders: Houses, people, neighborhoods, governments, money” của Martin Mayer, xuất bản năm 1978 [32, tr.3] đã đề cập đến thực trạng và chính sách nhà ở, đổi mới đô thị, kế hoạch xây dựng thành phố của Mỹ; các kỹ thuật xây dựng nhà ở trong công nghiệp xây dựng; chính sách về tiền, ngân hàng, vai trò chính quyền và thuế xây dựng Bên cạnh đó, ấn phẩm
“Guidelines on social housing: Principles and examples” của United Nations - Liên Hợp Quốc, xuất bản năm 2006 [29, tr.3] đã khái quát lịch sử phát triển nhà ở của các nước trong thời kỳ chuyển giao; vai trò của các chính sách xã hội
về vấn đề nhà ở; các yếu tố nhà nước, pháp luật và kinh tế cho việc phát triển nhà ở xã hội; vai trò của nhà ở xã hội trong kết cấu xã hội; tiêu chuẩn thiết kế nhà ở xã hội; nghiên cứu một số dự án tiên phong và vấn đề nhà ở xã hội
2.2 Tình hình nghiên cứu về nhà ở xã hội và chính sách về nhà ở xã hội trong nước
Đỗ Thanh Tùng (2008) với Chính sách tài chính nhà ở trên địa bàn đô thị Hà Nội [21, tr.3] đã giới thiệu cơ sở khoa học về chính sách tài chính nhà
ở, kinh nghiệm của một số quốc gia và bài học rút ra cho Việt Nam trong
chính sách tài chính nhà ở Thực trạng tài chính nhà ở trên địa bàn Hà Nội, cách tạo lập vốn, phân phối, sử dụng vốn và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chính sách nhà ở, để từ đó đánh giá đúng thực trạng chính sách nhà ở trên địa bàn thành phố Hà Nội và có những cách hoàn thiện hiệu quả
nhất Nguyễn Văn Hoàng (2009) với Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với thị trường nhà ở, đất ở đô thị và ứng dụng tại Hà Nội [11, tr.3] đã hệ
Trang 12thống hóa và đưa ra phương pháp luận về nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với thị trường nhà ở đất ở đô thị Hà Nội Bên cạnh đó, công trình này cũng phân tích, đánh giá có hệ thống tình hình hoạt động của thị trường nhà ở, đất ở đô thị Hà Nội; chỉ ra năng lực quản lý nhà nước đối với thị trường nhà ở đất ở đô thị, những khiếm khuyết của thị trường nhà ở, đất ở và những hạn chế của quản lý nhà nước đối với thị trường nhà ở, đất ở đô thị Hà Nội; từ đó,
đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý thị trường nhà ở, đất
ở đô thị Hà Nội Mai Hồng Thuận (2014) với Chính sách phát triển nhà ở xã hội tại Hà Nội [18, tr.4] đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực
tiễn về phát triển nhà ở xã hội thông qua việc nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển nhà ở xã hội ở Thành phố Hà Nội Công trình này cũng chỉ ra những thành công và những vấn đề tồn tại cần phải giải quyết trong phát triển nhà ở
xã hội tại Thành phố Hà Nội và đưa ra những đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội tại Hà Nội
Ngoài ra, còn nhiều bài báo, luận văn, luận án, các công trình khoa học nghiên cứu về chính sách nhà ở và nhà ở xã hội đã công bố ở trong và ngoài nước Các công trình, đề tài trên đã đề cập, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đến vấn đề nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp do tác động của quá trình đô thị hóa và dân cư tập trung đông tại các thành phố lớn; từ đó, người đọc được cung cấp một bức tranh đa chiều về thực trạng nhà ở xã hội ở thế giới và trong nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay Đây thực sự là nguồn tư liệu có giá trị lớn để tác giả tham khảo, kế thừa Có thể khẳng định,
từ khi nhà nước ban hành chính sách về nhà ở xã hội đến nay, chưa có đề tài, bài viết hay công trình khoa học nào nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về “Chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp từ thực tiễn Thành phố
Hà Nội và quận Hoàng Mai” Do đó, việc thực hiện đề tài này rất cần thiết Trong quá trình thực hiện đề tài, những nghiên cứu kể trên là những nguồn tư liệu tham khảo đặc biệt hữu ích, góp phần bổ sung những khung kiến thức
Trang 13vừa có tính lý thuyết, vừa có tính thực tiễn cao cho luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng và đánh giá tình hình thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp từ thực tiễn ở Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, đồng thời đề ra giải pháp hoàn thiện chính sách
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn này cần thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau: 1) Phân tích và hệ thống hóa cơ sở lý luận của chính sách nhà ở cho người có thu nhập thấp; 2) Tìm hiểu thực trạng nhà
ở xã hội dành cho người có thu nhập thấp ở quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; và 3) Đề xuất các kiến nghị, giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác hoạch định và thực hiện chính sách nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp ở quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn này tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp ở quận Hoàng Mai, thành phố
Trang 14khủng hoảng bất động sản năm 2008 Ngoài ra, khi phân tích quá trình đổi mới kinh tế - xã hội sau 15 năm thành lập quận Hoàng Mai, tác giả cũng đề cập đến các dữ liệu về kinh tế - xã hội của quận trong thời gian 2004 - 2005.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện dưới góc độ tiếp cận liên ngành, kết hợp giữa chính sách công và xã hội học Đặc biệt là đề tài căn cứ trên nền tảng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà nước về vấn đề nhà ở xã hội nói chung, nhà ở cho người có thu nhập thấp nói riêng để xem xét những vấn đề liên quan đến chính sách và thực hiện chính sách nhà ở dành cho những người có thu nhập thấp ở quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Cụ thể là: Luật nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014, Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ, Thông tư 08/2014/TT-BXD ngày 23/05/2014 của Bộ Xây dựng; Luật Nhà ở 2005, Luật đất đai 2013,
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài như thông tin, tài liệu qua sách, báo, giáo trình, mạng internet, luận văn, luận án, các chủ trương, chính sách, chiến lược của Đảng, nhà nước và chính quyền địa phương liên quan đến đề tài
Sử dụng phương pháp chuyên gia, phỏng vấn chuyên sâu các chuyên gia chính sách xã hội, doanh nghiệp kinh doanh nhà, đại diện các Ban quản lý nhà chung cư để phân tích, đánh giá từ đó phát hiện ra những vấn đề của thực trạng nhà ở xã hội, dự báo cung - cầu, định hướng phát triển và các giải pháp phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp tại Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Sử dụng phương pháp phân tích chính sách công, cụ thể là phương pháp phân tích kết hợp định lượng và định tính để tiếp cận, tìm hiểu một chu
Trang 15trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách
Để thu thập thông tin toàn diện, đa chiều, luận văn cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn cá nhân để thu thập thông tin từ người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội và Quận Hoàng Mai, trong đó đối tượng tham gia phỏng vấn được phân loại theo độ tuổi, giới tính, vị trí công tác, hoàn cảnh gia đình và khả năng tài chính Theo đó, phỏng vấn sâu được thực hiện với nhiều đối tượng khác nhau trong đó có Ban quản lý tòa nhà, một số hộ dân, các nhân viên tín dụng ngân hàng, chuyên viên các công ty bất động sản, Đối tượng phỏng vấn trong độ tuổi từ 18 đến 60, gồm những công chức, viên chức, nhân viên văn phòng, người lao động tự do, cả trong khối cơ quan nhà nước và tư nhân bởi họ là các đối tượng có nhu cầu nhà ở cấp thiết nhất Qua
đó, cung cấp cái nhìn toàn cảnh về tình hình tài chính, thu nhập, nhu cầu về cung và cầu đối với thị trường về nhà ở, tại khu vực quận Hoàng Mai, Hà Nội
Ngoài ra, một số phương pháp khác cũng được áp dụng bao gồm: tổng hợp, thống kê, so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận giúp các học viên ngành chính sách công nắm được khung lý thuyết liên quan đến nhà ở xã hội và tình hình thực hiện chính sách nhà ở xã hội và cách thức áp dụng vào thực tiễn Qua việc nghiên cứu đề tài này, tác giả cố gắng làm sáng tỏ các nguyên tắc lý thuyết liên quan đến chính sách công, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả việc thực thi chính sách nhà ở xã hội trên địa bàn
Trang 166.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn về chính sách nhà ở cho người có thu nhập thấp trên địa bàn quận Hoàng Mai, Hà Nội nhằm giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề còn tồn tại về nhà ở cho người thu nhập thấp Qua đó, luận văn là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho các cơ quan, ban ngành thành phố Hà Nội và quận Hoàng Mai trong việc hoạch định và thực thi chính sách nhà ở xã hội một cách hiệu quả góp phần giải quyết tốt những vấn đề “nóng” trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của thủ đô
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, luận văn này được kết cấu thành ba chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tình hình thực hiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp tại thành phố Hà Nội
Chương 2: Tình hình thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp tại quận Hoàng Mai
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp tại Hà Nội và quận Hoàng Mai
Trang 17đề ra (William N Dunn, 1992) [36, tr.9]; bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L Cochran và Eloise F Malone, 1995) [28, tr.9]
Dù khái niệm này được thể hiện theo nhiều cách khác nhau nhưng trong luận văn này, Chính sách công được hiểu là “các quyết định chính trị của nhà nước, nhằm duy trì tình trạng của xã hội hoặc giải quyết các vấn đề
xã hội bao gồm các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội đáp ứng nhu cầu của người dân và thực hiện những mục tiêu tổng thể đã vạch ra từ trước”
1.1.1.2 Thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách công là một khâu cấu thành chu trình chính sách,
là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Tổ chức thực thi
Trang 18chính sách là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống.
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả tập trung khai thác khía cạnh “thực hiện chính sách công”, đây là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách: hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ cán
bộ, công chức trong thực thi chính sách
1.1.1.3 Chính sách xã hội
Tương tự như chính sách công, cũng có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách xã hội V.Z Ro-go-vin [25, tr.10] cho rằng: “Chính sách xã hội là lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệ thông về các quá trình xã hội, quyết định hoạt động sống của con người trong xã hội, xét theo khả năng tác động, quản lý đến các quá trình đó Có đầy đủ cơ sở để xem xét chính sách xã hội như là sự hoà quyện của khoa học thực tiễn, như là sự phân tích phức hợp,
dự báo về các quan hệ, các quá trình xã hội và sự vận động thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằm mục đích quản lý các quá trình và quan hệ ấy” Giáo sư G Winkler [31, tr.10], nguyên Viện trưởng Viện xã hội học và chính sách xã hội (thuộc Cộng hoà dân chủ Đức cũ) cho rằng: “Chính sách xã hội là tổng hoà các biện pháp và phương pháp của Đảng, của giai cấp công nhân, của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của các liên hợp công đoàn, của các đảng phải và các tổ chức chính trị khác, nhằm tiếp tục xây dựng quan hệ xã hội… phục vụ cho những yêu cầu và lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tri thức và những người lao động khác”
Còn theo quan điểm của giáo sư Anthony Giddens [26, tr.10], nhà xã hội học Mỹ thì chính sách xã hội là “Sự nghiên cứu có hiệu quả về xã hội học, khoa học chính trị và khoa học kinh tế, được chờ đợi nhằm biến đổi hoạch định chính sách trong chính phủ và do đó dẫn đến tiến bộ xã hội và thịnh
Trang 19vượng kinh tế Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chính sách được xem như một công cụ, một phương tiện nhằm mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội một cách có hiệu quả”
Ở Việt Nam, khái niệm Chính sách xã hội được đề cập trong “Lý thuyết
xã hội và xã hội học hiện đại” [15, tr.11] đó là “Sự tổng hợp các phương thức, các biện pháp của Nhà nước, của các đảng phái và tổ chức chính trị khác nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân phù hợp với trình
độ phát triển đất nước về kinh tế, văn hoá, xã hội… Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luật những chủ trương, đường lối của Đảng
và Nhà nước.”
Trong luận văn này, Chính sách xã hội được hiểu là sự tác động của nhà nước vào việc phân phối và ổn định các hoàn cảnh sống cho con người thuộc các nhóm xã hội khác nhau trong lĩnh vực thu nhập, việc làm, sức khoẻ, nhà ở và giáo dục trên cơ sở mở rộng, bình đẳng và công bằng xã hội trong một bối cảnh lịch sử và cấu trúc xã hội nhất định
1.1.1.4 Nhà ở xã hội
Khái niệm “Nhà xã hội” bắt đầu xuất hiện trên thế giới từ những năm
1970 Đây là loại nhà cung cấp cho những người không có thu nhập hoặc thu nhập thấp Nhiều nơi còn gọi tên loại nhà này là “Nhà từ thiện”, chúng được xây dựng bởi chính phủ, các hiệp hội nhà ở, các tổ chức từ thiện, để duy trì cuộc sống của những người thu nhập thấp trong xã hội
Ở Việt Nam, nhà ở xã hội đề cập đến trong Luật Nhà ở năm 2014 [16, tr.11] Theo điều 55 của Luật quy định về Loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội thì “Nhà ở xã hội là nhà chung cư hoặc nhà ở riêng lẻ phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Trường hợp là nhà ở riêng lẻ thì phải được thiết kế, xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội; Trường hợp là nhà chung cư thì căn hộ phải được thiết kế, xây dựng theo kiểu khép kín, bảo
Trang 20đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội”
Trong luận văn này, Nhà ở xã hội là thuật ngữ chỉ về những căn nhà, tòa nhà được xây dựng bởi chính quyền cùng với sự ủng hộ của những nhà hảo tâm nhằm giải quyết chỗ ở cho những người có thu nhập thấp, người có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, hoặc những người đang làm việc nhưng có khó khăn trong việc bố trí, sắp xếp nhà ở thông qua hình thức nhà nước xây dựng rồi cho thuê hoặc bán cho những đối tượng này với giá ưu đãi
1.1.1.5 Người có thu nhập thấp
Để hiểu chính xác khái niệm người thu nhập thấp không phải là một việc đơn giản Việc đưa ra các tiêu chuẩn để định nghĩa người thu nhập thấp không nhất quán trong nghiên cứu của các tác giả khác nhau do khái niệm này tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và thu nhập của từng hộ gia đình, vào tình hình phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán mỗi quốc gia, khu vực Theo quan điểm của ngân hàng thế giới và UNDP [33, tr.12], người thu nhập thấp là những người chi tiêu ít nhất 66% thu nhập cho ăn uống để tồn tại, thu nhập còn lại dành cho nhà ở, văn hóa, y tế, giáo dục, giải trí Người thu nhập thấp
là những người có mức sống thuộc nhóm trung bình trở xuống
Người thu nhập thấp chỉ bao gồm những người có khả năng tiếp nhận
sự hỗ trợ và có giải pháp để hoàn trả dần sự ưu đãi đã được hưởng, là những người có mức thu nhập ổn định và có khả năng tích luỹ vốn để cải thiện điều kiện ở, với sự hỗ trợ của Nhà nước về vay vốn dài hạn trả góp, là người hiện đang sống trong những ngôi nhà quá cũ nát mà không có điều kiện sửa sang hay cải tạo lại
Trong luận văn này, người có thu nhập thấp được hiểu là người lao động làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp thuộc cả khu vực nhà nước và tư nhân hoặc lao động tự do tại khu vực đô thị có thu nhập dưới mức phải đóng thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật
Trang 211.1.1.6 Đô thị hóa
Trên quan điểm một vùng, đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị Trong khi đó, trên quan điểm kinh tế quốc dân, đô thị hoá là một quá trình biến đổi về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố
đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống,
Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số
1.1.1.7 Phát triển
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ
ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”[14, tr.13]
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao
hơn
Trong luận văn này, khái niệm phát triển được hiểu là là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo
Trang 22và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm
về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ
Cụ thể hơn, phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp là việc đầu tư xây dựng mới, xây dựng lại hoặc cải tạo làm tăng diện tích nhà ở cho người thu nhập thấp
1.1.2 Cách tiếp cận
Nghiên cứu phát triển bền vững nhà ở xã hội
Đây là một định hướng lớn liên quan tới sự ổn định, bền vững xã hội, môi trường, và quản lý Phạm vi của sự bền vững không phải chỉ đối với môi trường sinh thái, mà còn đề cập tới bền vững xã hội, đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa các bên cũng như hiệu quả của chính sách quản lý phát triển nhà ở nói chung và nhà ở xã hội nói riêng Sự bền vững có nghĩa là sự ổn định để phát triển trong một thời gian tương đối dài, gắn với quy hoạch tổng thể chung của đất nước, của từng vùng và của từng địa phương Hay nói cách khác, chúng ta cần xác định thời gian cụ thể cho sự tồn tại của mô hình nhà ở
xã hội đề xuất, đi kèm theo đó là những nguồn lực cơ bản-cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại đó
Nghiên cứu giải pháp cân bằng lợi ích giữa các bên tham gia vào nhà ở xã hội
Mục đích tìm hiểu những quan tâm của từng bên để đưa ra được những chính sách, quy định triển khai hiệu quả, bởi khi lợi ích các bên cùng được thỏa mãn, thì mới triển khai xây dựng được những mô hình nhà ở xã hội hiệu quả và bền vững Quan tâm của người dân là vị trí, tiện nghi – chất lượng nhà
ở, giá thành – khả năng tiếp cận sản phẩm Trong khi đó, quan tâm của Chủ
Trang 23đầu tư là đầu tư kinh doanh có lãi, cơ chế hỗ trợ của chính quyền như vay vốn, quỹ đất, quy trình xin cấp phép xây dựng, thời gian triển khai, quản lý vận hành, cơ chế ưu đãi trợ cấp chéo – được đầu tư vào hạng mục kinh doanh khác,… Đối với chính quyền, yêu cầu quản lý và giám sát dễ dàng, thuận tiện;
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch xây dựng hiệu quả
Ngoài những giải pháp mang tính chuyên ngành quy hoạch - kiến trúc cho nhà ở xã hội như thiết kế căn hộ nhà ở xã hội có những không gian ở phù hợp với thói quen văn hóa, đáp ứng tiện nghi sử dụng cơ bản, còn cần thiết xây dựng những chính sách, cơ chế ưu đãi của nhà nước về giá thành liên quan tới diện tích sử dụng, vật liệu xây dựng, giải pháp thi công, mức độ đầu
tư tiện ích,… Ngoài ra, khả năng chi trả của người thu nhập thấp phụ thuộc vào thu nhập và việc làm của người mua, thuê, và nó cũng được quyết định bởi chính sách ưu đãi của từng địa phương đối với các đối tượng thụ hưởng nhà ở xã hội
Nghiên cứu các giải pháp nhà ở dành cho người thu nhập thấp và người lao động tại các khu công nghiệp - khu chế xuất (KCN - KCX)
Đây là nhóm đối tượng chiếm số lượng lớn, đặc biệt là tại các đô thị như Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh Việc nghiên cứu có thể tập trung chuyên sâu vào giải pháp cải tạo nhà ở riêng lẻ, nhà ở chung cư cũ, cách thức chuyển đổi không gian, xây dựng nhà ở cho công nhân dạng chung cư,…hay khai thác sử dụng đất cho nhà ở xã hội một cách hiệu quả Việc đề xuất những quy trình và hướng dẫn cụ thể, thực chất để người dân có cơ hội tham gia nhiều hơn vào lĩnh vực nhà ở xã hội sẽ góp phần cải thiện chất lượng ở cho cộng đồng, đồng thời hướng tới tính minh bạch và công khai trong các công tác quản lý nhà ở tại địa phương Hướng nghiên cứu này tuy khó có thể áp dụng thực tiễn ngay, nhưng là những hồi chuông cảnh báo cho các nhà quản lý và chính quyền các địa phương cần phải quan tâm nhiều hơn đến nhà ở xã hội và cộng đồng
Trang 241.1.3 Quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về nhà ở đô thị và nhà ở cho người có thu nhập thấp
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa XI
“Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” đã chủ trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung đồng bộ cơ chế, chính sách về quy hoạch, đất đai, tài chính và khoa học công nghệ, đồng thời xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp và chủ động triển khai các chương trình phát triển nhà ở phục vụ các đối tượng chính sách xã hội, người có thu nhập thấp gặp khó khăn về nhà ở tại khu vực đô thị
Nhà nước đã ban hành Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng
04 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp tại khu vực đô thị Tiếp đó, Trong chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được thể hiện qua Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30 tháng 11 năm 2011, Đảng đã chỉ rõ: Phát triển nhà ở là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và của người dân Nhà nước ban hành chính sách thúc đẩy thị trường nhà ở phát triển, đồng thời có chính sách để hỗ trợ về nhà ở cho các đối tượng chính sách
xã hội, người có thu nhập thấp và người nghèo gặp khó khăn về nhà ở nhằm góp phần ổn định chính trị, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển đô thị, nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại
Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội cũng ra Nghị quyết 06/2013/NQ-HĐND ngày 12 tháng 07 năm 2013 quy định tỷ lệ diện tích đất
ở, nhà ở để phát triển nhà ở xã hội trong các dự án phát triển nhà ở thương mại, khu đô thị mới trên địa bàn thành phố Hà Nội Ngay trong điều 1, Nghị quyết đã quy định khi phê duyệt quy hoạch chi tiết các dự án phát triển nhà ở thương mại, khu đô thị mới trên địa bàn thành phố Hà Nội có quy mô sử dụng đất từ 10 ha trở lên phải dành 25% diện tích đất ở hoặc 25% diện tích nhà ở
để phát triển nhà ở xã hội
Trang 25Ngày 25 tháng 01 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị TTg về việc đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội nhằm hoàn thành cơ bản các mục tiêu về phát triển nhà ở xã hội đã được đề ra trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Chỉ thị xác định nhiệm vụ chính trị quan trọng là phải đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, nhất
03/CT-là nhà ở cho công nhân Chỉ thị cũng chỉ rõ trách nhiệm của từng cơ quan liên quan đến vấn đề này
Theo điều 50 của Luật nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm
2014 quy định hình thức thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội cho 10 nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở; trong đó: Hỗ trợ giải quyết cho thuê, cho thuê mua, bán nhà ở xã hội cho các đối tượng: Người có công với cách mạng; Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị; Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong đơn vị thuộc lực lượng vũ trang; Cán bộ, công chức, viên chức; Các đối tượng đã trả lại nhà
ở công vụ; Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất mà chưa được bồi thường; Học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được hỗ trợ thuê nhà ở trong thời gian
học tập Hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi của Nhà nước thông qua Ngân hàng chính sách xã hội, tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định để xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở theo các chương trình mục tiêu về nhà ở; đồng thời hỗ trợ giao đất ở có miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc tặng nhà ở cho các đối tượng được ưu đãi
Như vậy, có thể nói rằng trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường nhà ở thì bên cạnh các chính sách về quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị thì Nhà nước cũng đề ra nhiều chính sách phúc lợi liên quan đến nhà ở xã hội, thể hiện sự quan tâm đặc biệt về chỗ ở cho người dân Nhờ hàng loạt cơ chế chính sách hỗ trợ nhà ở, các đối tượng xã hội, đối
Trang 26tượng có công với cách mạng và những người có khó khăn về nhà ở đã từng bước được tạo điều kiện để có chỗ ở Các chính sách này góp phần giảm bất bình đẳng xã hội, tạo ra bộ mặt đô thị ngày càng văn minh hiện đại; các khu nhà cũ bị xuống cấp, hư hỏng đã được thay thế bằng những tòa nhà mới khang trang, hiện đại
1.1.4 Hệ thống chính sách về nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp ở
Hà Nội
1.1.4.1 Công cụ chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp trên địa bàn Hà Nội
Phần lớn những chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách phát triển nhà ở nói chung và nhà ở cho người thu nhập thấp nói riêng của thành phố Hà Nội được thể hiện qua các văn bản quan trọng là: Quyết định số 34/2010/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành Quy định việc bán, cho thuê, cho thuê mua và quản lý sử dụng nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị (một số điều của Quyết định 34/2010/QĐ-UBND được sửa đổi bổ sung tại các Quyết định số 13/2012/QĐ-UBND ngày 14 tháng 6 năm 2012 và Quyết định số 28/2013/QĐ-UBND); Quyết định số 996/QĐ-TTg ngày 19 tháng 06 năm 2014 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình phát triển nhà ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 -
2020 và định hướng đến năm 2030; Quyết định số 6336/QĐ-UBND ngày 28 tháng 11 năm 2014 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở thành phố Hà Nội năm 2015 và các năm tiếp theo (giai đoạn
2016 - 2020)
Có thể nói, các chính sách ban hành đúng thời điểm, phù hợp với nhu cầu xã hội, thể hiện sự quan tâm của Đảng, chính phủ nói chung và UBND thành phố Hà Nội nói riêng đối với vấn đề nhà ở xã hội của nhân dân Trong
đó, có một số chính sách hỗ trợ tiêu biểu cho những đối tượng riêng biệt như:
hộ gia đình chính sách, neo đơn; hộ nghèo không có khả năng tích luỹ để giải
Trang 27quyết nhu cầu về nhà ở, những người không có chỗ ở vì nguyên nhân xã hội, hoặc kinh tế, những hộ gia đình bị thiên tai, rủi ro trong cuộc sống ; hộ ở nhà tạm; các hộ phụ liên quan đến hộ chính bị giải toả; các hộ bị giải toả; cán bộ công chức viên chức, người lao động và các thành phần khác khó khăn về chỗ ở
1.1.4.2 Thể chế chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp của thành phố Hà Nội
Khi tiến hành lập đồ án quy hoạch khu dân cư, đô thị mới, doanh nghiệp đầu tư xây dựng phải dành tối thiểu 20% quỹ đất trong diện tích đất ở
để triển khai chương trình nhà ở xã hội Nhà nước cũng hỗ trợ tiền thuê, mua đất cho các nhà đầu tư thực hiện dự án xây dựng ký túc xá cho học sinh, sinh viên, công nhân
1.1.4.3 Chủ thể chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp của thành phố Hà Nội
Thành phố Hà Nội đã đề ra một loạt chính sách nhằm phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp Đáng chú ý là Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng
bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015-2020; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XVI nhiệm kỳ 2010-2014;
Quyết định số 996/QĐ-TTg ngày 19 tháng 06 năm 2014 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình phát triển nhà ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm 2030
Mục tiêu cụ thể của chương trình phát triển nhà ở thành phố Hà Nội là phát triển quỹ nhà ở, đất ở để bán, hoặc cho thuê, với nhiều hỉnh thức, chính sách hỗ trợ cụ thể cho từng loại đối tượng khó khăn về chỗ ở để ổn định cuộc sống; phấn đấu các chỉ tiêu về nhà ở xã hội đến năm 2020: Đầu tư xây dựng khoảng 800.000 m2 sàn, đáp ứng 130.000 chỗ ở cho sinh viên; Đầu tư xây dựng khoảng 3.000.000 m2 sàn, đáp ứng 400.000 chỗ ở cho công nhân, người lao động tại các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, khu chế xuất; Đầu tư xây dựng khoảng 2.223.000 m2 sàn, tương ứng 32.000 căn hộ cho các đối
Trang 28tượng xã hội; Tỷ lệ nhà ở cho thuê trong các dự án nhà ở xã hội đạt 30%, diện tích nhà ở tối thiểu 12,6 m2/người
Nguồn vốn để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho thuê, nhà ở công vụ, nhà ở tái định cư khoảng 6.968 tỷ đồng (chiếm 1,69% tổng vốn đầu tư xây dựng đến năm 2020) Trong đó, nguồn vốn hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho thuê khoảng 590 tỷ đồng Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ, ngành có liên quan phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức triển khai thực hiện Chương trình phát triển nhà ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm 2030
1.2 Tình hình thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội tại thành phố Hà Nội
1.2.1 Thực trạng nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập thấp ở thành phố
có giá trị đền bù thấp cũng đang gặp khó khăn trong việc xây dựng lại nhà ở Đối tượng này ước tính khoảng 10% tổng số hộ giải toả (khoảng 3.000 hộ) Trong đó, nhu cầu về chỗ ở dạng căn hộ chung cư chiếm 90% - tương đương 2.700 hộ, nhu cầu về chỗ ở dạng nhà độc lập 10% - tương đương 300 hộ
Trang 29Về nhà ở của cán bộ công nhân viên, đến năm 2018, toàn thành phố hiện có khoảng 159.483 cán bộ công nhân viên bao gồm 136.824 biên chế và 22.659 lao động hợp đồng làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp; trong đó, có hơn 10% (khoảng 16.000 người) là lực lượng lao động trẻ mới ra trường đang khó khăn về nhà ở [22, tr.21]
Về nhà ở cho công nhân trong các khu công nghiệp, theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2018, trên địa bàn thành phố có 41.659 cơ sở sản xuất công nghiệp, với 38 khu công nghiệp và cụm công nghiệp, thu hút 632.400 công nhân lao động, trong đó hơn 80% số công nhân ngoại tỉnh (khoảng 500.000 người) đang có nhu cầu về nhà ở
1.2.2 Thực trạng nguồn cung nhà ở cho người có thu nhập thấp ở thành phố Hà Nội
Nguồn cung về nhà ở thu nhập thấp trên địa bàn Hà Nội chủ yếu do chính quyền thành phố đầu tư Mặc dù được thành phố hỗ trợ về đất đai và một số ưu đãi khác nhưng các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này rất ít Theo báo cáo từ Sở Xây dựng thì đến tháng 6/2013, trên địa bàn thành phố có
21 dự án nhà ở xã hội hoàn thành [1, tr.21] với sự tham gia của gần hai chục nhà đầu tư, đến tháng 11/2016, toàn thành phố đã có 36 dự án được hoàn thành với trên 1,3 triệu m2 sàn, đây là giai đoạn gói tín dụng 30.000 tỷ đồng
hỗ trợ vay mua nhà cho người nghèo được triển khai (bắt đầu tháng 6/2013 kết thúc tháng 12/2016), các doanh nghiệp xây dựng, đầu tư kinh doanh bất động sản đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội xây dựng mới hoặc chuyển đổi một
số dự án nhà ở thương mại đang bị đóng băng giai đoạn trước thành nhà ở xã hội Tuy vậy, sau khi NHNN quyết định dừng gói vay 30.000 tỷ đồng chính thức từ ngày 31/12/2016 [10, tr.21], số lượng các dự án nhà ở xã hội đã có sự giảm sút đáng kể Giai đoạn 2016 - 2018, toàn thành phố mới có thêm 09 dự
án (Khu nhà ở xã hội Phú Lãm, khu nhà ở xã hội Bamboo Garden, Khu nhà ở
xã hội Ecohome 2, Dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội và cho người có thu
Trang 30nhập thấp tại Đặng Xá – Gia Lâm, dự án Nhà ở xã hội Kiến Hưng, Nhà 19T1 thuộc Dự án xây dựng nhà ở thu nhập thấp tại phường Kiến Hưng,Khu nhà ở
xã hội thuộc khu tái định cư Đông Hội – Đông Anh, Dự án Khu nhà ở Thạch Bàn, dự án nhà ở xã hội cho cán bộ sỹ quan thuộc Tổng cục II – Bộ Quốc Phòng) với hơn 7.829 căn hộ được hoàn thành và thực hiện bán nhà, ngoài ra
có 25 dự án đang triển khai dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2019 - 2020 Đây là một con số rất ít so với hàng nghìn doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Tìm hiểu các doanh nghiệp xây dựng có quy mô tương đối lớn trở lên thì được biết họ chưa tham gia vào lĩnh vực này là vì một số nguyên nhân chủ yếu như: Năng lực tài chính của doanh nghiệp chưa đủ mạnh; Giá bán nhà vẫn còn cao so với thu nhập người dân; Lãi suất ngân hàng quá cao; Thời gian thi công kéo dài; Thời hạn thanh toán lâu; Khó tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi; Lợi nhuận thấp so với đầu tư căn
hộ cao cấp
Tình hình thực hiện các dự án như sau: Từ năm 2016 đến tháng 9/2018, tổng cộng 367 nhà chung cư với tổng số 31.285 căn hộ đã và đang triển khai xây đựng [17, tr.22] Cụ thể như sau: Số lượng chung cư đã hoàn thành là: 94 nhà chung cư với tổng số 7.829 căn hộ; Số lượng chung cư đang triển khai xây dựng 273 nhà chung cư với tổng số 24.320 căn hộ Về kinh phí đầu tư, theo báo cáo tổng kết của Sở Kế hoạch - Đầu tư tháng 12/2018 [9, tr.22], tổng kinh phí đã bố trí cho các dự án nhà ở xã hội từ nguồn ngân sách thành phố tính đến năm 2013 là 1.321 tỷ đồng, năm 2016 là 2.265 tỷ đồng và đến năm
2018 khoảng 2.831 tỷ đồng [7, tr.22]
Trong quá trình xây dựng nhà ở thu nhập thấp, mặc dù một số nhà đã được xây dựng xong và đưa vào sử dụng nhưng vẫn còn một số hạng mục chưa thực hiện theo tiến độ của dự án Tiến độ thi công nhà ở thu nhập thấp còn chậm do các nguyên nhân cả khách quan và chủ quan: i) cơ chế chính sách liên quan về nhà ở như đơn giá sản phẩm, đối tượng mua nhà (Nhà đầu
Trang 31tư Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội); ii) thiếu vốn, thời tiết, sự chậm trễ của các nhà thầu và đồng thời đầu tư nhiều công trình nhà thu nhập thấp tại nhiều nơi (Công ty cổ phần Vinaconex 21) Có thể nói lãi suất cao là vấn đề khó khăn nhất trong việc tiếp cận vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp.Với phần lớn nguồn vốn phụ thuộc vào ngân hàng, việc lãi suất tăng cao trong suốt thời gian qua đã gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp, thậm chí đẩy các doanh nghiệp tiến đến bờ vực của sự đổ vỡ
Để đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân, thành phố đã đưa ra kế hoạch phát triển nhà ở xã hội thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020, dành hơn 4.676 nghìn m2 để xây dựng khoảng 85.020 căn hộ với tổng số vốn đầu tư hơn 34.000 tỷ đồng; 567.539 m2 nhà ở cho công nhân thuê; 976.992 m2 nhà ở sinh viên (xem Bảng 2.2)
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu phát triển nhà ở (m 2 sàn)
Năm Nhà ở xã hội cho 9 đối tượng quy định
tại Nghị định số 188/2013/NĐ-CP
Nhà ở công nhân thuê
Nhà ở sinh viên
Nguồn: QĐ số 6336/QĐ-UBND ngày 28 tháng 11 năm 2014 của UBND thành phố Hà Nội
1.2.3 Thực trạng phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp ở thành phố Hà Nội
Trong những năm qua, thành phố Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu của cả nước về việc đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, góp phần giải quyết nhu cầu về nhà ở cho các đối tượng chính sách Ngày 28/11/2014, UBND Thành phố đã ban hành Quyết định số 6336/QĐ-UBND phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở Thành phố năm 2015 và các năm tiếp theo (giai đoạn
2016 - 2020), trong đó đến năm 2020, Thành phố cần đạt chỉ tiêu hoàn thành
Trang 32đầu tư xây dựng khoảng 6.386.000m2 sàn nhà ở xã hội phục vụ cho các đối tượng chính sách
Đến hết năm 2018, trên địa bàn Thành phố đã có 46 dự án nhà ở xã hội được hoàn thành, cung cấp khoảng 2.186.000 m2 sàn nhà ở phục vụ cho các đối tượng được hưởng chính sách về nhà ở xã hội theo quy định tại Luật Nhà
ở và các quy định hiện hành của pháp luật có liên quan Trong đó: 31 dự án nhà ở xã hội dành cho các đối tượng có thu nhập thấp với khoảng 1.455.000
m2 sàn; 10 dự án nhà ở cho sinh viên (ký túc xá) với khoảng 487.000 m2 sàn;
05 dự án nhà ở xã hội dành riêng cho công nhân với khoảng 244.000 m2 sàn
Tính đến tháng 12/2018, có 34 dự án nhà ở xã hội đang triển khai (dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2019 - 2020) với khoảng 1.712.000 m2 sàn Trong đó: 25 dự án nhà ở xã hội dành cho các đối tượng có thu nhập thấp với khoảng 1.170.000 m2 sàn; 03 dự án nhà ở cho sinh viên với khoảng 93.000 m2 sàn; trong đó có 02 dự án đã hoàn thành một phần bao gồm: Dự án xây dựng nhà ở cho học sinh, sinh viên tại Pháp Vân - Tứ Hiệp và Dự án ký túc xá sinh viên cơ sở II Trường Đại học Điện lực; 06 dự án nhà ở cho công nhân với khoảng 449.000 m2 sàn
Nhằm giải quyết nhu cầu về nhà ở xã hội trên địa bàn Thành phố theo Chương trình, Kế hoạch phát triển nhà ở Thành phố đã được phê duyệt, UBND Thành phố hiện đang giao cho các chủ đầu tư khẩn trương triển khai
tổ chức lập quy hoạch đối với 04 khu nhà ở xã hội tập trung, đảm bảo đồng bộ
về nhà ở với đầy đủ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tại các khu nhà
ở Cụ thể là: i) Khu nhà ở xã hội tập trung tại xã Tiên Dương, huyện Đông Anh có diện tích đất khoảng 39,23 ha do Tổng Công ty Viglacera và Công ty
cổ phần Đầu tư và Phát triển hạ tầng Hoàng Thành tổ chức lập quy hoạch; ii) Khu nhà ở xã hội tập trung tại xã Tiên Dương, huyện Đông Anh có diện tích đất khoảng 34 ha do Công ty cổ phần Bất động sản Vinalines và Tổng Công
ty Xây dựng Hà Nội - CTCP tổ chức lập quy hoạch; iii) Khu nhà ở xã hội tập
Trang 33trung tại xã cổ Bi, huyện Gia Lâm có diện tích đất khoảng 39,12 ha do Công
ty cổ phần Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng tổ chức lập quy hoạch; iv) Khu nhà ở xã hội tập trung tại xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Liệt có diện tích đất khoảng 41,52 ha do Công ty cổ phần Đầu tư địa ốc Sông Hồng tổ chức lập quy hoạch
Trang 34Tiểu kết chương
Vấn đề lý luận về nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và là mối quan tâm hàng đầu của các chính phủ Ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ được bàn đến sôi nổi trong khoảng 10 năm trở lại đây Điều này góp phần thúc đẩy thêm nữa các nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt chú trọng sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn trong nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nhà ở xã hội và chính sách phát triển nhà ở xã hội Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt dưới tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nhiều vấn đề mới nảy sinh đòi hỏi các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận, bản chất của hiện tượng nhằm đề xuất những chính sách phù hợp hướng tới sự phát triển bền vững
Thông qua việc khái quát thực trạng cung - cầu, thực trạng phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội trong chương 1 của luận văn này, tác giả cố gắng đưa ra bức tranh tổng thể về những vấn đề cấp thiết đặt ra đối với thị trường nhà ở cho người thu nhập thấp ở Hà Nội Đây là nguồn dẫn chiếu quan trọng cho luận văn khi đi sâu vào phân tích tình hình thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội ở quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội trong chương 2
Trang 35Chương 2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NHÀ Ở XÃ HỘI CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP THẤP TẠI QUẬN
HOÀNG MAI 2.1 Khái quát về quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Quận Hoàng Mai là một vùng đất nằm ở phía đông nam thành phố Hà Nội, có diện tích tự nhiên là 4.104,1 ha (41 km²) với tổng số dân là 384,9 nghìn người với 14 đơn vị hành chính trực thuộc là 14 phường Phía Đông giáp huyện Gia Lâm, Đông Bắc giáp quận Long Biên; Phía Tây và Nam giáp huyện Thanh Trì; Phía Bắc giáp quận Hai Bà Trưng, Tây Bắc giáp quận Thanh Xuân Quận có các đường giao thông quan trọng đi qua gồm Quốc lộ 1A, đường vành đai 2,5, đường vành đai 3, Đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, Đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn, Cầu Thanh Trì Quận Hoàng Mai gồm
14 phường: Đại Kim, Định Công, Giáp Bát, Hoàng Liệt, Hoàng Văn Thụ, Lĩnh Nam, Mai Động, Tân Mai, Tương Mai, Thanh Trì, Thịnh Liệt, Trần Phú, Vĩnh Hưng, Yên Sở [2, tr.27]
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Hoàng Mai cùng chung chế độ khí hậu của thành phố Hà Nội với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa với sự khác biệt của hai mùa nóng và lạnh
Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mùa mưa; từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là mùa đông thời tiết khô ráo Giữa hai mùa đó lại có thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) Mùa nóng diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 có khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều, hướng gió chủ đạo là Đông Nam, nhiệt độ trung bình
là 27 - 290C, mùa mưa tháng 7 - 9, lượng mưa trung bình là 1.676mm Mùa lạnh diễn ra từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau có thời kỳ đầu khô lạnh, nhưng cuối mùa lại ẩm ướt, hướng gió chủ đạo là Đông Bắc, nhiệt độ trung bình là
Trang 36- xã hội thì cả 14 chỉ tiêu đều hoàn thành kế hoạch, trong đó có 5 chỉ tiêu hoàn thành vượt kế hoạch
Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng tích cực, đúng hướng theo Nghị quyết các Đại hội Đảng bộ quận lần I giai đoạn 2005 - 2010, lần II giai đoạn 2010 - 2015, lần III giai đoạn 2015 - 2020 đã đề ra là tăng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng và nông nghiệp Trong cơ cấu kinh tế của quận Hoàng Mai năm 2005, tỷ trọng ngành thương mại, dịch vụ chiếm 37,8% (617,9 tỷ đồng); công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 55,9% (778,9 tỷ đồng) và nông nghiệp chiếm 6,3% (87,5 tỷ đồng) Đến năm 2018, tỷ trọng ngành thương mại, dịch vụ đã vươn lên đứng đầu với 50,01% (17,25 nghìn
tỷ đồng); công nghiệp, xây dựng chiếm 49,7% (17,15 nghìn tỷ đồng) và nông nghiệp còn 0,29% (100,05 tỷ đồng) Tổng thu ngân sách của quận năm 2018 đạt 7.094,2 tỷ đồng, tăng 78,7 lần so với năm 2004 Chi ngân sách Nhà nước địa phương năm 2018 là 2.398,8 tỷ đồng, tăng 10,5 lần so với năm 2004 [12, tr.28]
Tốc độ đô thị hóa và mật độ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của quận Hoàng Mai thuộc loại lớn nhất trong số các quận huyện mới của thủ đô, với
Trang 37hàng loạt khu đô thị như Linh Đàm, Định Công, Đại Kim, Đền Lừ, Kim Văn - Kim Lủ, Hoàng Văn Thụ, Thịnh Liệt, … cùng hàng loạt chung cư trên đường Lĩnh Nam, đường Tam Trinh, đường Pháp Vân, đường Nghiêm Xuân Yêm như Gamuda City, Hateco Yên Sở, The Manor Central Park… Các dự án đường sắt đi qua địa bàn quận là các tuyến số 1 (Ngọc Hồi - Yên Viên), tuyến
số 3 (Trôi - Nhổn - Ga Hà Nội), tuyến số 4 (Liên Hà - Bắc Thăng Long), tuyến số 8 (An Khánh - Dương Xá)
Nông nghiệp
Quận đã tăng cường sử dụng có hiệu quả hạ tầng kỹ thuật vùng bãi phục vụ sản xuất nông nghiệp, tuyên truyền, vận động, khuyến khích các hộ chuyển đổi diện tích không hiệu quả sang các loại cây trồng có giá trị cao; củng cố, hỗ trợ và nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã dịch vụ tổng hợp nông nghiệp; đưa các mặt hàng nông sản (rau an toàn của phường Lĩnh Nam) vào chuỗi bán hàng thực phẩm an toàn của Thành phố Hiện toàn quận có 13 hợp tác xã nông nghiệp hoạt động theo luật hợp tác xã, 4 hợp tác xã thủy sản, 39 doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh nông nghiệp
Năm 2017, diện tích trồng lúa của toàn quận là 245 ha, trong đó tập trung chủ yếu ở các phường Yên Sở (77 ha), Hoàng Liệt (33 ha), Đại Kim (37 ha), Trần Phú (35 ha).Diện tích trồng lúa trong mấy năm gần đây trên địa bàn quận ngày càng giảm dần để thay thế bằng các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn, nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội như các loại hoa, cây cảnh.Diện tích trồng rau màu của quận hiện nay là 212 ha, trồng hoa là 91 ha Diện tích nuôi trồng thủy sản của quận năm 2016 là 510,7 ha, trong đó diện tích nuôi cá là 504,9 ha, diện tích nuôi tôm là 5,9 ha rải rác trên địa bàn 9 phường trong quận Trong đó diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất là phường Yên Sở với diện tích 169,5 ha, trong đó chủ yếu là nuôi cá Diện tích nuôi
Trang 38trồng thủy sản có khả năng tăng lên trong thời gian tới, do chủ trương của quận sẽ chuyển một số diện tích trồng lúa hai vụ kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản
Chăn nuôi trên địa bàn quận cũng được phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Năm 2017, đàn lợn có 12.779 con, đàn trâu 74 con và đàn bò 325 con
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng
Hiện tại trên địa bàn theo sổ đăng ký có 6.709 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng Trong đó, số doanh nghiệp công nghiệp là 5.347, số doanh nghiệp hoạt động xây dựng là 1.186, hợp tác xã công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là 176, còn lại là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ và du lịch Các doanh nghiệp có vốn cố định từ 2 đến 3 tỷ đồng và cao nhất là công ty cổ phần thiết
bị và xây dựng Tràng An với số vốn đăng ký là 50 tỷ đồng Các doanh nghiệp không bố trí tập trung mà dàn trải trên địa bàn quận
Lĩnh vực sản xuất công nghiệp của quận phát triển ổn định, sản phẩm tiêu thụ khá tốt và một số ngành sản xuất chính có mức tăng khá như: giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 816 tỷ đồng tăng 8,3% so với năm 2017, thiết bị điện 617 tỷ đồng tăng 8% so với năm 2017, chế biến lương thực, thực phẩm
392 tỷ đồng tăng 7,2% so với năm 2017 [8, tr.30], Điều đó có được là nhờ các doanh nghiệp, hộ sản xuất trên địa bàn đã mạnh dạn đầu tư đổi mới trang thiết bị máy móc, đa công nghệ mới vào sản xuất cùng với chất lượng ngày càng cao của đội ngũ lao động
Thương mại - dịch vụ, du lịch
Trên địa bàn quận có tổng số 12 chợ trong đó có 3 chợ có ban quản lý, còn lại các chợ là do phường quản lý Các chợ hầu hết chưa được cải tạo, chưa đảm bảo cảnh quan môi trường, an toàn thực phẩm và văn minh thương nghiệp Ngoài ra có 8 dự án chợ, trung tâm thương mại dịch vụ (trong danh
Trang 39mục kêu gọi đầu tư năm 2017 và 2018) đang được trung tâm xúc tiến đầu tư Thành phố tiến hành trình tự thủ tục đấu thầu và hướng dẫn nhà đầu tư lập chấp thuận chủ trương đầu tư, Quận đã tổ chức làm việc với các chủ đầu tư
để đôn đốc tiến độ các dự án trung tâm thương mại, chợ Chỉ đạo đẩy mạnh công tác kiểm soát, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng và vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm
Năm 2017, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch
vụ của quận Hoàng Mai là 6.567 trong đó 6.326 là doanh nghiệp ngoài nhà nước, 101 doanh nghiệp nhà nước và 140 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có 185 hợp tác xã thương mại dịch vụ và 2.400 hộ kinh doanh cá thể Trong số các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, lĩnh vực hoạt động chủ yếu vẫn là thương mại với 5.337 doanh nghiệp chiếm tỷ trọng 80% trong tổng số doanh nghiệp, còn lại là hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ với 1.209 doanh nghiệp và khách sạn nhà hàng là 121 doanh nghiệp [13, tr.31]
2.1.2.2 Tình hình xã hội
Cùng với tăng trưởng kinh tế, các lĩnh vực văn hóa - xã hội trên địa bàn Hoàng Mai được quan tâm, đầu tư phát triển toàn diện Quận đã thực hiện giảm được 1.758 hộ nghèo qua từng năm giai đoạn 2004 - 2018 và kéo tỷ lệ
hộ nghèo chung trên toàn quận xuống còn 0,25% (hoàn thành vượt kế hoạch đến năm 2020 là 0,3%); tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế năm 2018 đạt 86%, tăng gấp 2,8 lần so với năm 2004 Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm và đạt kết quả tốt, duy trì 14/14 phường đạt chuẩn quốc gia về y tế; công tác phòng, chống dịch bệnh được thực hiện chủ động, tích cực [20, tr.31]
Hoàng Mai là một quận có số lượng dân nhập cư khá đông với dân số tính đến cuối năm 2017 là 384,9 nghìn người, trong đó số thường trú là 82,2
Trang 40nghìn người, còn lại là dân nhập cư (302,7 nghìn người) Trong những năm gần đây, dân số nhập cư luôn chiếm khoảng 80% dân số toàn quận [4, tr.32]
Do đó, với một lượng dân cư khá đông đảo mỗi năm, nhu cầu về chỗ ở cho người lao động ngoại tỉnh là rất lớn Bảng 1.1 cho thấy những phường tập trung đông dân nhập cư là Hoàng Liệt, Định Công, Vĩnh Hưng, Hoàng Văn Thụ Đây là những phường tọa lạc của Khu công nghiệp Hoàng Mai, khu đô thị Linh Đàm, khu đô thị Định Công, khu đô thị Đền Lừ nên đã thu hút một lượng dân cư lớn đổ về khu vực các phường này sinh sống và làm việc
Bảng 2.1: Dân số chia theo tình trạng cư trú năm 2017