II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đề tài nhằm đưa ra được các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài động, thực vật nguy cấp, quý, hiếm: Lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus), Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Gà Tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum), góp phần vào việc bảo tồn ĐDSH, bảo vệ rừng tại Khu BTTN Pù Hu. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để thực hiện đề tài trên, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 1. Phương pháp kế thừa số liệu. Thu thập tài liệu, số liệu có liên quan tới hướng nghiên cứu do các nhà nghiên cứu trước đây đã đưa ra để làm cơ sở cho nghiên cứu. 2. Phương pháp chuyên gia. Tham khảo, tham vấn các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực động vật, đa dạng sinh học đặc biệt là các chuyên gia về những loài nghiên cứu … 3. Phương pháp điều tra phỏng vấn. Phỏng vấn trực tiếp Kiểm lâm, người dân địa phương, thợ săn,.. tại các bản vùng đệm khu BTTN Pù Hu. Câu hỏi phỏng vấn được thiết kế theo dạng câu hỏi mở và câu hỏi đóng. Nội dung tập trung vào đối tượng nghiên cứu (sự phân bố, số lượng còn lại và số lượng bị săn bắn, khai thác, các nguy cơ đe dọa), kết hợp phỏng vấn, thu thập số liệu súng săn trên địa bàn qua 05 năm gần đây. 4. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu ngoài thực địa. 4.1. Phương pháp điều tra theo tuyến, theo OTC. 4.2. Phương pháp điểm nghe. 4.3. Phương pháp đặt bẫy ảnh. 5. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu. Các số liệu được thống kê và phân tích bằng chương trình thống kê Excel, ảnh, bản đồ được xử lý và chỉnh sửa bằng chương trình MapInfo.
Trang 1Phần 1 LỜI NÓI ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Chúng ta đã biết, Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với conngười, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, an sinh xã hội và bảo
vệ môi trường sinh thái, điều hòa khí hậu, điều tiến nguồn nước Đặc biệt, trongnhững năm chiến tranh rừng còn có vai trò rất to lớn, như Nhà thơ Tố Hữu đãnói trong bài thơ Việt Bắc:
“….Nhớ khi giặc đến giặc lùng;
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây;
Núi giăng thành lũy sắt dày;
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù…”
Ngày nay, diện tích rừng của nước ta đang bị suy giảm một cách nghiêmtrọng, kéo theo đó là nhiều loài động vât, thực vật rừng quý, hiếm đang có nguy
cơ bị đe dọa bị tuyệt chủng
Việc mất rừng, suy giảm ĐDSH có nhiều nguyên nhân, song nguyênnhân dẫn đến mất rừng chủ yếu là do tình trạng khai thác rừng không hợp lý,khai thác rừng trái phép, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đặc biệt là dosức ép dân số ngày một tăng, xã hội ngày càng phát triển nên nhu cầu về đất ở
và đất canh tác cũng như nhu cầu về gỗ và các loại lâm sản khác từ rừng ngàycàng cao, dẫn đến diện tích rừng bị thu hẹp mạnh, chất lượng rừng thì suy giảmtrầm trọng, dẫn đến tính ĐDSH tại các hệ sinh thái rừng cũng từ đó mà suygiảm Chính vì vậy, vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, bảotồn ĐDSH hiện nay đang được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
Nhận thức được giá trị to lớn của ĐDSH và đứng trước sự suy thoáinghiêm trọng của nguồn tài nguyên này, trong những năm qua công tác bảo tồnĐDSH đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và tạo ra những bước tiến tíchcực cả về chính sách cũng như hoạt động thực tiễn nhằm bảo vệ ĐDSH
Ban quản lý Khu BTTN Pù Hu hiện đang quản lý 27.502,89 ha, gồm cảdiện tích rừng đặc dụng và rừng sản xuất (Rừng đặc dụng: 23.149,45 ha, rừngsản xuất: 4.353,44 ha), nằm trên địa bàn hai huyện Quan Hóa (gồm 11 xã) vàMường Lát (01 xã), với tổng số thôn bản là 61 thôn, diện tích vùng đệm là54.098,5 ha
Khu BTTN Pù Hu được đánh giá là một trong những khu vực ở tỉnh ThanhHóa có sự ĐDSH rất cao, theo báo cáo Dự án Lập danh lục khu hệ động thực vậtrừng năm 2013, khu BTTN Pù Hu có sự đang dạng về động, thực vật như sau:
Trang 2Về thực vật có tổng số 1.725 loài thực vật thuộc 696 giống, 170 họ và 71
bộ, 12 lớp và 6 ngành Phần lớn các loài thực vật bậc cao tập trung ở khu bảo vệnghiêm ngặt của Khu bảo tồn Bên cạnh đó các loài thực vật trong hệ sinh tháinông nghiệp, vườn rừng, vườn nhà dân cũng góp phần làm tăng thêm tínhĐDSH cho khu hệ thực vật Hệ thực vật Pù Hu có tổng số 52 loài được ghi nhậntrong Sách đỏ Việt Nam 2007, một số loài như: Vù hương, Đài mác, Kim giao,Lan Kim tuyến, Đinh vàng, Giổi, …
Hệ động vật không những phong phú về chủng loài mà một số loài còntập trung với mật độ cao Theo công trình nghiên cứu thuộc Dự án lập danhlục khu hệ động thực vật Khu BTTN Pù Hu đã ghi nhận được tổng số 915 loàiđộng vật, một số loài quý hiếm, nguy cấp như: Cóc Gai rừng, Ếch xanh, Rùahộp trán vàng, Rùa hộp ba vạch, Kỳ đà hoa, Trăn mốc, Rắn hổ mang bành, …Trong đó, đặc biệt đã ghi nhận được 74 loài thú: Cu li lớn, Cu li nhỏ, Khỉ mặt
đỏ, Khỉ đuôi lợn, Gấu ngựa, Gấu chó, Vooc xám, Vượn đen tuyền,…
Những loài động thực vật hiện có tại Khu BTTN Pù Hu đang có nguy cơ
bị tuyệt chủng và suy giảm số lượng rất cao do nhu cầu của người dân, do hiệntượng mất rừng và do thiếu các giải pháp hữu hiệu để bảo tồn các loài độngthực vật tại Khu Bảo tồn
Việc suy giảm tài nguyên rừng là kết quả tất yếu của việc suy giảm tàinguyên ĐDSH, để có biện pháp bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH nói chung, việcđầu tiên chúng ta phải đi tìm các giải pháp để bảo vệ, bảo tồn các loài động thựcvật nguy cấp, quý hiếm thông qua các hoạt động xác định thực trạng, theo dõi,giám sát và đề xuất các giải pháp phù hợp
Để góp phần bảo vệ rừng, bảo tồn các giá trị ĐDSH tại Khu BTTN Pù
Hu, tỉnh Thanh Hóa tôi xin đề xuất đề tài “Giải pháp bảo tồn một số loài động,
thực vật nguy cấp, quý, hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa”
II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu đề tài nhằm đưa ra được các giải pháp bảo tồn và phát triểnbền vững một số loài động, thực vật nguy cấp, quý, hiếm: Lan Kim tuyến(Anoectochilus setaceus), Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), Gấu ngựa(Ursus thibetanus), Gà Tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum), góp phầnvào việc bảo tồn ĐDSH, bảo vệ rừng tại Khu BTTN Pù Hu
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện đề tài trên, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 31 Phương pháp kế thừa số liệu.
Thu thập tài liệu, số liệu có liên quan tới hướng nghiên cứu do các nhànghiên cứu trước đây đã đưa ra để làm cơ sở cho nghiên cứu
2 Phương pháp chuyên gia.
Tham khảo, tham vấn các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực độngvật, đa dạng sinh học đặc biệt là các chuyên gia về những loài nghiên cứu …
3 Phương pháp điều tra phỏng vấn.
Phỏng vấn trực tiếp Kiểm lâm, người dân địa phương, thợ săn, tại cácbản vùng đệm khu BTTN Pù Hu
Câu hỏi phỏng vấn được thiết kế theo dạng câu hỏi mở và câu hỏi đóng.Nội dung tập trung vào đối tượng nghiên cứu (sự phân bố, số lượng còn lại và
số lượng bị săn bắn, khai thác, các nguy cơ đe dọa), kết hợp phỏng vấn, thu thập
số liệu súng săn trên địa bàn qua 05 năm gần đây
4 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu ngoài thực địa.
4.1 Phương pháp điều tra theo tuyến, theo OTC.
4.2 Phương pháp điểm nghe.
4.3 Phương pháp đặt bẫy ảnh.
5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu.
Các số liệu được thống kê và phân tích bằng chương trình thống kêExcel, ảnh, bản đồ được xử lý và chỉnh sửa bằng chương trình MapInfo
IV PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
1 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi Khu BTTN Pù
Hu và các thôn bản vùng đệm Khu bảo tồn
2 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng, giải pháp bảo tồn đối
với 04 loài động, thực vật nguy cấp, quý, hiếm: Lan Kim tuyến (Anoectochilussetaceus), Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), Gấu ngựa (Ursusthibetanus), Gà Tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum)
Trang 4Phần 2 NỘI DUNG ĐỀ TÀI Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÍNH PHÁP LÝ CỦA VIỆC BẢO TỒN 04 LOÀI ĐỘNG THỰC VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM
1 Cơ sở lý luận, thực tiễn:
Khu BTTN Pù Hu là một trong những khu bảo tồn có giá trị ĐDSH tầmquốc gia và quốc tế, các hệ sinh thái và các loài động, thực vật đặc trưng chokhu vực núi đất vùng thấp Bắc Việt Nam Không chỉ có giá trị ĐDSH cao, Pù
Hu còn là một trong những khu rừng phòng hộ xung yếu cho lưu vực sông Mã,sông Luồng; có tính đa dạng cao về hệ động, thực vật, là nơi lưu trữ nguồn gencủa các loài động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ
Lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus), tên khác Cỏ nhung thuộc họ Lan
(Orchidaceae), có giá trị làm cảnh vì cây có lá đẹp, lá đài màu lục sáng, hoa màu
trắng, ngoài ra còn có giá trị làm thuốc, có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên Làloài thực vật có tên trong sách đỏ Việt Nam phân hạng nguy cấp (EN) và đã đượcliệt kê vào phụ lục 1 của công ước Cites và danh mục Thực vật rừng, Động vật rừngnguy cấp, quý hiếm (nhóm Ia của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 củaChính phủ) để nghiêm cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại
Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius): Thuộc họ Kim giao(Podocarpaceae) là loài cây gỗ lớn cao 20-25m, gỗ quý màu vàng đỏ, vân đẹp, ít
co rút, mối mọt dùng để đóng thuyền, làm đồ gia dụng và xây dựng Là loài cây bịkhai thác mạnh đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng ngoài thiên nhiên
Là loài thực vật có tên trong danh lục đỏ IUCN 2011 được xếp vào nhóm LR- ítnguy cấp nhưng đây là loài có giá trị kinh tế cao và có phân bố ít ngoài tự thiênnên đang cần quan tâm nghiên cứu bảo tồn
Gấu ngựa (Ursus thibetanus) thuộc họ Gấu (Ursidae) là loài động vật có giátrị khoa học cao, được sử dụng làm dược liệu và lấy da, lông Chúng là loài độngvật có tên trong sách đỏ Việt Nam, phân hạng nguy cấp (EN) và đã được liệt kêvào phụ lục 1 của công ước Cites và danh mục Thực vật rừng, Động vật rừngnguy cấp, quý hiếm (nhóm Ib của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006của Chính phủ) để tuyệt đối nghiêm cấm săn bắt gấu trong thiên nhiên
Gà Tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum) thuộc họ Trĩ (Phaslanldae)
là loài gà có thịt ngon, dùng làm thực phẩm, làm cảnh có tên trong sách đỏ ViệtNam phân hạng bị đe dọa (T) và đã được liệt kê vào danh mục Thực vật rừng,Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIb của Nghị định số 32/2006/NĐ-CPngày 30/3/2006 của Chính phủ
Thực hiện các nhiệm vụ được được giao, Khu BTTN Pù Hu đã triển khaithực hiện đồng bộ các chương trình công tác Kết quả, đã quản lý và bảo vệ cóhiệu quả diện tích rừng được Nhà nước giao, an ninh rừng đặc dụng cơ bản
Trang 5được giữ vững, phát triển theo hướng bền vững; Đời sống nhân dân trong vùngtừng bước được cải thiện và nâng cao; Nhận thức của chính quyền và cộng đồngđịa phương về bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên được nâng lên, tạo ra được sựđồng thuận giữa cộng đồng địa phương với hoạt động bảo tồn.
Tuy nhiên, an ninh rừng đặc dụng Khu bảo tồn vẫn đứng trước những tháchthức và có thể bị xâm hại, chương trình nghiên cứu phục vụ cho bảo tồn ĐDSHcòn ít Sự lồng ghép giữa chương trình quản lý bảo vệ rừng và nghiên cứu khoahọc chưa có tác dụng bổ trợ cho nhau Trước khi thành lập Khu bảo tồn thiênnhiên Pù Hu, việc khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ của người dân phục vụ mụcđích sinh hoạt và thương mại còn diễn ra mạnh, dẫn đến các khu vực rừngnguyên sinh, rừng còn giàu tài nguyên bị tác động mạnh, ảnh hưởng và thu hẹpsinh cảnh sống của một số loài động thực vật nguy cấp, quý, hiếm như: Rùa hộptrán vàng, Gấu ngựa, Gà tiền mặt vàng, Thông tre lá dài, Lan kim tuyến, … Hoạt động săn bắn và bẫy bắt động vật hoang dã tại khu vực rừng Pù Hu
đã diễn ra mạnh mẽ trong những năm thập niên 90, kết quả là các quần thể độngvật hoang dã và đặc biệt là các loài thú lớn, các loài linh trưởng đã giảm xuống
rõ rệt trong vùng, trước khi Khu BTTN được thành lập Trong 10 năm gần đây,với việc phát động các hoạt động bảo vệ rừng, mức độ săn bắt đã giảm xuốngđáng kể Tuy nhiên, nhiều loài động vật có vú gần như chắc chắn tuyệt chủngtrong vùng như Hổ, Bò tót và các loài khác đang tiến tới sự tuyệt chủng ở địaphương như: Báo gấm, Beo lửa, Gấu ngựa, Rùa hộp trán vàng
Thêm một khó khăn lớn của công tác bảo tồn ĐDSH ở khu vực Pù Hu làngười dân địa phương chưa thật sự vào cuộc đối với công tác bảo tồn ĐDSH Sựthiếu hiểu biết của người dân tạo ra sự thiếu liên kết giữa các mục tiêu bảo tồn vàphát triển Phần lớn người dân là dân tộc Thái, Mường và Mông, họ sống chủ yếubằng nghề nông nghiệp có thu nhập thấp, lại ở vùng sâu, vùng xa, khó khăn đi lại,khó khăn thông tin và ít giao lưu kinh tế, văn hóa tiên tiến Các yếu tố tự nhiên, vănhóa này là nguyên nhân làm người dân khó lòng thay đổi nhận thức tìm kiếm mưusinh tự cung, tự cấp để nhường chỗ cho công tác BTTN hoàn toàn Do kinh tế pháttriển kém nên họ phải chi phí nhiều thời gian kiếm sống vì thế họ có ít thời gian suynghĩ đến việc bảo tồn; hơn nữa trình độ học vấn thấp, thông tin liên lạc và giao lưutrực tiếp với bên ngoài ít là nguyên nhân làm chậm quá trình thay đổi nhận thức bảotồn của người dân
Từ những thực trạng trên, tài nguyên động, thực vật rừng nói chung và cácloài quý hiếm, nguy cấp trong Khu BTTN Pù Hu nói riêng đang đứng trướcnguy cơ tuyệt chủng nếu như không có các giải pháp hữu hiệu và kịp thời Vìvậy, cần phải ngay lập tức nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hữu hiệu, kịp thờinhằm ngăn chặn sự suy thoái ĐDSH tại Khu BTTN Pù Hu
Trang 6Nghị định số 79/2007/QĐ-TTG ngày 31/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về Phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghịđịnh thư Cartagena về An toàn sinh học”
Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày17/9/2003 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiênViệt Nam đến năm 2010;
Quyết định số 2410/QĐ-UBND ngày 12/7/2013 của Chủ tịch UBND tỉnhThanh Hóa về việc Phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Khubảo tồn thiên nhiên Pù Hu đến năm 2020;
Quyết định số 2570/QĐ-UBND ngày 23/7/2010 của Chủ tịch UBND tỉnhThanh Hóa về việc ban hành Kế hoạch hành động bảo tồn đa dạng sinh học tỉnhThanh Hóa đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;
Quyết định số 1395/QĐ-UBND ngày 03/5/2013 của Chủ tịch UBND tỉnhThanh Hóa về việc kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứccủa Ban quản lý Khu BTTN Pù Hu
Chương II THỰC TRẠNG BẢO TỒN 04 LOÀI ĐỘNG, THỰC VẬT NGUY
CẤP, QUÝ, HIẾM TẠI KHU BTTN PÙ HU
1 Thực trạng 04 loài nghiên cứu:
1.1 Thực trạng loài Thông tre là dài: Phân bố rải rác ở các Tiểu khu trong
Khu bảo tồn Thông tre lá dài phân bố tập trung tại các Tiểu khu 56, xã TrungThành, Tiểu khu 98 xã Hiền Chung, huyện Quan Hóa Các khu vực phân bố sốlượng lớn quần thể Thông tre lá dài là: Khu vực đỉnh Pù Hu đến Suối NoocNgua thuộc xã Hiền Chung giáp ranh với xã Phú Sơn, Trung Thành và khu vực
từ Đỉnh Pù Hu nọi đi theo rông về suối Sang xã Trung Thành Qua thu thậpthông tin, Khu BTTN Pù Hu có khoảng 105 cây Thông tre lá dài, có đường kínhbình quân 18 cm, trong đó số cây tái sinh là 67 cây
1.2 Thực trạng Lan Kim tuyến: Lan Kim tuyến có phân bố rải rác ở độ cao
từ 600 m trở lên, mật độ của loài lan Kim tuyến trong KBTTN Pù Hu thấp, loàithường mọc rải rác hay thành đám nhỏ trên các lớp thảm mục, đôi khi thấy mọctrên đá hay hốc cây, dưới tán rừng kín thường xanh, rừng hỗn giao với cây lá
Trang 7rộng hay tre nứa Qua kết quả điều tra khảo sát và thu thập số liệu năm 2017 chỉphát hiện thấy 121 cây và cụm cây (với 45 cây con và cụm cây con và 80 câytrưởng thành và cụm cây trưởng thành).
1.3 Thực trạng loài Gấu ngựa: Kết quả điều tra tại KBTTN Pù Hu đã ghi
nhận sự có mặt của loài Gấu ngựa Dấu vết rõ rệt nhất ghi nhận về loài là 6 vết càothân cây của Gấu ngựa trên sinh cảnh rừng IIIA1, IIA và rừng hỗn giao gỗ và trenứa Vùng phân bố của loài Gấu ngựa tại KBTTN Pù Hu được ghi nhận tại xã HiềnChung, Trung Thành và Phú Sơn Qua đánh giá, phân tích cho thấy ở Khu BTTN
Pù Hu còn khoảng 06 cá thể Gấu ngựa và có thể nói số lượng cá thể Gấu ngựa còn
tồn tại ở Khu BTTN Pù Hu là rất ít (Chi tiết kết quả tại bảng 1- Phần phụ lục).
1.4 Thực trạng loài Gà tiền mặt vàng: Gà tiền mặt vàng hiện đang tồn tại
tại KBTTN Pù Hu, tập trung tại các xã Nam Tiến, Hiền Chung, Trung Thành
và Phú Sơn Sinh cảnh ghi nhận được loài chủ yếu ở khu vực rừng giang hoặcxung quanh rừng giang, rừng hỗn giao gỗ và tre nứa Địa điểm ghi nhận về loài
Gà tiền mặt vàng được xác định tập trung chủ yếu ở khu vực giáp ranh giữa xãTrung Thành, Hiền Chung, Nam Tiến và Phú Sơn, dưới đỉnh Pù Hu Nọi Căn
cứ vào đặc điểm sinh thái của loài thì các khu vực được xác định là vùng phân
bố của Gà tiền mặt vàng tại KBTTN Pù Hu có nhiều sinh cảnh thích hợp cho
Gà tiền mặt vàng trong việc tìm kiếm nguồn thức ăn và trú ẩn Kết quả điều tra
đã ghi nhận sự có mặt của Gà tiền mặt vàng tại KBTTN Pù Hu thông qua nguồnthông tin mẫu vật, tiếng kêu và hình ảnh ghi nhận được từ bẫy ảnh Trong đó,hình ảnh về loài được ghi nhận tại bẫy ảnh số 2 thuộc xã Nam Tiến; mẫu lông
do thợ săn để lại tại khu vực Suối Ôn thuộc địa phận xã Phú Sơn; trên tuyếnđiều tra tại xã Trung Thành, Phú Sơn và Hiền Chung đều ghi nhận tiếng kêu củaloài (15 điểm nghe thấy tiếng Gà tiền kêu) Tổng hợp kết quả ghi nhận được
trình bày trong bảng bảng 2 (Kết quả điều tra năm 2016 và 2017 – Trung tâm
Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Hà Nội).
2 Thực trạng về nguy cơ đe dọa đối với 04 loài.
2.1 Đánh giá thực trạng các mối đe dọa đối với 02 loài thực vật.
Qua thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, xác định được 05 mối đe doạđối với loài Thông tre lá dài và Lan kim tuyến tại KBTTN Pù Hu, cụ thể:
- Khai thác gỗ trái phép:
Hiện tại Khu bảo tồn có 61 thôn (bản) chủ yếu là đồng bào Thái, Mông vàMường sinh sống trong vùng đệm của khu bảo tồn, đời sống còn phụ thuộc lớnvào tài nguyên rừng Trước kia, hoạt động khai thác gỗ diễn ra trên diện rộng Sựtác động lên tài nguyên rừng tương đối lớn do hầu hết người dân đều cần gỗ đểlàm nhà sàn, đóng các đồ dùng sinh hoạt và bán để có thu nhập Các loài được ưachuộng từ trước tới nay trên thị trường đặc biệt phải kể đến là: Giổi, Re gừng,Sến mật, Vàng tâm, Thông tre Từ khi thành lập khu bảo tồn, lực lượng Kiểmlâm đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát vì vậy hoạt động khai thác lâm sản đãđược kiểm soát, việc thường xuyên vào rừng khai thác lâm sản của người dânkhông còn nhiều, tình hình an ninh rừng từng bước được giữ vững ổn định Tuy
Trang 8nhiên, hàng năm vẫn còn xảy ra khai thác nhỏ lẻ để về sửa chữa thay thế các bộphận bị hư hỏng trên nhà sàn, khai khác gỗ về làm quan tài hoặc khai thác một sốcây Thông tre lá dài, để làm đồ gia dụng Kết quả điều tra về các loài cây Gỗ
thường được người dân khai thác, được tổng hợp tại Bảng 3 – Phần phụ lục:
Các hoạt động khai thác trái phép gỗ nói chung và gỗ Thông tre lá dài nói riêngtuy không phải là mối đe doạ trực tiếp đến Lan kim tuyến, song nó lại gián tiếp tácđộng đến chúng bởi khi những cây gỗ lớn bị hạ thì sẽ làm sinh cảnh sống bị thay đổinhư nhiệt độ, độ ẩm, hàm lượng mùn Mặt khác, trong quá trình khai thác, vậnchuyển gỗ cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến những cây Lan kim tuyến
- Khai thác lâm sản ngoài gỗ quá mức:
Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ hiện nay tại Khu bảo tồn vẫn xảy rathường xuyên quanh năm Người dân khai thác tất cả những thứ có thể bánđược như: măng, mật ong, song mây, lá dong, một số cây thuốc như: Thiên niênkiện, dây máu chó trong đó có Lan kim tuyến cũng bị khai thác khi có ngườiđặt hàng và dùng để làm thuốc hoặc làm cảnh tại cộng đồng Việc người dânvào rừng thu hái lâm sản phụ thực sự là rất khó kiểm soát, nếu không tuyêntruyền, phổ biến thì nhiều loài có thể bị khai thác kiệt, sẽ làm tuyệt chủng cục
bộ tại Khu bảo tồn Các loài bị khai thác, thời gian khai thác và đối tượng khai
thác lâm sản ngoài gỗ được tổng hợp tại Bảng 4 – Phần phụ lục.
- Lấn chiếm đất rừng mở rộng diện tích canh tác:
Khu BTTN Pù Hu nằm trên địa bàn 11 xã, thuộc hai huyện Quan Hóa (10xã) và Mường Lát (01 xã – Trung Lý), với 61 bản, 3.855 hộ, 19.329 khẩu Tìnhtrạng xâm lấn đất canh tác là do tình hình tăng dân số, thiếu đất canh tác, năngsuất nông nghiệp của người dân trong vùng thấp, chưa áp dụng các tiến bộ khoahọc- kỹ thuật vào sản xuất, đất đai bạc mầu Dưới sức ép của sự tăng dân số,người dân địa phương đã mở rộng diện tích đất nông nghiệp từ 3.872 ha (Năm2010) lên đến 4.556 ha (Năm 2015), nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực Điềunày cũng có nghĩa là 684 ha của các loại đất khác đã bị chuyển hóa thành đấtphục vụ cho canh tác nông nghiệp, nhưng chủ yếu là đất được giao cho dân, chỉmột số ít diện tích đất rừng do Khu bảo tồn quản lý bị xâm lấn từ những năm
2012 trở về trước Để đáp ứng nhu cầu lương thực cũng như thu nhập, ngườidân địa phương đã mở rộng diện tích trồng cây ngô, sắn, lúa nương và một sốcây màu khác chủ yếu thông qua việc phát/ đốt rừng để tạo các nương rẫy trồngngô, lúa nương và sắn
Việc lấn chiếm đất rừng làm rẫy đã gây sự tàn phá các loài sinh vật ở khuvực bị lấn chiếm và là nguy cơ cao gây suy giảm tính đa dạng của thực vật nơiđây Nó không chỉ hủy hoại trực tiếp các loài như: Thông tre lá dài, Lan kimtuyến, mà còn làm biến đổi môi trường sống làm cho khả năng tái sinh củathảm thực vật suy giảm theo, đồng thời tạo điều kiện cho sự xâm lấn của cácloài cây mọc hoang, cây dại vào rừng, đe dọa về sinh cảnh của các loài tự nhiên
- Xây dựng cơ sở hạ tầng và định cư:
Các tuyến đường dẫn đến Khu BTTN Pù Hu đã ảnh hưởng ít nhiều đếntính ĐDSH của khu bảo tồn, đặc biệt là đường mòn vào bản Co Cài, xã Trung
Trang 9Lý đi qua khu bảo tồn Các tuyến đường này tạo điều kiện cho người dân vùngngoài dễ tiếp cận và gây tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng Mặt khác, còntạo thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản trái phép qua địa bàn gây khó khăncho lực lượng bảo vệ rừng Công trình thuỷ điện Trung Sơn đang xây dựngcũng đã, đang và sẽ phát sinh nhiều tác động tiêu cực, từ tiếng ốn cho đến cáchoạt động, cũng như nhu cầu phát sinh của cộng nhân.
- Chăn thả gia súc:
Qua điều tra cho thấy hiện nay hầu hết các hộ trong vùng có tập quán chănthả gia súc tự do (thả rông) Bình quân hàng năm trên toàn vùng đệm KhuBTTN Pù Hu có trên 2.500 con trâu, bò Trong khi đó thức ăn chủ yếu của trâu,
bò là lá của các loài thực vật, các loài rau, cỏ, củ Trên thực tế thức ăn cho giasúc mà người dân sản xuất ra thì không nhiều, vì vậy chủ yếu người dân thảtrâu, bò vào rừng để chúng tự kiếm ăn Chính vì thế, đã gây nên sự tàn phá trêndiện rộng của các loài cây tái sinh, phá hoại môi trường sống của thực vật (chântrâu, bò làm rập nát cây con), nhất là cây Lan kim tuyến và cây tái sinh làThông tre lá dài - loài nguy cấp, quý hiếm tại Khu BTTN Pù Hu
Tóm lại, trong 05 mối đe dọa trực tiếp thì khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ
có tác động lớn nhất đến hai loài thực vật quý hiếm này và thường gắn liền vớicác hoạt động khai thác lâm sản của người dân địa phương Trong đó, nguy cơcao nhất đối với Thông tre lá dài là khai thác gỗ gồm cả Thông tre, còn với LanKim tuyến là khai thác Lâm sản phụ gồm cả Lan Kim tuyến
2.2 Đánh giá thực trạng các mối đe dọa đối với 02 loài động vật.
Qua thu thập, phân tích, đánh giá, xác định được 06 mối đe doạ đối với cácloài Gấu ngựa và Gà tiền mặt vàng tại KBTTN Pù Hu, cụ thể:
- Săn bắt động vật hoang dã:
Hiện nay, tại Khu bảo tồn vẫn còn xảy ra tình trạng săn bắn, bẫy bắt độngvật hoang dã trái phép Việc săn bắn chủ yếu do một số người dân địa phươngsăn bắt chuyên nghiệp để bán và một số khác đến từ tỉnh Hoà Bình Việc sănbắn của các thợ săn chủ yếu là dùng súng săn tự chế, các loại bẫy kẹp, bẫykiềng, bẫy rọ, để bẫy bắt các loài động vật như: Tắc kè, Rùa, Gà rừng, Gấungựa hay Lợn rừng ra phá hoại nương rẫy Việc ngăn chặn và xử lý hoạt độngnày rất khó khăn do thiếu lực lượng và kinh phí Với việc thường xuyên săn bắncủa các thợ săn đã làm cho số lượng động vật hoang dã suy giảm nhanh chóng,các loài thú có xu hướng di chuyển đến các vùng núi cao hơn, xa khu dân cưhơn Thậm chí nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cục bộ như:
Bò tót, Gấu, Khỉ mặt đỏ, Gà tiền mặt vàng Tình trạng săn bắt và sử dụng động
vật hoang dã được thể hiện ở Bảng 5 – Phần phụ lục.
- Khai thác gỗ trái phép
Việc khai thác Gỗ trái phép đã làm ảnh hưởng đến sinh cảnh sống của cácloài động vật nói chung và 02 loài động vật Gấu ngựa và Gà tiền mặt vàng nóiriêng Ngoài ra, việc khai thác cây gỗ lớn sẽ kéo theo nhiều cây nhỏ khác đổ theo,rồi việc chặt cây dựng lán trại, sử dụng cưa xăng sẽ gây ra những tiếng ồn rất lớn,
Trang 10song song với việc khai thác gỗ người dân cũng thường mang theo súng săn, bẫybắt động vật hoang dã làm nguồn thức ăn trong quá trình ở lại rừng khai thác.
- Khai thác lâm sản ngoài gỗ quá mức:
Người dân địa phương khai thác lâm sản ngoài gỗ chủ yếu để bán (măng,đót, mật ong, song mây, phong lan, lá dong, một số cây thuốc, Lan Kimtuyến ) một số ít được sử dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt như; củi, rau ăn haylàm thuốc chữa bệnh Tuy nhiên, lợi nhuận từ việc bán các loại lâm sản này rấtthấp do phải bán qua tư thương và bị tư thương ép giá Lâm sản ngoài gỗ chưađược chú trọng gây trồng, phát triển và kỹ thuật thu hái của người dân khônghợp lý, họ thường thu hái cạn kiệt mà không để lại một phần đảm bảo cho nó táitạo Khai thác Lâm sản phụ quá mức làm ảnh hưởng đến sinh cảnh sống của cácloài Gấu ngựa, Gà tiền mặt vàng và làm suy giảm nguồn thức ăn của chúng
- Xây dựng cơ sở hạ tầng và định cư:
Các tuyến đường dẫn đến Khu BTTN Pù Hu đã ảnh hưởng đến tínhĐDSH của khu bảo tồn Các tuyến đường này tạo điều kiện cho người dân dễtiếp cận và gây tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng Công trình thuỷ điệnTrung Sơn đang xây dựng cũng đã, đang và sẽ phát sinh nhiều tác động tiêu cựcđến ĐDSH trong khu vực Ô nhiễm tiếng ồn trong quá trình xây dựng ảnhhưởng rất lớn đến các loài động vật, có thể làm chúng hoảng sợ bỏ đến nơi khác
an toàn hơn, có thể tận dụng việc xây dựng để người dân và công nhân vào rừngsăn bắn, gây ảnh hưởng đến các quần thể Gấu ngựa và Gà tiền mặt vàng
- Chăn thả gia súc:
Tập quán chăn nuôi gia súc của người dân ở đây là thả rông và hiện tại địaphương cũng chưa có quy hoạch khu vực chăn thả, vì vậy việc chăn thả các đàngia súc thường tập trung trong khu bảo tồn hoặc các khu rừng tự nhiên do cộngđộng, hộ gia đình quản lý Mặt khác, mỗi đàn gia súc hoặc mỗi con được đeomột cái mõ để thuận lợi cho việc tìm chúng ở trong rừng Chính phương thứcchăn thả như vậy đã làm nhiễu loạn môi trường sống, dễ lây lan dịch bệnh củagia súc tới động vật hoang dã đặc biệt là nhóm thú trong đó có Gấu ngựa
Tại một số thôn bản giáp ranh của KBTTN Pù Hu; hoạt động chăn thả trâu
bò diễn ra thường xuyên gây tác động lớn tới sinh cảnh sống của các loài độngvật hoang dã và đến hệ sinh thái rừng Hơn thế nữa, gia súc vào rừng sẽ tranhchấp nguồn thức ăn Người dân vào trông coi gia súc cũng là nhân tố gây ra cáchiểm họa đối với các loài động vật này Việc người dân vào rừng trông coi giasúc, họ sẵn sàng mang theo dụng cụ bẫy bắt động vật để tìm kiếm nguồn thức
ăn khi ở trong rừng và có thể mang ra ngoài bán
- Phát rừng làm nương rẫy trái phép:
Do đất sản xuất nông nghiệp tại các thôn bản hiện nay là rất ít, không đủ
để canh tác tạo ra sản phẩm phục vụ đủ cuộc sống, vì vậy đã xảy ra tình trạngphá rừng làm nương rẫy Hoạt động này là nguyên nhân chính làm cho diện tíchrừng trong khu vực bị suy giảm Những khu rừng thấp, bằng phẳng quanhthôn( bản) đã biến mất để nhường chỗ cho nương rẫy Đồng thời phương thức
Trang 11canh tác không phân bón, độc canh của nhân dân bản địa càng làm cho đất chóng
bị thoái hóa, bạc mầu Hoạt động phá rừng làm nương rẫy đã làm mất sinh cảnhsống của các loài quý hiếm như: Gấu ngựa, Gà tiền mặt vàng, Lan kim tuyến,
Vì vậy, đây là hoạt động làm suy giảm giá trị bảo tồn nguồn gen của khu bảo tồn.Tóm lại, với 02 loài động vật nêu trên, qua điều tra đánh giá cho thấy nguy
cơ cao nhất đối với hai loài là nguy cơ sắn bắn và bẫy bắt động vật hoang dã
3 Thực trạng các giải pháp bảo tồn và những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân:
Từ khi thành lập đến nay, Ban quản lý Khu BTTN Pù Hu đã áp dụng một sốgiải pháp bảo tồn ĐDSH và các loài động, thực vật nguy cấp, quý, hiếm, cụ thể:
3.1 Tuyên truyền nâng cao nhận thức:
- Thực trạng: Chỉ chủ yếu tập trung vào tuyên truyền thông qua các cuộchọp dân hoặc một số ít đối tượng áp dụng biện pháp tuyên truyền cá biệt
- Ưu điểm: Dễ thực hiện, có thể lồng ghép vào các cuộc họp thôn bản, trựctiếp nêu ra được vấn đề mà người dân tại một thôn bản chưa nắm được
- Hạn chế: Việc tuyên truyền chỉ xảy ra tức thời, một chiều, chỉ tuyêntruyền được bằng tiếng phổ thông trong khi nhiều người dân địa phương khôngbiết nói tiếng phổ thông, phải có thời gian để tập trung thôn (bản)
- Nguyên nhân: Thiếu kinh phí để đa dạng hình thức tuyên truyền, nănglực của cán bộ làm tuyên truyền còn hạn chế
3.2 Tuần tra, kiểm tra rừng:
- Thực trạng: Tuần tra theo tuyến cố định, có người dân dẫn đường nhằmphát hiện các đối tượng vi phạm và ngăn chặn người vào rừng trái phép luận
- Ưu điểm: Dễ thực hiện, đi xuyên được các tiểu khu rừng với nhau
- Hạn chế: Khó kiểm soát được cán bộ Kiểm lâm có đi rừng hay không?Các tuyến được lặp đi lặp lại theo đường mòn khó phát hiện đối tượng vi phạm
- Nguyên nhân: Việc đi rừng của Kiểm lâm không có thiết bị quản lý, báocáo của một số cán bộ thiếu trung thức; các đối tượng vi phạm thường để ý lối
đi của Kiểm lâm để tránh né hoặc không đi theo đường mòn hoặc được thôngbáo cho nhau thông qua điện thoại khi phát hiện thấy Kiểm lâm đi tuần tra
3.3 Thu hồi súng săn và quản lý cưa xăng:
- Thực trạng: Tổ chức phối hợp với công an huyện, xã và Kiểm lâm viênđịa bàn tiến hành thu hồi súng săn và quản lý cưa xăng trên tất cả các xã vùngđệm Súng săn cũng đã được thu hồi và cưa xăng của 8/11 xã cùng đã được đưavào quản lý tập trung tại xã
- Ưu điểm: Giảm bớt được sắn bắn, bẫy bắt động vật bằng súng săn; khingười dân sử dụng cưa xăng phải xin phép xã và được cán bộ Kiểm lâm, Công
an xã giám sát việc sử dụng cưa, qua đó ngăn chặn được việc săn bắn và sửdụng cưa trái phép