1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh lạng sơn

106 102 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tiễn đó, và công tác thực hiện bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” để thấy rõ côn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THANH TÙNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

Ngành: Chính sách công

Mã số: 8340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS VÕ QUANG TRỌNG

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về

đề tài của mình

Người cam đoan

Hoàng Thanh Tùng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 9

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG 9

VÀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 9

1.1 Lý luận về chính sách bảo tồn di sản văn hóa 9

1.3 Một số kinh nghiệm về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 19

Tiểu kết chương 26

Chương 2 27

KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH 27

BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 27

2.1 Thực trạng di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 27

2.2 Việc ban hành chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 32 2.3 Tình hình thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 33

Tiểu kết chương 56

Chương 3 57

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH 57

BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 57

3.1 Quan điểm chỉ đạo hoàn thiện chính sách 57

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và chính sách 64

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách 67

Tiểu kết chương 73

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 81

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của dân tộc

đã đạt được nhiều tiến bộ Trong đó, nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [25, tr.27-31]

Trong thời kỳ đẩy mạnh phát triển kinh tế và hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương đường lối và chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trong xu thế hội nhập quốc tế, các quốc gia dân tộc cần phải hướng tới việc tôn trọng sự đa dạng văn hóa và bảo vệ, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc

để tạo nền tảng tinh thần cho phát triển Và cuối cùng là việc bảo tồn, bên cạnh đó, việc trùng tu thiếu chuyên nghiệp không theo đúng những chuẩn mực khoa học…) cũng là những nhân tố hủy hoại giá trị của di sản

Từ thực tiễn của địa phương, có thể nói, Lạng Sơn là một tỉnh có nhiều DSVH vật thể và phi vật thể, và cũng như nhiều địa phương trong cả nước, tỉnh đang đối mặt với nhiều tác động của ngoại cảnh trong việc bảo tồn và phát huy DSVH của mình

Từ góc độ chính sách, có thể nói, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH là một nội dung quan trọng trong nhiều chính sách văn hóa của các cấp Việc thực hiện chính sách này ở tỉnh Lạng Sơn dù có nhiều kết quả tốt nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập cần nhận diện, phân tích, để đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả chính sách

Trang 6

Từ thực tiễn đó, và công tác thực hiện bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh,

tôi chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa

trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” để thấy rõ công tác bảo tồn và phát huy các giá

trị DSVH của địa phương

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việc triển khai thực hiện chính sách bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã được nghiên cứu trong môt số công trình, bài viết hoặc đề án xếp hạng di tích Các công trình cụ thể như sau:

Những công trình nghiên cứu liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa:

Bộ Văn hoá - Thông tin (2006), “Một con đường tiếp cận di sản văn

hoá”, đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận DSVH cũng như thực tiễn,

có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài Trong đó tiêu biểu nhất là các bài:

“Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hoá” (Vũ Quốc Hiền), “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững” (Lê Thành Vinh); “Di tích lịch sử và văn hoá đồng bằng sông Hồng” (Đặng văn Bài); “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử - văn hoá Đường Lâm” (Phan Huy Lê)

Tác giả Lã Đăng Bật (2010), cuốn sách “Việt Nam - DSVH Cố Đô Hoa

Lư” Cố đô Hoa Lư - đất cũ người xưa, sách giới thiệu về kinh đô Hoa Lư xưa

và sự nghiệp của các anh hùng thuộc ba triều đại nhà Đinh, Tiền Lê và nhà Lý tính từ Đinh Tiên Hoàng đến Lý Thái Tổ Sách được trình bày rõ ràng và minh hoạ hình ảnh đẹp giúp truyền đạt một bề dày lịch sử ở Hoa Lư theo cách gãy gọn, dễ hiểu nhưng vẫn sâu sắc và đầy đủ

Tác giả Vũ Trường Thành (2014), với luận văn “Bảo tồn DSVH gắn

với phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, làm rõ mối quan hệ

hữu cơ giữa bảo tồn các DSVH và việc khai thác phục vụ mục đích phát triển

Trang 7

kinh tế du lịch Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn DSVH gắn với phát triển kinh tế du lịch; Đánh giá thực trạng về tình hình bảo tồn DSVH gắn với phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; Đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nhằm phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh trong thời gian sắp tới

Tác giả Bùi Thị Hà (2016), với luận văn “Bảo tồn DSVH của tỉnh Ninh

Bình hiện nay”, đã tìm hiểu về những giá trị DSVH ở tỉnh Ninh Bình Nghiên

cứu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Ninh Bình cũng là một tỉnh

có một nền văn hóa truyền thống tốt đẹp, đồng thời cũng là một tỉnh có những DSVH lớn của đất nước nói riêng và của thế giới nói chung Hướng tới một cái nhìn tổng thể về việc bảo tồn và phát huy DSVH ở tỉnh Ninh Bình

Những công trình liên quan đến thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa:

Tác giả Bùi Quốc Hoàn (2017), “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị DSVH phi vật thể từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình”, luận văn thạc sĩ

chính sách công Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu về chính sách bảo tồn DSVH phi vật thể, chỉ rõ thực trạng thực hiện chính sách này trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Qua đó, tác giả luận văn đã đánh giá những thành công, hạn chế của chính sách cũng như thực hiện chính sách bảo tồn DSVH phi vật thể từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách và thực hiện chính sách

Tác giả Nguyễn Ngọc Hưng (2017), Thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa từ thực tiễn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, luận văn Thạc sĩ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội

Việt Nam Tác giả luận văn đã vận dụng các lý luận về chính sách công, thực hiện chính sách công trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên một

Trang 8

địa bàn cụ thể Từ đó, tác giả tìm ra những thành công, hạn chế trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tìm ra các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp thích hợp

Tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (2018), Thực hiện chính sách bảo tồn,

phát huy giá trị di sản văn hóa từ thực tiễn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam

Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động triển khai chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trên địa bàn quận Thanh Xuân thông qua việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận, nghiên cứu các hoạt động quản lý nhà nước đối với các di tích văn hóa của UBND quận Thanh Xuân, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách nêu trên

Cuốn Một số vấn đề về du lịch Việt Nam của Đinh Trung Kiên, đã đi sâu phân tích cụ thể những giá trị của di sản văn hóa truyền thống Việt Nam trong phát triển du lịch nhƣ: Sức hấp dẫn khách du lịch từ các giá trị văn hóa của lễ hội, làng nghề truyền thống; Hoạt động lữ hành với việc khai thác và bảo tồn di sản văn hoá

Trên Tạp chí Cộng sản số 20, năm 2003, PGS, TS Nguyễn Văn Huy đã

có nhiều cố gắng nghiên cứu Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá các dân tộc hiện nay Tác giả bài báo đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy DSVH trên phạm vi cả nước

Bên cạnh đó, tác giả tìm đọc các tài liệu như: Đề tài “Nghiên cứu bảo

tồn giá trị tín ngưỡng dân gian trong các di tích lịch sử văn hóa vùng cao Mẫu Sơn” của tác giả Bế Cao Chuyển Đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp thích hợp để bảo tồn, phát huy dân ca các dân tộc tỉnh Lạng Sơn trong thời kỳ hội nhập và phát triển” của Hội Bảo tồn dân ca các dân tộc tỉnh Lạng Sơn;

Đề án Bảo tồn tiếng nói, chữ viết, trang phục của đồng bào các dân tộc thiểu

Trang 9

số tỉnh Lạng Sơn; DSVH múa sư tử Tày, Nùng Lạng Sơn Đề án Phục dựng các lễ hội truyền thống: Lồng tồng Bản Chu, xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia;

Lễ hội tình yêu huyện Tràng Định; lễ hội Ná nhèm huyện Bắc Sơn; lễ hội đền

Kỳ Cùng - tả phủ, thành phố Lạng Sơn Dự án Bảo tồn DSVH phi vật thể: Hát Xắng Cọ dân tộc Sán Chỉ, hát Lượn dân tộc Tày, hát Sli Slinh làng Nùng cháo, sli Phàn Slinh Lạng Sơn; hát Ví Tày Bắc Sơn; Lẩu then, Nghệ thuật hát Then, đàn Tính đồng bào Tày - Nùng tỉnh Lạng Sơn…

Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về di sản văn hoá và thực hiện chính sách bảo tồn DSVH, trong đó có những nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Tuy nhiên, kết quả của những công trình nghiên cứu này chưa xác định và kết luận rõ ràng về vài trò của di sản văn hoá đối với phát triển kinh tế - xã hội và chỉ ra các điều kiện để di sản văn hoá phát huy được vai trò của nó; chưa đề ra giải pháp cụ thể cho quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Kế thừa các kết quả nghiên cứu từ các công trình đã nghiên cứu, luận văn này làm rõ các vấn đề trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy DSVH, đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xác lập cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn DSVH

Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu (văn bản, thực tiễn) về chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị di sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Trang 10

Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong những năm gần đây

Đề xuất một số giải pháp tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn DSVH phù hợp với điều kiện thực tế trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách bảo tồn DSVH

trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn

DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Trọng tâm là giai đoạn 2011 - 2017 (Lạng Sơn thực hiện Đề tài bảo tồn DSVH)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách bảo tồn DSVH, những lý luận của khoa học chính sách công cũng như cơ sở thực tiễn về chính sách bảo tồn DSVH

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin: Được sử dụng để thu thập và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ, ban, ngành

ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp, gián tiếp tới vấn đề chính sách bảo tồn DSVH ở nước ta nói chung và chính sách bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói riêng

Trang 11

Phương pháp thống kê: Sử dụng nhiều các số liệu thống kê trong luận văn, đó thực chất là việc liệt kê, tính toán đối tượng để có kết quả biểu thị bằng con số nhằm làm nổi bật đối tượng nghiên cứu, cũng như sự cần thiết và tính thực tiễn cao của đề tài nghiên cứu

Phương pháp đánh giá chính sách công: Luận văn sử dụng và thực hiện một số phương pháp nghiên cứu chính sách công theo chu trình chính sách so sánh dựa trên kết quả thực tế, từ đó dự báo xu hướng phát triển đề ra chính sách trong giai đoạn tới

Phương pháp phân tích: Được sử dụng nhiều trong luận văn như việc phân tích thực trạng, các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài, phân tích các tác động bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa luận: Làm rõ lý thuyết và các vấn đề lý luận về chính sách

bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ những cứ liệu của thực tế trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã làm rõ được thực trạng về các chính

sách bảo tồn di sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, cũng cấp thêm một kênh tham khảo cho các cơ quan quản lý về văn hóa trên địa bản tỉnh Lạng Sơn trong thực hiện chính sách bảo tồn di sản

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được cấu trúc theo 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề chung về chính sách công và chính sách bảo tồn di sản văn hóa;

Trang 12

Chương 2: Khảo sát, đánh giá việc thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả của thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG

VÀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA

1.1 Lý luận về chính sách bảo tồn di sản văn hóa

DSVH phi vật thể: Văn hóa phi vật thể là các sản phẩm tinh thần có giá

trị lịch sữ, văn hóa, khoa học được lưu giữu bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác Bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công, truyền thong tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian

khác

1.1.2 Khái niệm chính sách công

Cuốn Từ điển Hán Việt dành cho học sinh đưa ra giải nghĩa phổ thông

về từ chính sách như sau: “Chính sách: Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình

Trang 14

thực tế mà đề ra” [38, tr.112] Tiếp cận dưới góc nhìn chính trị, Từ điển bách khoa Việt Nam lý giải: “Chính sách, những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể” [21, tr.103]

Trong bài giảng “Những vấn đề cơ bản về chính sách công” (Ban hành kèm theo Quyết định số: 26/QĐ-HVKHXH ngày 9/11/2012 của Giám đốc Học viện Khoa học xã hội), tác giả Đỗ Phú Hải đã định nghĩa chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [17, tr.88]

Trong công trình nghiên cứu về “Chính sách công - những vấn đề cơ bản” (2016), tác giả Nguyễn Hữu Hải đã đưa ra nhận định về khái niệm về chính sách công như sau: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng, mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [14, tr.36]

Tác giả Lê Chi Mai cho rằng “Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi” [23, tr.18]

1.1.3 Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Trang 15

Bảo tồn nguyên trạng: Đây là quan điểm đã phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XIX trên thế giới và thịnh hành trong một thời gian khá dài, gần giống như đóng vai trò chủ đạo đối với cách thức quản lý DSVH ở nhiều quốc gia Theo nhà nghiên cứu văn hóa Ashworth, quan điểm bảo tồn nguyên trạng

có những đặc điểm như sau [1, tr 28]:

Về mục đích: Nguyên tắc là đơn giản, dễ hiểu và là một đòi hỏi về mặt đạo đức; Mục đích tối tượng là bảo tồn toàn bộ những gì có thể bảo tồn được

Về nguồn lực: Các nguồn di sản là căn cứ bất di bất dịch: các địa điểm

di tích có một căn cứ lịch sử nhất định của nó; Các sản phẩm được xác định

và tạo ra trên cơ sở nguồn gốc của di sản

Về tiêu chí lựa chọn di sản: Tiêu chí lựa chọn phụ thuộc vào bản chất của di sản (có ý nghĩa về lịch sử, vẻ đẹp kiến trúc…); Về nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn có thể quyết định một cách khách quan thông qua sự đồng thuận tập thể; Tính chân thực của di sản là yếu tố quyết định tối cao của giá trị

Về các sản phẩm thuyết minh cho di sản: Các địa điểm/đồ tạo tác được bảo tồn có một thị trường và một ý nghĩa toàn cầu, ổn định và đơn nghĩa

Về chiến lược bảo tồn: Có một sự mâu thuẫn cố hữu giữa bảo tồn và phát triển; Những tác động của sự bảo tồn phản lại chức năng sẽ sinh ra những vấn đề phát sinh thứ cấp; Tăng việc sử dụng các sản phẩm được bảo tồn trong giai đoạn hiện thời phải phù hợp với công việc quản lý và nếu cần thiết phải giới hạn nhu cầu

Bảo tồn kế thừa: Các DSVH vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng DSVH vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại Đối với các DSVH phi vật thể, bảo tồn trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng

Trang 16

Quan điểm này cho rằng di sản ấy cần phải được phát huy giá trị phù hợp với xã hội hiện nay, đồng thời phải loại bỏ những gì không phù hợp với thời đại, không còn thích hợp với xã hội mới Do vậy, bảo tồn kế thừa không phải là cố gắng dập khuôn nguyên gốc, khư khư giữ nguyên như cũ, bất di bất dịch, mà là bảo tồn vừa có sự kế thừa vừa có sự bổ sung những yếu tố mới, làm cho nó tương thích và có sức sống trong hoàn cảnh mới

Bảo tồn phát triển: người ta coi di sản là sản phẩm của thời hiện tại, phát triển nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại và được định hình bởi yêu cầu ấy

Bảo tồn là một nhân tố cần thiết của phát triển, phát triển tạo nguồn lực cho bảo tồn, bảo tồn và phát triển là nhiệm vụ thiết yếu của một quốc gia Đảm bảo mối quan hệ hữu cơ giữa bảo tồn và phát triển là cách ứng xử thông minh của thời đại

Từ các quan điểm đó: Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định: Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII nêu: Chính sách bảo tồn, phát huy

di sản vǎn hóa dân tộc hướng vào cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể

Nhà nước, Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan đã đưa ra các văn bản quy phạm như:

Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24 tháng 7 năm 2001 của

Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa và danh lam cảnh đến năm 2020

Trang 17

Quyết định số 125/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2006 – 2010

Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (Ban hành kèm theo quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của thủ tướng Chính phủ): trong đó, coi DSVH là nền tảng để hun đúc nên bản sắc văn hóa và hệ giá trị của văn hóa dân tộc, là một nguồn lực cho phát triển; bảo tồn và phát huy DSVH là nhiệm

vụ then chốt

Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH

Quyết định số 1211/2012/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoan 2012 - 2015”

Từ các hoạt động thực tiễn, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực DSVH ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn, giúp các chính sách ngày càng hoàn chỉnh, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương và góp phần thiết thực vào việc hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH, phát huy tác dụng tích cực công tác bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH

1.1.4 Quan niệm của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã nhận thức sâu sắc về vai trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội Di sản văn hóa được coi là “cốt lõi của bản sắc dân tộc” bởi nó được coi là yếu tố cấu thành đặc trưng của nền văn hóa Việc đề cao vị trí của di sản văn hóa là đề cao những

Trang 18

thành quả lao động cũng như đời sống tinh thần của nhân dân trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước Hệ thống đình, chùa, lăng tẩm, thành quách không chỉ minh chứng cho sức lao động sáng tạo cần cù, mà còn cho thấy khát vọng, ý chí và nghị lực của cha ông Việc lưu giữ, tôn tạo các giá trị

di sản văn hóa không chỉ thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, mà còn góp phần làm phong phú đời sống tinh thần các thế hệ mai sau

Năm 1943, Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo Đề cương về văn hoá Việt Nam đề ra 3 nguyên tắc vận động của văn hóa Việt Nam gồm: Dân tộc, khoa học, đại chúng Năm 1998, Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương

5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Năm 2004, Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX) tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5: Xác định mục tiêu:

“Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”

Chính sách vĩ mô của Nhà nước về văn hóa được ghi trong Hiến pháp năm 2013, như sau [31]: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam: Dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa, phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa; nghiêm cấm truyền bá

tư tưởng và văn hóa phản động, đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục Nhà nước đầu

tư phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật; tạo điều kiện để nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị; bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn học, nghệ thuật Nhà nước phát triển các hình thức đa dạng của hoạt động văn hóa, nghệ thuật; khuyến khích hoạt động nghệ thuật văn hóa, nghệ thuật quần chúng

Trang 19

Điều 60 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định [31]: Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

1.2 Lý luận về thực hiện chính sách và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

1.2.1 Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Sau khi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa được hoạch định và các cơ quan quản lý nhà nước ban hành thì chính sách này cần được thực thi trong cuộc sống Các cơ quan quản lý nhà nước, trước hết là các

cơ quan quản lý DIVS là chủ thể hoạch định chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, cũng đồng thời là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị DSVH

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH được hiểu là quá trình tổ chức triển khai các văn bản quản lý, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH vào thực tiễn thông qua 06 bước cơ bản của tổ chức thực hiện chính sách công

Các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH

Bước 1: Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị DSVH

Để đưa chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH vào thực tế cuộc sống cần phải xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH một cách chi tiết, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn của từng ngành, từng địa phương Hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phụ thuộc rất nhiều vào những yêu cầu của kế hoạch khi được xây dựng Kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

Trang 20

DSVH phải bám sát theo các yêu cầu và nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH

Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

DSVH

Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của chủ thể thực hiện chính sách đề ra là một nội dung hoạt động quan trọng trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ trung ương đến địa phương Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH giúp các chủ thể làm nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị DSVH nắm được tổng thể chương trình này Để mọi tầng lớp nhân dân hiểu

rõ được tầm quan trọng của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH thì cần phải phổ biến và tuyên truyền về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH thông qua các phương pháp, hình thức đa dạng với nội dung dễ hiểu vì Việt Nam là đất nước đa dạng văn hóa và đa dạng về dân tộc

Bước 3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị DSVH

Việc phân công hợp lý và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản

lý nhà nước các cấp, các ngành, các địa phương trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH tạo ra hiệu quả trong quá trình triển khai Mỗi cấp, mỗi ngành sẽ có những trách nhiệm và quyền hạn khác nhau trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Trên cơ sở đó, các chủ thể thực hiện chính sách sẽ có những vai trò, nhiệm vụ khác nhau trong toàn bộ quas trình này

Bước 4: Duy trì, điều chỉnh chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

DSVH

Trang 21

Duy trì chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH là hoạt động cần thiết trong tổ chức thực hiện chính sách, hoạt động này nhằm bảo đảm cho chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế

Điều chỉnh chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH diễn ra khi chủ trường, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị DSVH có sự điều chỉnh, cũng như thực tiễn quá trình bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa có những biến động cần được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn

Bước 5: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị DSVH

Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH diễn ra trên phạm vi rộng lớn, với nhiều vùng văn hóa khác nhau của nhiều địa phương, dân tộc khác nhau trên đất nước và với nhiều thành phần và đối tượng tham gia Để thực hiện tốt chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH cần phải theo dõi, đôn đốc quá trình thực hiện chính sách Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên môn, các cơ quan quản lý nhà nước cần phối hợp với nhau trong quá trình kiểm tra thực hiện chính sách nhằm tìm ra những bất cập, hạn chế và những yếu tố có thể làm gián đoạn quá trình thực hiện chính sách

Bước 6 Tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị DSVH

Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH là nội dung, nhiệm vụ quan trọng cuối cùng nhưng không thể tách rời quá trình thực hiện chính sách Qua tổ chức, đánh giá, rút

ra những kiến nghị, đề xuất thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, nêu bậc những hạn chế, tồn tại và thiếu sót, đưa ra bài học kinh

Trang 22

nghiệm và phương hướng, giải pháp trong chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trong thời gian tới

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Trước hết, về nhận thức, tâm lý phổ biến của các vị lãnh đạo chính

quyền địa phương khi đề đạt nguyện vọng nâng cấp di tích của địa phương mình lên hạng di tích quốc gia đặc biệt hoặc di sản thế giới, ngoài mong muốn nhận được sự quan tâm đầu tư lớn của Chính phủ vào công tác bảo quản, tu

bổ và phục hồi di tích, còn có ý muốn tăng nhanh hoạt động du lịch tại di tích; qua đó tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương, cải thiện một phần đời sống nhân dân Đây là một nguyện vọng chính đáng, tuy nhiên ở góc độ bảo tồn di sản, nếu việc bảo tồn di sản không được coi trọng ngang bằng hoặc hơn việc khai thác di sản thì sẽ dẫn đến tình trạng phá hoại di sản, làm cho di sản bị xuống cấp, mai một nhanh chóng Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về Luật Di sản văn hóa còn chưa đầy đủ nên tình trạng vi phạm bảo tồn di tích còn xảy ra như việc cung tiến đồ thờ cúng bày đặt tùy tiện, gây phản cảm

Thứ hai, sự quản lý của các cơ quan nhà nước còn lỏng lẻo, dẫn đến

nhiều di tích tiếp tục bị xâm phạm, lấn chiếm, đánh cắp, làm hư hại, thất thoát khá nặng nề Ở một số nơi, trong khi tiến hành bảo tồn, trùng tu đã không cẩn thận, thiếu trách nhiệm, thiếu năng lực chuyên môn, làm biến dạng, mất giá trị

di tích, đặc biệt là các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến của nhân dân ta Không ít văn hóa phi vật thể đang mai một dần, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số (chẳng hạn, chữ viết các dân tộc chưa phát triển) Nhiều hoạt động lễ hội văn hóa có những biến tướng nhằm trục lợi gây sự phản cảm, thậm chí bất bình với du khách Bên cạnh đó, dù Nhà nước quan tâm đầu tư, nhưng nguồn kinh phí đưa về các di tích vẫn còn quá ít so với nhu cầu thực tế Cả

Trang 23

nước hiện vẫn còn hàng nghìn di tích quốc gia chưa được tu bổ; những di tích được tu bổ chủ yếu vẫn bằng nguồn vốn xã hội hóa nên vừa yếu vừa thiếu Các di tích được đầu tư mới chỉ đáp ứng được mục tiêu gia cố, chống xuống cấp cục bộ chứ chưa đủ khả năng thực hiện các dự án tổng thể nhằm tạo điều kiện cần và đủ để di tích tồn tại lâu dài Việc xã hội hóa các hoạt động văn hóa tuy thu được những nguồn lực đáng kể để tu bổ, tôn tạo di sản, nhưng do yếu kém trong khâu quản lí dẫn đến lộn xộn, nhập nhằng, thậm chí phô trương phản cảm

Thứ ba, về tổ chức bộ máy quản lý di sản, tuy mỗi di sản văn hóa đã có

một tổ chức quản lý riêng, song quy mô và cơ chế tổ chức của các cơ quan giữa các di sản còn chưa thống nhất Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ ở một số cơ quan quản lý di sản còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, nhất là trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam có nhiều di sản thế giới rất cần một đội ngũ cán bộ thực sự có chuyên môn cao Việc học tập chuyên môn, ngoại ngữ của một số cán bộ, nhân viên thiếu bài bản, chỉ nhằm phục vụ những lợi ích trước mắt, chứ không chú ý chuyên sâu, nâng cao thường xuyên để đáp ứng những đòi hỏi chuyên môn cao của ngành Sự thiếu đồng bộ trong tổ chức và đội ngũ cán bộ ảnh hưởng rất rõ đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng như tài nguyên du lịch Sự chồng chéo về quản lý và nhiệm vụ đã tạo nên những mâu thuẫn, gây bất lợi cho di sản cả trong công tác bảo tồn di tích và phát triển du lịch Chính vì thế, chất lượng công tác quản lý di sản cũng còn rất khác nhau Các di sản thế giới của nước ta được ghi vào danh mục di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới rải ra trong nhiều năm

1.3 Một số kinh nghiệm về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Trang 24

1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc: Xây dựng thương hiệu qua di sản quốc gia

Mỗi di sản đều được Chính phủ xác định là tài sản và báu vật của quốc gia và địa phương Chính phủ Hàn Quốc hiện đã và đang rất nỗ lực nâng cao vị thế và hình ảnh của Hàn Quốc như một phần của “Sáng kiến xây dựng thương hiệu quốc gia” thông qua việc phát huy các di sản vật thể và phi vật thể

Chính phủ Hàn Quốc luôn tổ chức định kỳ các sự kiện ở từng địa phương nhằm xúc tiến chương trình nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp xã hội, tạo điều kiện cho toàn dân hiểu về giá trị của đất nước mình để người dân thấm nhuần những gì mình đang có, tôn vinh và nghiêm khắc trong ứng xử với di sản của quốc gia Chính quyền địa phương luôn tổ chức các cuộc thi sáng tác, thi viết phóng sự các hoạt động liên quan đến công tác bảo tồn di sản Hầu như bất kỳ đại sứ quán nào của Hàn quốc trên thế giới cũng mang đậm tinh thần “Hàn Quốc và di sản Hàn Quốc”

1.3.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ - bước đầu thành công

Nhận thức được các di sản sẽ mất đi ý nghĩa và sự truyền đạt thông tin cho các thế hệ tương lai một khi bị hư hại bởi tác động của thiên tai cũng như hoạt động của con người, vì vậy Chính phủ coi việc bảo tồn di sản phải có hành động nghiêm túc và đã lập nên nhiều chiến lược cụ thể, dành kinh phí đáng kể cho quá trình này Với nỗ lực để New Dehli được công nhận là Thành phố Di sản Thế giới của UNESCO, Chính phủ Ấn Độ đã tiến hành không biết bao nhiêu chương trình và chiến dịch thúc đẩy xây con đường di sản kết nối hơn 30 di tích lịch sử tại thành phố Thủ đô này với nhau Đây cũng là nỗ lực đầu tiên của Ấn Độ nhằm giúp New Dehli đủ điều kiện để được trao tặng danh hiệu Thành phố Di sản Thế giới của UNESCO

1.3.3 Chính sách văn hóa ở Nhật Bản

Trang 25

Đối với Nhật Bản, quan niệm di sản văn hoá là tài sản văn hoá không chỉ dừng lại ở nhận thức mà còn được cụ thể hoá trong những đạo luật, chính sách văn hoá, nổi bật nhất là Bộ luật bảo tồn các tài sản văn hoá được ban hành vào những năm 80 của thế kỷ trước Bộ luật ra đời nhằm thực hiện bảo tồn di sản văn hoá trên cơ sở xác lập quyền sở hữu và bảo trợ của nhà nước Trong đó, Bộ luật quy định rõ, mọi tài sản văn hoá đều thuộc quyền sở hữu của các công dân, các cơ quan sự vụ, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ Quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản văn hoá bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Việc công nhận quyền của các chủ sở hữu được đảm bảo bằng một “Giấy chứng nhận” do Bộ trưởng Bộ Giáo dục cấp Bộ luật cũng quy định rõ, chính phủ và các cấp chính quyền địa phương phải tôn trọng quyền của các chủ sở hữu và quyền sở hữu của những người hữu quan

Chính phủ Nhật Bản nghiêm cấm việc bán các tài sản văn hoá ra nước ngoài dưới mọi hình thức Nhà nước bỏ tiền mua lại các tài sản văn hoá quan trọng, trợ cấp một phần kinh phí và phương tiện kỹ thuật cho việc bảo tồn tài sản văn hoá thuộc tư nhân đối với các tài sản hữu hình Nhà nước nắm giữ vai trò điều tiết hoạt động bảo tồn và khai thác tài sản văn hoá trong tổng thể các hoạt động chung của toàn xã hội Do đó, các di sản văn hoá vật thể được giữ gìn trong các dự án phát triển

1.3.4 Chính sách văn hóa ở Trung Quốc

Bên cạnh việc hoàn thiện pháp chế về bảo vệ các DSVH lịch sử, thực hiện phân cấp bảo vệ văn vật, nhà nước yêu cầu các cấp chính quyền đưa việc bảo vệ văn vật vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vào quy hoạch xây dựng thành thị và nông thôn, vào ngân sách, vào cải cách thể chế; đồng thời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ bảo vệ của cộng đồng, huy động lực

Trang 26

lượng của toàn xã hội tham gia công tác bảo vệ văn vật đặc biệt chú trọng thúc đẩy việc bảo vệ DSVH thông qua giáo dục cộng đồng Đề cương về chương trình: “Mỗi người đều có trách nhiệm bảo vệ DSVH của đất nước” do

Bộ Văn hóa và Cục Di sản đã công bố từ năm 1989, được quán triệt và thực hiện trong cả nước

1.3.5 Kinh nghiệm ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước tiên phong trong việc phê chuẩn Công ước về bảo vệ DSVH phi vật thể năm 2003 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) và là thành viên của

Ủy ban Liên chính phủ tham gia xây dựng phương hướng hoạt động và các chính sách quốc tế có liên quan đến Công ước này

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ:

“Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH vật thể và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hóa trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài” Trong các văn bản ban hành về công tác bảo tồn, phát huy DSVH, đáng chú ý là Luật DSVH được Quốc hội khóa X, kì họp thứ 9 thông qua năm 2001 là cơ sở pháp lí cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị DSVH Việt Nam

Luật DSVH được Quốc hội khóa X, kì họp thứ 9 (tháng 6 năm 2001) khẳng định: “DSVH Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong việc dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” Việc đề cao vị trí của DSVH là đề

Trang 27

cao những thành quả lao động cũng như đời sống tinh thần của nhân dân trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước

Cho đến nay, Việt Nam đã có 5 DSVH vật thể và 11 DSVH phi vật thể được UNESCO ghi vào Danh mục DSVH và thiên nhiên thế giới; được UNESCO đưa vào Công bố những kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại

Việc trở thành di sản thế giới là một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển mình của các di sản trong sự phát triển kinh tế nói chung, phát triển

du lịch, dịch vụ nói riêng Bởi vì, chỉ sau khi được ghi vào Danh mục DSVH

và thiên nhiên thế giới, di sản mới thực sự nhận được sự quan tâm về nhiều mặt của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế Thực tiễn ở nước ta cho thấy, quần thể di tích kiến trúc Huế, Vịnh Hạ Long, Khu di tích Chăm Mỹ Sơn, Khu phố cổ Hội An, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng ngay sau khi trở thành di sản thế giới đã trở thành những điểm du lịch quan trọng của cả nước Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, hát Xoan Phú Thọ sau khi trở thành kiệt tác của nhân loại được xã hội quan tâm nhiều hơn và được đầu tư, phô diễn mạnh mẽ hơn

Có thể nói rằng, các di sản thế giới nước ta đã đóng góp ngày càng tích cực cho sự phát triển kinh tế trên nhiều mặt Nhiều điểm tham quan du lịch mới được mở ra quanh khu di sản, ngày càng nhiều hoạt động dịch vụ phục

vụ tham quan, du lịch được mở Thực tiễn những năm qua cho thấy, các di sản thế giới đã góp phần ngày càng quan trọng trong việc phát triển du lịch của đất nước

Bằng chính sách xếp hạng của Nhà nước, nhiều di tích có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và khoa học đã được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật Chính vì nhận thức được rằng các giá trị văn hóa, thiên nhiên của di sản

Trang 28

không phải chỉ nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, học tập đơn thuần, mà còn

có khả năng đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa phương và cả nước, nên ngoài sự quan tâm của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, các di sản còn nhận được sự tham gia ngày càng tích cực của cộng đồng vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản Riêng đối với di sản thế giới, Nhà nước còn có những cơ chế riêng về tài chính, như bố trí lại các nguồn thu cho các di sản thế giới nhằm tạo sự chủ động cho các hoạt động của di sản thế giới Bên cạnh sự quan tâm đến công tác tổ chức, xây dựng bộ máy, tuyển chọn đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, các DSVH còn nhận được sự hỗ trợ về chuyên môn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Nhiều khóa tập huấn, chuyên môn nghiệp vụ, hội thảo khoa học được tổ chức tại các DSVH với sự tham gia của các chuyên gia thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau ở trong và ngoài nước đã góp phần làm tăng chất lượng đội ngũ cán bộ của các đơn vị quản lý Sở dĩ chúng ta có thể tổ chức các hoạt động nêu trên bởi sau khi trở thành di sản, Đảng và Nhà nước cũng như địa phương

đã đầu tư nhiều hơn, hiệu quả hơn vào công tác quản lý và công tác bảo quản,

tu bổ và tôn tạo các di sản Nhờ những nỗ lực đó, bộ mặt của các di sản thế giới ngày càng được cải thiện, nhiều bộ phận của di sản thế giới đã được bảo quản, tu bổ và phục hồi, di sản thế giới ngày càng trở nên hấp dẫn hơn

Nhờ vào việc từng bước hoàn chỉnh hệ thống luật pháp về bảo tồn, phát huy giá trị DSVH với việc ban hành Luật DSVH và các quyết định có liên quan; việc tổ chức sắp xếp lại bộ máy quản lí nhà nước cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; huy động được sự tham gia của toàn xã hội đối với hoạt động giữ gìn, phát huy giá trị DSVH; việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa hoạt động bảo tồn phát huy DSVH đã đạt nhiều thành tựu, không chỉ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và

Trang 29

phong phú của nhân dân, mà còn góp phần đưa hình ảnh quốc gia tới bạn bè thế giới, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 30

Tiểu kết chương

DSVH là tài sản vô giá trong đời sống của một cộng đồng xã hội cần được bảo tồn, kế thừa và phát huy một cách đúng đắn, khoa học, hợp lý Bước sang thế kỷ XXI, nhân loại ngày càng coi trọng các giá trị văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa ngày càng coi trọng các giá trị văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa ngày càng đa dạng giữa các quốc gia, dân tộc Việc bảo tồn và phát huy DSVH ở nước ta cũng đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi chúng ta nhận thức rõ hơn về lĩnh vực này để có thể đưa ra những chính sách văn hóa phù hợp, nhằm thúc đẩy sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cùng với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cần đẩy mạnh quá trình bảo tồn và phát huy DSVH của nước ta nói chung và ở các địa phương nói riêng nhằm phát triển xã hội toàn diện ở cả hiện tại và tương lai Chương

1 của luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến chính sách bảo tồn DSVH, thực hiện chính sách cũng như kinh nghiệm và bài học rút ra trong thực hiện chính sách bảo tồn DSVH

Trang 31

Chương 2 KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

2.1 Thực trạng di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

2.1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Lạng Sơn

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 154km đường bộ và 165km đường sắt

Về phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp: Tỉnh Lạng Sơn có tổng diện tích tự nhiên trên 830.500ha; trong đó gần 739.000ha đất có khả năng sản xuất nông - lâm nghiệp Đất đai chủ yếu là đất Pherarit nâu đỏ hoặc vàng phát triển trên đá vôi và đất bồn địa phù sa Với đặc điểm của các vùng địa lý thổ nhưỡng đa dạng nên đất đai Lạng Sơn rất phù hợp với các cây trồng như: Lúa, chè, ngô, thuốc lá, đậu đỗ các loại…; các cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, sản lượng lớn, ổn định như: Hồi, hồng, na, quýt

Khả năng phát triển lâm nghiệp ở Lạng Sơn hơn hẳn một số tỉnh vùng Đông Bắc khi có quỹ đất lớn, khả năng tái sinh rừng nhanh, khí hậu và đất đai đặc biệt phù hợp cho các loại cây gỗ lim, sến, táu, các loại tre, luồng… Ngoài

ra, Lạng Sơn thuận lợi về khí hậu và có khả năng cung cấp lương thực ổn định, quỹ đất phát triển đồng cỏ rất lớn, có điều kiện tốt phát triển chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm lấy thịt và chăn nuôi bò sữa

Về phát triển công nghiệp: Là tỉnh có nhiều tài nguyên khoáng sản như quặng boxit, vàng, đá vôi với trữ lượng lớn, cùng với định hướng phát triển quy mô sản xuất nông sản, thực phẩm, tỉnh Lạng Sơn có thế mạnh trong việc

Trang 32

phát triển công nghiệp khai khoáng, công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến

Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi Nhà nước đang thực hiện chính sách đầu tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, thì Lạng Sơn càng có điều kiện để phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt kinh tế thương mại - du lịch - dịch vụ

Lạng Sơn hội tụ nhiều tiềm năng phát triển du lịch Với vị trí địa lý quan trọng và khả năng tiếp cận thuận lợi với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh trong khu vực nhờ hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt tương đối phát triển, lợi thế về vị trí địa lý được nhìn nhận là nguồn lực to lớn, có tác động sâu sắc, tạo ra các cơ hội để Lạng Sơn đẩy nhanh chiến lược phát triển du lịch tại các khu vực trọng điểm trên địa bàn tỉnh

Lạng Sơn được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh hấp dẫn như: Động Tam Thanh, động Nhị Thanh, núi nàng Tô Thị, khu du lịch Mẫu Sơn… Lạng Sơn còn là nơi nổi tiếng với nhiều địa danh lịch sử như: Ải Mục Nam Quan, ải Chi Lăng, Thành nhà Mạc… Đặc biệt, Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch Quốc gia Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn đến năm 2030 với mục tiêu, Khu du lịch Mẫu Sơn đáp ứng được các tiêu chí và trở thành khu du lịch quốc gia với sản phẩm du lịch đặc trưng

là du lịch nghỉ dưỡng núi, du lịch văn hóa tâm linh và du lịch sinh thái của vùng trung du miền núi phía Bắc Bộ và cả nước

Lạng Sơn cũng là nơi hội tụ những nét văn hóa độc đáo của nhiều dân tộc với những tập quán sinh hoạt, phong tục hội hè, những món ăn truyền thống, đặc biệt là những làn điệu dân ca độc đáo như hát then (Tày, Nùng), pựt, hát sli sloong hàu, sình làng (Nùng), hát lượn slương (Tày), cỏ lẩu, đồng dao, hát quan lang… say đắm lòng người Cộng đồng các dân tộc nơi đây

Trang 33

cũng còn lưu giữ nhiều lễ hội mang đậm truyền thống văn hóa như: Lễ hội Đồng Đăng, Lễ hội chùa Bắc Nga (huyện Cao Lộc), Lễ hội Chùa Tam Thanh,

Lễ hội Kỳ Cùng - Tả Phủ (Lễ hội Đầu pháo - Kỳ Lừa)…

2.1.2 Thực trạng di sản văn hóa

Với điều kiện tự nhiên được thiên nhiên ưu đãi đã tạo nên sự độc đáo phong phú và đa dạng của hệ thống các DSVH Xứ Lạng từ tiền sơ sử đến cận hiện đại, được phân bố rộng khắp trên địa bàn từ thành phố, thị trấn đến các thôn, vùng cao, biên giới Sự đa dạng và phong phú của DSVH Lạng Sơn không chỉ thể hiện ở số lượng di tích mà còn thể hiện cả về loại hình di tích Gồm 4 loại hình di sản chính là: Khảo cổ học; Kiến trúc nghệ thuật; Lịch sử cách mạng; Danh lam thắng cảnh

Các loại hình di tích văn hóa ở Xứ Lạng đều mang ý nghĩa rất lớn, phản ánh sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần của cộng đồng dân tộc Lạng Sơn nói riêng cũng như của cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung Theo đó, qua công tác nghiên cứu kiểm kê, đăng ký, xếp hạng các DSVH tại Lạng Sơn trong những năm qua, đã thống kê sơ bộ được:

Về kiểm kê DSVH vật thể trên địa bàn tỉnh: Đến nay Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo các phòng, đơn vị liên quan phối hợp với các huyện, thành phố tiến hành theo đó hiện nay trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có 586 khu, điểm di tích (trong đó có 44 di tích khảo cổ - cổ sinh;

248 di tích lịch sử cách mạng; 250 di tích kiến trúc nghệ thuật; 44 di tích danh lam thắng cảnh); 126 di tích đã được xếp hạng các cấp gồm: 01 khu di tích xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt, 27 điểm và khu di tích Quốc gia, 98 điểm di tích cấp tỉnh Đợt 2 đã và đang được tiến hành triển khai thực hiện từ năm 2017, đến nay đã hoàn thành 7/11 huyện thành phố, dự kiến trong năm 2018 sẽ thực

Trang 34

hiện hoàn thành 4/11 huyện còn lại và tiến hành tổng kết công tác tổng kiểm kê theo quy định

Về kiểm kê DSVH phi vật thể: Đến năm 2011, thực hiện Thông tư số 04/2010/TT - BVHTTDL, ngày 30/10/2010 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê và lập hồ sơ DSVH phi vật thể để đề nghị đưa vào danh mục DSVH phi vật thể quốc gia công tác kiểm kê DSVH phi vật thể mới được tiến hành một cách tổng thể, đồng bộ trên địa bàn toàn tỉnh trong giai đoạn từ năm 2011 - 2015 Qua công tác kiểm kê đã lập được 3.273 phiếu kiểm kê DSVH phi vật thể của đồng bào các dân tộc trong tỉnh theo quy định tại Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cụ thể: loại hình tiếng nói, chữ viết (306 phiếu); loại hình ngữ văn dân gian (13 phiếu); loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian (383 phiếu); loại hình Tập quán xã hội (1.486 phiếu); loại hình Lễ hội truyền thống (272 phiếu); loại hình Nghề thủ công truyền thống (216 phiếu); Loại hình Tri thức dân gian (597 phiếu) Bên cạnh đó, từ kết quả công tác kiểm kê, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn đã triển khai thực hiện khoảng 17 dự án nghiên cứu, sưu tầm, phục dựng, bảo tồn và phát huy các loại hình lễ hội, dân ca, dân

vũ, cùng nhiều phong tục tập quán truyền thống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh; lựa chọn, lập được 07 hồ sơ khoa học DSVH phi vật thể tiêu biểu của tỉnh để đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là các DSVH phi vật thể cấp quốc gia (gồm: Lễ hội Ná Nhèm - xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn; Lễ hội Bủng Kham - xã Đại Đồng, huyện Tràng Định; Lễ hội Kỳ Cùng – Tả Phủ, thành phố Lạng Sơn; Lễ hội Trò Ngô - xã Yên Thịnh, huyện Hữu Lũng; Di sản Then Tày – Nùng tỉnh Lạng Sơn; Lễ hội Phài Lừa - xã Hồng Phong, huyện Bình Gia; Múa sư tử của người Tày – Nùng tỉnh Lạng Sơn) Đồng thời tiếp tục nghiên cứu lựa chọn các di sản đặc sắc có nguy cơ bị mai một, thất truyền để thực hiện các biện pháp, dự án khôi phục, bảo tồn, phát huy

Trang 35

Dựa trên các điều kiện tự nhiên và điều kiện mang tính đặc thù, có thể nói rằng Lạng Sơn là một trong những địa phương có số lượng DSVH khá lớn, phân bố ở khắp các địa bàn trên toàn tỉnh, phong phú và đa dạng về loại hình với những tính chất và thời đại khác nhau Nhiều DSVH có giá trị lớn mang ý nghĩa quốc gia, có giá trị về các mặt như: văn hóa, dân tộc, tôn giáo, tinh thần, quân sự… Đây là nguồn DSVH dân tộc vô cùng quý giá của Lạng Sơn, đồng thời là nguồn tài nguyên kinh tế du lịch đầy tiềm năng

Thực trạng DSVH trên địa bàn tỉnh

Qua thời gian, hệ thống các DSVH luôn được nhân dân và nhà nước quan tâm, gìn giữ, bảo vệ, tôn tạo, phát huy, tuy nhiên cũng qua quá trình tác động của các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc, do tác động khắc nghiệt của các điều kiện tự nhiên mà một số lượng lớn các DSVH ở Lạng Sơn bị xuống cấp, mai một, đây là một tổn thất lớn trong thực trạng hiện nay Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải nhìn nhận và đánh giá rằng các di tích văn hóa Lạng Sơn đã có vai trò rất lớn trong việc bảo tồn, phát huy, giáo dục truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng cho nhân dân địa phương trong và ngoài tỉnh, góp phần quan trọng vào việc khai thác các tiềm năng du lịch, phát triển kinh tế - xã hội của Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay

Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, trong những năm gần đây công tác bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh ở Lạng Sơn

đã không ngừng đổi mới nhằm tôn tạo kịp thời, đúng với nội dung, ý nghĩa của từng di tích để phát huy giá trị phục vụ kịp thời vào đời sống văn hóa tư tưởng tâm linh của nhân dân và sự nghiệp phát triển toàn diện của đất nước Chính các DSVH này là minh chứng góp phần cho sự hình thành, tồn tại phát triển của tỉnh, của quốc gia, dân tộc và con người văn hóa Lạng Sơn

Trang 36

Tuy vậy, hiện công tác quản lý, tôn tạo và phát huy giá trị di tích ở Lạng Sơn vẫn còn một số hạn chế, bất cập Khá nhiều di tích được tôn tạo, trùng tu trong thời gian qua mới chỉ đảm bảo việc chống xuống cấp; thiếu quy hoạch tổng thể, chưa đầu tư đúng mức nên nhiều di tích chưa trở thành những địa chỉ văn hóa thu hút khách du lịch Một số di tích gắn với lễ hội, tín ngưỡng đang có xu hướng bị thương mại hóa Tình trạng đất đai bị lấn chiếm, xây dựng tùy tiện các hạng mục vẫn chưa được kịp thời xử lý Mô hình quản

lý di tích còn thiếu thống nhất, nguồn thu từ di tích chưa thực sự đầu tư trở lại

để bảo tồn, phát triển Nguyên nhân là do công tác tuyên truyền về di tích và thông tin về di tích còn hạn chế Công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn thiếu định hướng, thiếu những chính sách để khuyến khích, kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân

2.2 Việc ban hành chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Nhận thức rõ những lợi ích, tiềm năng to lớn của nền văn hoá dân tộc

Xứ Lạng trong phát triển kinh tế, văn hóa, giao lưu, đối ngoại,trong thời gian qua, thực hiện tinh thần Nghị quyết Trung ương V khóa VIII của Đảng về

“xây dựng văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc”; Quyết định số 124/2003/QĐ – TTg, ngày 17/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; Nghị quyết số 13 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; Đề án bảo tồn và phát huy giá trị DSVH tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2015…

Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều hoạt động, giải pháp tích cực để khơi dậy, bảo tồn và phát huy vốn DSVH đặc sắc của dân tộc và đã đạt được một số thành tựu cụ thể như: Công tác bảo tồn, phát

Trang 37

huy tinh hoa văn hóa truyền thống các dân tộc được quan tâm, chú trọng Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa cũng như đội ngũ làm công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, các phong trào văn hóa, văn nghệ ở cơ sở phát triển mạnh, việc khai thác sử dụng các làn điệu dân ca, dân

vũ để dàn dựng, cải biên, đặt lời viết thành các tiết mục biểu diễn nghệ thuật được quan tâm, chú trọng…Qua đó, bước đầu xây dựng được một diện mạo

về đời sống văn hóa phong phú, góp phần thu hẹp khoảng cách đời sống văn hóa giữa nông thôn và thành thị, giữa các tầng lớp dân cư, khơi dậy tinh thần bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị DSVH dân tộc trong đông đảo tầng lớp nhân dân, đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Cùng với đó, nhằm bảo tồn, làm giàu và phát huy vốn DSVH gắn với tiềm năng thế mạnh của tỉnh, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã ban hành Chương trình hành động số 116-CTr/TU; UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 53 ngày 29/5/2015 chỉ đạo các cấp, ngành quan tâm hơn nữa tới công tác bảo tồn DSVH dân tộc gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt, ngày 31/8/2016, Ban thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị Quyết số 25- NQ/TU về “Bảo tồn và Phát huy các giá trị DSVH tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 – 2020 và những năm tiếp theo”

2.3 Tình hình thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Các nội dung bảo tồn văn hóa được triển khai thông qua các chương trình phối hợp giữa các cấp, các ngành như: Triển khai thông qua chương trình phối hợp giữa ngành văn hóa - thể thao - du lịch, Hội bảo tồn dân ca các dân tộc tỉnh, Hội Nông dân, Bộ Chỉ huy bộ đội Biên phòng tỉnh, Tỉnh đoàn,

Trang 38

Ban dân tộc, Hội người cao tuổi… với một số nội dung hoạt động cụ thể như đưa văn hóa, thể thao mang đậm tính dân tộc về cơ sở, về các địa bàn vùng sâu vùng xa, địa bàn biên giới Đặc biệt, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

đã triển khai đồng bộ công tác về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH thông qua công tác nghiên cứu, sưu tầm, hệ thống hóa các tư liệu, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp bảo tồn, khai thác giá trị phù hợp và đạt hiệu quả thiết thực

2.3.1 Kết quả đạt được

Công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích được cấp ủy và chính quyền các cấp thường xuyên quan tâm, tăng cường chỉ đạo triển khai thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật Công tác trùng tu, tôn tạo di tích thường xuyên được thực hiện bằng việc huy động nhiều nguồn vốn: từ Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, nguồn ngân sách của tỉnh và nguồn vốn xã hội hóa Chỉ tính từ năm 2013 đến nay, bằng nguồn vốn chương trình mục tiêu Quốc gia chống xuống cấp di tích, nguồn vốn đầu tư phát triển của tỉnh và huy động các nguồn lực xã hội hóa, đã có 53 di tích được tôn tạo với 130 lượt trùng tu và một số dự án xây dựng mới với tổng kinh phí thực hiện là 134 449 triệu đồng Trong đó vốn ngân sách nhà nước là 97 624,91 triệu đồng chiếm 72,6 %, vốn xã hội hóa là 36.824 triệu đồng chiếm 27,4%

Đối với công tác nghiên cứu, sưu tầm phục dựng: Từ 2013 đến nay bằng nguồn vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia và nguồn ngân sách, tỉnh

đã tiến hành triển khai được 26 dự án nghiên cứu, phục dựng, bảo tồn, truyền dạy DSVH phi vật thể với tổng số kinh phí là 2,191 tỷ đồng Trong đó có 16

dự án từ chương trình mục tiêu quốc gia, 04 dự án ngân sách tỉnh, 03 dự án ngân sách huyện và 03 dự án từ nguồn vốn sự nghiệp văn hóa khác Đối với hoạt động truyền dạy các làn điệu dân ca, dân vũ đã có nhiều cách làm hay góp phần vào bảo tồn và duy trì sự bền vững của những DSVH Tỉnh tổ chức

Trang 39

mở các lớp truyền dạy; khuyến khích xã hội hóa các câu lạc bộ hát then đàn tính, các nghệ nhân tại cơ sở tham gia truyền dạy cho hội viên và quần chúng nhân dân yêu thích các làn điệu dân ca Ngành Văn hóa đã tổ chức truyền dạy được 01 lớp Hát sli dân tộc Nùng tại thôn Tềnh Slung, xã Gia Cát, huyện Cao Lộc; 01 lớp hát Lượn dân tộc Tày tại xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình; 01 lớp Dân ca Sán Chỉ, tại xã Nhượng Bạn, huyện Lộc Bình; gần 15 lớp hát then đàn tính cho các hạt nhân văn nghệ quần chúng (tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh và tại các huyện như Văn Lãng, Chi Lăng, Bình Gia, Văn Quan ), đã tổ chức truyền dạy được 01 lớp Hát sli dân tộc Nùng tại thôn Tềnh Slung, xã Gia Cát, huyện Cao Lộc; 01 lớp hát lượn dân tộc Tày tại xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình; 01 lớp Dân ca Sán Chỉ, tại xã Nhượng Bạn, huyện Lộc Bình; gần 15 lớp hát then đàn tính cho các hạt nhân văn nghệ quần chúng (tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh và tại các huyện như Văn Lãng, Chi Lăng, Bình Gia, Văn Quan ); đưa loại hình hát then vào chương trình đào tạo Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật tỉnh; chỉ đạo Đoàn nghệ thuật tỉnh, Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh thường xuyên sưu tầm, khai thác chất liệu dân ca, dân vũ dân tộc vào việc dàn dựng, chỉnh lý, nâng cao các chương trình, tiết mục mới để phục vụ các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, đất nước; thực hiện tốt công tác xã hội hóa, phát triển các câu lạc bộ hát then, đàn tính và thành lập Hội bảo tồn dân ca các dân tộc tỉnh Lạng Sơn hoạt động hoàn toàn theo chủ trương xã hội hóa

Đặc biệt, thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị DSVH đặc biệt sau khi Nghị quyết 25 năm 2016 được triển khai Tính riêng trong năm

2017 bằng nguồn vốn chương trình mục tiêu phát triển văn hóa, ngân sách nhà nước và các nguồn lực xã hội hóa, quá trình phục hồi, tôn tạo, chống xuống cấp các di tích xếp hạng các cấp cơ bản thực hiện theo đúng nguyên

Trang 40

tắc, quy trình, thủ tục trong quản lý đầu tư, xây dựng và Luật DSVH, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản hướng dẫn thi hành

Kết quả, năm 2017 đã có 13 di tích đã bảo quản, tu bổ, phục hồi với tổng kinh phí hơn 3,6 tỉ đồng (trong đó ngân sách TW: 0; ngân sách tỉnh: 655,169 triệu đồng, ngân sách huyện: 0; xã hội hóa 3.025,926 triệu đồng) Ngoài ra hiện có 05 di tích đã và đang tiến hành các quy trình, thủ tục tu bổ tôn tạo với tổng kinh phí khoảng 22, 794 tỷ (trong đó nhà nước 0,694 tỷ, xã hội hóa 22, 1 tỷ Cụ thể là: Từ kinh phí xã hội hóa gồm: Đền Kỳ Cùng 15 tỷ, Đền Cửa Đông 2 tỷ, Chùa Bắc Nga 3 tỷ, Đền Cửa Bắc 2,1 tỷ; từ kinh phí nhà nước Khu di tích Hoàng Văn Thụ, huyện Văn Lãng 0,694 tỷ) Đến năm 2018 vừa qua, các cấp chính quyền và ngành Văn hóa Lạng Sơn đã thực hiện tốt công tác bảo tồn, phát huy DSVH, như hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dựng công trình Đền thờ Liệt sĩ huyện Bắc Sơn Xếp hạng di tích cấp tỉnh đối với Thác Bản Khiếng, huyện Lộc Bình; đón nhận bằng chứng nhận văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội Trò Ngô (xã Yên Thịnh, huyện Hữu Lũng), Múa sư tử dân tộc Tày - Nùng và Lễ hội Phai Lừa (xã Hồng Phong, huyện Bình Gia); hoàn thiện hồ sơ khoa học Hát sli dân tộc Nùng đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục DSVH phi vật thể Quốc gia Phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cho

4 xã An toàn khu và Vùng An toàn khu huyện Bắc Sơn đến năm 2025; Đề án xây dựng và phát triển Khu di tích Chi Lăng, huyện Chi Lăng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035

Bên cạnh đó, hoạt động khai thác, phát huy giá trị di tích trên địa bàn tỉnh ngày càng được quan tâm, chú trọng và có những chuyển biến tích cực, thông qua nhiều hoạt động như: đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích; xây dựng các tuyến du lịch gắn liền với các di tích trọng điểm trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là các loại hình du lịch tâm linh, du lịch văn hóa gắn với du lịch mua sắm; tổ

Ngày đăng: 01/07/2019, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w