1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn thành phố hà giang, tỉnh hà giang

99 83 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững và trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững ở

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÃ THANH HUYỀN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ GIANG, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN DANH SƠN

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ bất cứ luận văn của một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên

Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2018

Tác giả

Lã Thanh Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 8

1.1 Một số khái niệm 8 1.2 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững 10 1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững 13 1.4 Chủ thể và các bên liên quan trong thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững 17 1.5 Chính sách phát triển du lịch bền vững của Việt Nam 20 1.6 Kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững 22

Chương 2.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

DU LỊCH BỀN VỮNG THÀNH PHỐ HÀ GIANG, TỈNH HÀ GIANG 27

2.1 Khái quát về du lịch thành phố Hà Giang 27 2.2 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững ở thành phố Hà Giang thời gian qua 30

Chương 3.GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ

HÀ GIANG, TỈNH HÀ GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI 52

3.1 Quan điểm phát triển du lịch theo hướng bền vững ở thành phố Hà Giang52 3.2 Mục tiêu và định hướng phát triển du lịch bền vững 54 3.3 Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn thành phố Hà Giang 60

KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT

KH-CN Khoa học - Công nghệ

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hà Giang là một tỉnh miền núi, biên giới cực Bắc của Tổ quốc tiếp giáp với Cao Bằng ở phía Đông; phía Nam giáp với Tuyên Quang; phía Tây và Tây Nam giáp với tỉnh Lào Cai và Yên Bái Là tỉnh giữ vị trí vai trò là cửa ngõ phía Bắc của Tổ quốc, được thiên nhiên ban tặng cho nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, hùng vĩ hòa trộn với những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số đã tạo nên nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn thuận lợi để phát triển du lịch Trong Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Hà Giang được đánh giá là một trong những địa phương giàu tiềm năng, có lợi thế phát triển du lịch và giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển du lịch chung của vùng cũng như cả nước

Là trung tâm của tỉnh, thành phố Hà Giang đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Hà Giang Trong Quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh, thành phố đã được xác định rõ định hướng trở thành trung tâm du lịch của toàn tỉnh Là cửa ngõ vào Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, thành phố Hà Giang có đầy đủ các điều kiện cần thiết cả về tự nhiên và văn hóa xã hội để khai thác tài nguyên du lịch

và phát triển du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn theo hướng bền vững Trong tương lai, với định hướng phát triển các trung tâm dịch vụ, thương mại; trung tâm hành chính; các điểm sinh thái, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe chất lượng cao; trung tâm thể dục - thể thao, vui chơi giải trí thành phố Hà Giang càng có nhiều thuận lợi để củng cố và thể hiện vai trò kết nối, trung tâm của mình Cùng với đó, ngay trên địa bàn thành phố cũng có nhiều cảnh quan hấp dẫn, nhiều điểm du lịch cộng đồng kết hợp với tìm hiểu, khám phá, trải

Trang 7

nghiệm văn hóa bản địa, các khu du lịch sinh thái,các khu du lịch tâm linh, các di tích, tài nguyên du lịch văn hóa những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa này là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển sản phẩm thương hiệu du lịch xanh trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Thực tế trong những năm gần đây, du lịch thành phố Hà Giang đã có sự tăng trưởng đáng kể Tuy nhiên, sự phát triển của ngành du lịch thành phố thời gian qua chưa thực sự ổn định, hiệu quả và đặc biệt chưa tương xứng với tiềm năng cũng như yêu cầu phát triển Nhiều tài nguyên, thế mạnh của thành phố chưa được đầu tư, khai thác Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch còn ở cấp độ thấp; Lượng khách du lịch tuy có tăng nhưng chủ yếu coi Thành phố Hà Giang như là một điểm trung chuyển; Các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn nhỏ lẻ; chưa tạo ra được những sản phẩm du lịch đặc trưng,

có chất lượng, mang thương hiệu để hấp dẫn khách du lịch Việc xây dựng và quảng bá hình ảnh du lịch chưa được khai thác tích cực để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng,

Các kết quả tích cực cũng như những tồn tại trong phát triển du lịch ở thành phố Hà Giang thời gian qua có nguyên nhân bắt nguồn từ chính sách và thực hiện chính sách liên quan tới phát triển du lịch

Để góp phần hiện thực hóa nhiệm vụ phát triển du lịch phù hợp với yêu

cần thực tiễn của thành phố Hà Giang em lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang” để làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Du lịch được xác định được phát triển trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn ở nước ta và ở các địa phương Do vậy, phát triển du lịch bền vững ngày càng được quan tâm chú ý đặc biệt ở nước ta Phát triển du lịch bền vững

Trang 8

được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu cả ở cấp độ quốc gia và cả ở cấp độ địa phương, như:

- Viện nghiên cứu phát triển du lịch (2017), Phát triển du lịch Việt Nam: Những yêu cầu đạt ra trong thời kỳ mới, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia

“Nhu cầu và xu hướng mới trong phát triển du lịch”, tổ chức tại Hà Nội, ngày 31/5/2017

- Phùng Quang Thắng (2017), Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp du lịch Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia

“Nhu cầu và xu hướng mới trong phát triển du lịch”, tổ chức tại Hà Nội, ngày 31/5/2017

- Đỗ Thị Thanh Hoa và cộng sự (2017), Quản lý nhà nước đối với sự dịch chuyển lao động du lịch trong quá trình hội nhập cộng đồng ASEAN, Đề tài nghiên cứu KHCN cấp bộ, Viện nghiên cứu phát triển du lịch

- Trần Thị Lan và cộng sự (2017), Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng khu vực ven biển vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, Đề tài nghiên cứu KHCN cấp bộ, Viện nghiên cứu phát triển du lịch

- Nguyễn Quốc Hưng và cộng sự (2014), Đề xuất tiêu chí đánh giá thương hiệu kinh doanh du lịch Việt nam, Đề tài nghiên cứu KHCN cấp bộ, Viện nghiên cứu phát triển du lịch

- Tác giả Hoàng Thị Thu Hương (2013), với đề tài: Phát triển du lịch Quảng Nam theo hướng bền vững, Luận văn thạc sĩ, Viện khoa học xã hội Vùng Trung Bộ

Trang 9

- Tác giả Nguyễn Thị Vinh (2013), với nghiên cứu về đề tài: Chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội

Các nghiên cứu trên đã nghiên cứu về hoạt động phát triển du lịch bền vững ở những khía cạnh khác nhau, các cơ sở lý luận, thực tiễn được phân tích và làm rõ giúp tác giả có cái nhìn khách quan trong nghiên cứu của mình Tuy nhiên, cho đến nay, trong số các chủ đề phát triển du lịch bền vững ở nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu về thực hiện chính sách phát triển

du lịch bền vững ở thành phố Hà Giang Các công trình khoa học nều trên đã cung cấp các luận cứ khoa học giúp tác giả thực hiện các nghiên cứu của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững và trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững ở một địa bàn cụ thể (thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang) trong thời gian qua, đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: thực hiện nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững

Thứ hai: Nghiên cứu, làm rõ thực trạng thực hiện các chính sách phát triển du lịch bền vững ở thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang trong giai đoạn nghiên cứu

Trang 10

Thứ ba: Đề xuất mục tiêu, định hướng, giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững trong thời gian tới từ thực tiễn thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Hà Giang

4.2.Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: đề tài phân tích đối tượng nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Giang

- Về thời gian: giai đoạn 2016 đến nay (2018) và tầm nhìn đến năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học, trong

đó chủ yếu vận dụng cách tiếp cận chính sách công về chu trình thực hiện chính sách từ lập kế hoạch cho đến tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin kết hợp với phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến các vấn đề phát triển du lịch bền vững, bao gồm hệ thống văn bản pháp luật, các văn kiện, tài liệu, nghị quyêt, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới chính sách và thực hiện chính sách phát triển du lịch, khai thác tiềm năng du lịch theo hướng bền vững

Trang 11

- Phương pháp phân tích chính sách: được sử dụng trong phân tích, đánh giá thực hiện chính sách phát triển du lịch theo hướng bền vững ở địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để thu thập và tham vấn về các phát hiện phân tích, đánh giá thực hiện chính sách phát triển du lịch theo hướng bền vững cũng như các đề xuất về giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: được sử dụng để đánh giá thực

tế cũng như tiếp xúc trực tiếp với các bên liên quan (cán bộ quản lý du lịch, doanh nghiệp du lịch…)

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận văn

Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận là khái quát và hệ thống hóa một

số cơ sở khoa học về thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp những nhận xét, đánh giá cùng các minh chứng, chứng cứ về lý luận, kinh nghiệm thực tiễn được tổng kết về thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn thành phố Hà Giang trong thời gian gần đây Đồng thời đề xuất những giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn thành phố Hà Giang trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương cụ thể:

Trang 12

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững

ở thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang

Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang trong thời gian tới

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Du lịch và phát triển du lịch bền vững

1.1.1.1 Du lịch

Có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch, nhận thức đó trải qua quá trình từ thấp tới cao, từ việc chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Tại Việt Nam, theo các chuyên gia và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực dịch vụ thì“du lịch” là một dạng nghỉ dưỡng sức tham gia tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật

Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm như trên có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch Theo Điều 3, khoản 1, Luật

Du lịch nước ta, ban hành ngày 19/6/2017, thì khái niệm du lịch được hiểu là

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [27]

Trang 14

thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường trong quá trình thực hiện phát triển một lĩnh vực cụ thể [20]

Ngoài ra, phát triển bền vững còn được xem là sự phát triển “bình đẳng

và cân đối” Bình đẳng được hiểu là bình đẳng giữa các nhóm người trong cùng một xã hội Còn tính cân đối được thể hiện ở việc cân đối giữa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội - môi trường

Tiếp sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm “phát triển bền vững” này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường Đó là “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai” [20]

1.1.1.3 Phát triển du lịch bền vững

Du lịch bền vững là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến, nâng cấp và hoàn thiện khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọi người quan tâm trong những năm gần đây

Phát triển du lịch bền vững (Sustainable Tourism) đã được Tổ chức Du lịch thế giới (United National World Tourist Organization, viết tắt là UNWTO) cho rằng phát triển du lịch bền vững đã được hiểu một cách đầy đủ hơn nó được xem xét trên cả ba lĩnh vực kinh tế - xã hội - môi trường

Tại Việt Nam đã có nhiều quan điểm liên quan đến phát triển du lịch bền vững nhưng trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, đề tài sử dụng khái niệm được đưa ra tại Điều 3, khoản 14, Luật Du lịch nước ta xác định: Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu

về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể

Trang 15

tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu

về du lịch trong tương lai [27]

1.1.2 Chính sách công và chính sách phát triển du lịch bền vững

Nghiên cứu về chính sách công đã được đề xuất trong các văn bản pháp luật và nhiều nhà nghiên cứu đưa ra, cụ thể:

Theo tác giả Võ Khánh Vinh (2012), trong nghiên cứu của mình đã đưa

ra quan niệm về chính sách công là một loại chính sách do các chủ thể quản lý nhà nước ban hành và được hiểu là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề phát triển theo mục tiêu tổng thể đã xác định [43, tr.11]

Để đạt được mục đích nghiên cứu, trong phạm vi của luận văn, chính sách phát triển du lịch bền vững được hiểu là các quyết định, chính sách của Nhà nước nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển bền vững về du lịch với các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề phát triển du lịch của đất nước cũng như ở các địa phương trong từng giai đoạn cụ thể

Mục tiêu của chính sách phát triển du lịch bền vững là:Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào tăng trưởng, phát triển kinh tế và bảo tồn, bảo vệ môi trường; Góp phần cải thiện công bằng xã hội trong phát triển; Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng người dân địa phương; Đáp ứng tốt nhu cầu của du khách

1.2 Các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững

1.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện

Các chủ thể, cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực để tham

Trang 16

gia thực thichính sách cơ chế trách nhiệm của các bên tham gia… Dự kiến các nguồn lực: Tài chính, cơ sở vật chất, máy móc, xe cộ, phương tiện, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật…; Thời gian triển khai thực hiện: thời gian duy trì chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm; Kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực thi chính sách: Tiến độ, hình thức, phươngthức kiểm tra giám sát tổ chức thực thi chính sách, trách nhiệm, nhiệm vụ, và quyền hạn của các bên tham gia, biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững …

1.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Phổ biến, tuyên truyền chính sách phát triển bền vững về du lịch thể hiện trong việc thông qua các hình thức, phương pháp nhằm đưa các nội dung của chính sách đến các đối tượng Phải xác định, lựa chọn các kỹ năng, phương pháp phổ biến, tuyên truyền chính sách phù hợp cho từng loại đốitượng Tùy từng đối tượng mà tổ chức các hình thức phổ biến, tuyên truyền và quán triệt thực hiện chính sách phù hợp

1.2.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách

Để thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững, Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước về du lịch là cơ quan có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các hoạt động du lịch trong phạm vi cả nước; Chỉ đạo việc phối hợp hoạt động của các Bộ, ngành và địa phương liên quan trong việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các chương trình quốc gia về phát triển du lịch trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước; Nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ giải pháp,

cơ chế, chính sách về phát triển du lịch

Trang 17

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chủ trì, tham mưu cho Đảng, Nhà nước về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách Ngoài ra, còn

có một số cơ quan Nhà nước có liên quan đến việc thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững gồm: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính; Bộ Thông tin và Truyền thông; Đài truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam; Bộ Ngoại giao; Bộ Công an và Bộ Quốc phòng; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Khoa học Công nghệ; Bộ Y tế; Bộ Giao thông-Vận tải; Bộ Xây dựng; Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn; Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

1.2.4 Duy trì thực hiện chính sách

Để duy trì chính sách cần phải đảm bảo đầy đủ yêu cầu về nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật để thực thi chính sách Nếu việc thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững gặp phải những khó khăn do môi trường du lịch của địa phương thực tế biến động, thì các cơ quan nhà nước trên địa bàn sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững Đồng thời chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, các cơ quan nhà nước có thể kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính để duy trì thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững

1.2.5 Điều chỉnh các quy định chính sách phù hợp với địa phương

Việc điều chỉnh chính sách phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo các nguyên tắc nhất định, tức là chỉ thực hiện điều chỉnh về các biện pháp, giải pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững theo yêu cầu thực tế của bộ, nghành, địa phương, các bên tham gia vào quá trình này.Do đó, các bên tham

Trang 18

gia thực thi chính sách cần phải có những đề xuất điều chỉnh về giải pháp, biện pháp, cơ chế để chính sách thực hiện có hiệu quả, bảo đảm mục tiêu chính sách đã đề ra

1.2.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

Để quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững được diễn ra liên tục và hiệu quả thì các cơ quan quản lý, các chủ thể thực hiện chính sách cần phải có những hành động cụ thể để theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách này Hoạt động theo dõi, kiểm tra và đôn đốc thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát những khó khăn, hạn chế và bất cập trong quá trình thực hiện chính sách

1.2.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách

Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững là nội dung, nhiệm vụ cuối cùng nhưng rất quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách này trong thực tế Qua đánh giá, rút ra những kiến nghị, đề xuất thực hiện mục tiêu đẩy mạnh phát triển du lịch bền vững, nêu bậc những hạn chế, tồn tại và thiếu sót, đưa ra bài học kinh nghiệm và phương hướng, giải pháp trong chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách trong thời gian tới, đưa chính sách phát triển du lịch bền vững của cả nước đạt được những kết quả tốt nhất, có hướng tiếp cận phát triển bền vững phù hợp và hiệu quả hơn trong giai đoạn 2016 - 2020

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững

1.3.1 Nhân tố khách quan

- Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 19

Xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, cạnh tranh khốc liệt và những biến động khó lường hiện nay của tình hình quốc tế có ảnh hưởng rất lớn đối với chính sách phát triển du lịch bền vững của nước ta, điều đó đòi hỏi ngành du lịch cần phải thực sự đổi mới để đón nhận cơ hội và vượt qua thách thức

- Sự đa dạng, phong phú của tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch bao gồm nhiều nội dung, nó có thể là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và cũng có thể là các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của mọi tầng lớp nhân dân, khách du lịch trong và ngoài nước Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa (Luật Du lịch, Điều 3, khoản 4) Sự đa dạng, phong phú về tự nhiên, con người cùng với bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo sẽ tạo nên sự hấp dẫn đối với khách du lịch, qua đó tạo nên nhu cầu khám phá cảnh quan thiên nhiên, con người, văn hóa – xã hội cũng như trải nghiệm trực tiếp ở họ Sự hấp dẫn này,

về phần mình, là yếu tố quan trọng để phát triển du lịch, trong đó thu hút sự tham gia của tất cả các bên liên quan không chỉ tới phát triển du lịch mà còn

cả thực hiện chính sách phát triển du lịch, đặc biệt là các doanh nghiệp, khách

du lịch và cộng đồng dân cư

- Cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch

Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch Chính vì vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật Căn cứ vào các đặc điểm trên có thể hiểu cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đóng góp mọi nhu cầu của khách du lịch

1.3.2 Nhân tố chủ quan

Trang 20

- Nhận thức, ý thức về bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững

Du lịch được khẳng định là một trong những ngành kinh tế quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế liên quan.Bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Hệ thống các văn bản pháp luật quy định bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch đã bước đầu được hình thành, tạo hành lang pháp lý phát triển du lịch bền vững Như vậy, trong thời gian qua, các văn bản quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch được ban hành là một trong những nỗ lực rất lớn của Việt Nam nhằm huy động nguồn lực tổng hợp liên kết các ngành, các địa phương cho du lịch phát triển theo quan điểm, mục tiêu và định hướng

về phát triển bền vững Tuy nhiên, các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch còn thiếu những cơ chế, công cụ pháp lý cụ thể để bảo vệ môi trường, chưa làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc bảo vệ môi trường và những biện pháp khuyến khích cần thiết để đảm bảo thực thi các quy định về bảo vệ môi trường Đây là những nội dung cần được lưu ý khi hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường lĩnh vực

du lịch Ngoài ra, du lịch bền vững còn liên quan đến nhiều vấn đề như văn hóa bản địa, sử dụng lao động địa phương và nâng cao đời sống cho người dân bản địa, giáo dục môi trường, đóng góp cho công tác bảo tồn Tuy nhiên, hành lang pháp lý cho du lịch bền vững hiện nay chưa đề cập đầy đủ đến những vấn đề này, đồng thời thiếu các cơ chế hỗ trợ khuyến khích các cá nhân

tổ chức tham gia vào các mô hình du lịch bền vững

- Chính sách, pháp luật về phát triển du lịch bền vững và năng lực tổ chức thực hiện

Chính sách, pháp luật của Nhà nước tạo nền tảng pháp lý đảm bảo cho

sự phát triển bền vững nói chung và ngành du lịch nói riêng Mỗi quoosc gia

Trang 21

đề có hệ thống pháp luật về quản lý du lịch, các văn bản này là cơ sở quan trọng để hình thành khung môi trường cho sự phát triển ngành du lịch Trên

cơ sở các văn bản quản lý, năng lực tổ chức thực hiện của các chủ thể đóng vai trò cốt lõi thúc đẩy phát triển du lịch bền vững

- Nguồn lực tài chính đầu tư cho phát triển du lịch

Ngành Du lịch Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng tập tring

và đã có các cách thức huy động, khai thác và phát huy nguồn lực vốn xã hội hóa thông qua các phương thức cụ thể: tăng cường đầu tư theo phương thức các chương trình hành động quốc gia, các năm du lịch, trong đó có việc tập trung đầu tư đồng bộ quy hoạch phát triển, đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ

sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch và triển khai các hoạt động xúc tiến quảng bá cho vùng hoặc địa phương theo từng chủ đề; thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua các nguồn đầu tư trực tiếp FDI, các nguồn vốn viện trợ phát triển ODA Nhiều khu du lịch, khách sạn cao cấp, khu nghỉ dưỡng cao cấp (resorts), nhiều hãng lữ hành quốc tế được đầu tư

và khai thác kinh doanh hiệu quả Ngoài ra, phương thức xã hội hóa trong huy động các nguồn lực tài chính đã được triển khai trong giai đoạn vừa qua; các doanh nghiệp đã chủ động tham gia đầu tư quy hoạch, phát triển tài nguyên, sản phẩm du lịch của ngành và địa phương, như trường hợp tỉnh Ninh Bình đã triển khai rất tốt phương thức này

- Sự phối hợp, liên kết giữa các bên liên quan (Nhà nước, Doanh nghiệp, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, Cộng đồng dân cư…)

Du lịch sẽ trở thành ngành công nghiệp đóng góp một phần quan trọng cho phát triển kinh tế ở mỗi địa phương Với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, sự phát triển của ngành công nghiệp du lịch không chỉ do một bên tổ chức thực hiện mà phảo do sự

Trang 22

phối hợp, liên kết giữa các bên lên quan nhưNhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, Cộng đồng dân cư… với những trách nhiệm khác nhau trong sự phát triển du lịch Nếu các mối liên kết này thực sự thành công thì sẽ tạo ra động lực tốt thúc đấy phát triển du lịch và ngược lại Việc bắt tay liên kết trong các hoạt động quảng bá du lịch cũng như trong xây dựng chính sách quản lý, phát triển sản phẩm, nguồn lực du lịch trong những năm qua đã góp phần từng bước định vị thương hiệu du lịch Qua đó có thể thấy, du lịch rất cần một sự phối hợp chặt chẽ, mạnh mẽ, đồng bộ Sự phối hợp đó không chỉ giữa Chính phủ và doanh nghiệp mà ngay giữa các cơ quan thuộc Chính phủ với nhau, giữa Trung ương với địa phương, với các cấp và mạnh hơn nữa

là giữa Nhà nước, doanh nghiệp với từng người dân

1.4 Chủ thể thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững

Trong xu hướng phát triển kinh tế của quốc tế, do cơ chế đặc thù của quá trình đấu tranh của đất nước, chủ thể chính sách công nói chung và chủ thể chính sách phát triển du lịch bền vững là Đảng, các cấp ủy Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài tiếp cận chủ thể thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững là các cơ quan quản lý nhà nước các cấp từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức đoàn thể xã hội trong lĩnh vực du lịch: Các tổ chức kinh doanh du lịch, các bộ ngành quản lý từ Trung ương đến địa phương, cộng đồng người dân ở nơi có hoạt động du lịch và các hội nghề nghiệp du lịch tham gia vào quá trình thực hiện chính sách phát triển bền vững du lịch Chủ thể quan trọng nhất trong thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững tại địa phương là UBND huyện và cơ quan thường thực tham mưu về du lịch tín ngưỡng tâm linh là Phòng Văn hóa vàThông tin huyện; tham mưu về hướng dẫn du lịch trong quần thể khu di tích là Ban Quản lý khu Di tích và thắng cảnh

Trang 23

- Các nhà quản lý và kinh doanh du lịch

Đầu năm 2017, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW về “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”, Nghị quyết chỉ rõ, phát triển

du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và toàn xã hội Tuy nhiên, cần khẳng định trách nhiệm đầu tiên thuộc về những doanh nghiệp kinh doanh du lịch, bởi đây là lực lượng giữ vai trò trụ cột trong ngành kinh tế du lịch, là lực lượng chủ yếu quyết định thành công, tính hiệu quả của các mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đề ra cho toàn ngành So với các nước trong khu vực, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, tuy nhiên, năng lực cạnh tranh chưa cao, nhiều dư địa của ngành còn bị bỏ ngỏ Một trong những nguyên nhân chính được xác định là do công tác quảng bá, xúc tiến du lịch của các doanh nghiệp còn yếu kém Các hoạt động xúc tiến vẫn thường xuyên được doanh nghiệp tổ chức nhưng không tạo được điểm nhấn riêng cho nên hiệu quả thấp Mỗi doanh nghiệp cần dành nguồn kinh phí nhất định để thực hiện công tác này cho đơn vị mình và đóng góp vào quỹ xúc tiến chung của toàn ngành, có cán bộ chuyên trách giàu kinh nghiệm để triển khai xúc tiến, quảng bá sản phẩm Thêm nữa, cần chủ động tiếp cận, nghiên cứu, cập nhật thông tin về chính sách, chế độ của ngành du lịch và ngành liên quan để kịp thời khai thác các ưu đãi, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh

- Cộng đồng dân cư

Du lịch là một hoạt động kinh tế cơ bản của con người được hình thành bởi tương tác xã hội và chỉ thành công nếu giúp cư dân địa phương thông qua việc đóng góp cho các giá trị xã hội, như tham gia, giáo dục và hỗ trợ chính quyền địa phương Đồng thời, sẽ không có một ngành du lịch phát triển đích thực nếu sự phát triển đó đe dọa đến các giá trị và nền văn hóa của cộng đồng

Trang 24

địa phương, hay các lợi ích kinh tế xã hội được tạo ra bởi ngành du lịch không đến được với cộng đồng Du lịch dựa vào cộng đồng hay còn gọi là du lịch cộng đồng không phải là hình thức mới nhưng gần đây đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ bởi những đặc thù riêng, hấp dẫn Như vậy đối với các loại hình du lịch cộng đồng, vai trò và hình ảnh “chủ nhân” của điểm đến sẽ được hình thành và tôn vinh từ chính cộng đồng dân cư khi trực tiếp hay gián tiếp tham gia đón tiếp và thực hiện các dịch vụ du lịch bằng tình yêu, niềm tự hào, sự tự tôn đối với quê hương, dân tộc

- Du khách

Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, được nhiều địa phương tập trung đẩy mạnh, được nhiều doanh nghiệp rót vốn đầu tư , thế nhưng chúng ta hầu như chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về nhu cầu của du khách.Nghịch lý nhất là trong khi chúng ta tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng cho du lịch, có các chính sách thúc đẩy phát triển du lịch thì vấn đề quan trọng nhất là nhu cầu của du khách lại chưa được thật sự chú ý Thậm chí, trong khi nhiều trang chuyên về du lịch hay các tổ chức nước ngoài thực hiện các cuộc khảo sát, thống kê, thăm dò ý kiến du khách khi đến thăm Việt Nam thì bản thân các cơ quan chức năng, đơn vị quản lý đầu ngành hay các điểm đến nổi tiếng của Việt Nam lại rất hiếm khi thực hiện những việc này

- Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp du lịch (các hiệp hội)

Theo quy định pháp luật hiện hành, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về du lịch được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hội Trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp về du lịch được quy định tại Luật du lịch 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) Cụ thể bao gồm: Tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; Tham gia xây dựng, phổ biến, giáo dục, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật, chính sách

Trang 25

về du lịch; Tham gia xúc tiến du lịch, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về du lịch; đánh giá, tư vấn, thẩm định tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, chất lượng dịch vụ cho doanh nghiệp và lao động trong ngành du lịch; xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh cho các hội viên; huy động các nguồn lực xã hội để triển khai hoạt động du lịch theo quy định của pháp luật; Tổ chức triển khai việc thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp, vận động hội viên kinh doanh du lịch bảo đảm chất lượng dịch vụ; Phát hiện và kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về du lịch, bảo vệ môi trường Để hiệp hội thực sự đóng vai trò quan trọng trong hoạt động các doanh nghiệp, cần thành lập các hội chuyên ngành như lữ hành, khách sạn, vận chuyển ở cấp địa phương và trung ương để tập trung chuyên sâu vào từng lĩnh vực hoạt động cụ thể

1.5 Chính sách phát triển du lịch bền vững của Việt Nam

Đầu năm 2017, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó xác định quan điểm và mục tiêu như sau:

Về phía Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách về phát triển du lịch theo hướng bền vững, thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật sau :

Luật Du lịch được Quốc hội Khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua năm

2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 và đến năm 2017 được ban hành mới, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 [27]

Trên cơ sở quy định của Luật Du lịch, Chính phủ và các bộ ngành, UBND các địa phương đã cụ thể hóa thành các chính sách cụ thể, thể hiện trong các nghị định, thông tư, quyết định hướng dẫn thi hành, trong đó trước hết phải kể đến: Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính Phủ

Trang 26

quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch và nay là Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 thay thế Nghị định số 92/2007/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch về điều tra, đánh giá, phân loại tài nguyên du lịch [9]; biện pháp bảo đảm an toàn cho khách du lịch đối với những sản phẩm du lịch có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của khách du lịch; điều kiện công nhận điểm du lịch, khu du lịch; ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành; cấp, cấp đổi, cấp lại, thu hồi biển hiệu phương tiện vận tải khách du lịch; điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ phục vụ khách du lịch của cơ sở lưu trú du lịch và nguồn hình thành Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số BVHTTDL ngày 15/12/2018 quy định chi tiết một số Điều của Luật Du lịch,

06/2017/TT-có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2018 và thay thế cho một loạt quy định tại các thông tư trước đó (số 88/2008/TT-BVHTTDL ngày 31 tháng 12 năm 2008, số 89/2008/TT-BVHTTDL ngày 31 tháng 12 năm 2008,

số 07/2011/TT-BVHTTDL ngày 07 tháng 6 năm 2011, số BVHTTDL ngày 08 tháng 12 năm 2014, 04/2016/TT-BVHTTDL ngày 29 tháng 6 năm 2016)

19/2014/TT-Trên cơ sở Luật Du lịch và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Du lịch do Trung ương ban hành, UBND các địa phương cũng ban hành các chính sách quản lý phát triển du lịch phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương theo thẩm quyền

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn 2030 tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” tại Quyết định số 201/QĐ-TTg

Trang 27

ngày 22/01/2013; Quyết định số 321/QĐ-TTg ngày 18/02/2012 phê duyệt Chương trình Hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2013-2020; Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 04/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý môi trường du lịch, đảm bảo an ninh an toàn cho khách dulịch Các

bộ ngành có liên quan ban hành chính sách có liên quan về phát triển du lịch, như Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã ban hành Quyết định

số 297/QĐ-BVHTTDL ngày 06/02/2012 phê duyệt Chương trình phối hợp chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện chiến lược phát triển du lịch Việt Nam

Bộ Công an ban hành Thông tư số 44/2011/TT/BCA ngày 29/06/2011 nhằmhướng dẫn cấp giấy phép tham quan, du lịch Việt Nam cho người nước ngoài quá cảnh rất cụ thể và linh hoạt Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT/BCA-BNG ngày 03/01/2012 của của Bộ Công an - Bộ Ngoại giao trong lĩnh vực xuất nhập cảnh; Bộ KHCN ban hành Quyết định số 2292/QĐ-BKHCN ngày 28/8/2012 về Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9372:2012 Tàu thủy lưu trú du lịch - Xếp hạng ;

1.6 Kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững

1.6.1 Kinh nghiệm một số địa phương

1.6.1.1 Kinh nghiệm của thành phố Điện Biên

Năm 2016, toàn tỉnh Điện Biên đã có 145 cơ sở lưu trú du lịch (1 khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao, 2 đạt 3 sao, 5 đạt 2 sao, có 2 doanh nghiệp được cấp Giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế, 1 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa) Tổng lượng khách du lịch đến Điện Biên năm 2016 đạt trên 480.000 lượt, bằng 106% kế hoạch năm, lượng khách quốc tế đến đạt 80.000 lượt, tăng 14,2% so với năm 2015 Doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 710 tỷ đồng, bằng 101,5% kế hoạch năm (tăng 29% so với năm 2015)

Trang 28

Để định hướng phát triển du lịch, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Điện Biên khóa XII đã có Nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 23/5/2016; HĐND tỉnh

có Nghị quyết số 31/NQ-HĐND, ngày 14/10/2016; UBND tỉnh có Quyết định

số 1421/QĐ-UBND ngày 11/11/2016 về phát triển du lịch tỉnh Điện Biên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Để huy động tối đa các nguồn lực, hỗ trợ phát triển du lịch, trước hết, cần tập trung đầu tư, hoàn thiện công tác quy hoạch du lịch, nhất là quy hoạch chi tiết các khu, điểm du lịch đã được xác định trong quy hoạch tổng thể và những khu, điểm phát hiện mới, có nhiều tiềm năng để sớm bổ sung vào quy hoạch tổng thể

Quá trình triển khai phương án về cơ sở, hạ tầng đô thị cần chú trọng

ưu tiên không gian cho các di tích lịch sử và để phát triển hạ tầng du lịch; đẩy mạnh các hoạt động quảng bá du lịch; nghiên cứu tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo mang thương hiệu Điện Biên

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực chủ động của từng người dân, sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan quản lý cũng như của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, trên cơ sở chính sách huy động nguồn lực cởi mở, thông thoáng và hiệu quả, chúng ta có quyền tin tưởng và kỳ vọng

về Điện Biên sẽ sớm trở thành điểm đến hấp dẫn, là trung tâm du lịch thu hút khách của vùng Tây Bắc

1.6.1.2 Kinh nghiệm của thành phố Sơn La

Những năm qua, ngành Du lịch Sơn La đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh, chính trị Năm 2010, du khách đến Sơn La đạt 382.390 lượt người, đến năm 2013 đã tăng lên 1,21 triệu lượt người; lượng khách lưu trú năm 2013 tăng 157% so

Trang 29

với năm 2010 Về doanh thu du lịch xã hội năm 2013 đạt trên 600 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ cơ sở lưu trú đạt trên 340 tỷ đồng, còn lại là doanh thu dịch vụ khác Hiện nay, các điểm tham quan du lịch trong tỉnh đang từng bước được hình thành cùng với đầu tư tôn tạo và bảo tồn các di tích lịch sử danh lam thắng cảnh, như: Nhà ngục Sơn La, Văn bia Lê Thái Tông (Thành phố), Khu du lịch Mộc Châu, Khu du lịch Ngọc Chiến (Mường La)…

Về nhân lực du lịch, năm 2010 toàn tỉnh có trên 900 lao động, đến năm

2013 tăng lên 1.620 lao động, trong đó số lao động đã qua đào tạo là 861 người, chiếm 53,1%, tập huấn ngắn hạn 360 lao động và chưa qua đào tạo 400 lao động Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo khá cao, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phục vụ của ngành du lịch; lao động trong hoạt động lưu trú, tỷ lệ lao động cho một phòng khách sạn, nhà nghỉ chỉ ở mức 0,8 lao động/phòng…

Về hướng dẫn viên, đã cấp 12 thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế cho các đối tượng đủ tiêu chuẩn theo quy định Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có một hướng dẫn viên đang hoạt động trên địa bàn Về thuyết minh viên, đội ngũ thuyết minh viên mới được bố trí ở Bảo tàng tỉnh, Công ty Cổ phần Du lịch Công đoàn, khách sạn Hà Nội, Hương Sen (Thành phố); Hang Dơi, Công ty cổ phần Giống bò sữa, Công ty Chè Mộc Sương (Mộc Châu) còn các khu, điểm tham quan du lịch khác chưa có hoặc chưa được đào tạo, cấp thẻ thuyết minh viên Do chưa hình thành và xác định rõ điểm nhấn du lịch Sơn La nên phần đông khách du lịch trong nước mới chỉ tập trung đến một số điểm tham quan có điều kiện đi lại thuận lợi như ở Mộc Châu Bỏ qua những điểm du lịch mới với những yếu tố thu hút khách đặc sắc về thiên nhiên và văn hoá dân tộc

1.6.2 Bài học kinh nghiệm rút ra

- Lấy hiệu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường là mục tiêu tổng thể của phát triển; chất lượng và thương hiệu là yếu tố quyết định; doanh

Trang 30

nghiệp là động lực, đòn bẩy cho phát triển; cần phân cấp mạnh về quản lý và phi tập trung về không gian là phương châm

- Tập trung đẩy mạnh và chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến quảng bá nhằm vào thị trường mục tiêu theo hướng lấy điểm đến, sản phẩm du lịch và thương hiệu du lịch làm đối tượng xúc tiến trọng tâm; huy động các tổ chức, doanh nghiệp chủ động tham gia theo cơ chế “cùng mục tiêu, cùng chia sẻ”

- Tổ chức phát triển các dịch vụ du lịch tại các điểm phù hợp với đặc điểm tài nguyên du lịch gắn với vùng kinh tế nông nghiệp, văn hóa dân tộc, nhất là các địa bàn trọng điểm du lịch tạo thành các cụm liên kết phát triển mạnh về du lịch

- Tăng cường hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân, phân cấp mạnh về Ban quản lý các khu du lịch và UBND các huyện, thành phố nhằm khai thác tốt tính chủ động, năng động của doanh nghiệp, cộng đồng và vai trò kết nối của Hiệp hội du lịch

- Tăng cường kiểm soát chất lượng, bảo vệ và tôn vinh thương hiệu; huy động tối đa nguồn lực về tài nguyên, tri thức, tài chính trong và ngoài tỉnh; tăng cường hợp tác quốc tế và ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là trong phát triển thương hiệu và xúc tiến quảng bá Hình thành những công ty du lịch có tiềm lực mạnh, thương hiệu nổi bật làm tiên phong cho phát triển dịch vụ

Trang 31

Tiểu kết chương

Chương 1 của luận văn đã đi sâu phân tích, nghiên cứu và làm rõ cơ sở

lý luận về chính sách phát triển du lịch và làm rõ các vấn đề có liên quan Đồng thời, chương này cũng đề cập tới các bước trong quy trình đánh giá thực hiện chính sách công, các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách cũng như các quan điểm, mục tiêu, chính sách phát triển du lịch bền vững của Đảng và Nhà nước Chương này cũng nghiên cứu kinh nghiệm phát triển du lịch theo hướng bền vững của 2 địa phương (Điện Biên và Sơn La) có điều kiện, tiềm năng phát triển du lịch gần với Hà Giang cùng với các bài học kinh nghiệm rút ra

Nội dung nghiên cứu chương này tạo căn cứ lý luận và thực tiễn cho phân tích, đánh giá thực hiện chính sách phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Hà Giang thời gian qua cũng như đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch theo hướng bền vững trong thời gian tới sẽ được trình bày ở các chương tiếp theo

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

DU LỊCH BỀN VỮNG THÀNH PHỐ HÀ GIANG, TỈNH HÀ GIANG

2.1 Khái quát về du lịch thành phố Hà Giang

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa và xã hội của tỉnh Hà Giang, nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh, cách biên giới giữa Việt Nam - Trung Quốc khoảng 23 km và cách Hà Nộikhoảng 318

km Thành phố Hà Giang rộng 135,33 km² và có 71.689 nghìn nhân khẩu gồm 22 sắc tộc khác nhau trong đó người Kinh chiếm 55,7% và người Tày chiếm 22%

Về địa hình: Địa hình của Thành phố Hà Giang nằm trong vùng chuyển

tiếp của các huyện núi đá vùng cao và các huyện núi đất vùng thấp, địa hình chia cắt phức tạp theo hướng nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông Riêng trong ranh giới hành chính của thành phố, địa hình bị chia cắt theo hướng Đông – Tây

Về khí hậu

Thành phố Hà Giang nói riêng cũng như tỉnh Hà Giang nói chung mang đặc điểm của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á Trung Hoa, có 2 mùa rõ rệt, mùa hè khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, khô hạn với đặc điểm như sau: Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; Số giờ nắng trong năm: 1.324,9 giờ; Hướng gió chính là hướng Đông Nam, tốc độ gió trung bình năm là 1,1 m/s, tốc độ gió mạnh nhất là 24 m/s theo nhiều hướng

Trang 33

trong năm; Nhiệt độ không khí trung bình trong năm là 23,3ºC, nhiệt độ không khí cao nhất trung bình trong năm là 28,6ºC, nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình trong năm là 19,6ºC, nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối năm là 1,5ºC, nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối năm là 40,0ºC; Lượng mưa trung bình năm của thành phố Hà Giang là 2.126,7 mm (Theo Niên giám thống kê 2014), lượng mưa ngày lớn nhất trong năm là 256,2 mm (24/5/1973); Độ ẩm tương đối trung bình năm là 79%, độ ẩm tương đối thấp nhất tuyệt đối năm là 6%, độ ẩm tương đối thấp nhất trung bình năm là 63%.Điều kiện khí hậu của thành phố khá ổn định, thuận lợi cho đời sống của người dân địa phương đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi thích hợp với phát triển du lịch

Về tài nguyên rừng và thảm thực vật

Thành phố Hà Giang có tổng diện tích rừng là 8.978,0 ha, chiếm 99,96% diện tích đất tự nhiên Trong đó, rừng sản xuất có diện tích 2.718,4ha, chiếm 91.97% tổng diện tích đất nông nghiệp, chủ yếu là rừng trồng nguyên liệu giấy; rừng phòng hộ 3196,71ha chiếm 33,48%; rừng đặc dụng 1751,53ha chiếm 18,35% Mặc dù lâm nghiệp có tỉ lệ khá cao trong cơ cấu sử dụng đất song phần lớn các loại rừng của thành phố đều là rừng trồng và rừng tái sinh nên chất lượng và trữ lượng không cao

Hệ thảm thực vật tương đối đa dạng với nhiều loại thực vật phát triển trên các địa hình khác nhau Từ những loài thực vật được canh tác bởi người dân địa phương ở khu vực thung lũng cho tới thảm thực vật trải rộng trên các cánh rừng và khu vực đồi núi bao quanh thành phố vừa đóng vai trò bảo vệ môi trường không khí cho thành phố vừa tạo nên những cảnh quan đẹp có thể khai thác phục vụ du lịch

2.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch

Trang 34

Bên cạnh những tài nguyên về điều kiện tự nhiên nhằm tạo ra những tiềm năng du lịch của thành phố thì các tài nguyên sau là lợi thế nhằm phát triển du lịch của thành phố Hà Giang trong thời gian tời

2.1.2.1 Tài nguyên vị thế

Thành phố Hà Giang là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của toàn tỉnh, là cửa ngõ lên Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn; Thành phố cũng là nơi kết nối các tuyến du lịch đến khu di tích quốc gia Ruộng bậc thang huyện Hoàng Su Phì; khu du lịch lòng hồ thủy điện Bắc Mê

và tiếp giáp Cao Bằng; cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy, sang huyện Malypho, châu Văn Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Vị trí này tạo ra những điều kiện thuận lợi để Thành phố Hà Giang vươn lên phát triển du lịch cũng như phát triển nhiều ngành kinh tế khác đưa Thành phố Hà Giang lên một vị thế quan trọng trong sự phát triển chung của toàn Tỉnh và Thành phố

2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Thành phố Hà Giang có lịch sử lâu đời hàng nghìn năm cùng với sự sinh sống và phát triển của 22 dân tộc anh em (Niên giám thống kê năm 2015 của Chi cục Thống kê thành phố Hà Giang) đã tạo nên sự đa dạng về phong

tục, tập quán, văn hóa truyền thống và lễ hội(Phụ lục - Bảng 2.1)

Di tích lịch sử văn hóa Thành phố Hà Giang

Tỉnh Hà Giang nói chung và Thành phố Hà Giang nói riêng là vùng đất giàu truyền thống văn hóa lịch sử Từ xa xưa, vùng đất “trấn biên” địa đầu tổ quốc giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ giang sơn, bờ cõi Trong quá trình sinh sống và chiến đấu của nhân dân các dân tộc toàn tỉnh Hà Giang, trong đó có đồng bào các dân tộc anh em trên địa bàn thành phố đã để lại nhiều di tích lịch sử văn hóa có giá trị, tiêu biểu phải kể đến như: Di tích lịch

sử Kỳ Đài - Quảng trường 26-3 (phường Nguyễn Trãi), nơi ghi dấu Bác Hồ

Trang 35

kính yêu với đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giang Di chỉ khảo cổ Đồi Thông,

Lò Gạch (phường Trần Phú) Di tích đồn Pháp trên đỉnh núi Cấm (phường Nguyễn Trãi), nơi có địa thế hiểm trở mà thực dân Pháp lựa chọn làm nơi xây dựng chốt canh gác quân đội…

Lễ hội, phong tục: Mỗi dân tộc sinh sống trên địa bàn Thành phố Hà

Giang đều có nếp sinh hoạt và tập tục lễ hội riêng góp phần làm nên bản sắc văn hóa đa sắc tộc của Hà Giang Các lễ hội đặc sắc được đánh giá là tài nguyên du lịch gồm lễ hội Lồng Tồng của đồng bào Tày, Nùng; lễ hội Cấp sắc của đồng bào Dao; lễ hội Lẩu then của đồng bào Tày hay Lễ hội bàn Vương của đồng bào dân tộc Dao Bên cạnh các lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn thì Thành phố Hà Giang còn

có nhiều lễ hội mang tính chất tín ngưỡng và văn hóa tâm linh phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân như: Lễ hội Đền, lễ hội đền Thác Con, lễ hội Đường phố Những năm trở lại đây, chính quyền địa phương kết hợp tổ chức Lễ hội Đền với quy mô cấp thành phố, được kết hợp với các tour du lịch tâm linh của các vùng Đông Bắc, Tây Bắc đến với Công viên địa chất toàn

cầu Cao nguyên đá Đồng Văn

Ẩm thực: Hà Giang có nhiều món ẩm thực độc đáo, hấp dẫn du khách

có thể kể đến như: Thắng Cố, Cháo Ấu Tẩu, Thịt trâu khô, Lạp Xường, Xôi

ngũ sắc, Cơm Lam…

2.2 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững ở thành phố Hà Giang thời gian qua

2.2.1 Các văn bản chính sách về phát triển du lịch bền vững của tỉnh Hà Giang

Trên cơ sở Luật Du lịch (ban hành năm 2005 và tiếp đó là năm 2017 có hiệu lực thi hành từ 1/1/2018) đã có những văn bản hướng dẫn thực hiện triển khai phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Giang như sau:

Trang 36

- Nghị định của Chính phủ số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 Quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch năm 2017 (thay thế các Nghị định trước đó hướng dẫn thi hành Luật Du lịch năm 2005)

- Thông tư của Bộ VHTTDL số 06/2017/TT-BVHTTDL ngày 15/12/2017 Quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch

- Công văn của Tổng cục Du lịch số 410/TCDL-VP ngày 16/4/2018 Hướng dẫn thực hiện Luật Du lịch 2017 và các văn bản quy định chi tiết Luật

- Quyết định 91/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30/12/2008 của Bộ trưởng

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020;

- Quyết định số 1646/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2014 của UBND tỉnh Hà Giang về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;

- Nghị quyết số 35/2016/NQ-HĐND ngày 21/7/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang về Quy định một số chính sách khuyến khích phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Hà Giang ưu tiên hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng

và phát triển các loại hình sản phẩm dịch vụ du lịch thiết yếu, có tính cấp bách trong bối cảnh hiện nay;

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang và quy hoạch của các ngành có liên quan tới phát triển du lịch;

- Quyết định số 1313/QĐ-UBND ngày 5/7/2013 của UBND tỉnh Hà Giang về việc phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí lập Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Hà Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;

- Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;

Trang 37

- Nghị quyết số 123/NQ - HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2014 của Hội đồng Nhân dân thông qua Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

- Kế hoạch số 331/KH-UBND ngày 08/08/2017 của UBND tỉnh Hà Giang thực hiện Chương trình số 29-CTr/TU ngày 24/7/2017 của BTV Tỉnh

ủy về thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 của Bộ chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

2.2.2 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững

2.2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Việc xây dựng, điều chỉnh kế hoạch thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững của Thành phố Hà Giang đã góp phần tích cực vào việc quản lý, bảo vệ khai thác tài nguyên du lịch được đúng hướng và chủ động hơn Các đề

án, dự án phát triển du lịch cũng bước đầu phát huy hiệu quả tích cực trong định hướng phát triển cơ sở hạ tầng du lịch theo đúng các mục tiêu định ra Đến nay, Thành phố Hà Giang vẫn chưa xây dựng quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết phát triển du lịch của thành phố Bảng 2.2 khái quát kết quả khảo sát về kế hoạch triển khai chính sách phát triển du lịch bền vững ở thành phố

Hà Giang do tác giả luận văn tiến hành vào tháng 11/2018 với đối tượng là các cán bộ quản lý du lịch và các doanh nghiệp du lịch, các hộ gia đình kinh doan

dịch vụ lưu trú (homestay) trên địa bàn (90phiếu trả lời)(Phụ lục - Bảng 2.2)

Nhìn chung, những năm qua, được sự quan tâm đầu tư và chỉ đạo sâu sát của Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các phòng, ban, ngành có liên quan trong tổ chức thực hiện chính sách, hoạt động du lịch của thành phố Hà Giang đã có bước phát triển vượt bậc đáp ứng cơ bản mục tiêu thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững mà Thành ủy, HĐND, UBND thành phố đề ra Kết quả khảo sát tại bảng 2.2 cho

Trang 38

thấy, kế hoạch được cho là tương đối sát thực tế với 3,06/5 điểm và các kế hoạch này vẫn chưa được điều chỉnh thường xuyên

2.2.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Công tác xúc tiến, quảng bá về du lịch của Thành phố Hà Giang đã bước đầu được quan tâm và thu được những hiệu quả nhất định Phòng Văn hóa thông tin của Thành phố kết hợp với Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch của tỉnh đảm nhiệm các chức năng, nhiệm vụ quảng bá cho du lịch địa phương như: Cung cấp dịch vụ tư vấn, thông tin, nghiệp vụ du lịch; lập dự án đầu tư phát triển du lịch; Nghiên cứu và khai thác thị trường; phát triển sản phẩm du lịch; hoạt động tư vấn kinh doanh lữ hành du lịch trong nước và quốc tế; Trưng bày, giới thiệu và kinh doanh các sản phẩm du lịch, hàng hoá phục vụ du lịch cuả địa phương; Tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ du lịch

và xúc tiến du lịch; Tiếp nhận và quản lý các nguồn kinh phí từ các tổ chức trong nước và quốc tế hỗ trợ phát triển du lịch Hà Giang Thông qua đó hình ảnh mảnh đất và con người Hà Giang nói chung và Thành phố Hà Giang nói riêng đã đến được với đông đảo bạn bè trên cả nước và quốc tế, đồng thời góp phần thu hút khách du lịch và kêu gọi các nhà đầu tư, tạo được tiếng nói và nhận thức khá đồng bộ về du lịch Hà Giang

Tuy nhiên, công tác xúc tiến, quảng bá du lịch của Thành phố Hà Giang chưa được đầu tư bài bản.Việc xúc tiến quảng bá vẫn còn nhỏ lẻ, thiếu chiến lược dài hạn và chủ yếu quảng bá ở thị trường trong nước, sự tham gia của các doanh nghiệp còn quá ít, thiếu chủ động.Chưa phát huy được vai trò của Hiệp hội du lịch trong công tác xúc tiến quảng bá Nguyên nhân là do cả nhận thức và nguồn lực dành cho hoạt động này còn thiếu, chưa huy động được nguồn lực xã hội hóa Sự liên kết, phối hợp giữa các phòng ban liên quan của thành phố (Phòng Văn hóa &Thông tin, Trung tâm VHTT&DL)

Trang 39

vớicác đơn vị trực thuộc tỉnh (Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch, Ban Quản lý Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, Phòng nghiệp

vụ du lịch - Sở VHTT&DL) còn chưa thường xuyên Bảng 2.3 khái quát kết quả khảo sát về hoạt động phổ biến, tuyên truyền chính sách phát triển du lịch

bền vững ở thành phố Hà Giang(Phụ lục - Bảng 2.3)

Thời gian qua, thành phố Hà Giang cũng đã chủ động tham gia một số Hội chợ, hội thảo, triển lãm trong nước, quốc tế tại nước ngoài để quảng bá hình ảnh điểm đến du lịch đặc thù của thành phố Kết quả khảo sát bảng 2.3 cho thấy nội dung và phương pháp tuyên truyền chính sách của các chủ thể thực hiện chính sách được đánh giá tương đối cao (điểm đánh giá trung bình lần lượt là 3,95/5 và 3,28/5), còn hình thức tuyên truyền hiện nay của thành phố chưa thực sự đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả thiết thực trong thúc đẩy phát triển du lịch bền vững (điểm đánh giá trung bình là 2,91/5)

Ngày nay, việc tìm kiếm thông tin du lịch của các du khách chủ yếu thông qua mạng Internet, đặt tour qua website của các công ty lữ hành đã trở nên phổ biến ngày càng được nhiều du khách lựa chọn khi lên kế hoạch cho những chuyến du lịch tại khu vực các núi đá, cao nguyên hùng vĩ

2.2.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Để đảm bảo chính sách phát triển du lịch bền vững của thành phố Hà Giang, được thực hiện một cách đồng bộ, đáp ứng mục tiêu chính sách đề ra, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Giang đã phân công rõ trách nhiệm các cơ quan, phòng, ban, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố “Xây dựng kế hoạch, phân công trách nhiệm triển khai cụ thể cho đơn vị, đồng thời nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách thuộc thẩm quyền của địa phương cũng như kiến nghị Trung ương và Chính phủ xem xét tháo gỡ những khó khăn, hạn chế để thực sự tạo hành lang

Trang 40

thông thoáng cho du lịch phát triển” Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 03 tháng

11 năm 2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố về phát triển du lịch thành phố Hà Giang, giai đoạn 2016 - 2020, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Giang đã giao nhiệm vụ các cơ quan, ban, ngành, các cấp đảm bảo các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết đề ra; có kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện chương trình trong kế hoạch công tác hàng năm và phân công rõ trách nhiệm như sau:

Phòng Văn hoá và Thông tin: Tham mưu, đề xuất UBND thành phố trong việc quản lý nhà nước về du lịch, thường xuyên hướng dẫn theo dõi đôn đốc và phối hợp với các ngành thực hiện tốt kế hoạch về phát triển du lịch trên địa bàn Có kế hoạch gắn các hoạt động văn hoá với hoạt động du lịch, khôi phục các lễ hội truyền thống, văn hoá dân gian Phối hợp với các Phòng, Ban chức năng của Sở Du lịch; Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang thực hiện phát triển du lịch trên địa bàn huyện và hỗ trợ, phát triển các điều kiện phục vụ cơ sở lưu trú tại các điểm Du lịch Chủ động kiểm tra, đôn đốc các đơn

vị xây dựng và triển khai kế hoạch, tổng hợp, báo cáo UBND huyện theo quy định Xuất bản các ấn phẩm du lịch thành phố Hà Giang và các tờ gấp giới thiệu, quảng bá về hình ảnh của các di tích, các điểm trên địa bàn thành phố Tập huấn du lịch cho đội ngũ cán bộ, cộng tác viên, các tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch và dịch vụ du lịch: lưu trú, xúc tiến quảng bá du lịch…

Phòng Tài chính - Kế hoạch: Phối hợp với các ngành liên quan nghiên cứu đề xuất cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực du lịch Tham mưu UBND thành phố có kế hoạch, cơ chế tài chính đảm bảo kinh phí phục vụ cho các hoạt động thực hiện các chỉ tiêu phát triển du lịch

Phòng Kinh tế: Chỉ đạo quy hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ gắn liền với du lịch như: Khuyến khích các thành

Ngày đăng: 01/07/2019, 15:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang (2017), Chương trình số 29-CTr/TU, ngày 24-7-2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang về việc thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16-01-2017 của Bộ Chính Trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình số 29-CTr/TU, ngày 24-7-2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang về việc thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16-01-2017 của Bộ Chính Trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang
Năm: 2017
2. Ban Thường vụ Thành ủy Hà Giang (2017), Kế hoạch số 107-KH/TU ngày 05/9/2017 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Giang về thực hiện Chương trình số 29-CTr/TU ngày 24/7/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính Trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 107-KH/TU ngày 05/9/2017 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Giang về thực hiện Chương trình số 29-CTr/TU ngày 24/7/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính Trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Tác giả: Ban Thường vụ Thành ủy Hà Giang
Năm: 2017
3. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16-01-2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16-01-2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2017
4. Bộ Công an (2011), Thông tư 44/2011/TT/BCA ngày 29/06/2011 về việc Hướng dẫn cấp giấy phép tham quan, du lịch Việt Nam cho người nước ngoài quá cảnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 44/2011/TT/BCA ngày 29/06/2011 về việc Hướng dẫn cấp giấy phép tham quan, du lịch Việt Nam cho người nước ngoài quá cảnh
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2011
5. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), Quyết định Số 297/QĐ- BVHTTDL, ngày 6/2/2012 về việc phê duyệt Chương trình phối hợp chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định Số 297/QĐ-BVHTTDL, ngày 6/2/2012 về việc phê duyệt Chương trình phối hợp chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2012
6. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), Chỉ thị 18/CT-BVHTTDL ngày 6/2/2012 về tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 18/CT-BVHTTDL ngày 6/2/2012 về tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2012
7. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013), Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT ngày 30/12/2013 về việc Hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT ngày 30/12/2013 về việc Hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2013
8. Chính phủ (2007), Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch.Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) được ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch. "Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) được ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
9. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 92/NQ-CP về một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới được Chính phủ ban hành ngày 08/12/2014,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 92/NQ-CP về một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới được Chính phủ ban hành ngày 08/12/2014
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
11. Đảng bộ tỉnh Hà Giang (2015),Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 03/11/ 2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Giang về phát triển du lịch thành phố Hà Giang, giai đoạn 2016 - 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 03/11/
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hà Giang
Năm: 2015
14. Lưu Đức Hải (2009), Phát triển các ngành du lịch trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí số 8 về Tổng quan kinh tế xã hội Việt Nam số 4-2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí số 8 về Tổng quan kinh tế xã hội Việt Nam số 4-2009
Tác giả: Lưu Đức Hải
Năm: 2009
15. Đỗ Thị Thanh Hoa và cộng sự (2017), Quản lý nhà nước đối với sự dịch chuyển lao động du lịch trong quá trình hội nhập cộng đồng ASEAN, Đề tài nghiên cứu KHCN cấp bộ, Viện nghiên cứu phát triển du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với sự dịch chuyển lao động du lịch trong quá trình hội nhập cộng đồng ASEAN
Tác giả: Đỗ Thị Thanh Hoa và cộng sự
Năm: 2017
16. Nguyễn Đình Hòe – Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe – Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
18. Nguyễn Quốc Hưng và cộng sự (2014), Đề xuất tiêu chí đánh giá thương hiệu kinh doanh du lịch Việt nam, Đề tài nghiên cứu KHCN cấp bộ, Viện nghiên cứu phát triển du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất tiêu chí đánh giá thương hiệu kinh doanh du lịch Việt nam, Đề tài nghiên cứu KHCN cấp bộ
Tác giả: Nguyễn Quốc Hưng và cộng sự
Năm: 2014
19. Hoàng Thị Thu Hương (2013), Phát triển du lịch Quảng Nam theo hướng bền vững, Luận văn thạc sĩ, Viện khoa học xã hội Vùng Trung Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch Quảng Nam theo hướng bền vững
Tác giả: Hoàng Thị Thu Hương
Năm: 2013
21. Trần Thị Lan và cộng sự (2017), Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng khu vực ven biển vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, Đề tài nghiên cứu KHCN cấp bộ, Viện nghiên cứu phát triển du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng khu vực ven biển vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc
Tác giả: Trần Thị Lan và cộng sự
Năm: 2017
22. Nguyễn Văn Mạnh (2010), Giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2010
23. Khương Thị Hồng Nhung (2016), Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Khương Thị Hồng Nhung
Năm: 2016
29. PGS.TS. Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Tác giả: PGS.TS. Trần Đức Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
30. Phùng Quang Thắng (2017), Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp du lịch Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Nhu cầu và xu hướng mới trong phát triển du lịch”, tổ chức tại Hà Nội, ngày 31/5/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp du lịch Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, "Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Nhu cầu và xu hướng mới trong phát triển du lịch
Tác giả: Phùng Quang Thắng
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm