1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

An ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong pháp luật

176 156 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 4,59 MB
File đính kèm luan van full.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật quốc tế và Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quantrọng và cấp thiết đối với Vi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯƠNG THỊ KIM DUNG

AN NINH HÀNG HẢI ĐỐI VỚI TÀU BIỂN, CẢNG BIỂN TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯƠNG THỊ KIM DUNG

AN NINH HÀNG HẢI ĐỐI VỚI TÀU BIỂN, CẢNG BIỂN TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Quốc tế

Mã số : 9 38 01 08

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌCNgười hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH NGỌC VƯỢNG

Hà Nội – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa họcđộc lập thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiêncứu lý thuyết, kiến thức của bản thân, kết hợp nghiên cứu khảo sáttình hình thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS ĐinhNgọc Vượng

Các kết quả, số liệu trong luận án là trung thực Các tríchdẫn trong luận án đếu được ghi rõ nguồn gốc Những kết luận khoahọc của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ một côngtrình nào khác

Hải Phòng, ngày 12 tháng 5 năm 2019

Tác giả Luận án

NCS Lương Thị Kim Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠNTrước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy giáoPGS.TS Đinh Ngọc Vượng đã trực tiếp hướng dẫn tận tình về phương pháp nghiêncứu và cách làm việc khoa học để tôi có thể hoàn thành được Luận án của mình.

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ quý báu của các cán bộ, giảng viên Trường Đại học Luật Hà nội, Khoa Sau đạihọc Trường Đại học Luật Hà nội và Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam

Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của lãnh đạo, công chức, viên chức thuộcCục hàng hải Việt Nam, Cục Đăng Kiểm Việt Nam, Cảng vụ hàng hải, các doanhnghiệp cảng biển, các chủ tàu, thuyền trưởng và các chuyên gia trong lĩnh vực liênquan đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, ủng hộ nhiệt tình đề tài nghiên cứu này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người đãđộng viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐÂU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC VÀ TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 7

1.1.1 Khái niệm an ninh hàng hải và pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển 7

1.1.2 Các hiểm họa đe dọa an ninh tàu biển và cảng biển 9

1.1.3 Pháp luật quốc tế về các biện pháp tăng cường an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển 12

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến đề tài luận án 13

1.2.1 Một số vấn đề lý luận về an ninh tàu biển, cảng biển 13

1.2.2 Hiểm họa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển Việt Nam 13

1.2.3 Pháp luật Việt Nam về các biện pháp tăng cường an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển 15

1.3 Đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đế luận án cần tiếp tục nghiên cứu 17

1.3.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án 17 1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 18

1.3.3 Giả thuyết nghiên cứu của luận án 19

1.3.4 Câu hỏi nghiên cứu 19

1.3.5 Hướng tiếp cận của luận án 20

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN NINH HÀNG HẢI ĐỐI VỚI TÀU BIỂN, CẢNG BIỂN 21

2.1 Khái niệm và vai trò của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong quan hệ quốc tế 21

2.1.1 Định nghĩa 21

2.1.2 Đặc điểm của an ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển 32

2.1.3 Vai trò của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong quan hệ quốc tế 36

2.2 Nhận diện các hiểm họa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển 38 2.2.1Tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển 38

Trang 6

2.2.2 Cướp biển/ cướp có vũ trang với tàu thuyền 41

2.2.3 Khủng bố hàng hải 44

2.2.4 Vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển 46

2.2.5 Người trốn theo tàu 48

2.3 Anh ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong mối quan hệ với an toàn hàng hải và an ninh quốc gia 49

2.3.1 Mối quan hệ giữa an ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển và an toàn hàng hải 50

2.3.2 Mối quan hệ giữa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển và an ninh quốc gia 53

CHƯƠNG 3 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ AN NINH HÀNG HẢI 57

3.1 Sự hình thành và phát triển của chế định an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong luật quốc tế hiện đại 57

3.1.1 Giai đoạn từ năm 1600 trở về trước 57

3.1.2 Giai đoạn từ năm 1600 đến năm 1850 58

3.1.3 Giai đoạn từ 1850 đến năm 1945 58

3.1.4 Giai đoạn từ 1945 đến năm 1991 59

3.1.5 Giai đoạn từ năm 1991 đến nay 60

3.2 Pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và ứng phó với các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển 61

3.2.1 Tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia 61

3.2.2 Cướp biển/cướp có vũ trang đối với tàu thuyền 66

3.2.3 Khủng bố hàng hải 73

3.2.4 Vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển 77

3.2.5 Người trốn theo tàu 83

3.3 Pháp luật quốc tế về các biện pháp tăng cường an ninh của tàu biển, cảng biển 85

3.3.1 Thực trạng pháp luật quốc tế về các biện pháp tăng cường an ninh của tàu biển, cảng biển 86

3.3.2 Thực tiễn thi hành pháp luật quốc tế về biện pháp tăng cường an ninh tàu biển, cảng biển 88

3.4 Các thiết chế quốc tế bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển 93

Trang 7

3.4.1 Các thiết chế quốc tế toàn cầu 93

3.4.2 Các thiết chế khu vực và các tổ chức quốc tế khác 96

CHƯƠNG 4 THỰC TIỄN VIỆT NAM VỀ AN NINH HÀNG HẢI 98

ĐỐI VỚI TÀU BIỂN, CẢNG BIỂN 98

4.1 Pháp luật VN về ngăn ngừa và ứng phó với các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển 98

4.1.1 Tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia 98

4.1.2 Cướp biển/cướp có vũ trang đối với tàu thuyền 101

4.1.3 Khủng bố hàng hải 105

4.1.4 Vận chuyển trái phép chất ma túy bằng đường biển 107

4.1.5 Người trốn theo tàu………109

4.2 Pháp luật VN về các biện pháp tăng cường bảo đảm an ninh của tàu biển, cảng biển 111

4.2.1 Thực trạng pháp luật VN về biện pháp tăng cường an ninh tàu biển, cảng biển 111

4.2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam về biện pháp tăng cường an ninh tàu biển, cảng biển 114

4.3 Quan điểm định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển 117

4.3.1 Quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển 117

4.3.2 Đề xuất các giải pháp tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam 121

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……….150

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC…….152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 153

PHỤ LỤC……….167

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTBLHH Bộ luật Hàng Hải Việt Nam

BLHS Bộ luật Hình Sự Việt Nam

CMF Lực lượng biển hỗn hợp

COC Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông

CSCAP Hội đồng Hợp tác An ninh khu vực Châu Á Thái Bình

DươngDOC Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông

FAL Công ước tạo thuận lợi cho giao thông hàng hải quốc tếFOC Đội tàu treo cờ thuận tiện

ILO Tổ chức lao động quốc tế

IMO Tổ chức Hàng hải quốc tế

ISC Trung tâm hợp tác chia sẻ thông tin

ISM Bộ luật quản lý an toàn quốc tế

ISPS Công ước quốc tế về an ninh tàu biển và cảng biển

MOU Bản ghi nhớ về kiểm soát của chính quyền cảng

MSC Uỷ ban An toàn Hàng hải của Tổ chức Hàng Hải quốc tếMSSI Sáng kiến An ninh Eo biển Malacca

MTSA Đạo luật an ninh giao thông hàng hải

NATO Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

PFSO Cán bộ phụ trách an ninh bến cảng

PFSP Kế hoạch an ninh bến cảng

PMSC Các công ty an ninh hàng hải tư nhân

PSC Kiểm tra của chính quyền nhà nước cảng biển

RUF Quy tắc sử dụng vũ lực

SAFE Framework Khung tiêu chuẩn An ninh và Tạo thuận lợi cho Thương

mại Toàn cầuSCO Cán bộ phụ trách an ninh công ty

SOLAS Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng người trên biểnSSO Sĩ quan an ninh tàu

SSP Kế hoạch an ninh tàu biển

SUA Công ước về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống

lại an toàn hàng hải 1988UNCLOS Công ước Luật biển 1982

WCO Tổ chức Hải quan quốc tế

Trang 10

Trong nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm quản lý, bảo đảm an ninh hànghải, Liên Hợp quốc, Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), các tổ chức quốc tế khu vực

đã soạn thảo, ban hành nhiều văn bản pháp lý về an ninh hàng hải đối với tàu biển,cảng biển, tạo cơ sở cho các quốc gia thành viên nội luật hóa và thực thi trong hệthống pháp luật quốc gia

Là một quốc gia ven biển có đường bờ biển trải dài theo chiều dài đất nước,Việt Nam từ thủa sơ khai đã sớm hình thành các thương thuyền với nhiều hải cảngsầm uất Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành hàng hải đã đóng góp vaitrò quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước, từng bước khẳng định vị thế củamột ngành kinh tế mũi nhọn giúp Việt Nam “hướng ra biển, làm giàu từ biển”.Nhận thức rõ vai trò của tăng cường bảo đảm an ninh tàu biển, cảng biển đối với sựphát triển của ngành hàng hải, Việt Nam đã sớm phê chuẩn và gia nhập rất nhiềucác công ước quốc tế về an ninh hàng hải đồng thời ban hành các văn bản quy phạmpháp luật để nội luật hóa và thi hành các công ước quốc tế về an ninh hàng hải màViệt Nam đã phê chuẩn, tham gia Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện hành thực sựđang thiếu vắng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp về an ninhhàng hải đối với tàu biển, cảng biển Một số văn bản quy phạm pháp luật còn chưa

rõ ràng, chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn trong thực tiễn thi hành

Việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật quốc tế và Việt Nam

về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quantrọng và cấp thiết đối với Việt Nam bởi hơn lúc nào hết an ninh hàng hải đối với tàubiển, cảng biển của Việt Nam hiện đang bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa và cần có một

hệ thống các giải pháp hữu hiệu nhằm tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải

Dưới góc độ an ninh phi truyền thống, cướp biển khu vực Đông Nam Á đang

là “điểm nóng” đe dọa trực tiếp tới an ninh tàu biển Việt Nam bởi Đông Nam Á là

Trang 11

tuyến vận tải truyền thống với 80% số tàu làm nhiệm con thoi trung chuyển hànghóa từ Việt Nam tới các cảng lớn trong khu vực Vận chuyển trái phép ma túy bằngđường biển cũng đang trực tiếp đe dọa tới an ninh tàu biển và cảng biển Việt Namvới nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi Khủng bố hàng hải luôn là hiểm họa tiềmtàng bởi sự gia tăng của các tổ chức khủng bố quốc tế và khu vực Trộm cắp vặt,phá hoại, người trốn theo tàu, tiếp cận các khu vực cấm tại cảng diễn ra thườngxuyên, đe dọa trực tiếp tới an ninh cảng biển Việt Nam.

Ở khía cạnh an ninh truyền thống, những tranh chấp chủ quyền tại biểnĐông đang nổi lên tạo nguy cơ biến thành xung đột "nóng", đe dọa trực tiếp đếnmôi trường an ninh, hòa bình và ổn định trong khu vực Trung Quốc tuyên bố chủquyền đối với hơn 80% diện tích biển Đông, tiến hành hoạt động tuần tra, khảo sát,ngăn trở các nước khác khai thác tài nguyên Cùng với đó là việc hiện đại hóa hảiquân, cải tạo các bãi đá cạn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam do TrungQuốc chiếm giữ trái phép để xây dựng đường băng, căn cứ quân sự phục vụ ý đồkiểm soát tuyến hàng hải quan trọng trong khu vực, từ đó, đe dọa trực tiếp tới anninh tàu biển, cảng biển và quyền tự do hàng hải

Như vậy, an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam hiệnđang bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, trong khi hệ thống pháp luật quốc gia về an ninhhàng hải đối với tàu biển, cảng biển còn chưa đầy đủ, tồn tại nhiều bất cập trong quátrình thực thi Trước những đòi hỏi cấp thiết về việc nghiên cứu hệ thống pháp luậtquốc tế và thực tiễn Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, từ đó

đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàubiển, cảng biển Việt Nam, nghiên cứu sinh đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “An ninhhàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn của ViệtNam" làm đề tài nghiên cứu cho mình

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về an ninh hàng hảiđối với tàu biển, cảng biển, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành phápluật quốc tế và Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, chỉ ranhững tồn tại, bất cập, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần tăng cường bảo đảm

an ninh hàng hải của Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:(1) làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảngbiển trong pháp luật quốc tế hiện đại; (2) phân tích thực trạng pháp luật quốc tế vàthực tiễn thi hành tại một số quốc gia; (3) phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam

Trang 12

về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong mối liên hệ với quá trình nộiluật hóa các Công ước quốc tế về an ninh hàng hải mà Việt Nam là thành viên, chỉ

ra được những bất cập, tồn tại trong thực tiễn thi hành để từ đó đề xuất giải phápbảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảngbiển trong pháp luật quốc tế hiện đại Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và trongbối cảnh hiện nay ở Việt Nam, Luận án có phạm vi nghiên cứu như sau:

- Phạm vi không gian: An ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển tại khuvực biển Đông sẽ được tập trung nghiên cứu, đặc biệt là lý luận và thực tiễn về anninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển tại Việt Nam

- Phạm vi thời gian: nghiên cứu vấn đề an ninh hàng hải trong luật quốc tếhiện đại và hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về an ninh hàng hải

- Giới hạn phạm vi các hiểm họa an ninh: Luận án chỉ tập trung nghiên cứupháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật trong đấu tranh với các hiểm họa tranhchấp chủ quyền và quyền chủ quyền giữa các quốc gia, cướp biển/cướp có vũ trang,khủng bố, vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển, người trốn theo tàu Nhiềuhiểm họa đe dọa an ninh hàng hải khác như biến đổi khí hậu, hoạt động đánh bắt cábất hợp pháp, ô nhiễm môi trường biển, hoạt động của các cơ quan Nhà nước chấppháp nước ngoài (đâm chìm, tịch thu, phá hủy tàu cá, ngăn cản quyền tự do hànghải.)… mặc dù cũng là hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảngbiển nhưng sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Giới hạn tàu biển: Các biện pháp an ninh nghiên cứu chỉ áp dụng với tàubiển có mục đích thương mại, chạy chuyến quốc tế với tổng dung tích từ 500 trởlên Những loại tàu nhỏ có tổng dung tích dưới 500, tàu sông, tàu cá, tàu gỗ thô sơ,tàu du lịch, du thuyền, tàu quân sự, tàu ngầm, tàu của Nhà nước không có mục đíchthương mại sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về an ninh hànghải của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Ma-lay-xia…nhằm đề xuấtnhững bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện những mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, Luận án đượctiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin Đối với từng nội dung cụthể, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như:

Trang 13

phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp,phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh luật học, kếthợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đưa ra giải pháp cụ thể và khả thi.

- Phương pháp phân tích, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn là phươngpháp chủ đạo được sử dụng trong hầu hết các chương, đặc biệt là chương 3 vàchương 4 nhằm làm rõ nội dung của các quy định trong pháp luật quốc tế và ViệtNam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển

- Phương pháp thống kê được sử dụng chủ yếu ở chương 2 và chương 4nhằm thống kê thực trạng và sự tác động của các hiểm họa tranh chấp chủ quyền vàquyền chủ quyền chủ quyền, cướp biển/cướp có vũ trang, khủng bố hàng hải, vậnchuyển trái phép chất ma túy bằng đường biển, người trốn theo tàu đối với an ninhtàu biển, cảng biển Phương pháp này cũng được sử dụng tại chương 4 trong quátrình thu thập số liệu về thực trạng năng lực thông quan, vận tải của hệ thống tàubiển, cảng biển Việt Nam

- Phương pháp tổng hợp là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quátrình thu thập tài liệu, phân tích các quan điểm, đề xuất và kiến nghị với các cơ quanchức năng về các biện pháp tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển,cảng biển Việt Nam

- Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình thành vàphát triển của chế định an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong hệ thốngpháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

- Phương pháp hệ thống được sử dụng để xâu chuỗi và tìm ra sự nhất quángiữa các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan trong an ninh hàng hải đốivới tàu biển, cảng biển, qua đó, Luận án đánh giá, kiến nghị một cách hệ thống vàtoàn diện các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển

- Phương pháp so sánh là phương pháp quan trọng nhằm phân tích và đốichiếu các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về an ninh hàng hảiđối với tàu biển, cảng biển Ngoài ra, phương pháp này cũng được sử dụng hiệu quảtrong việc so sánh các quy định về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển tạimột số quốc gia khác với Việt Nam nhằm đưa ra những kinh nghiệm cần thiết choviệc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề nghiên cứu

5 Những đóng góp mới của Luận án

Trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây có liênquan đến đề tài, Luận án có những đóng góp mới về phương diện khoa học sau đây:

Trang 14

- Thứ nhất, Luận án góp phần làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận, pháp lý,thực tiễn về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, có những luận giải rõ ràng

về đặc điểm của an ninh hàng hải, nhận diện các hiểm họa an ninh hàng hải, đánhgiá tác động của các hiểm họa an ninh hàng hải cũng như chỉ ra được sự khác biệtgiữa an ninh hàng hải với an toàn hàng hải, vị trí của an ninh hàng hải trong an ninhquốc gia để từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách, pháp luật xây dựng cơ chếhữu hiệu cho bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển

- Thứ hai, Luận án đã phân tích được quá trình hình thành và phát triển của chếđịnh an ninh hàng hải trong luật quốc tế, đưa ra được đánh giá về các quy định củapháp luật quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh chống các hiểm họa an ninh và cácbiện pháp tăng cường an ninh tàu biển, cảng biển Đặc biệt, Luận án đã đi sâu phântích những vấn đề được coi là thách thức của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảngbiển hiện nay như tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc giatrên biển Đông, cướp biển, khủng bố hàng hải, vận chuyển trái phép ma túy, ngườitrốn theo tàu…

- Thứ ba, Luận án đã tiến hành hệ thống hóa pháp luật và thực thi pháp luật củamột số quốc gia về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, từ đó rút ra nhữngbài học kinh nghiệm thực tiễn cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện hệ thốngpháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về an ninh hàng hải đối với tàubiển, cảng biển

- Thứ tư, Luận án đã đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành phápluật về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam, từ đó làm rõthêm những thành tựu và hạn chế trong hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật về

an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam

- Thứ năm, Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về quy định của pháp luật quốc

tế, thực tiễn của một số quốc gia và những hạn chế về pháp luật và thực tiễn thihành pháp luật về an ninh hàng hải đối với tàu biên, cảng biển của Việt Nam, Luận

án đã đề xuất những giải pháp mang tính tổng thể, khả thi nhằm hoàn thiện hệ thốngpháp luật và năng lực thực thi pháp luật về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảngbiển của Việt Nam trong thời gian tới Đề xuất xây dựng Chiến lược an ninh hànghải quốc gia được coi là giải pháp điểm nhấn của Luận án

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Công trình nghiên cứu sẽ có giá trị tham khảo cho các nhà hoạch định chínhsách, các cơ quan lập pháp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc xây dựng,ban hành và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về an ninh hàng hải đối với

Trang 15

tàu biển, cảng biển.

Công trình cũng có giá trị tham khảo đối với các công ty vận tải biển, cáccảng biển trong hoạt động xây dựng và thực thi kế hoạch an ninh tàu biển và anninh cảng biển

Công trình cũng sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các học giả nghiêncứu và các sinh viên chuyên ngành Luật Hàng hải thuộc Khoa Hàng hải, trường Đạihọc Hàng Hải Việt Nam – là đơn vị nơi nghiên cứu sinh đang giảng dạy

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các công trình của tác giả đã công bố trước đó

và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của luận án được chia thànhcác chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước liên quan

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC

VÀ TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

Trên thế giới, hiện có rất nhiều công trình nghiên cứu về an ninh hàng hải,tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:

1.1.1 Khái niệm an ninh hàng hải và pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối

với tàu biển, cảng biển

Tất cả các công trình nghiên cứu đều cố gắng đưa ra khái niệm an ninh hànghải bởi đây là một thuật ngữ chuyên ngành mở, chưa có định nghĩa thống nhất vàviệc đưa ra một định nghĩa về an ninh hàng hải có ý nghĩa quan trọng cho các họcgiả trong việc mở rộng hay thu hẹp phạm vi nội dung nghiên cứu của mình

Cách tiếp cận phổ biến về an ninh hàng hải được các nhiều học giả như tácgiả Nathalie Klein, James Kraska and Raul Pedrozo, Roach J Ashley, VreÿFrancois thể hiện trong bài nghiên cứu của mình là tiếp cận an ninh hàng hải theohướng phủ định -“negative” nghĩa là xác định các hiểm họa phổ biến đe dọa tới anninh hàng hải và nếu loại trừ được các hiểm họa này, đồng nghĩa với việc an ninhhàng hải được bảo đảm [167,28], [143, 49], [182, 41-66], [205, 121-132]

Một cách tiếp cận khác theo hướng “khẳng định” – “positive” theo đó anninh hàng hải được hiểu là sự duy trì đảm bảo “trật tự ổn định trên biển” - “good”

or “stable order at sea” theo quan điểm của tác giả Geoffrey Till, hay “trật tự ổnđịnh của các đại dương chịu sự cai trị của các quy tắc luật trên biển” theo JamesKraska and Raul Pedrozo hay là" một quá trình duy trì ổn định trên, dưới và từbiển” theo tác giả Ed Tummers [111, 36], [143, 45], [106,13]

Kết hợp cả hai cách tiếp cận nói trên, tác giả Christian Bueger trong bài viết

“What is Maritime Security” đã đưa ra khái niệm an ninh hàng hải trong mối liên hệvới bốn khái niệm là an ninh quốc gia, môi trường biển, phát triển kinh tế và anninh con người [94,13-14]

Trong cuốn sách “Maritime Security and the Law of the Sea”, tác giảNatalie Klein đã tiếp cận khái niệm an ninh hàng hải dưới hai khái niệm cơ bản: anninh hàng hải trong hệ thống quốc tế và lợi ích an ninh của không gian đại dương,

sử dụng đại dương cho hoạt động thương mại [167, 94]

Trong cuốn “Concepts of Maritime Security A strategic perspective onalternative visions for good order and security at sea”, tác giả Chris Rahman đã đisâu phân tích nội hàm an ninh hàng hải được hợp thành từ năm nội dung là “an ninh

Trang 17

môi trường biển, quản lý đại dương, bảo vệ đường biên giới trên biển, hoạt độngcủa lực lượng vũ trang trên biển và an ninh cho hệ thống giao thông vận tải biển” [

96, 14-17] Như vậy, các công trình nghiên cứu của các học giả chưa đưa ra mộtkhái niệm thống nhất về an ninh hàng hải nhưng có điểm chung là tiếp cận từ cáchiểm họa an ninh

Trong cuốn sách “Maritime security: an introduction”, tác giả Micheel MCNicolas đã nghiên cứu một cách đầy đủ các hiểm họa an ninh hàng hải đối với tàubiển, cảng biển như tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia venbiển, cướp biển, khủng bố hàng hải, người trốn theo tàu, vận chuyển trái phép matúy và các hành vi bất hợp pháp trên biển khác [164] Các hiểm họa này cũng đượcliệt kê trong tất cả các công trình nghiên cứu, điển hình có thể kể đến như cuốnsách“Maritime Security: International Law and Policy Perspectives from Australiaand New Zealand của Donal R Rothwell, cuốn sách “Maritime security and the Law

of the Sea” của Natalie Klein, hay cuốn sách “A practitioner’s Guide toEffective Ship and Port Security” của Michael Edgerton [105], [167], [165]

Tác giả Craig H Allen trong cuốn sách “Legal challenges in MaritimeSecurity: The International Supply Chain Security Regime and the Role ofCompetent International Organizations”, đã đưa ra nhận định “an ninh tàu biển vàcảng biển đóng một vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế bởi hệ thống vậntải biển kết nối thương mại toàn cầu tới hơn 200 quốc gia trên thế giới Chuỗi cungứng vận tải biển này thường xuyên bị đe dọa bởi các hiểm họa” và do đó, đồngquan điểm với tác giả Donna Nincic và Christian Bueger, tác giả Craig H.Allen đãnghiên cứu phương pháp quản lý rủi ro trên cơ sở xây dựng một “ma trận” quản lý,

từ đó xây dựng chiến lược và phương thức ưu tiên nhằm đối phó loại bỏ hiểm họahoặc giảm thiểu những tác hại mà hiểm họa có thể gây ra [99, 34-67]

Một nội dung quan trọng mà nhiều học giả đề cập đến trong các nghiên cứucủa mình chính là hệ thống pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển,cảng biển Cuốn sách chuyên khảo nghiên cứu luật quốc tế về an ninh hàng hải đốivới tàu biển, cảng biển đồ sộ nhất phải kể đến trước tiên chính là cuốn sách

“International Maritime Security Law” của các tác giả James Kraska và RaulPedrozo xuất bản năm 2013 với nội dung làm rõ các quy định của pháp luật quốc tế

về an ninh hàng hải [143, 94-678] Cùng cách tiếp cận trên, nhiều học giả đã nghiêncứu khuôn khổ pháp lý về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển dựa trên nềntảng Công ước Luật biển 1982, Công ước an toàn sinh mạng người trên biển, Bộluật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng Ngoài ra, những văn bản pháp lý quốc tế

Trang 18

điều chỉnh riêng từng hiểm họa an ninh đối với tàu biển và cảng biển cũng được cáchọc giả tập trung nghiên cứu.

1.1.2 Các hiểm họa đe dọa an ninh tàu biển và cảng biển

1.1.2.1 Tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển

Đây là một hiểm họa an ninh truyền thống, được các học giả đặc biệt quantâm nghiên cứu Phù hợp với phạm vi nghiên cứu của Luận án, tác giả chỉ đề cập tớinội dung của các công trình nghiên cứu liên quan đến tranh chấp và giải quyết tranhchấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia trên Biển Đông

Cuốn sách “The South China Sea towards a region of peace, security andcooperation” là tập hợp các bài tham luận của các học giả về an ninh biển Đôngtrong khuôn khổ hội nghị khoa học quốc tế với chủ đề “The South China Sea:Cooperation for Regional Security and Development” [190] Bên cạnh những bàiviết đánh giá tầm quan trọng của biển Đông trong môi trường chiến lược đang thayđổi, các học giả Mark J.Valencia, Leszek Buszyinky, Fu-Kuo Liu, Geoffrey Till tậptrung phân tích những diễn biến gần đây của biển Đông, các tranh chấp liên quanđến việc phân định ranh giới biển và chủ quyền đối với các đảo, lợi ích chiến lược

và mối quan hệ Trung Quốc – Mỹ dẫn tới những hệ lụy đối với hòa bình, an ninhtrong khu vực Các học giả cho rằng, giải quyết tranh chấp biển Đông đòi hỏi sựhiểu biết thấu đáo Luật Biển thật sự quy định như thế nào về việc phân định ranhgiới trên biển, do đó, vấn đề tranh chấp tại Biển Đông cần nhìn dưới góc độ luậtpháp quốc tế [157, 123-156], [155, 24-69], [110, 78-96], [112]

Giáo sư Zou Keyuan đưa ra quan điểm về “đảo nhân tạo” và tác động củađảo nhân tạo đối với tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Trường Sa trong bối cảnh kháiniệm “đảo nhân tạo” còn đang gây nhiều tranh cãi và chưa có bất kỳ định nghĩa nàođược chấp nhận rộng rãi mặc dù Công ước Luật Biển 1982 có các điều khoản đềcập tới khái niệm này [208, 167] Giáo sư Peter Dutton trong bài tham luận củamình, nghiên cứu về ba tranh chấp cơ bản ở Biển Đông và đưa ra kết luận, cần phải

có Bộ quy tắc ứng xử để đảm bảo hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực.Ngoài ra trong cuốn sách còn có rất nhiều tham luận của các học giả liên quan tớivấn đề giải quyết tranh chấp, quản lý xung đột, hợp tác trên mọi lĩnh vực vì an ninh

và phát triển ở Biển Đông [175, 148-162]

“Maritime security in South China Sea: Regional implication andInternational Cooperation” là một cuốn sách của Shicu Wu và Keyuand Zou tậptrung nghiên cứu về vấn đề an ninh hàng hải trên biển Đông đặc biệt là vấn đề an

Trang 19

ninh truyền thống liên quan tới tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền củacác quốc gia [187].

Cuốn sách “Maritime Security in Southeast Asia” của Kwa Chong Gan vàJohn K.Skogan tập trung nghiên cứu vấn đề an ninh hàng hải tại khu vực ĐôngNam Á, đề cập tới trách nhiệm của các quốc gia cũng như sự hợp tác của các quốcgia trong khu vực nhằm xây dựng một cơ chế hữu hiệu bảo đảm an ninh hàng hải,duy trì trật tự trên biển Nhìn chung, Công ước Luật biển 1982 là cơ sở nền tảng chocác học giả phân tích và đề xuất hướng giải quyết cho các tranh chấp cũng như yêusách về chủ quyền và chủ quyền của các quốc gia ven biển [154]

1.1.2.2 Cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyền

Là hiểm họa truyền thống luôn hiện hữu đe dọa an ninh tàu biển, cảng biển,

vì vậy cũng thật dễ hiểu khi có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiểm họa này.Trong cuốn sách “Maritime security: an introduction” của Michel McNicolas haycuốn“The Maritime Dimension of International Security Terrorism, Piracy, andChallenges for the United States” của Peter Chalk đã miêu tả cụ thể hành vi cướpbiển, địa điểm, phương thức thủ đoạn mà cướp biển sử dụng cũng như xu hướng sựphát triển của cướp biển trong kỷ nguyên hiện đại [164, 57-94], [176]

Có ba khu vực được đánh giá là tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao được các học giảtập trung nghiên cứu đó là: khu vực sừng Châu Phi, khu vực Tây Phi và khu vựcĐông Nam Á

Đối với khu vực Châu Phi, có rất nhiều các công trình nghiên cứu có thể kểđến như cuốn sách “The International Response to Somalia Piracy: Chanllege andopportunities” của Bibi V.G and Frans-Putten, “Somalia Piracy and Terrorism inthe Horn of Africa” của Christopher L.Daniels, “Maritime security and crime” và

“Regional Cooperation in Combating Piracy and Armed Robbery against Ships:Learning Lessons from ReCAAP” của Maximo Mejia [89], [97, 15-67], [162, 42-56], [161] Thông qua việc phân tích sự tác động của hiểm họa cướp biển tới kinh

tế, chính trị, trong đó So-ma-lia là một khu vực điển hình, các học giả đã phân tích

và lý giải xu hướng dịch chuyển của cướp biển, sự nỗ lực của cộng đồng quốc tếtrong việc ngăn chặn và đẩy lùi nạn cướp biển đồng thời đề xuất một số kiến nghị,giải pháp cho đấu tranh chống cướp biển

Đối với Đông Nam Á, một khu vực có nguy cơ rủi ro cướp biển cao hiệnđược các học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu Trong luận án tiến sĩ

“Comtemporary Maritime piracy in Southeast Asia”, tác giả Xu Ke đã nghiên cứu

Trang 20

lịch sử cướp biển khu vực Đông Nam Á, xu hướng phát triển của cướp biển, tráchnhiệm của cộng đồng quốc tế và quốc gia trong hợp tác chống lại cướp biển, đặcbiệt nhấn mạnh vai trò của cơ chế pháp lý quốc tế và vai trò của hợp tác khu vựctrong đó có ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản Tuy nhiên phạm vi của luận án chỉgiới hạn nghiên cứu cướp biển trong thời gian từ năm 1990 đến năm 2005 [206].

Bài viết “Trấn áp nạn cướp biển mới ở biển Đông: Hướng thiết lập mộtquan hệ hợp tác mới” của Zou Keyuan đã phân tích tình hình đấu tranh chống cướpbiển So-ma-lia để rút ra những bài học kinh nghiệm cho khu vực Đông Nam Átrong khi luận văn “Piracy in the Horn of Africa: a Comparative study withSoutheast Asia” của Stephen L Riggs lại phân tích hoạt động đấu tranh chống cướpbiển khu vực Đông Nam Á, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho khu vực SừngChâu Phi [84, 1-22], [189]

1.1.2.3 Khủng bố hàng hải

Các công trình nghiên cứu của các học giả đều cố xây dựng định nghĩa vềkhủng bố hàng hải bởi trong các văn bản pháp lý quốc tế đã không đưa ra địnhnghĩa mà chỉ xác định những hành vi nào được coi là khủng bố hàng hải

Tác giả Quentin Sophia trong bài viết “Shipping Activities: Targets ofMaritime Terrorism” không chỉ đưa ra định nghĩa về khủng bố hàng hải mà còn lýgiải vì sao tàu lại là mục tiêu tấn công của khủng bố [178, 19-30]

Cuốn sách “Maritime Terrorism Risk and Liability” của nhóm tác giảMichael D Greenberg, Peter Chalk, Henry H Willis, Ivan Khilko, David S Ortiz làmột công trình nghiên cứu chi tiết về khủng bố hàng hải, rủi ro, trách nhiệm và tácđộng mà hiểm họa gây ra cho đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt đối với tàukhách, phà chở khách và tàu container

Martin N Murphy, tác giả của hai cuốn sách “Contemporary Piracy andMaritime Terrorism: The Threat to International Security” và “Small Boats, WeakStates, Dirty Money: Piracy & Maritime Terrorism in the Modern World” tập trungnghiên cứu xu hướng kết hợp của khủng bố hàng hải và cướp biển [158], [159]

Cuốn sách “Maritime Terrorism and International Law” của tác giảNatalino Ronzitti đề cập các biện pháp đấu tranh chống lại hành động khủng bốhàng hải nhưng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả nội dung cơ bản của các văn bản pháp

lý quốc tế về khủng bố hàng hải [168]

1.1.2.4 Vận chuyển ma túy trái phép bằng đường biển

Đặt vấn đề vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển với an ninh con

Trang 21

người, an ninh quốc tế là cách tiếp cận của Paul Rexton Ka trong cuốn sách “DrugTrafficking and International Security” [173].

Trong cuốn sách “State Responsibility for Interferences with the Freedom ofNavigation in Public International Law”, tác giả Philipp Wendel đề cập tới cácphương thức cất giấu và các tuyến đường chính của hoạt độngvận chuyển ma túybằng đường biển [177, 38-56]

“The Maritime trade in illicit drugs: The experience of the coastal memberstates of O.E.C.D” là cuốn luận án của tác giả Bjorn Robertstad Aune nghiên cứumột cách đầy đủ về lịch sử vận chuyển và hoạt động vận chuyển trái phép chất matúy vào các thị trường lớn trên thế giới cũng như phân tích các quy định của phápluật quốc tế về đấu tranh chống lại hiểm họa này [90]

1.1.2.5 Người trốn theo tàu

Tác giả Michel McNicolas trong cuốn “Maritime security: an introduction”

đã phân tích động cơ chủ yếu của người trốn theo tàu, phương pháp, cách thức màngười trốn theo tàu sử dụng để tiếp cận lên tàu và những vị trí mà người trốn theotàu có thể ẩn nấp khi tiếp cận thành công lên tàu [164, 79- 94]

Tác giả B A H Parritt trong cuốn sách “Stowaways by sea” không chỉ phântích tình hình người trốn theo tàu có tác động như thế nào tới an ninh tàu biển, cảngbiển, mà còn đưa ra những gợi ý hướng dẫn các quy trình, thủ tục đã được ghi nhậntrong Công ước tạo thuận lợi cho giao thông hàng hải quốc tế (FAL 1965) nhằmgiúp cho thuyền trưởng, chính quyền cảng và các bên hữu quan xử lý tình huống khiphát hiện có người trốn theo tàu [88]

1.1.3 Pháp luật quốc tế về các biện pháp tăng cường an ninh hàng hải đối vớitàu biển, cảng biển

Công ước an toàn sinh mạng người trên biển – văn bản hợp nhất SOLAS(Chương XI-2 về các biện pháp tăng cường an ninh tàu và bến cảng), Bộ luật quốc

tế về an ninh tàu và bến cảng (ISPS code) là hai văn bản pháp lý quốc tế quan trọngđưa ra các yêu cầu thực thi các biện pháp nhằm tăng cường an ninh tàu biển, cảngbiển trước các hiểm họa đe dọa an ninh và được nhiều học giả đề cập đến trongnghiên cứu của mình

Trong luận án “How the ISPS Code affects port and port activities”,Arsham Mazaheri đã phân tích bản chất của Bộ luật ISPS, tác động của việc thực thi

Bộ luật này đối với hệ thống cảng biển nhưng chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm

vi các cảng biển của Thụy Điển

Trang 22

Cuốn sách “A practitioner’s Guide to Effective Ship and Port Security” củatác giả Michael Edgerton đã phân tích các rủi ro, đánh giá khả năng tác động củamột số hiểm họa đe dọa tới an ninh cảng, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường anninh cảng biển [165, 56-124] Các biện pháp tăng cường an ninh hàng hải đối vớitàu biển và cảng biển trước các hiểm họa đe dọa an ninh cũng được đề cập tới trongcuốn sách “International Maritime Security Law” của James Kraska and RaulPedrozo [143, 378-515].

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến đề tài luận án

Ở Việt Nam, vấn đề an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển chưa nhậnđược nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các học giả, ngoài một số bài viết tiếp cậntừng khía cạnh nhỏ của vấn đề an ninh hàng hải, thể hiện qua một số nội dung chínhliên quan đến đề tài luận án như sau:

1.2.1 Một số vấn đề lý luận về an ninh tàu biển, cảng biển

Nghiên cứu về đề tài an ninh nói chung, có các công trình nghiên cứu tiêubiểu phải kể đến như cuốn sách “An ninh phi truyền thống – Những vấn đề lý thuyết

và thực tiễn” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn, PGS.TS Phạm Thành Dung, PGS.TS ĐoànMinh Huấn, “Giới thiệu một số khái niệm an ninh” của tác giả Hồng Hải hay Luận

án tiến sĩ“Vấn đề an ninh con người trong pháp luật quốc tế hiện đại” của tác giảChu Mạnh Hùng [66], [36, 24-42], [44] Các công trình này có những luận giải sâusắc về khái niệm an ninh trong quan hệ quốc tế Những kết quả nghiên cứu của cáccông trình này có giá trị sẽ giúp tác giả thêm những kiến thức nền tảng cơ bản đểgiải quyết những vấn đề lý luận về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển.1.2.2 Hiểm họa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển Việt Nam

1.2.2.1 Tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển

Bài viết “Công ước quốc tế về Luật biển 1982 của Liên Hợp quốc và tìnhhình an ninh hàng hải trên biển Đông” của TS Nguyễn Thị Lan Anh đăng trong kỷyếu “Hội thảo quốc tế về biển Đông-hợp tác về an ninh và phát triển trong khu vực”năm 2014 được đánh giá là bài nghiên cứu sâu sắc về tình hình an ninh biển Đông,mối liên hệ giữa Công ước Luật biển 1982 với các hiểm họa đe dọa an ninh hànghải, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát và quản lý hiệu quả các mối đe dọa

an ninh hàng hải trên biển Đông [1,1-16]

Một bài nghiên cứu nữa cũng của T.S Nguyễn Thị Lan Anh “Luật Quốc tế

về phân định biển và tác động đến tranh chấp biển Đông” cho rằng “phân định biển

Trang 23

chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ, do vậy việcgiải quyết các tranh chấp về lãnh thổ phải được giải quyết trước khi tiến hành phânđịnh biển” [2, 314-330] Theo tác giả, tại biển Đông hiện nay, khi các tranh chấp vềlãnh thổ đang lâm vào bế tắc, thì việc tìm hiểu một góc độ khác từ các nguyên tắcphân định biển, sẽ tạo điều kiện cho các bên giải quyết tranh chấp.

Bài viết “Chính sách của Việt Nam về an ninh biển” của Đại tá, Th.s VũKhanh nhấn mạnh đến chính sách của Việt Nam trong việc kêu gọi các bên liênquan tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm

1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố Nguyêntắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ởBiển Đông (COC) để giải quyết các vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phitruyền thống của khu vực biển Đông [47, 23-28]

1.2.2.2 Cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyền

Một số học giả đề cập trong nghiên cứu của mình vấn đề về cướp biển,nhưng mới chỉ dừng lại ở sự thống kê tình hình cướp biển, có thể kể đến như bàibáo “Những vụ tấn công của cướp biển và trộm cắp có vũ trang” của tác giả ThànhTrung hay bài báo “Phòng chống cướp biển” của tác giả Đỗ Hồng Minh Trong bàibáo “IMO hành động đối phó với nạn cướp biển” của Thuyền trưởng Nguyễn ViệtAnh không những chỉ ra thực trạng cướp biển So-ma-lia mà còn phân tích vai tròcủa Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) trong đấu tranh chống cướp biển

Luận văn thạc sĩ “Tình hình cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàuthuyền và một số hướng dẫn cho thuyền viên” của Nguyễn Văn Thịnh năm 2007 tạitrường Đại học Hàng hải Việt Nam đã đưa ra những thống kê về tình hình cướpbiển, các khu vực xảy ra cướp biển, hướng dẫn cho thuyền trưởng và thuyền viênphải hành động như thế nào khi bị cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyềntấn công Tuy nhiên, luận văn không đưa ra được những giải pháp dưới góc độ luậthọc trong đấu tranh chống cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyền

1.2.2.3 Khủng bố hàng hải

Khủng bố hàng hải là hiểm họa tiềm tàng bởi trên thực tế cho đến nay, chưaxảy ra bất kỳ vụ khủng bố hàng hải nào đe dọa đến an ninh tàu biển, cảng biển tạiViệt Nam Đó cũng một phần lý giải cho việc chưa có nhiều bài viết, công trìnhnghiên cứu của các học giả Việt Nam liên quan tới vấn đề này Trong một số côngtrình như “Pháp luật Quốc tế với vấn đề khủng bố quốc tế: một số vấn đề lý luận vàthực tiễn” của tác giả Trần Minh Thu hay “Hợp tác quốc tế về chống khủng bố và

Trang 24

liên hệ thực tiễn Việt Nam” của tác giả Bùi Mạnh Hùng, có nghiên cứu những vấn

đề lí luận về khủng bố, các văn bản pháp lý quốc tế về khủng bố, trong đó có đề cậpkhông nhiều tới Công ước SUA về khủng bố hàng hải [74], [43]

1.2.2.4 Người trốn theo tàu

Có không nhiều các bài viết đề cập tới hiểm họa này, tiêu biểu có thể kểđến bài viết “Phát hiện người trốn theo tàu: thuyền trưởng phải làm gì” củaThuyền trưởng Đỗ Bùi Hồng Minh nhằm đưa ra những gợi ý hữu ích cho cácthuyền trưởng khi tàu đi vào khu vực có nguy cơ người trốn theo tàu cao, đặc biệtkhi tàu đến cảng các nước Châu Phi [51, 33-35] Thuyền trưởng Phan Thiết với bàibáo “Thuyền trưởng với vấn đề người vượt biên và người tị nạn trên biển” cũngđưa ra các chỉ ra các hướng dẫn cụ thể cho các thuyền trưởng khi phát hiện ngườivượt biên trên tàu và khi phát hiện người tị nạn trên biển [73,55-56]

1.2.3 Pháp luật Việt Nam về các biện pháp tăng cường an ninh hàng hải đối với

tàu biển, cảng biển

Không nhiều công trình nghiên cứu của học giả trong nước đánh giá về quátrình áp dụng Bộ luật ISPS tại Việt Nam, tiêu biểu có thể kể đến luận văn thạc sĩ

“Nghiên cứu nâng cao hiệu quả áp dụng bộ luật ISPS cho cảng biển Cái Lân –Quảng Ninh và các tàu đến cảng” của K.S Nguyễn Đình Hải năm 2010, luận vănthạc sĩ “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả áp dụng bộ luật ISPS cho cảng biển NamHải-Hải phòng và tàu biển đến cảng giai đoạn 2011-2020” của K.S Nguyễn AnhTuấn năm 2011, luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả áp dụng bộ luậtISPS cho cảng biển Cẩm Phả – Quảng Ninh và các tàu đến cảng trong giai đoạn2013-2018” của Phạm Thế Trọng Toản năm 2013 Đặc điểm chung của ba luận vănthạc sĩ thuộc Trường Đại học Hàng hải Việt Nam này là giới thiệu về Bộ luật ISPS,đánh giá hiệu quả áp dụng Bộ luật ISPS tại một cảng cụ thể của Việt Nam Tuynhiên, các công trình này đều không tiếp cận an ninh hàng hải dưới góc độ luật học

mà dưới góc độ kỹ thuật nghiệp vụ của an ninh của tàu biểnvà cảng biển trong quátrình vận tải biển quốc tế

Luận văn thạc sĩ luật học của Bùi Thị Huyền “Các yêu cầu của Bộ luật anninh tàu và bến cảng (ISPS code) và việc thực thi tại Việt Nam”, năm 2015, có đềcập tới nội dung cơ bản của Bộ luật ISPS, thực trạng đội tàu Việt Nam, hệ thốngcảng biển Việt Nam, những vấn đề khó khăn của Việt Nam trong việc thực thi Bộluật ISPS nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ đề cập đến công tác kiểm tra Nhà nướccảng biển – một khía cạnh nhỏ của bảo đảm an ninh cảng biển

Trang 25

Tác giả Nguyễn Hoàng trong bài viết “Một số tồn tại bất cập trong công tácquản lý Nhà nước về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, các giải pháp khắc phục

và định hướng hoạt động trong thời gian tới” có chỉ ra những bất cập trong côngtác an toàn hàng hải và an ninh hàng hải từ đó đề xuất một số các giải pháp cơ bảncho tăng cường an toàn, an ninh hàng hải

Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu các giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về an toàn, an ninh hàng hải” tác giả Đỗ ĐứcTiến tập trung chỉ ra những bất cập trong quản lý an ninh hàng hải, kinh nghiệmquản lý an ninh hàng hải của một số quốc gia từ đó đề xuất các giải pháp nâng caohiệu quả quản lý nhà nước về an ninh hàng hải Tuy nhiên, những giải pháp về mặtluật học chưa được đề cập đến [76] Đề án “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

về an ninh hàng hải” do Cục Hàng hải thực hiện có đánh giá hiện trạng an ninhhàng hải, thực trạng tổ chức quản lý an ninh hàng hải của Việt Nam trên cơ sở đó đềxuất một số giải pháp hoàn thiện Trung tâm thông tin an ninh hàng hải nhằm tăngcường công tác quản lý an ninh hàng hải

Với mục đích góp phần nâng cao hiệu quả công tác xử lý thông tin an ninhhàng hải, từ đó đảm bảo an toàn an ninh hàng hải, giảm thiểu sự cố an ninh trên tàubiển và bến cảng, Trung tâm thông tin an ninh hàng hải đã thực hiện đề tài nghiêncứu cấp bộ“Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý thông tin an ninhhàng hải nhằm đảm bảo an toàn, an ninh hàng hải” năm 2013 Đề tài đã phân tích,quy trình phối hợp, xử lý thông tin an ninh hàng, chỉ ra những thách thức và nhữngyếu tố ảnh hưởng đến công tác phối hợp xử lý thông tin an ninh hàng hải, nhữnghạn chế bất cập của các doanh nghiệp cảng biển, công ty tàu biển trong việc không

áp dụng hoặc thực hiện không tốt Bộ luật ISPS code, trên cơ sở đó đề xuất các giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý thông tin an ninh hàng hải [78]

Giải pháp hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực để xây dựng cộng đồng anninh khu vực nhằm tăng cường an ninh hàng hải cũng được Thiếu tướng Tiến sĩNguyễn Quang Đạm đề cập trong bài viết “Hợp tác quốc tế trong giải quyết cácvấn đề an ninh phi truyền thống trên biển” [31, 179-192]

Như vậy, dù đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về an ninh hàng hảiđối với tàu biển, cảng biển nhưng chưa có một công trình nào, nhất là ở cấp độ luận

án tiến sĩ luật học nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện vấn đề an ninh hàng hảiđối với tàu biển, cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn Việt Nam để từ đó

đề xuất, kiến nghị hệ thống giải pháp đồng bộ cho tăng cường bảo đảm an ninhhàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam trước các hiểm họa an ninh

Trang 26

1.3 Đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tàiluận án và những vấn đế luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.3.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án1.3.1.1 Những ưu điểm và kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục

phát triển

Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến cơ sở lý luận của an ninh hàng hảiđối với tàu biển, cảng biển như khái niệm an ninh hàng hải, các hiểm họa an ninh.Đây sẽ là cơ sở lý luận giúp tác giả tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận về anninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển Đặc biệt các công trình nghiên cứu củacác học giả nước ngoài đã cho tác giả một bức tranh toàn cảnh về an ninh hàng hảiđối với tàu biển, cảng biển trong bối cảnh thương mại hóa toàn cầu Những tri thức

từ sự tổng hợp, thống kê, phân tích về an ninh tàu biển, cảng biển của các học giảtiền bối sẽ là cơ sở để tác giả tiếp tục phát triển sâu hơn về vai trò của an ninh hànghải đối với tàu biển, cảng biển trong hoạt động thương mại quốc tế, cũng như đặt anninh hàng hải trong mối quan hệ với an toàn hàng hải và an ninh quốc gia

Một trong những kết quả nghiên cứu có ý nghĩa từ các công trình nghiên cứukhoa học kể trên là đã khái quát tương đối đầy đủ pháp luật quốc tế về an ninh hànghải đối với tàu biển, cảng biển, từ đó giúp tác giả có cơ sở khoa học để nghiên cứu

so sánh với thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về an ninhhàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam

Mặc dù các công trình nghiên cứu khoa học trong nước mới chỉ dừng lại ởviệc tiếp cận một số khía cạnh nhỏ của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển,nhưng đã nỗ lực chỉ ra những điểm bất cập như vấn đề xử lý thông tin an ninh hànghải, vấn đề quản lý nhà nước về an ninh hàng hải Đây sẽ là những cơ sở khoa họcquý báu để tác giả tiếp tục nghiên cứu những bất cập trong thực trạng pháp luật,thực tiễn thi hành pháp luật về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của ViệtNam, tìm nguyên nhân để từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảmtăng cường an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam

1.3.1.2 Những vấn đề chưa giải quyết thấu đáo

Thứ nhất : vấn đề an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển được tiếp cậndưới nhiều góc độ khác nhau, với nhiều định nghĩa khác nhau mà chưa xây dựngđược một khái niệm chung về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển

Thứ hai: có nhiều công trình của các học giả nước ngoài nghiên cứu về anninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển nhưng thường chỉ dừng lại ở mức mô tả

Trang 27

pháp luật mà không phân tích sâu nội dung của pháp luật quốc tế về an ninh hànghải đối với tàu biển, cảng biển, lại càng không nghiên cứu pháp luật Việt Nam về anninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển cũng như đề xuất các giải pháp, kiến nghịbảo đảm tăng cường an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam.

Thứ ba: pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biểnluôn được các tổ chức quốc tế sửa đổi, bổ sung Hàng năm, Tổ chức hàng hải quốc

tế thường xuyên ban hành các Thông Tri, Nghị quyết sửa đổi, bổ sung hoặc hướngdẫn thực thi các công ước, bộ luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảngbiển cho phù hợp với tình hình mới Do đó, các công trình nghiên cứu thường mất

đi tính thời sự khi chưa nghiên cứu, cập nhật các văn bản pháp luật quốc tế này

Thứ tư: ở Việt Nam, vấn đề an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biểnchưa được tập trung nghiên cứu với rất các công trình nghiên cứu và nếu có thì chỉ

đề cập tới một vài khía cạnh của an ninh hàng hải như vấn đề xử lý thông tin anninh hàng hải, quản lý an ninh hàng hải, hoặc đề cập đến cướp biển, an ninh cảngbiển tại một số cảng nhất định Có thể nói chưa có một công trình nào nghiên cứumột cách đầy đủ, toàn diện vấn đề an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trongpháp luật quốc tế và thực tiễn Việt Nam, nhất là ở cấp độ luận án tiến sĩ

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu mà các học giả trongnước và ngoài nước đã đạt được, thì luận án cần tiêp tục nghiên cứu các vấn đề sau:

Thứ nhất là tiếp tục làm sáng tỏ hơn, sâu sắc hơn hệ thống lý luận về anninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, cụ thể là:

- Làm rõ khái niệm tàu biển, cảng biển, khái quát hóa được khái niệm anninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển Nhận diện các hiểm họa an ninh hàng hảiđối với tàu biển, cảng biển, nghiên cứu làm nổi bật vai trò của an ninh hàng hải đốivới tàu biển, cảng biển trong thương mại quốc tế

- Trong quá trình nghiên cứu cần đặt an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảngbiển trong mối quan hệ với an toàn hàng hải và an ninh quốc gia làm cơ sở cho đềxuất các giải pháp xây dựng chính sách, pháp luật của quốc gia về an ninh hàng hảiđối với tàu biển, cảng biển

Thứ hai là nghiên cứu hệ thống pháp luật quốc tế và thực thi pháp luật quốc

tế về an ninh hàng hàng hải đối với tàu biển, cảng biển tại một số quốc gia cụ thể:

- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chế định an ninh hàng hảiđối với tàu biển, cảng biển trong pháp luật quốc tế- một vấn đề chưa được các họcgiả đề cập tới

Trang 28

- Tiếp tục nghiên cứu, phân tích nhằm làm sáng tỏ nội dung của các quy địnhtrong pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển cũng nhưliên hệ thực tiễn thi hành pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải tại một số quốc gianhư Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Ma-lay-xia.

- Phân tích các thiết chế quốc tế trong việc bảo đảm thực thi pháp luật quốc

tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển

Thứ ba là cần tiếp tục nghiên cứu vấn đề pháp luật Việt Nam về an ninhhàng hải đối với tàu biển, cảng biển Đây là vấn đề pháp lý chưa được nhiều học giảtrong nước và ngoài nước nghiên cứu một cách toàn diện, và sẽ là cơ hội cho tác giảđược tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu trong luận án của mình Cụ thể là:

- Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàubiển, cảng biển, quá trình nội luật hóa các Công ước quốc tế để thấy mức độ tươngthích và phù hợp của pháp luật Việt Nam với các Công ước quốc tế về an ninh hànghải đối với tàu biển, cảng biển mà Việt Nam đã ký kết, tham gia

- Phân tích thực tiễn thi hành pháp luật an ninh hàng hải đối với tàu biển,cảng biển Hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong bảo đảm thực thi pháp luật về

an ninh hàng hải cũng được tiếp tục đề cập đến trong luận án

- Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu chỉ ra các bất cập còn tồn tại trong hệthống pháp luật để đề xuất giải pháp đồng bộ cho bảo đảm tăng cường an ninh hànghải đối với tàu biển và cảng biển của Việt Nam

1.3.3 Giả thuyết nghiên cứu của luận án

Giả thuyết thứ nhất : Trong bối cảnh hội nhập và thương mại hóa toàn cầu,

an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển đang bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa

Giả thuyết thứ hai: Pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển,cảng biển là công cụ hữu hiệu và hợp tác quốc tế là xu hướng tất yếu cho các quốcgia trong đấu tranh, đối phó với các hiểm họa đe dọa an ninh

Giả thuyết thứ ba: Thực trạng pháp luật Việt Nam về an ninh hàng hải đốivới tàu biển, cảng biển chưa thực sự đầy đủ, còn tồn tại nhiều mẫu thuẫn, bất cậptrong thực tiễn thi hành, đòi hỏi phải xây dựng chính sách và hệ thống các giải phápđồng bộ để tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải Việt Nam trước các hiểm họa đedọa an ninh tàu biển cảng biển hiện nay

1.3.4 Câu hỏi nghiên cứu

Nội dung của Luận án sẽ tập trung nghiên cứu để trả lời cho các câu hỏi:Khái niệm, vai trò và các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải đối với tàu biểncảng biển? Mối quan hệ giữa an ninh hàng hải với an toàn hàng hải, an ninh hàng

Trang 29

hải với an ninh quốc gia?

Tại sao pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển quyđịnh tương đối đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia, các chủ thể liên quantrong hợp tác, ứng phó với các hiểm họa đe dọa an ninh nhưng lại chưa hiệu quảtrong bảo đảm tăng cường an ninh tàu biển, cảng biển trên thực tế?

Hệ thống pháp luật Việt Nam đã đầy đủ và phù hợp với các điều ước quốc tế

về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển mà Việt Nam đã ký kết hoặc thamgia chưa và cần hoàn thiện như thế nào để trở thành một công cụ hữu hiệu trongtăng cường bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển?

1.3.5 Hướng tiếp cận của luận án

Để luận giải, minh chứng cho các giả thuyết của luận án, tìm câu trả lời chocác câu hỏi nghiên cứu, luận án sẽ tiếp cận theo các hướng sau:

Tiếp cận hệ thống: An ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển được đặtnghiên cứu trong mối quan hệ với an toàn hàng hải, an ninh quốc gia, an ninh conngười và trong các văn bản pháp lý quốc tế, tạo nên một hệ thống chỉnh thể thốngnhất, toàn diện

Tiếp cận liên ngành: Luận án có sự kết hợp tri thức của nhiều ngành khoahọc như khoa học chính trị, khoa học triết học, khoa học hàng hải, khoa học Luật(luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật hàng hải, luật công pháp quốc tế…)

Tiếp cận lịch sử: Quan điểm lịch sử được nhất quán trong toàn bộ quá trìnhnghiên cứu, đặc biệt trong việc đánh giá sự hình thành và thực thi pháp luật quốc tế

về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển

Tiếp cận so sánh: Được sử dụng trong quá trình nghiên cứu pháp luật của cácquốc gia khác, từ đó so sánh, rút ra những kinh nghiệm thực tiễn cho Việt Nam

Kết luận chương 1Nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu của các học giả tiền bối đãcho tác giả một cái nhìn toàn diện, sâu sắc về các vấn đề liên quan đến đề tài luận

án, qua đó, tác giả nhận thấy mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về an ninhhàng hải nhưng chưa có một công trình nào, đặc biệt ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiêncứu tiếp cận một cách đầy đủ, toàn diện về vấn đề này Nhận thức được điều đó,nghiên cứu sinh đã xác định rõ mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Đó là sẽ tiếp tục tậptrung làm rõ những vấn đề lý luận về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển,pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển,cảng biển để từ đó đề xuất những giải pháp tổng thể, toàn diện nhằm tăng cườngbảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển tại Việt Nam

Trang 30

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN NINH HÀNG HẢI ĐỐI

VỚI TÀU BIỂN, CẢNG BIỂN2.1 Khái niệm và vai trò của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biểntrong quan hệ quốc tế

Trong chương này, tác giả sẽ làm tập trung làm rõ nội hàm định nghĩa anninh, tàu biển, cảng biển, an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển Đặc điểm vàvai trò của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển cũng được tập trung nghiêncứu với mục đích luận giải cho phạm vi và hướng nghiên cứu của đề tài

đe dọa” [83,9], [45,19] Dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng giữa các kháiniệm có sự tương đồng ở chỗ an ninh là không tồn tại sự đe dọa và nguy hiểm

An ninh là một nội dung quan trọng trong quan hệ quốc tế, là "hình thứcđặc biệt của chính trị" [152,18] Tuy nhiên, an ninh không phải là khái niệm tĩnh

mà luôn phát triển và mở rộng với thời gian Nhìn lại chiều dài lịch sử thế kỷ 20,trong bối cảnh xung đột vũ trang của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Chiếntranh thế giới lần thứ hai, Chiến tranh lạnh, khái niệm an ninh được hiểu như khảnăng của một quốc gia có thể ngăn chặn được cuộc xâm lược vũ trang từ bên ngoài

Vì vậy, trong lý thuyết quan hệ quốc tế, Chủ nghĩa hiện thực đã đồng nhất coi anninh là sự bảo vệ hay đảm bảo chủ quyền của một quốc gia trước sự tấn công hoặcảnh hưởng của các quốc gia khác

Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa, hộinhập mạnh mẽ, sâu rộng trên mọi lĩnh vực Trong kỷ nguyên mới, các quốc giacũng phải đối diện với nhiều hiểm họa an ninh, không chỉ đến từ bên ngoài mà cònxuất phát từ chính bên trong, không chỉ đến từ vũ khí, máy bay, tàu chiến mà cònđến từ chính kinh tế, văn hóa, xã hội Ô nhiễm môi trường, biển đổi khí hậu, thiên

Trang 31

tai, bệnh dịch, đói nghèo, di dân, cạn kiệt tài nguyên… - những thứ vốn thuộc chủ

đề “chính trị cấp thấp” trong góc nhìn của Chủ nghĩa hiện thực – bỗng trở nên sốngđộng, làm tâm điểm bàn luận cho vấn đề an ninh phi truyền thống [44,38] Đó làquan niệm mới về một trạng thái an ninh với sự mở rộng theo hướng không chỉ tậptrung vào cấp độ quốc gia mà còn tập trung vào cả cấp độ cá nhân và an ninh conngười là một trong những cách tiếp cận nổi bật

Tuy nhiên, nhận thức và xác định những vấn đề an ninh phi truyền thống vẫnchưa có sự thống nhất Nhiều công trình nghiên cứu đã trích dẫn quan điểm củaLiên hợp quốc về vấn đề an ninh phi truyền thống bao gồm 7 lĩnh vực chính là: anninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh y tế, an ninh môi trường, an ninh cá nhân,

an ninh cộng đồng và an ninh chính trị [16,22] Một số nghiên cứu khác lại quy anninh phi truyền thống về 5 lĩnh vực cơ bản gồm: an ninh môi trường, an ninh kinh

tế, an ninh xã hội, an ninh chính trị và an ninh văn hóa hay phân thành 6 nhómchính: ô nhiễm môi trường, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, tội phạm xuyên quốcgia, nạn khủng bố, dịch bệnh truyền nhiễm và thảm họa địa chất [ 149,25]

Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 giữa các nước ASEAN vàTrung Quốc đã ra Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực

an ninh phi truyền thống, xác định an ninh phi truyền thống là những vấn đề: tộiphạm xuyên quốc gia, khủng bố, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn lậu vũkhí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế, tội phạm công nghệ cao

Tuy có nhiều quan điểm, nhưng chúng đều có một điểm chung là xác địnhcác vấn đề an ninh phi truyền thống là gì để so sánh và qua đó thấy được sự khácbiệt với vấn đề an ninh truyền thống Nếu an ninh truyền thống coi quốc gia là đốitượng của an ninh và giá trị của an ninh là chủ quyền quốc gia, được biểu hiện bằng

sự toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết tối cao trong lĩnh vực đối nội đối ngoại thì

an ninh phi truyền thống lại coi con người là đối tượng của an ninh và giá trị cơ bảncủa an ninh phi truyền thống xoay quanh tất cả vấn đề khác có khả năng trở thànhmột mối đe dọa đối với cuộc sống của quốc gia hay cộng đồng [79,25], [44 ,45].2.1.1.2 Định nghĩa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển

Trước khi tiếp cận định nghĩa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, tácgiả cần làm rõ một số vấn đề về tàu biển, cảng biển, quy chế pháp lý của tàu biển,cảng biển, bởi lẽ nội dung của nó không chỉ quan trọng trong việc góp phần làm rõđịnh nghĩa về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển mà còn giúp tác giả xácđịnh phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Trang 32

a Định nghĩa tàu biển

Là một phương tiện hình thành lâu đời trong lịch sử nhân loại nhưng địnhnghĩa tàu biển được hiểu và giải thích không đồng nhất trong các văn kiện pháp lýquốc tế và pháp luật của các quốc gia Qua kết quả nghiên cứu đạt được của một sốhọc giả như G Yankov, Jan Gidel hay Don Meyer, thì tàu biển – “ship” là bất kỳloại tàu thuyền, có cấu trúc nổi, có kích cỡ lớn, có khả năng hành hải qua các vùngbiển rộng [171,248], [145,70], [102,22] Trong khi đó, tàu thuyền – “vessel” là cấutrúc nổi di động được thiết kế để hoạt động trên biển và các vùng nước liên quanvới chức năng chuyên chở người hoặc hàng hóa [145,70], [192,764], [179,911]

Với sự giải thích trên, thuật ngữ “tàu biển” có nội hàm hẹp hơn thuật ngữ

“tàu thuyền” bởi một tàu thuyền đi trên biển gọi là tàu biển, ngược lại không thể gọimột chiếc tàu thuyền là tàu biển nếu tàu thuyền ấy hoạt động trên sông, hồ hoặcnhững vùng nước không liên quan đến biển

Trong pháp luật quốc tế, định nghĩa tàu biển được đề cập ở 25 Công ướcquốc tế đa phương và mỗi định nghĩa được đưa ra trong Công ước chỉ phù hợp vớimục đích và phạm vi điều chỉnh của từng Công ước đó [179, 912]

Thuật ngữ “ship” trong Công ước Hagues 1924 được dùng chỉ tàu biển – “làbất kỳ loại tàu nào dùng vào việc chuyên chở hàng hoá bằng đường biển” và đượcgiải thích chi tiết hơn trong Công Marpol 1973-1978 -“là bất kỳ kiểu tàu nào hoạtđộng trong môi trường biển, kể cả tàu tàu cánh ngầm, tàu đệm khí, tàu ngầm,phương tiện nổi, cũng như các công trình nổi cố định hoặc di động” [196], [126]

Trong một số Công ước quốc tế khác, thuật ngữ “ship”- tàu biển được thaythế bằng thuật ngữ “vessel”- tàu thuyền, ví dụ như trong Công ước Colreg 1972, tàuthuyền bao gồm tất cả các loại phương tiện dùng hoặc có thể dùng làm phương tiệngiao thông trên mặt nước, kể cả loại tàu không có lượng chiếm nước, tàu cánh ngầm(WIG), thủy phi cơ [125] Thuật ngữ “vessel” được giải thích một cách ngắn gọntrong Công ước quốc tế về cứu hộ năm 1989, “là bất cứ tàu, phương tiện hoặc cấutrúc nổi có khả năng hành hải”[128]

Nhiều quan điểm cho rằng, thuật ngữ “ship” hay “vessel” không tạo ra haikhái niệm khác nhau và việc sử dụng chúng phụ thuộc vào từng ngữ cảnh cụ thể.Quan điểm này dần chiếm ưu thế và được thể hiện trong UNCLOS khi thuậtngữ “ship” được đề cập tại các phần II, III (trừ Điều 42 (1,c)), IV, VII và X; cònthuật ngữ “vessel” được đề cập tại phần I, V, XII (trừ Điều 233), XIII và XV Nhưvậy, trong UNCLOS không có sự phân biệt về mặt pháp lý giữa hai thuật ngữ này

Một điểm chung dễ nhận thấy trong rất nhiều Công ước quốc tế, tàu biển

Trang 33

thường bị giới hạn là tàu đi trên biển, không bao gồm tàu sông, tàu quân sự, tàu cá,tàu gỗ thô sơ, tàu du lịch, du thuyền và tàu của quốc gia không tham gia vào mụcđích thương mại bởi mục đích của tàu biển là thương mại với chức năng vận chuyểnhàng hóa, hành khách Ngoài ra, loại tàu nhỏ, có tổng dung tích dưới 500 cũngkhông được coi là tàu biển bởi theo cách hiểu truyền thống, tàu biển là phương tiệnvận chuyển kích cỡ lớn, có khả năng đi qua đại dương và các vùng biển rộng [136].

Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, định nghĩa tàu biển được tiếp cậnkhác nhau, có thể khái quát thành các nhóm:

Nhóm thứ nhất: một số quốc gia (Hoa Kỳ, Canada Liberia Nga, Anh…) đãđưa ra định nghĩa tàu biển trên cơ sở mô tả đặc tính tàu biển là có cấu trúc nổi, dùngtrong hành hải cho mục đích vận tải thương mại

Nhóm hai: một số quốc gia như Xinh-ga-po, New Zealand đưa ra địnhnghĩa tàu biển trên cở sở mô tả đặc tính tàu đồng thời liệt kê các loại tàu nào đượccoi là tàu biển

Nhóm ba: một số quốc gia (Autralia , Nhật Bản, Trung Quốc…) đưa ra địnhnghĩa về tàu biển trên sơ sở vừa mô tả đặc tính tàu, vừa kết hợp việc liệt kê các loạitàu nào là tàu biển và liệt kê những đối tượng không phải tàu biển

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về tàu biển, nhưng các định nghĩa đóđều chỉ ra những đặc điểm chung dễ nhận biết của tàu biển:

Thứ nhất: tàu biển phải là một loại cấu trúc nổi di động, có động cơ hoặckhông có động cơ, có khả năng hành hải trên biển Tính nổi là đặc điểm chung củatàu biển, do đó, các phương tiện tàu ngầm hay thủy phi cơ sẽ chỉ được coi là tàubiển khi chúng đi nổi trên mặt nước Ngoài ra đặc tính hoạt động trên biển và đạidương cũng là đặc điểm để phân biệt tàu biển với tàu thủy nội địa vì cùng là tàunhưng hoạt động ở các vùng nước khác nhau sẽ có quy chế pháp lý khác nhau

Thứ hai: tàu biển có mục đích thương mại với vai trò là một phương tiệnvận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường biển Đây là đặc điểm để nhận dạng

và phân biệt tàu biển với tàu công vụ nhà nước, tàu quân sự, tàu cá, tàu gỗ thô sơ vàloại tàu khác không có mục đích thương mại

Trong Bộ luật Hàng Hải Việt Nam năm 2015, tàu biển được định nghĩa “làphương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển không bao gồm tàu quân

sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ,kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi” [61]

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đồng ý với định nghĩa tàu biểnđược đưa ra trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, bởi lẽ, định nghĩa này phù

Trang 34

hợp với các định nghĩa về tàu biển trong các Công ước quốc tế, thể hiện rõ nétthuộc tính nổi di động, hoạt động trên biển với mục đích thương mại– vốn là nhữngđặc điểm cơ bản của tàu biển Việc loại trừ các phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm,tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi ra khỏi định nghĩa tàu biểntheo quy định của Bộ luật Hàng hải năm 2015 hiện hành là hoàn toàn hợp lý và phùhợp với tinh thần của nhiều Công ước như Công ước Hagues 1924, Công ướcAthens 1974, Công ước Inmarsat 1976, bởi các đối tượng này có điểm khác tàubiển là không có khả năng tự dịch chuyển trên biển.

b Định nghĩa cảng biển

Cảng biển có lịch sử hình thành lâu đời, đánh dấu sự nhận thức của conngười từ rất sớm về vai trò của giao thông vận tải biển và một trong những côngtrình cảng biển lâu đời nhất được biết đến trên thế giới là cảng Alexandria, xâydựng vào năm 1900 trước công nguyên [25,19] Nếu như khó tìm được một địnhnghĩa thống nhất về tàu biển, thì với cảng biển, dường như có một cách hiểu tươngđối nhất quán trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia

Thuật ngữ “seaport” - trong từ điển tiếng Anh trước tiên được hiểu là mộtđơn vị lãnh thổ được thành lập trên bờ biển [203,23] Học giả J Grosdidier deMatons cũng đồng quan điểm trên, khi ông cho rằng, “cảng biển là một nơi dọc bờbiển, được quản lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền do Nhà nước chỉ định, đểphục vụ cho mục đích thương mại bằng đường biển” [151,13] Tuy nhiên, địnhnghĩa của J Grosdidier de Matons đã không tính đến sự tồn tại của rất nhiều cảngbiển, trên thực tế có tham gia vào giao thông vận tải biển quốc tế nhưng nằm cáchbiển hàng trăm dặm (ví dụ như cảng Asuncion của Paraguay) Thuật ngữ "cảngbiển" cũng có thể được sử dụng để chỉ các tuyến đường hẻm ở phía tây bờ biển châuPhi, nơi các khúc gỗ sau khi được xếp đã thả ra khỏi bờ và trở thành cầu tàu đangđược sử dụng dọc theo bờ biển nơi này [203,23]

Trong Công ước Giơnevơ ban hành ngày 9/12/1923 về Quy chế quốc tế củacảng hàng hải, tại điều 1 có quy định những cảng “thường thường có tàu biển ravào và dùng cho ngoại thương được gọi là cảng biển” [195] Định nghĩa này tươngđồng với định nghĩa cảng biển trong Bộ luật ISPS, theo đó, “cảng biển được hiểu lànơi giao tiếp với tàu biển chạy chuyến quốc tế”[136] Đặc điểm tiếp nhận tàu biểnchạy chuyến quốc tế trở thành điểm phân biệt rõ nét giữa cảng biển với cảng cá haycảng thủy nội địa

Trong một báo cáo cho Ủy ban của Cộng đồng châu Âu bởi nhóm làm việc

Trang 35

về cảng, cảng biển được định nghĩa: “là một khu đất và nước mà ở đó được trang bịcác điều kiện làm việc cần thiết cho phép tiếp nhận tàu biển và các phương tiện vậntải khác để thực hiện việc xếp dỡ và bảo quản, giao nhận hàng, đồng thời nó cònbao gồm cả các hoạt động kinh doanh vận tải biển có liên quan khác” [181,5].

Khái niệm cảng biển của Ủy ban Cộng đồng Châu Âu có thể thấy tìm thấytrong sự tương đồng với khái niệm về cảng biển tại điều 5, khoản 11, của Đạo luậtCảng biển Colombia: “cảng là một nhóm các cơ sở hạ tầng bao gồm công trình,thiết bị lắp đặt cho phép sử dụng trong một khu vực liền kề ra biển nhằm tiếp nhậntất cả các loại tàu biển ra, vào xếp dỡ hàng hóa, chuyển giao hàng hóa giữa đường

bộ với đường biển” cũng như tương đồng với quan điểm của học giả Ivan Roa, khiông cho rằng: “cảng biển là những vùng gắn liền với biển, đại dương, kết nối giữabiển và đất liền, được trang bị cơ sở hạ tầng và các phương tiện kỹ thuật nhằmcung cấp nơi trú ẩn ở một mức độ khác nhau cho tàu thuyền, cho phép chuyển giaohàng từ một phương tiện vận tải khác xuống tàu thuyền và ngược lại” [142,1055]

Từ định nghĩa cảng biển, có thể nhận thấy được đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất: cảng biển là đầu mối giao thông quan trọng kết nối giữa biển vớiđất liền, nơi tiếp nhận tàu biển ra, vào hoạt động để thực hiện thao tác xếp dỡ hànghóa và vận chuyển hành khách Do đó, chức năng chủ yếu của cảng biển là phục vụtàu biển, cung cấp các các dịch vụ cho tàu vào cảng như dịch vụ thông quan, hoatiêu, lai dắt, vệ sinh hầm hàng, cung cấp lương thực thực phẩm, nguyên nhiên vậtliệu, bảo đảm an ninh cho tàu khi tàu neo đậu tại cảng… Phục vụ hàng hóa cũng làchức năng chủ yếu của cảng biển theo đó cảng biển sẽ cung cấp các dịch vụ như xếp

dỡ, giao nhận, chuyển tải, bảo quản, lưu kho, tái chế, đóng gói, hỗ trợ cho công tácxuất nhập khẩu, phục vụ hàng quá cảnh

Thứ hai: các cảng biển đều được đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và cáctrang thiết bị cho tàu biển ra vào để bốc dỡ hàng hóa và thực hiện các dịch vụ khácđáp ứng nhu cầu vận tải Hiện nay cùng với sự bùng nổ phát triển logistics trên mọilĩnh vực, cảng biển được coi là đầu mối quan trọng trong chuỗi logistics, có vai tròquyết định trong việc nâng cao hiệu quả của cả quy trình logistics Để phát triểnlogistics cảng biển đòi hỏi sự phát triển đồng bộ của hệ thống giao thông vận tảiđến/đi từ cảng, đẩy mạnh các ứng dụng công nghệ thông tin trong cảng để tăngnăng suất xếp dỡ, quản lý kiểm soát các rủi ro đe dọa an ninh cho tàu đến cảng

Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, tại điều 73 đưa ra định nghĩa về cảngbiển, theo đó “cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng,được xây dựng kết cấu hạ tầng, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời để bốc

Trang 36

dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác”.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đồng ý với quan điểm về cảngbiển được quy định trong Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015, bởi lẽ định nghĩanày hoàn toàn tương đồng với cách hiểu về cảng biển trong pháp luật quốc tế cũngnhư pháp luật của các quốc gia, đồng thời khái quát được những đặc điểm cơ bảncủa cảng biển

c Định nghĩa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển

An ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển nhận được sự quan tâm củacộng đồng quốc tế trong vài thập niên gần đây, đặc biệt sau sự kiện khủng bố rungchuyển thế giới ngày 11/9 năm 2001 tại Hoa Kỳ Ý niệm về an ninh hàng hải xuấthiện vào thế kỷ XV với việc thiết lập một trật tự trên biển được bảo đảm bởi cácquốc gia Châu Âu khi các quốc gia này tuyên bố chủ quyền mở rộng tại các vùngbiển và đại dương Ban đầu, an ninh hàng hải được hiểu là hành động của nhà nước,của các hãng tàu nhằm chống lại hiểm họa cướp biển Tuy nhiên, với tư cách là mộtkhái niệm về hoạch định chính sách toàn cầu, an ninh hàng hải đã xuất hiện với tầmquan trọng ngày càng tăng của các vấn đề an ninh phi truyền thống trong lĩnh vựchàng hải từ những năm 1990 Đặt trong bối cảnh ngày càng gia tăng căng thẳngtranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển, sự lớnmạnh không ngừng của các tổ chức khủng bố cực đoan, sự tăng nhanh về số lượng,tính chất nguy hiểm của các hoạt động tội phạm trên biển, cho thấy an ninh hàng hảiđối với tàu biển, cảng biển đã trở thành tâm điểm chú ý của an ninh toàn cầu

Hiện nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về an ninh hàng hải đối với tàubiển, cảng biển mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong nỗlực đưa ra một định nghĩa chung Có thể chia thành hai quan điểm chính về an ninhhàng hải đối với tàu biển, cảng biển:

Quan điểm thứ nhất: coi an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển là một

bộ phận của an ninh hàng hải và được xem xét trong tổng thể khái niệm an ninh củaquan hệ quốc tế

Với quan điểm này, thuật ngữ hàng hải được hiểu như một tính từ chỉ khônggian biển- một không gian tương tự đất liền, vì vậy an ninh hàng hải bao trùm lênmột số lĩnh vực từ an ninh truyền thống đến an ninh phi truyền thống

Dưới góc độ an ninh truyền thống: An ninh hàng hải được hiểu là sự toànvẹn chủ quyền biên giới quốc gia trên biển, là sự an toàn của tuyến đường hàng hải,của tàu biển, cảng biển trước các hiểm họa an ninh truyền thống như cướp biển hay

Trang 37

tranh chấp liên quan đến chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển.[1,1-16]

Dưới góc độ an ninh phi truyền thống: An ninh hàng hải được hiểu là việcbảo vệ tài sản và lãnh thổ hàng hải khỏi các hành vi gây hại tiềm tàng bắt nguồn từbiển [148, 13] Những hành vi này không chỉ bắt nguồn từ những hiểm họa truyềnthống mà còn mở rộng ra nhiều hiểm họa phi truyền thống như khủng bố, tội phạmxuyên quốc gia, buôn lậu vũ khí, vận chuyển ma túy trái phép, di dân bất hợp pháp,

ô nhiễm môi trường biển, suy giảm tài nguyên, mất cân bằng hệ sinh thái và nhữngthảm họa thiên tai Tìm kiếm cứu nạn cứu hộ trên biển cũng như vấn đề an ninh conngười được đề cập đến như một khía cạnh của an ninh hàng hải [167,79]

Như vậy, định nghĩa an ninh hàng hải tiếp cận dưới góc độ an ninh phitruyền thống được mở rộng hơn rất nhiều so với định nghĩa an ninh truyền thốngtheo đó an ninh hàng hải bao gồm an ninh đối với tàu biển, cảng biển, an ninh chủquyền quốc gia trên biển, an ninh môi trường biển và an ninh con người

Ngoài cách tiếp cận an ninh hàng hải trong tổng thể định nghĩa an ninh củaquan hệ quốc tế, còn có cách tiếp cận thứ hai về định nghĩa an ninh hàng hải là cáchtiếp cận theo hướng khẳng định - “positive”và phủ định - “negative”

Cách tiếp cận theo hướng ‘khẳng định” – “positive” mà đại diện là học giảGeoffrey Till, cho rằng biển là nguồn tài nguyên thiên nhiên, là môi trường sốngcủa con người và là môi trường cho giao thông thương mại Do đó, an ninh hàng hảinhấn mạnh đến sự duy trì đảm bảo “trật tự ổn định trên biển” - “good” or “stableorder at sea” nhằm phục vụ cho sự phát triển của con người và trật tự này có thể bị

đe dọa bởi "những hiểm họa” [111,311]

James Kraska and Raul Pedrozo cũng đồng quan điểm với Geoffrey Till,coi an ninh hàng hải “như là một trật tự ổn định của các đại dương chịu sự cai trịcủa các quy tắc luật trên biển”[143,34] Còn theo Ed Tummers, an ninh hàng hải là

"một quá trình duy trì ổn định trên, dưới và từ biển và cần có các nguyên tắc cơ bảnchi phối việc sử dụng biển, đại dương trong hòa bình, an ninh " [106,13]

Tuy nhiên, quan điểm cá nhân tác giả cho rằng, việc tiếp cận định nghĩa anninh hàng hải theo hướng khẳng định -“positive” của các học giả trên khiến chokhái niệm an ninh hàng hải trở nên mơ hồ vì chưa có một sự giải thích thỏa đáng thếnào là “trật tự”, “ổn định” trên biển và đảm bảo “trật tự trên biển” phải bao gồmnhững nội dung gì

Cách tiếp cận theo hướng phủ định -“negative” của nhiều nhà nghiên cứutrong đó có tác giả Roach J Ashley cho rằng, an ninh hàng hải cần được tiếp cận

Trang 38

theo hướng xác định các hiểm họa phổ biến đe dọa tới an ninh hàng hải và đề ra cácbiện pháp loại trừ các hiểm họa đó [182,41-66] Danh mục các hiểm họa an ninhhàng hải được nhiều học giả nỗ lực liệt kê bao gồm: tranh chấp về chủ quyền vàquyền chủ quyền của các quốc gia, khủng bố hàng hải, cướp biển, buôn bán ma tuý,buôn bán người bất hợp pháp bằng đường biển, phổ biến vũ khí, đánh bắt cá bất hợppháp, các tội phạm môi trường, các tai nạn hàng hải và thảm họa thiên tai, biến đổikhí hậu [205,121-132] Nếu loại trừ được các hiểm họa này, đồng nghĩa với việc anninh hàng hải được bảo đảm Như vậy, theo cách tiếp cận này, “an ninh hàng hảinên được hiểu là sự thiếu vắng, không bị đe dọa bởi các hiểm họa” [167,21].

Cách tiếp cận theo hướng phủ định -“negative” trở nên tương đối phổ biến.Trong báo cáo của năm 2008 của Liên Hợp Quốc về " Đại dương và Luật biển” cóxác định 7 mối hiểm họa cụ thể đe dọa tới an ninh hàng hải gồm: (1) cướp biển vàcướp có vũ trang trên biển; (2) hành động khủng bố trên biển; (3) hoạt động buônbán vũ khí, vũ khí hủy diệt hàng loại, (4) buôn lậu, vận chuyển ma túy; (5) vậnchuyển buôn bán người bằng đường biển; (6) đánh cá bất hợp pháp không báo cáo,không theo quy định và (7) các hành động có chủ ý bất hợp pháp khác gây thiệt hạicho môi trường biển”[194]

Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng cách tiếp cận theo hướng phủ định

-“negative” cũng có nhược điểm bởi việc lập danh sách các hiểm họa rất khó đầy

đủ, cũng như không cung cấp được mối liên hệ gắn kết giữa các hiểm họa, khôngđưa ra được cách thức để có thể giải quyết các mối hiểm họa đó Hơn nữa, nó tạo racác câu hỏi như liệu biến đổi khí hậu, thiên tai trên biển có phải là hiểm họa của anninh hàng hải? Hay tranh chấp giữa các quốc gia ven biển về chủ quyền và quyềnchủ quyền là vấn đề an ninh quốc gia hay an ninh hàng hải?

Theo một hướng tiếp cận khác, kết hợp cả hai cách tiếp cận phủ định

-“negative” và khẳng định - “positive” nói trên, định nghĩa an ninh hàng hải đượchọc giả Christian Bueger nghiên cứu trong mối liên hệ với bốn định nghĩa là an ninhquốc gia, an ninh môi trường biển, an ninh kinh tế và an ninh con người An ninhhàng hải gắn với an ninh quốc gia, gắn với quyền lực trên biển và sức mạnh hảiquân trong việc bảo đảm trật tự an ninh trên biển, an ninh tuyến đường hàng hải vàchủ quyền quốc gia trên biển Do đó bảo đảm an ninh hàng hải chính là việc loại trừcác hiểm họa như tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền giữa các quốc gia,khủng bố hàng hải An ninh hàng hải gắn với an ninh môi trường biển bởi bản thânbiển cũng cần được duy trì trạng thái ổn định không bị đe dọa bởi các hiểm họa nhưtai nạn, đâm va, sự cố tràn dầu, ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và biến

Trang 39

đổi khí hậu An ninh hàng hải cũng liên quan tới phát triển kinh tế xanh bởi biển vàđại dương đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế thương mại toàn cầuthông qua hoạt động vận tải biển, qua tiềm năng cung cấp các nguồn tài nguyênbiển và kinh tế du lịch ven biển mang lại An ninh hàng hải liên quan đến an ninhcon người mà giá trị cốt lõi của nó là an ninh lương thực, an ninh của thuyền viêntrên tàu Và do đó, an ninh hàng hải cần được bảo đảm khỏi các hiểm họa như cướpbiển, buôn lậu ma túy, vũ khí, buôn bán người trái phép bằng đường biển và cáchoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp [ 94,13-14] Với cách tiếp cận này, an ninhđược mở rộng nội hàm và an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển là một bộphận trong tổng thể định nghĩa về an ninh hàng hải.

Qua những phân tích trên có thể thấy, dù được tiếp cận dưới góc độ “an ninhtruyền thống” hay “an ninh phi truyền thống”, tiếp cận theo hướng ‘khẳng định”hay “phủ định” hoặc kết hợp cả hai cách tiếp cận trên thì an ninh hàng hải đối vớitàu biển, cảng biển đều được xem xét như một bộ phận cấu thành không thể thiếutrong tổng thể mở rộng của định nghĩa an ninh hàng hải và bảo đảm an ninh hànghải chính là việc phòng ngừa, ứng phó với các hiểm họa an ninh

Quan điểm thứ hai: coi an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển chính

là an ninh hàng hải

Nếu như quan điểm thứ nhất tiếp cận thuật ngữ hàng hải như một tính từ chỉkhông gian biển, một không gian tương tự đất liền thì quan điểm thứ hai lại tiếp cậnthuật ngữ hàng hải như một khía cạnh của quan hệ quốc tế tương tự như chính trị,kinh tế, môi trường, theo đó an ninh hàng hải được hiểu theo nghĩa hẹp, nhấn mạnhđến an ninh của việc sử dụng biển vào mục đích giao thông thương mại [1,1]

Đứng ở góc độ ngành vận tải biển, an ninh hàng hải tập trung vào an ninh hệthống vận chuyển và sự an toàn của hàng hóa mà không bị gián đoạn bởi các hành

vi bất hợp pháp Craig H Allen cho rằng an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảngbiển “là tổng thể các giải pháp được thực hiện bởi chủ tàu, người khai thác tàu,người quản lý tàu, người khai thác cảng, các công trình ven biển và các cơ quanquản lý nhà nước về hàng hải để bảo vệ tàu biển và cảng biển chống lại hành vi bấthợp pháp” [99,8]

Trong những khuyến nghị về an ninh hệ thống vận tải biển trong Chiến lượcquốc gia về an ninh hàng hải của Hoa Kỳ cũng đưa ra định nghĩa an ninh hàng hảiđối với tàu biển cảng biển (hay còn gọi là an ninh hệ thống vận tải biển): “là mộtchế độ an ninh theo định hướng hệ thống được xây dựng dựa trên các lớp bảo vệ vàphòng thủ sâu nhằm giảm thiểu rủi ro an ninh cho tàu biển, cảng biển, đồng thời

Trang 40

bảo vệ các chức năng và hiệu quả của hệ thống giao thông vận tải biển” [93].

Cộng đồng chung Châu Âu (EU) cũng ban hành Quy định (EC) số 725/2004

về tăng cường an ninh tàu biển và bến cảng theo đó “an ninh hàng hải là việc bảo

vệ tàu biển và các công trình cảng biển khỏi các hành động bất hợp pháp xảy ratrên biển” Các hành động bất hợp pháp không chỉ là cướp biển, khủng bố hàng hải,buôn bán vũ khí, vũ khí hủy diệt hàng loại, vận chuyển ma túy, buôn bán người tráiphép bằng đường biển mà còn bao gồm cả các tranh chấp lãnh thổ và xung đột vũtrang giữa các quốc gia, những tiềm ẩn của thiên tai, khí hậu cực đoan tác động trựctiếp tới hệ thống vận tải biển và cơ sở hạ tầng hàng hải [107]

Theo bản Chiến lược an ninh hàng hải của Anh (2014), an ninh hàng hải “là

sự kết hợp của các biện pháp phòng ngừa để bảo vệ tàu biển và cảng biển chống lạicác mối đe dọa của các hành vi cố ý bất hợp pháp như chiến tranh, tội phạm trênbiển, cướp biển hay các cuộc tấn công mạng vào quá trình vận tải biển” [193]

Phù hợp với đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài, định nghĩa an ninhhàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong Luận án này được tác giả tiếp cận theoquan điểm thứ hai, nghĩa là tiếp cận định nghĩa trong phạm vi hẹp Tuy nhiên, dù anninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển theo quan điểm thứ nhất coi đó là một bộphận của an ninh hàng hải hay theo quan điểm thứ hai, đồng nhất với khái niệm anninh hàng hải thì đều có đặc điểm chung là tiếp cận theo hướng nhận diện các hiểmhọa an ninh và bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển chính là phòngngừa và ứng phó với các hiểm họa, từ đó, giảm thiểu và loại trừ hiểm họa

Mặc dù còn nhiều quan điểm và cách giải thích khác nhau, nhưng về cơ bản,trong Luận án này an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển được hiểu “là sự kếthợp của các biện pháp phòng ngừa và ứng phó được quy định trong pháp luật quốc

tế và pháp luật quốc gia nhằm bảo vệ hệ thống tàu biển, cảng biển trước các hiểmhọa đe dọa an ninh của tàu biển, cảng biển trong quá trình vận tải biển quốc tế”

Tiến trình toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại thúc đẩy quá trình giao lưuhợp tác giữa các quốc gia nhưng mặt khác cũng tạo tiền đề cho việc nhân rộng cáchiểm họa đe dọa an ninh tàu biển, cảng biển Sự nhận thức lại về giá trị to lớn củabiển và đại dương làm gia tăng những tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyềncủa các quốc gia ven biển Sự lớn mạnh không ngừng của các tổ chức tội phạmquốc tế và lan rộng của chủ nghĩa khủng bố làm cho các hoạt động bất hợp phápnhư cướp biển, khủng bố, buôn lậu ma túy, vũ khí tăng nhanh về quy mô và tínhchất nguy hiểm Sự đói nghèo, chiến tranh của một số quốc gia đang dẫn đến lànsóng di cư bất hợp pháp của người trốn theo tàu bằng đường biển vào các quốc gia

Ngày đăng: 29/06/2019, 18:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Giang Chinh, “Cướp biển Philippines tấn công tàu Royal 16 bằng súng AK” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cướp biển Philippines tấn công tàu Royal 16 bằng súng AK
Tác giả: Giang Chinh
24. Trần Hải Duy (2013), “Những vấn đề liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông”, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông
Tác giả: Trần Hải Duy
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2013
25. Nguyễn Thị Bích Diệp (2005) “ Dịch vụ cảng biển và phát triển dịch vụ cảng biển ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”. Luận văn thạc sĩ kinh tế. Đại học ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ cảng biển và phát triển dịch vụ cảng biển ởViệt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
t p : //nld.c o m . v n/th o i -s u - tron g - nu o c / t a n - h oan g - t a u- s u n r i se -68 9 - b i - cu o p- bie n - ta n - cong-20141011182655407.htm, truy cập ngày 13/10/2016 Link
t p: / / dangki e m thaing u yen.vn/c t v i ew/view/ne w /gro u p / 1 5 / id / 1 6 3 truy cập ngày 14/2/2017 Link
h t tp://v i e tnamne t . v n / v n / th o i - su/ti n -nong - t a u- vi et - n a m - b i - ta n - c ong- cuo p - bie n - b a n- chet-1-thuy-thu-357394.html/ truy cập ngày 28/12/2017 Link
t p: / / tuo i t re . v n / t i n/ c h i nh- tr i - x a -h o i / pho n g - s u-k y - s u/20 1 50626/ c a nh- s a t - bi e n- vi et - nam-cham-tran-cuop-bien/767007.html truy cập ngày 03/12/2016 Link
t p: / / tuo i t re . v n / t i n/ t h e - gio i / 2 0 15 1 21 5 / c a n h- b a o - kha - nang - ch a y-d u a -vu- tr a ng- tr e n- bien-dong/1020934.html truy cập ngày 14/08/2017 Link
http: / /b i n h dinh.vn p t . vn/d e tail / die n -t a p - c h ong-khung-bo- h a n g - ha i - t u - t in h - huong- thuc/721762/l0 , truy cập ngày 21/12/2018 Link
t p: / / w w w . vanho a nghe a n . co m . vn/v a n-h o a - v a - do i - s o ng27 / c uoc - s o n g - quan h - ta46/quyen-chu-quyen-va-quyen-tai-phan-cua-viet-nam-bi-xam-pham-boi-hanh-vi-ha-dat-gian-khoan-hai-duong-981-cua-trung-quoc, truy cập ngày 07/05/2017 Link
https:/ / w w w . th e s a i gont i m e s . vn/15395 6 / C uop - bi e n- lon g - h a n h-o-Do n g- Na m - A . ht m l , truy cập ngày 04/11/2018 Link
101. Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea, https://asean.org/ Link
http:/ / w w w . f a i robs e r v e r . co m /r e g i on/north_ a m e ri c a / m ari t i m e - terro r i s m -ho w - re al - threat/, truy cập ngày 03/04/2016 Link
119. ht t p: / / w w w . s av e oursea f ar e rs . co m /the-co s t - o f - p i ra c y . ht m l ,2012-03-29, truy cập ngày 15/07/2017 Link
120. https:/ / w w w . oc c r p . org/ e n/com p on e nt/content / artic l e?id=1843:narcotic- Link
139. International Court of Justice (2001) Maritime Delimitation and Territorial Questions between Qatar and Bahrain (Qatar v. Bahrain) https://www.icj- cij.org/en/case/87, truy cập ngày 21/08/2018 Link
Safety”. htt p : / / w w w . u n .org / dep t s / los / co n v e n t i o n _ a g r ee m en t s / c onv e ntion_ 2 5year s /0 7unitar_doalos_2007.pdf, truy cập ngày 21/02/2018 Link
w w . m e rria m -w e b s t e r . co m /d i ctiona r y/secu r i ty, truy cập ngày 02/04/2017 Link
t p: / / w w w . s t a t i s t a.c om / st a t i s t i c s /266 2 92/n u m b e r - o f - pirat e - atta c k s - w orldwid e - since-2006/, truy cập ngày 14/05/2018 Link
204. US District Court for the District of Hawaii, U.S.A v. Lei She, September 16, 2005 https://law.justiacom/cases/federal/districtcourts/FSupp2/396/1132/2567184/,truy cập ngày 03/08/20 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w