Khái niệm khiếu nại, tố cáo - Khái niệm Khiếu nại Theo Luật Khiếu nại năm 2011 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 11/11/2011 thì khiếu nại là việc công d
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ĐÌNH CUNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO TẠI BAN TIẾP CÔNG DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ NGỌC HÙNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan về các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sỹ chính sách công với đề tài “Thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp Công dân thành phố Hà Nội“ là hoàn toàn trung thực và không trùng với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
LÊ ĐÌNH CUNG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 6
1.1 Các khái niệm: Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo 6 1.2 Chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo 15
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TẠI BAN TIẾP CÔNG DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TỪ NĂM 2016 ĐẾN NAY VÀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH 33
2.1 Thực trạng thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp Công dân thành phố Hà Nội từ năm 2016 đến nay 33 2.2 Đánh giá thực trạng và vấn đề đặt ra trong thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp Công dân Thành phố Hà Nội 41 2.3 Nguyên nhân của những vấn đề 42
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TẠI BAN TIẾP CÔNG DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .50
3.1 Đổi mới, hoàn thiện chính sách khiếu nại, tố cáo, đất đai, tiếp công dân 50 3.2 Đổi mới cơ chế thực hiện công tác xử lý đơn khiếu nại, tố cáo 56 3.3 Đổi mới cơ chế, chính sách để nâng cao chất lượng, trình độ cán bộ, công chức thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo 60 3.4 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo 61
KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTCDTP HN Ban Tiếp Công dân thành phố Hà Nội NCĐ Người có đơn (công dân, tổ chức)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật
về giải quyết khiếu nại, tố cáo Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận
và giải quyết khiếu nại, tố cáo Do vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo là một nhiệm
vụ quan trọng thường xuyên của các cơ quan hành chính nhà nước Giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng, kịp thời làm giảm các bức xúc của người khiếu kiện, giảm bớt tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, tràn lan đến nhiều cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan Đảng, chính trị - xã hội, giảm bớt công sức, thời gian cho cán bộ, công chức, giảm chi phí vật chất cho xã hội; góp phần đảm bảo
an toàn trật tự xã hội
Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội là cơ quan có nhiệm vụ tiếp công dân và phân loại, xử lý bước đầu nội dung khiếu nại, tố cáo được tiếp nhận trực tiếp tại Trụ sở tiếp công dân thành phố hoặc qua đường bưu điện hoặc do các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chuyển đến, Ban Tiếp công dân thành phố Trên cơ sở đó, tham mưu cho Chủ tịch UBND thành phố quyết định thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết khiếu nại, tố cáo, hoặc chỉ đạo Chủ tịch UBND cấp huyện, giám đốc cấp sở xem xét giải quyết theo thẩm quyền Từ năm 2016 đến nay, trung bình hằng năm, Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội xử lý khoảng 17.000 đơn thư các loại liên quan các vấn đề kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của cá nhân, tổ chức, góp phần làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Tuy nhiên, hiện nay, còn nhiều bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật ảnh hưởng đến công tác giải quyết quyết khiếu nại, tố cáo, trong đó có việc tiếp công dân, xử lý bước đầu nội dung khiếu nại, tố cáo Chất lượng xử lý nội dung khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội có nhiều trường hợp còn chưa tốt, phân loại không chính xác, nhầm lẫn giữa đơn tố cáo
Trang 6nội dung khiếu nại, tố cáo trong một đơn, chưa xác định được nội dung khiếu nại, tố cáo đủ điều kiện xử lý, không đủ điều kiện xử lý; khiếu nại, tố cáo thuộc thầm quyền và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND thành phố Từ đó, gây khó khăn cho việc xem xét, giải quyết, trả lời người khiếu nại,
tố cáo hoặc đẩy người khiếu nại, tố cáo vào tình thế không được trả lời, giải quyết hoặc không trả lời, giải quyết đầy đủ Góp phần gây ra tình trạng lòng vòng, luẩn quẩn trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị với nhau, làm mất thời gian, tốn kém vật chất, khó khăn trong quản lý nhà nước, đặc biệt là gây bức xúc cho người khiếu nại, tố cáo, giảm lòng tin vào cơ quan nhà nước Ngoài ra, nhận thức pháp luật và thái độ của người khiếu nại, tố cáo cũng là một vấn đề gây khó khăn cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Xuất phát từ lý do trên, học viên đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ Chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành chính sách công
về việc thực hiện chính sách trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, như chính sách công đối với giáo dục, y tế, chính sách an sinh xã hội, chính sách xóa đói, giảm nghèo Tuy nhiên, rất ít các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Xem xét kỹ có thể thấy 4 đề tài nghiên cứu đã được thực hiện về giải quyết khiếu nại, tố cáo Cụ thể: Luận văn thạc sĩ “Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội – Thực trạng và giải pháp” của Lê Thị Sáu, khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại ở thành phố Hà Nội” của Lê Hồng Oanh Ngọc, Học viện Hành chính thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Luận văn tiến sỹ “Giải quyết khiếu nại hành chính trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam” của Hoàng Ngọc Dũng, Học viện Hành chính quốc gia và đề tài khoa học cấp tỉnh “Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả
Trang 7giải quyết khiếu nại, tố cáo ở tỉnh Quảng Bình” của Văn phòng UBND tỉnh
Quảng Bình
Nhưng các luận văn, đề tài này đều xem xét hoạt động giải quyết khiếu nại tố cáo nói chung ở địa bàn, lĩnh vực nghiên cứu mà không đi sâu tìm hiểu từ góc độ chức năng, nhiệm vụ của một tổ chức chuyên trách như Ban Tiếp công dân của thành phố Hà Nội
Trong khi đó, tình hình khiếu nại tố cáo của công dân có nhiều diễn biến phức tạp đòi hỏi phải được nghiên cứu, lý giải và giải quyết một cách hợp lý, đúng pháp luật, chủ trương chính sách đem lại sự đồng thuận của toàn xã hội
Do vậy, rất cần thực hiện công trình nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ chính sách công về đề tài này Luận văn thạc sĩ Chính sách công về đề tài này mang ý nghĩa
lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những khái niệm giải quyết khiếu nại, tố cáo và chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo, những vấn đề đặt ra của chính sách giải quyết khiếu nại,
tố cáo
Trang 8- Đánh giá thực trạng chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội
- Đưa ra các kiến nghị cụ thể để hoàn thiện chính sách quyết khiếu nại, tố cáo và các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực trạng về chính
sách giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực trạng thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực trạng về chính
sách giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực trạng thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội từ năm 2016 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận: việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, về khiếu nại, tố cáo
5.2 Phương pháp nghiên cứu: phân tích dựa trên tài liệu có sẵn, các văn
bản quy định chính sách về xử lý đơn, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo
Các tài liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm: báo cáo hằng năm của UBND thành phố Hà Nội, Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội; sách, tạp chí, các báo cáo khoa học, các thông tin trên các website có nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận: luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
về chính sách công giải quyết khiếu nại tố cáo và hệ thống hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, phân tích, tìm ra những hạn chế, bất cập của quy định pháp luật
Trang 96.2 Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần tổng kết kinh nghiệm về công
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo từ thực tiễn Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội Từ đó đưa ra các giải pháp thực tiễn góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Khái quát về khiếu nại, tố cáo và chính sách giải quyết khiếu
nại, tố cáo
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại
Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội và vấn đề chính sách từ năm 2016 đến nay
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện chính
sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội
Trang 10Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ CHÍNH SÁCH
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
1.1 Các khái niệm: Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.1.1 Khái niệm khiếu nại, tố cáo
- Khái niệm Khiếu nại
Theo Luật Khiếu nại năm 2011 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 11/11/2011 thì khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Khoản 1, Điều 2)
- Khái niệm Tố cáo:
Theo Luật Tố cáo năm 2011 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 11/11/2011 thì tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (khoản 1, Điều 2)
1.1.2 Khái niệm về quyền khiếu nại, tố cáo
Từ khi thành lập đến nay, nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy định về quyền khiếu nại, tố cáo Cụ thể:
- Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ban hành ngày 09/11/1946
quy định nguyên tắc “đảm bảo các quyền tự do dân chủ và thực hiện chính
Trang 11quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân“ và “công dân có quyền tự do ngôn luận“ (Điều 10)
- Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ban hành ngày 31/12/1959
quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân
viên cơ quan Nhà nước” (Điều 29)
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày
18/12/1980 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường Nghiêm cấm việc trả thù người khiến nại, tố cáo.” (Điều 73)
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày
15/4/1992 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời
xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.(Điều 74)
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày
25/11/2013 quy định: “1 Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ
Trang 12chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân
2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật
3 Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.” (Điều 30)
Như trên có thể thấy, mặc dù Hiến pháp năm 1946 chưa đề cập trực tiếp đến quyền khiếu nại, tố cáo nhưng Nhà nước ta đã xác định rất rõ nguyên
tắc các quyền tự do dân chủ và thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân, tạo tiền đề cho việc cụ thể hóa quyền khiếu nại, tố cáo ở các bản hiến
pháp sửa đổi sau này Ở các giai đoạn tiếp theo, quyền khiếu nại, tố cáo liên tục được đề cập chi tiết, cụ thể hơn, trong đó có trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết
Khái quát toàn bộ 5 bản Hiến pháp nêu trên, có thể khẳng định: quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền hiến định cơ bản của công dân Việt Nam, có tính chất chính trị và pháp lý của công dân,thể hiện sâu sắc bản chất dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đây là nền tảng cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của công dân
1.1.3 Khái niệm giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Giải quyết khiếu nại: theo Luật Khiếu nại năm 2011 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 11/11/2011 thì giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại
Trong đó, việc thụ lý được quy định “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 của Luật này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý giải quyết; thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại,
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh
Trang 13tra nhà nước cùng cấp biết, trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ
lý do.” (Điều 27)
- Giải quyết tố cáo: theo Luật Tố cáo năm 2011 do Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 11/11/2011 thì giải quyết tố cáo
là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của
người giải quyết tố cáo Trong đó, việc tiếp nhận được quy định: “Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn tố cáo, phải kiểm tra, xác minh họ, tên, địa chỉ của người tố cáo
và quyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết tố cáo, đồng thời thông báo cho người tố cáo biết lý do việc không thụ lý, nếu có yêu cầu; trường hợp phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn kiểm tra, xác minh có thể dài hơn nhưng không quá 15 ngày” (Khoản 1, Điều 20)
Luật Tiếp Công dân năm 2013, tại Điều 8 khoản 5 quy định Trách nhiệm
của người tiếp công dân:“Trực tiếp xử lý hoặc phân loại, chuyển đơn, trình người có thẩm quyền xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho công dân” Tại Điều 26, khoản 1, điểm a quy định: “Trường hợp khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình và đủ điều kiện thụ lý thì người tiếp công dân tiếp nhận thông tin, tài liệu, chứng cứ kèm theo, đồng thời báo cáo với người có thẩm quyền thụ lý”
1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của giải quyết khiếu nại, tố cáo
Giải quyết khiếu nại, tố cáo có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước, xã hội Cụ thể như sau:
- Thể hiện trách nhiệm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Mọi khiếu nại, tố cáo phải được giải quyết đầy đủ Căn cứ kết quả giải quyết, người
có thẩm quyền trả lời đầy đủ, khẳng định nội dung khiếu nại, tố cáo là đúng, sai hay có đúng có sai Từ đó, thực hiện các biện pháp đảm bảo quyền lợi của công
Trang 14dân hoặc làm căn cứ để công dân tiếp tục thực hiện các quyền khiếu nại, tố cáo tiếp của mình hoặc quyền tố tụng hành chính
- Kiểm tra lại chính sách, luật pháp, quy trình quản lý nhà nước Nhà nước thực hiện các biện pháp quản lý bằng các công cụ chính sách Khi các công cụ chính sách tác động vào đời sống xã hội, ngoài ý nghĩa tích cực còn có tiêu cực, phát sinh khiếu nại, tố cáo Do đó, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những cách nhà nước thấy được những bất hợp lý, kể cả về luật pháp, từ đó giải quyết quyền lợi cho công dân và chỉnh sửa các chính sách, luật pháp cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống
- Thước đo trách nhiệm, năng lực, phẩm chất của lãnh đạo quản lý đơn vị, địa phương Một địa phương, đơn vị để phát sinh và tồn đọng nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo phần nào đó thể hiện phẩm chất năng lực, trình độ và trách nhiệm của người lãnh đạo đứng đầu còn hạn chế Khả năng giải quyết dứt điểm, triệt để, không để tồn đọng kéo dài thể hiện một phẩm chất tốt của người lãnh đạo
- Đảm bảo ổn định trật tự xã hội Việc giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo sẽ làm giảm bức xúc trong xã hội, không để những công dân có khiếu nại, tố cáo chậm được giải quyết liên kết với nhau thành những đám đông, tập trung khiếu kiện, gây bất ổn, tạo thành những mảng xấu trong bức tranh đời sống xã hội, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Không để vấn đề khiếu nại, tố cáo trở thành vấn đề an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
- Phát huy dân chủ trong mọi mặt đời sống xã hội, bảo đảm mọi người dân đều có quyền tham gia xây dựng đất nước Không chỉ bảo vệ quyền lợi của mình, mọi người dân đều có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi chung của cộng đồng
xã hội, của đất nước Khi thấy quyền lợi, sự an toàn của cộng đồng bị hoặc có nguy cơ bị xâm hại, mọi công dân đều có quyền phát ngôn, bày tỏ chính kiến thông qua khiếu nại, tố cáo Do vậy, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo là thể hiện
sự bảo đảm quyền dân chủ cho mỗi công dân
Trang 15- Nắm được tâm tư, nguyện vọng của công dân Muốn quản lý, điều hành
ổn định xã hội đòi hỏi nhà nước phải thường xuyên nắm được tâm tư, nguyện vọng của mọi người dân Thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, người lãnh đạo có thể nắm được tâm tư, nguyện vọng của một bộ phận nhân dân ở khu vực
có khiếu nại, tố cáo Từ đó, nghiên cứu, tìm hiểu rõ nguyên nhân và có những biện pháp xử lý phù hợp
Vì là khâu đầu tiên của quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo nên công tác tiếp công dân, xử lý đơn cũng có ý nghĩa quan trọng Việc tiếp xúc ban đầu với công dân, là khâu đầu tiên của sự tiếp cận, tiếp nhận, phân tích, trao đổi thông tin, là lần đầu tiên đại diện của cơ quan nhà nước tiếp xúc với công dân để chuẩn
bị thực hiện quy trình giải quyết Do vậy, ấn tượng, cảm xúc về cơ quan nhà nước đã bắt đầu hình thành trong suy nghĩ của công dân Việc tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo trong quá trình tiếp công dân, nghiên cứu kỹ nội dung đơn trong quá trình xử lý đơn cũng chính là thể hiện trách nhiệm của đại diện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, rà soát, kiểm tra lại các chính sách, pháp luật, quy trình quản lý nhà nước, phát huy cao dân chủ, thể hiện năng lực, phẩm chất của người cán bộ
1.1.5 Vai trò của Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội trong giải quyết khiếu nại, tố cáo
Căn cứ Luật Tiếp Công dân năm 2013 và Quyết định số UBNDngày 28 tháng 02 năm 2017 của UBND thành phố Hà Nội, Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội trực tiếp quản lý Trụ sở tiếp công dân thành phố Hà Nội; phối hợp cùng đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan tổ chức, thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân để tiếp nhận các kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật; Là cơ quan đầu mối xử lý bước đầu tất cả các đơn thư kiến nghị, phản ánh, khiếu nại,
1466/QĐ-tố cáo theo quy định của pháp luật; Phân loại, xử lý đơn kiến nghị, phản ánh,
Trang 16hoặc qua đường bưu điện hoặc do các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chuyển đến Ủy ban nhân dân thành phố, Ban Tiếp công dân thành phố, cơ quan,
tổ chức tham gia tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân thành phố Trên cơ sở
đó, tham mưu cho Chủ tịch UBND thành phố: 1) Quyết định thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết khiếu nại, tố cáo; 2) Chỉ đạo, giao nhiệm vụ cho Chủ tịch UBND cấp huyện, thủ trưởng cấp sở xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo; 3) Đôn đốc theo dõi kết quả thực hiện
Như vậy, có thể nói, Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội là cơ quan tham mưu, giúp việc đầu tiên cho Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo bên cạnh các cơ quan khác giúp việc ở các giai đoạn tiếp theo như: Thanh tra thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Với một thành phố Thủ đô có quy mô dân
số khoảng hơn 7 triệu người và khoảng 3 triệu người vãng lai (tính đến năm
2017, theo nguồn của Cục Thống kế thành phố Hà Nội năm 2017), thì trách nhiệm, vai trò của Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội là rất lớn bên cạnh vai trò, trách nhiệm của Chủ tịch UBND thành phố đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, mà cụ thể là công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư của Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội
Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội có vai trò, trách nhiệm giúp Chủ tịch UBND thành phố giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo ngay từ khâu ban đầu là tiếp xúc với nhân dân, xử lý đơn, thể hiện bản chất tốt đẹp của nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, chủ động kiểm tra lại những chính sách, quy trình quản lý nhà nước do mình ban hành hoặc áp dụng thực hiện, để tự khắc phục, phát huy cao tinh thần dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, góp phần đảm bảo ổn định xã hội Đồng thời, nắm chắc được tâm tư, nguyện vọng của công dân Từ đó, nghiên cứu, tìm hiểu rõ nguyên nhân và có những biện pháp xử lý phù hợp Việc tiếp công dân và xử lý đơn chính xác, đầy đủ, kịp thời sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ
và nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo và cung cấp thông tin, trả lời
Trang 17công dân Cơ cấu, tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Ban Tiếp công dân thành
phố Hà Nội được thể hiện qua 2 mô hình dưới đây (Quyết định số
1466/QĐ-UBND ngày 28 tháng 02 năm 2017 của 1466/QĐ-UBND thành phố Hà Nội):
Hình 1.1: MÔ HÌNH TỔ CHỨC BAN TIẾP CÔNG DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Nhiệm vụ chủ yếu: Tiếp công dân và xử lý đơn thường xuyên, định kỳ,
đột xuất tại 02 trụ sở tiếp công dân Thành phố: Số 34 Lý Thái Tổ, quận Hoàn
Kiếm và số 20 Hoàng Diệu, quận Hà Đông, Hà Nội
- Chức năng, nhiệm vụ của phòng Tiếp công dân và xử lý đơn: Thực hiện
tiếp công dân, xử lý tình trạng đoàn đông người tập trung khiếu kiện không đúng
quy định, phục vụ Lãnh đạo UBND thành phố tiếp công dân, phối hợp với các
cơ quan tiếp công dân tại Trụ sở; xử lý đơn từ các nguồn chuyển đến UBND
thành phố
- Chức năng, nhiệm vụ của phòng Tổng hợp: Tham mưu tổng hợp, giúp
UBND thành phố, Chủ tịch UBND thành phố trong chỉ đạo, điều hành liên quan
đến công tác giải quyết quyết khiếu nại, tố cáo, làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ:
Trang 18phối hợp thẩm định, dự thảo các văn bản chỉ đạo, quyết định giải quyết khiếu
nại, kết luận giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND thành phố
- Chức năng, nhiệm vụ của phòng Kiểm tra: Thực hiện theo dõi, kiểm tra,
đôn đốc việc tổ chức thực hiên các Quyết định giải quyết khiếu nại, Kết luận
giải quyết tố cáo, văn bản chỉ đạo của Chủ tịch UBND thành phố đối với các
đơn vị
Hình 1.2: QUY TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA BAN TIẾP CÔNG DÂN THÀNH PHỐ
Trang 191.2 Chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Như trên đã nêu, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán
bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định
kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại
Tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo
Chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định hướng Chính sách công có vai trò rất quan trọng trong quản lý nhà nước thể hiện qua các mặt: định hướng cho các hoạt động kinh tế - xã hội; khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động kinh tế - xã hội theo định hướng; phát huy những mặt tốt, khắc phục những hạn chế của thị trường; tạo lập cân đối trong phát triển; kiểm soát và phân bổ nguồn lực xã hội; tăng cường phối hợp hoạt động giữa các cấp chính
quyền (Giáo trình Tổng quan chính sách công của PGS.TS Hồ Việt Hạnh)
Chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo là một loại chính sách công và tập trung vào giải quyết vấn đề khiếu nại, tố cáo, giải quyết mối quan hệ khiếu nại,
tố cáo giữa công dân với nhà nước, giữa người khiếu nại, tố cáo, người bị khiếu nại, tố cáo, người giải quyết khiếu nại, tố cáo và người có liên quan
Trang 20Đặc điểm của chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo là chỉ có người có thẩm quyền của các cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo Chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo có nhiều nội dung và được thực hiện theo một quy trình cụ thể, trong đó, việc tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo là những khâu ban đầu của quy trình (thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại hoặc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử
lý tố cáo của người giải quyết tố cáo) Tiếp công dân, xử lý đơn là khâu ban đầu giúp định hướng chính xác việc giải quyết khiếu nại, tố cáo vì khi giải quyết khiếu nại, tố cáo, người có thẩm quyền phải trả lời câu hỏi: ai khiếu nại, tố cáo
và khiếu nại, tố cáo về vấn đề gì? Câu trả lời này phải được làm rõ ngay từ ban đầu, tại khâu tiếp công dân và xử lý đơn
1.2.2 Những nội dung cơ bản của chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Chỉ đạo của Đảng về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Từ năm 2002 trở lại đây, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương có nhiều chỉ đạo về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, như: Chỉ thị 09/CT-TW, ngày 06/3/2002 của Ban Bí thư, Thông báo số 130/TB-TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại,
tố cáo, Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Cụ thể như sau:
Tình hình khiếu nại, tố cáo nói chung và khiếu nại, tố cáo liên quan đến tham nhũng, hoạt động tư pháp, tôn giáo còn diễn biến phức tạp Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, kéo dài, vượt cấp có xu hướng gia tăng, một số vụ việc manh động, quá khích, có sự kích động, hỗ trợ của các phần tử xấu; cá biệt
có trường hợp cực đoan, quyết liệt chống lại người thi hành công vụ Nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai, tranh chấp tài sản chưa được giải quyết dứt điểm, để kéo dài, gây bức xúc, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh “điểm nóng” về an ninh trật tự Một số vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đúng
Trang 21chính sách, pháp luật, nhưng không được chấp hành nghiêm túc Tình hình trên
đã tác động tiêu cực đến việc phát triển kinh tế - xã hội, tạo cớ để các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng chống phá, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước
Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, thiếu sót là: chính sách pháp luật còn bất cập, chưa phù hợp với thực tế Công tác tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức và trách nhiệm thực hiện pháp luật cho cán bộ, đảng viên, công chức
và công dân còn hạn chế Công tác lãnh đạo và tổ chức thực hiện của nhiều cấp
ủy, tổ chức đảng, chính quyền chưa sâu sát, thiếu quyết liệt; người đứng đầu một
số cơ quan, tổ chức chưa quan tâm đúng mức đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo Việc xử lý, khắc phục sai phạm chưa nghiêm Quan
hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức chưa chặt chẽ; đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân và tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa được quan tâm, củng cố đúng mức
Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Bộ Chính trị yêu cầu các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu:
(1) Quán triệt đầy đủ, thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại,
tố cáo Cần nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Làm tốt công tác này là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng và hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước
Trang 22(2) Hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích của người dân, nhất là trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên, đầu tư, tài chính , bảo đảm tính đồng bộ phù hợp thực tiễn Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng nâng cao thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan thanh tra; của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện chức năng giám sát; của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
(3) Phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước; lấy hiệu quả của công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo làm tiêu chí đánh giá năng lực, kết quả công tác Người đứng đầu tổ chức đảng, chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về tình hình khiếu nại, tố cáo và công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi địa bàn, lĩnh vực phụ trách Thực hiện nghiêm chế độ tiếp công dân theo quy định của Luật Tiếp công dân, gắn việc tiếp công dân với xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh Chú trọng tiếp công dân tại cơ sở, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của người dân Chủ động đối thoại, vận động, thuyết phục công dân để giải quyết, tháo gỡ triệt để khiếu kiện, bức xúc của nhân dân
(4) Kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân và tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo có phẩm chất đạo đức tốt, tinh thông nghiệp vụ,
có khả năng hướng dẫn, giải thích, thuyết phục để công dân hiểu và chấp hành đúng pháp luật Bố trí trụ sở, trang bị phương tiện và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác tiếp công dân, bảo đảm thuận lợi cho công dân
và cán bộ, công chức tiếp công dân
Như vậy có thể nói, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được Đảng ta quan tâm chỉ đạo sâu sắc, toàn diện, trong đó đã nhấn mạnh sâu về công tác tiếp công dân, khâu đầu tiên và là nội dung không thể tách rời trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trang 23- Các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo: Từ khi thành lập nước
(2/9/1945) đến nay, các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo liên tục được xây dựng và không ngừng hoàn thiện qua từng thời kỳ Đến nay, chính sách khiếu nại, tố cáo được thể hiện đầy đủ ở các văn bản: Luật Khiếu nại năm 2011, Luật
Tố cáo năm 2011 và Luật Tiếp Công dân năm 2013, Luật Đất đai năm 2013 và nhiều văn bản nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện khác Nội dung này được trình bày kỹ ở phần sau
1.2.3 Quá trình hình thành chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam
- Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập
Ban Thanh tra đặc biệt với trách nhiệm “Nhận đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra hỏi chứng, xem xét các giấy tờ của Ủy ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám sát” Ngày 18/12/1949, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 138b-SL thành lập Ban Thanh tra Chính phủ
(thay cho Ban Thanh tra đặc biệt), trong đó có chức năng “thanh tra sự khiếu nại của nhân dân”
- Năm 1954, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 436/TTg ngày 13/9/1958 quy định về trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của cơ quan chính quyền trong việc giải quyết các loại đơn thư khiếu nại, tố cáocủa nhân dân
xác định: “Nghiên cứu và giải quyết các việc khiếu nại và tố giác của nhân dân
là một trách nhiệm quan trọng của tất cả các cơ quan nhà nước trước nhân dân” Ủy ban Thanh tra của Chính phủ ban hành Thông tư số 60/UBTT ngày
22/5/1971 hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân
- Năm 1981, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh quy định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, tập trung vào một số vấn đề, tập trung vào một số vấn đề:
+ Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà
Trang 24kinh tế, văn hoá, xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc cơ quan, đơn vị, tổ chức đó làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của tập
thể và quyền lợi chính đáng của công dân Như vậy, có thể thấy rằng, đối tượng
của khiếu nại là rất rộng và không có sự phân biệt với tố cáo
+ Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, ngoài việc xác định trách nhiệm giải quyết khiếu nại là thủ trưởng các cơ quan nhà nước, Pháp lệnh còn quy định
cả Chủ nhiệm hợp tác xã và Trưởng tập đoàn sản xuất, điều này là xuất phát từ tình hình kinh tế xã hội thời kỳ chỉ có 2 thành phần kinh tế chủ đạo là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể
+ Pháp lệnh quy định cơ chế giải quyết khiếu nại: Các khiếu nại đối với nhân viên thuộc cơ quan, tổ chức nào thì thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cơ quan,
tổ chức đó có trách nhiệm xét, giải quyết Các khiếu nại đối với thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức nào thì thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm xét, giải quyết
- Năm 1991, Nhà nước ta ban hành Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân thay thế cho Pháp lệnh năm 1981, có nhiều nội dung phát triển hơn trước
+ Về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân: Công dân cần khiếu nại, tố
cáo đến đúng cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khắc phục tình trạng đơn thư khiếu tố gửi tràn lan, vượt cấp, gây lãng phí về thời gian và công sức cho quá trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo
+ Đưa ra hai khái niệm khiếu nại và tố cáo với những đặc trưng của nó
Xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết đối với từng loại vụ việc Quy
định trình tự và thủ tục tiếp nhận và giải quyết khiếu nại tương đối chặt chẽ, tạo
điều kiện để công dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình, đồng thời cũng giúp các cơ quan nhà nước có trách nhiệm có thể thực hiện việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo một cách nền nếp
+ Quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết đối với vụ việc khiếu nại và
tố cáo, nhất là đối với khiếu nại, theo đó một vụ việc khiếu nại sẽ được giải
Trang 25quyết qua ba lần: (1) Cơ quan có thẩm quyền đầu tiên là cơ quan có quyết định hoặc hành vi hành chính bị khiếu nại; (2) Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tiếp theo là tổ chức thanh tra nhà nước cấp trên trực tiếp; (3) Cơ quan có thẩm quyền giải quyết cuối cùng là thủ trưởng của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp với tổ chức thanh tra đó
- Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998:
Những nội dung đáng chú ý:
+ Mở rộng đối tượng, phạm vi điều chỉnh quyền khiếu nại, (thêm cơ quan,
tổ chức), mở rộng chủ thể và đối tượng khiếu nại là cán bộ, công chức có quyền khiếu nại các quyết định kỷ luật của Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước Ngoài ra, Luật Khiếu nại, tố cáo còn quy định cá nhân, tổ chức nước ngoài làm
ăn tại Việt Nam có quyền khiếu nại thì thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp có các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với quốc gia đó có quy định khác thì ưu tiên thực hiện theo điều quốc quốc tế đó
+ Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại: quy định thẩm quyền giải quyết
khiếu nại hành chính là Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước Theo nguyên tắc này thì cấp giải quyết khiếu nại lần đầu là Thủ trưởng cơ quan hành chính có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại, bao gồm cả hành vi các cán bộ trong cơ quan đó; cấp thứ hai là Thủ trưởng cơ quan cấp trên của cơ quan
bị khiếu nại Cá biệt có thể qua ba cấp giải quyết: lần đầu là Thủ trưởng cơ quan của cơ quan thuộc Chính phủ, lần hai là Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, lần ba là Tổng Thanh tra Nhà nước
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã quy định Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Cụ thể: Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đã giải quyết nhưng còn khiếu nại, trừ khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng; khiếu nại đặc biệt phức tạp liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh
Trang 26Về thẩm quyền giải quyết tố cáo: Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cấp trên sẽ xem xét, giải quyết, các cơ quan thanh tra Nhà nước tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp giải quyết tố cáo hành vi của cán bộ, công chức
Thẩm quyền của cơ quan Thanh tra nhà nước: quy định cơ quan thanh tra có chức năng tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp giải quyết khiếu nại Tuy nhiên, trong trường hợp được Thủ trưởng cơ quan hành chính cùng cấp ủy quyền thì cơ quan Thanh tra có thẩm quyền trực tiếp giải quyết khiếu nại Theo cơ chế này thì Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho Tổng Thanh tra Nhà nước và Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện uỷ quyền cho Chánh Thanh tra cùng cấp giải quyết những khiếu nại thuộc thẩm quyền của mình
Để kiểm tra, xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, Luật Khiếu nại, tố cáo đã quy định Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng khi có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân hoặc có tình tiết mới
Quy định trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại là phải công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại; được triệu tập các bên đương sự và những người có liên quan để tổ chức đối thoại Quy định này nhằm tăng cường tính công khai minh bạch, dân chủ nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại + Tổ chức tiếp công dân: Trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải tiếp công dân và tổ chức công tác tiếp công dân của cơ quan mình; quy định cụ thể trách nhiệm của cán bộ tiếp dân, quyền và nghĩa vụ của công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004:
+ Bỏ quy định Thủ tướng Chính phủ trực tiếp giải quyết những khiếu nại
mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đã giải quyết những còn có khiếu nại, những khiếu nại đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, thay vào đó là thẩm quyền lãnh đạo công tác giải
Trang 27quyết khiếu nại trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và chỉ đạo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ giải quyết khiếu nại đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước
+ Tổng Thanh tra ngoài trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thẩm quyền
và giải quyết các khiếu nại theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ như các Bộ trưởng khác, còn có trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ giải quyết khiếu nại có liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước; giúp Thủ tướng Chính phủ xem xét lại các quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch UBND cấp tỉnh
Đối với Chánh Thanh tra các cấp, các ngành, Luật không quy định giải quyết khiếu nại theo uỷ quyền của Thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp mà chỉ
có trách nhiệm xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp
+ Mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu nại hành chính:
nếu người khiếu nại không đồng ý với việc giải quyêt khiếu nại lần đầu của Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án (trước đây thẩm quyền giải quyết là Thủ tướng Chính phủ)
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005:
+ Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại: công dân, cơ quan, tổ chức nếu không đồng ý với quyết định hành chính, hành vi hành chính thì khiếu nại đến người đã ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính, để giải quyết khiếu nại lần 1 Nếu không đồng ý với việc giải quyết, người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Thủ trưởng cơ quan hành chính cấp trên của cơ quan đã ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính, để giải quyết khiếu nại lần 2 hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án
+ Về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại và người bị khiếu nại: Quy
Trang 28khiếu nại thay người khiếu nại và bổ sung thêm quy định về uỷ quyền khiếu nại
Bổ sung quyền “nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình khiếu nại”; quyền được “biết các bằng chứng để làm căn cứ giải quyết khiếu nại; đưa ra bằng chứng về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về bằng chứng đó”;
“biết thông tin, tài liệu của việc giải quyết khiếu nại”; quyền kiến nghị với cấp
trên trực tiếp của người không giải quyết khiếu nại để xem xét xử lý kỷ luật người đó
+ Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại: Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai không có quyền trực tiếp sửa đổi, huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính mà chỉ có quyền yêu cầu người có quyết định hành chính
bị khiếu nại thực hiện việc đó trong trường hợp khiếu nại là đúng hoặc đúng một
phần Việc kết luận về nội dung khiếu nại được quy định rõ ràng hơn: “Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ” Việc công bố
công khai quyết định giải quyết khiếu nại lần hai là một thủ tục bắt buộc
- Luật Tố cáo năm 2011, năm 2018; Luật Khiếu nại năm 2011; Luật Tiếp Công dân năm 2013; Luật Đất đai năm 2013
Đây là những luật có nhiều thay đổi so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm
1998, thể hiện sự phát triển về luật pháp, đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và quy định rõ trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo Các nội dung cụ thể được phân tích ở phần dưới đây
1.2.4 Luật Tố cáo năm 2011, năm 2018, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tiếp Công dân năm 2013, Luật Đất đai năm 2013 và đổi mới cơ bản về giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.2.4.1 Luật Tố cáo năm 2011 và năm 2018:
- Về phạm vi: quy định đối với 02 nhóm hành vi vi phạm pháp luật: tố cáo
và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo và giải quyết tố cáo
Trang 29đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
- Quy định cụ thể và đầy đủ hơn về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo Cụ thể là:
+ Quyền, nghĩa vụ của người tố cáo: quy định bổ sung người tố cáo có
quyền giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác và các cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo đảm quyền này của người tố cáo Nghĩa vụ phải nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình và có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra
+ Quyền, nghĩa vụ của người bị tố cáo: Quyền được nhận thông báo kết
quả giải quyết tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; được xin lỗi, cải chính công khai do việc tố cáo, giải quyết tố cáo không đúng gây ra
Nghĩa vụ giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra
+ Quyền, nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo (Điều 11): Yêu cầu người
tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo, giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo; tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và kết luận về nội dung tố cáo; quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan,
Trang 30Người giải quyết tố cáo có các nghĩa vụ: Bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải quyết tố cáo; áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp để bảo vệ người tố cáo
- Về thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ:
+ Quy định cụ thể hơn nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ Quy định cụ thể, chi tiết về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi
vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước
- Về thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực:
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó
có trách nhiệm giải quyết Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Tố cáo có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều cơ quan thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm quyền giải quyết hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao cho một cơ quan chủ trì giải quyết
- Về việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo:
Việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán
bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được Luật Tố cáo quy định cụ thể hơn về trách nhiệm phân loại và xử lý của người giải quyết tố cao, thời hạn kiểm tra, xác minh hay thời hạn chuyển đơn tố cáo và các quy định
cụ thể về các trường hợp người có thẩm quyền không thụ lý giải quyết tố cáo
Trang 31Việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản
lý nhà nước trong các lĩnh vực được thực hiện như đối với tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, trừ trường hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ
sở để xử lý ngay
- Về xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo:
Bao gồm việc xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; Xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Ngày 12/6/2018, Quốc hội đã tiếp tục ban hành Luật Tố cáo thay Luật Tố cáo năm 2011 nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giải quyết tố cáo, cụ thể hóa quy định mới của Hiến pháp về quyền con người, quyền cơ bản của công dân, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, khắc phục những bất cập của Luật Tố cáo hiện hành: quy định chủ thể tố cáo là “cá nhân” để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và đã
mở rộng chủ thể tố cáo hơn so với Luật năm 2011 (là công dân); Sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo để đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải quyết tố cáo hiện nay; Quy định cụ thể về hình thức tố cáo, đồng thời cụ thể hóa quy trình tiếp nhận tố cáo;
Bổ sung quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về điều kiện thụ lý tố cáo (Điều 29), điều kiện giải quyết lại vụ việc tố cáo (Điều 37)
- Một số nội dung liên quan tiếp công dân, xử lý đơn:
Trong quá trình thực hiện Luật Tố cáo, vấn đề tiếp công dân, xử lý đơn có vai trò quan trọng thể hiện ở những nội dung: thay mặt cho người có thẩm quyền giải quyết tố cáo để tiếp xúc ban đầu với người tố cáo nhằm xác định nhân thân,
Trang 32toàn cho người tố cáo; thông báo, cung cấp thông tin kết quả giải quyết tố cáo và các vấn đề có liên quan
1.2.4.2 Luật Khiếu nại năm 2011
- Điều chỉnh quan hệ khiếu nại giữa cơ quan, tổ chức, công dân với cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước; việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức; việc tổ chức tiếp công dân và giám sát giải quyết khiếu nại
- Về trình tự khiếu nại:
Quy định mới về trình tự khiếu nại theo hướng tạo điều kiện thuận lợi trong việc lựa chọn các hình thức giải quyết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành
vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp
của mình, người khiếu nại có thể lựa chọn một trong hai cách: một là, khiếu nại đến người có quyết định hành chính, hành vi hành chính, hai là, khởi kiện vụ
án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính Đối với
quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, nếu
có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, thì người khiếu nại yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính Riêng khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, nếu người khiếu nại không đồng ý với kết quả giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì khiếu nại đến Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý ngành để được giải quyết hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính
- Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại và luật sư:
Trang 33Người khiếu nại có quyền được ủy quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; được biết, đọc, sao chụp, sao chép và xem các tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại; được yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại, cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình để giao nộp cho người giải quyết khiếu nại
Việc quy định như trên góp phần tạo ra sự bình đẳng hơn về mặt pháp lý giữa người khiếu nại và người bị khiếu nại; đảm bảo tính khách quan, công khai, dân chủ trong giải quyết khiếu nại
- Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại:
Đã làm rõ và bổ sung nhiều quy định mới về thẩm tra, xác minh vụ việc khiếu nại; quyền, nghĩa vụ của luật sư Việc gặp gỡ, đối thoại, tranh luận là thủ tục trong quá trình giải quyết, phải được tiến hành công khai, dân chủ, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
có liên quan tham dự Đối với những vụ việc phức tạp, trước khi ra quyết định
giải quyết, nếu thấy cần thiết người giải quyết khiếu nại có thể thành lập Hội đồng tư vấn để tham khảo ý kiến Để đảm bảo tính minh bạch trong giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết phải công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại
- Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật:
Bổ sung xác định rõ những người có trách nhiệm thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật bao gồm: người giải quyết khiếu nại, người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan
và cơ quan, tổ chức hữu quan Các quy định này nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, đồng thời đảm bảo tính khả thi trong việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật, tăng cường trách nhiệm, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức
Trang 34- Về khiếu nại, giải quyết khiếu nại kỷ luật cán bộ, công chức:
Quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức theo phân cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định
kỷ luật do mình ban hành Trường hợp còn khiếu nại tiếp thì người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết tiếp theo Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại
- Việc tổ chức tiếp công dân:
Quy định cụ thể về trụ sở tiếp công dân, nơi tiếp công dân; việc tiếp công dân của Thủ trưởng các cơ quan nhà nước; trách nhiệm của cán bộ tiếp công dân; quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại nơi tiếp công dân; xử lý hành vi vi phạm đối với người tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1.2.4.3 Luật Tiếp Công dân năm 2013
- Việc tổ chức tiếp công dân: Quy định việc tiếp công dân được tổ chức
tại: trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước, bộ, cơ quan ngang
Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh; trách nhiệm tiếp công dân của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn
- Quyền và nghĩa vụ của công dân, quyền và nghĩa vụ của cán bộ tiếp công dân:
+ Về quyền và nghĩa vụ của công dân:được hướng dẫn, giải thích, trả lời
về những nội dung mình trình bày; được quyền khiếu nại, tố cáo với Thủ trưởng trực tiếp của người tiếp công dân; Quy định các nghĩa vụ của công dân khi đến nơi tiếp công dân
+ Quyền và nghĩa vụ của cán bộ tiếp công dân: tôn trọng, cầu thị đối với công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; hướng dẫn công dân trình bày
Trang 35đầy đủ, rõ ràng nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh Bên cạnh các nghĩa vụ nêu trên, Luật cũng quy định một số quyền của cán bộ tiếp công dân
- Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác tiếp công dân: Quy định trách nhiệm chung của người đứng đầu cơ quan, tổ
chức, đơn vị trong công tác tiếp công dân; trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân của Thủ trưởng các bộ, ngành Trung ương và các sở, ngành địa phương, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Ban Tiếp công dân: Tiếp
công dân để nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của công dân về những vấn đề liên quan đến đường lối, chính sách, pháp luật và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền nghiên cứu, tiếp thu, xem xét, giải quyết; tiếp nhận khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng cơ quan
+ Về cơ cấu, tổ chức: Ban Tiếp công dân có Trưởng ban, Phó trưởng ban
và cán bộ tiếp công dân Đối với cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp phụ trách công tác tiếp công dân
1.2.4.4 Luật Đất đai năm 2013
Luật Đất đai năm 2013 được xây dựng đáp ứng nhiều yêu cầu trong đó có việc giải quyết các vướng mắc, bất cập trong quản lý, sử dụng đất đai, giảm các khiếu kiện
- Quy định giải quyết khiếu kiện về đất đai tại Điều 204:
“1 Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai
2 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại Trình
tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về
Trang 36- Quy định giải quyết tố cáo về đất đai tại Điều 205
“1 Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai
2 Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo”
Với tỷ lệ chiếm trên 70% các vụ việc khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo về đất đai trở thành vấn đề nóng đối với các cấp chính quyền, cơ quan nhà nước Công tác tiếp công dân, xử lý, phân loại đơn thư đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về các kiến thức pháp luật về đất đai, trên cơ sở đó cán bộ tiếp công dân mới có đủ khả năng tham mưu cho Chủ tịch UBND các cấp chỉ đạo, quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo Như vậy, có thể nói, công tác tiếp công dân, xử lý đơn có vai trò rất lớn trong việc xác định được vấn đề, nội dung khiếu nại, tố cáo liên quan đất đai và tiến hành giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định
Tiểu kết chương
Chương này đề cập đến khái niệm khiếu nại, tố cáo, chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhà nước ta từ khi thành lập (năm 1945) đến nay, vai trò, ý nghĩa của giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động quản lý nhà nước, xã hội; đặc biệt là vai trò của Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội trong quá trình thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo thông qua bảng vẽ về Mô hình tổ chức và bảng vẽ Quy trình thực hiện chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Ban Tiếp công dân thành phố Hà Nội Bên cạnh đó, chương 1 cũng đã khái quát những nội dung cơ bản và quá trình hình thành chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo của Việt Nam Qua từng thời kỳ, các luật về Tố cáo, Khiếu nại, Tiếp Công dân
và Đất đai liên quan trực tiếp đến chính sách giải quyết khiếu nại, tố cáo đã liên tục được bổ sung, chỉnh sửa theo hướng rõ ràng, minh bạch, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, như quyền khiếu nại, tố cáo, hình thức khiếu nại, tố cáo, quy trình tiếp nhận, thụ lý, giải quyết và trả lời với thời hạn, cách thức cụ thể Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công dân, tổ chức thực hiện quyền và việc giám sát việc thực hiện của các
cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo