1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

181 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 4,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở lĩnh vực phi tài chính trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về các mốiquan hệ giữa cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động còn ở lĩnh vực tài chính cácbằng chứng thực nghiệm từ c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-

 -ĐƯỜNG THỊ THANH HẢI

TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Hà Nội - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG

ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-

 -ĐƯỜNG THỊ THANH HẢI

TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Mã số: 9340201

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS LÊ ĐỨC LỮ

2 TS HOÀNG VIỆT TRUNG

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này là do tôi tự thực hiện và không viphạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Nghiên cứu sinh

Đường Thị Thanh Hải

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv DANH MỤC BẢNG vi DANH MỤC HÌNH vii PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu về tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại .6

1.1.1.Quan điểm về ảnh hưởng tích cực của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại .6

1.1.2 Quan điểm về ảnh hưởng tiêu cực của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại .10

1.1.3 Trường phái thứ ba: cấu trúc tài chính độc lập với hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại .18

1.2 Khoảng trống nghiên cứu 21

Kết luận chương 1 23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 24 2.1.Cấu trúc tài chính trong các ngân hàng thương mại 24

2.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính .24

2.1.2 Cấu trúc tài chính NHTM 28

2.2 Hiệu quả hoạt động và tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại 33

2.2.1 Quan niệm về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại 33

2.2.2 Tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động của các NHTM 37

Kết luận chương 2 46

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47

3.1 Giả thuyết nghiên cứu 47

3.2.Mô hình nghiên cứu và các biến đề xuất 51

3.3 Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu 53

3.3.1 Nguồn dữ liệu nghiên cứu 53

3.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 56

Kết luận chương 3 58

Trang 5

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 59

4.1 Khái quát về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 59

4.1.1.Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam .59

4.1.2 Quy mô tăng trưởng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam .60

4.2 Phân tích thực trạng cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam .68

4.2.1.Thực trạng cấu trúc tài chính các NHTM Việt Nam .68

4.2.2 Thực trạng hiệu quả hoạt động các NHTM Việt Nam 81

4.3 Phân tích tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động các NHTM Việt Nam nghiên cứu .88

4.3.1.Thống kê mô tả dữ liệu 88

4.3.2 Ma trận hệ số tương quan 89

4.3.3.Lựa chọn mô hình hồi quy 91

4.4 Kết quả phân tích .104

4.4.1 Tổng hợp kết quả 104

4.4.2 Tóm tắt các kết quả đạt được: 104

Kết luận chương 4 110

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 111

5.1 Định hướng chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2020 111

5.2 Một số giải pháp đề xuất đối với các ngân hàng thương mại 113

5.2.1.Về quan điểm chung 113

5.2.2.Một số giải pháp cụ thể 114

5.2.3.Các giải pháp khác 120

5.3 Khuyến nghị đối với chính phủ và ngân hàng nhà nước 121

5.4 Hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo 124

5.4.1 Hạn chế của luận án 124

5.4.2.Gợi ý hướng nghiên cứu trong tương lai 126

Kết luận chương 5 127

KẾT LUẬN 128

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 130

TÀI LIỆU THAM KHẢO 131 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu

Diễn giải

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

BCTN Báo cáo thu nhập

CDE Tổng số tiền gửi của khách Customer deposit

CIN Tỷ lệ chi phí trên thu nhập Cost to income ratio

CTTC Cấu trúc tài chính

EQD Đòn bầy tài chính Equity to liabilities

EQL Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng

cho vay

Equity to total Loans

EQS Tỷ lệ vốn chủ sỏ hữu trên tổng

tiền gửi

Equity to customer deposit andShortterm fundings

FEM Mô hình tác động cố định Fixed Effects Model

GROWTH Tốc độ tăng trưởng tài sản Asset growth ratio

HQHĐ Hiệu quả hoạt động

KNSL Khả năng sinh lời

LNST Lợi nhuận sau thuế

LTD Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi

Trang 7

Ký hiệu

Diễn giải

NIM Thu nhập từ lãi biên Net interest margin

ROA Tỷ suất sinh lời tổng tài sản Return on Assets

ROE Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Cấu trúc nguồn vốn của ngân hàng thương mại và doanh nghiệp 30

Bảng 3.1: Tóm tắt các giả thuyết nghiên cứu 50

Bảng 3.2: Mô tả các biến trong mô hình 52

Bảng 3.3: Phương trình hồi quy 53

Bảng 3.4: Nhóm ngân hàng nghiên cứu 55

Bảng 4.1: Số lượng Ngân hàng ở Việt Nam (2008-2016) 60

Bảng 4.2: Quy mô và tốc độ tăng trưởng tài sản hệ thống NHTM Việt Nam 61

Bảng 4.3: Quy mô và tốc độ tăng trưởng Vốn tự có hệ thống NHTM Việt Nam 62

Bảng 4.4: Quy mô và tốc độ tăng trưởng Vốn điều lệ hệ thống NHTM Việt Nam 63

Bảng 4.5: Sự tăng trưởng của hệ thống ngân hàng Việt Nam (2008-2016) 65

Bảng 4.6: Tăng trưởng các chỉ tiêu hoạt động của toàn hệ thống NHTM 67

Bảng 4.7: Quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của nhóm 19 ngân hàng nghiên cứu so với hệ thống NHTM Việt Nam 69

Bảng 4.8: Quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của nhóm 19 NHTM nghiên cứu 71

Bảng 4.9: Giá trị của EQA các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 72

Bảng 4.10: Giá trị của EQD các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 74

Bảng 4.11: Giá trị của EQL các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 75

Bảng 4.12: EQS các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 77

Bảng 4.13: Thống kê mô tả tỷ lệ EQA, EQD, EQL, EQS giai đoạn 2008-2016 78

Bảng 4.14: EQA,EQD,EQL,EQS trung bình của các NHTM 80

Bảng 4.15: ROA của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2016 82

Bảng 4.16: ROE của các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 83

Bảng 4.17: Các trường hợp về hiệu quả hoạt động của các NHTM (2008-2016) 85

Bảng 4.18: Thống kê mô tả hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam nghiên cứu (2008 – 2016) 85

Bảng 4.19: ROA, ROE trung bình của các NHTM VN nghiên cứu 87

Bảng 4.20: Mô tả các biến nghiên cứu 88

Bảng 4.21: Hệ số tương quan các biến có trong mô hình 90

Bảng 4.22: Kết quả mô hình FEM cho ROA 92

Bảng 4.23:Kết quả mô hình REM cho ROA 93

Bảng 4.24: Kết quả hiệu chỉnh cho ROA 95

Bảng 4.25 Tổng hợp các kết quả mô hình hồi quy biến phụ thuộc ROA 95

Bảng 4.26: Kết quả mô hình FEM cho biến phụ thuộc ROE 98

Bảng 4.27: Kết quả mô hình REM cho biến phụ thuộc ROE 99

Bảng 4.28: Kết quả chạy hiệu chỉnh cho biến phụ thuộc ROE 101

Bảng 4.29: Tổng hợp các kết quả mô hình hồi quy cho biến phụ thuộc ROE 101

Bảng 4.30: Tổng hợp kết quả 104

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Lợi nhuận kỳ vọng vốn cổ phần trong trường hợp không có thuế thu nhập

doanh nghiệp của lý thuyết cấu trúc vốn M&M 38

Hình 2.2: Lợi nhuận kỳ vọng vốn cổ phần trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp của lý thuyết cấu trúc vốn M&M 39

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu 51

Hình 4.1: Quy mô và tốc độ tăng trưởng tài sản hệ thống NHTM Việt Nam 61

Hình 4.2: Quy mô và tốc độ tăng trưởng Vốn tự có hệ thống NHTM Việt Nam 62

Hình 4.3: Quy mô và tốc độ tăng trưởng Vốn điều lệ hệ thống NHTM Việt Nam 63

Hình 4.4: Tín dụng đối với nền kinh tế (2008-2016) 66

Hình 4.5: Quy mô tăng trưởng các chỉ tiêu hoạt động của cả hệ thống .67

Hình 4.6: Quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của nhóm 19 NHTM nghiên cứu so với hệ thống NHTM Việt Nam 69

Hình 4.7 Quy mô tổng tài sản và VCSH của nhóm 19 NHTM nghiên cứu 71

Hình 4.8: Giá trị trung bình EQA của các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 73

Hình 4.9: Giá trị trung bình EQD của các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 75

Hình 4.10: Giá trị trung bình EQL của các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 76

Hình 4.11: Giá trị trung bình EQS của các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 78

Hình 4.12: Tỷ lệ EQA, EQL,EQS,EQD của các NHTM nghiên cứu (2008-2016) 80

Hình 4.13: Chỉ tiêu EQA, EQD, EQL, EQS trung bình của các NHTM 81

Hình 4.14: ROA của các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 83

Hình 4.15: ROE của các NHTM nghiên cứu giai đoạn 2008-2016 84

Hình 4.16: Giá trị ROA và ROE trung bình của các NHTM nghiên cứu (2008-2016) .86

Hình 4.17: ROA, ROE trung bình của các NHTMNC 88

Trang 10

1

Trang 11

1 Sự cần thiết phải nghiên cứu

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những bước tiếnvượt bậc, đột phá cùng với quá trình hội nhập quốc tế Việc gia nhập WTO, trở thànhthành viên của cộng đồng kinh tế ASEAN, tham gia vào Hiệp định Đối tác toàn diện vàtiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã mở ra rất nhiều cơ hội cho ngành ngânhàng Việt Nam, đặc biệt là việc mở cửa ngành ngân hàng năm 2011 đã đem lại nhữngthay đổi to lớn cho ngành như :giúp cho các ngân hàng trong nước tiếp nhận các côngnghệ NH hiện đại, cơ cấu lại vai trò quản lý trong các ngân hàng thông qua việc thamgia của các đối tác chiến lược nước ngoài, các dịch vụ ngân hàng được chuyên nghiệp

và đa dạng hóa Đặc biệt đối với các ngân hàng thương mại thì sự cạnh tranh càng đượcthể hiện rõ rệt, sức ép cạnh tranh này đến không chỉ từ các ngân hàng thương mại trongnước mà còn đến từ các ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, cácđịnh chế tài chính khác Nhưng thực tế cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của các

tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại tại Việt nam nói riêng trongthời gian vừa qua không cao Theo báo cáo của ngành ngân hàng năm 2016, tỷ suấtsinh lời trên tổng tài sản của toàn hệ thống chỉ đạt 0,58%, trong đó khối các ngân hàngthương mại nhà nước là 0,61%, các ngân hàng thương mại cổ phần chỉ đạt 0,39% vàkhối các ngân hàng thương mại liên doanh đạt 0,8% Với đặc thù riêng của ngành ngânhàng là quy mô tổng nguồn vốn lớn trong đó đặc biệt là tỷ trọng nợ trong tổng nguồnvốn cao, điều này dẫn đến việc lựa chọn cấu trúc tài chính như thế nào cho vừa phùhợp với nhu cầu sử dụng vốn, vừa đảm bảo được mức độ rủi ro trong tầm kiểm soát,vừa đem lại hiệu quả hoạt động cao cho các ngân hàng trở thành một vấn đề đặc biệtquan trọng Trong giai đoạn nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, lãi suất huy động củacác ngân hàng cũng phải tăng cao theo đà tăng của lạm phát, vốn huy động đượcnhiều, quy mô sử dụng vốn cũng được gia tăng nhưng liệu lúc này hiệu quả hoạt độngcủa các ngân hàng có tăng hay không: hay nói cách khác liệu chi phí sinh lời trên tổngtài sản có cao hơn so với chi phí trả lãi không Và ngược lại, trong vài năm gần đây tỷ

lệ lạm phát thấp, lãi suất huy động giảm hay chi phí trả lãi giảm do nguồn vốn huyđộng giảm nhưng tỷ suất sinh lời vẫn không cao Vậy nguyên nhân chính làm cho hiệuquả hoạt động của các ngân hàng thương mại giảm là do đâu? Quy mô vốn, tỷ lệ nợ

có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại hay không?

Trong các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế nóichung có một nhân tố đã được ngiên cứu trong nhiều công trình nghiên cứu của thếgiới đó là cấu trúc tài chính Cấu trúc tài chính là một trong những khía cạnh quan

Trang 12

trọng nhất của quyết định tài chính của một tổ chức kinh tế Brounen & Eichholtz,(2001) cho rằng quyết định về cấu trúc tài chính hợp lý của một tổ chức kinh tế là mộttrong những khía cạnh khó hiểu nhất trong tài chính doanh nghiệp hiện đại TheoWatson và Head, (2007) cấu trúc tài chính của một tổ chức kinh tế bao gồm hỗn hợpcủa nợ và vốn chủ sở hữu, các quyết định cấu trúc tài chính là rất quan trọng đối vớibất kỳ tổ chức kinh tế do thực tế rằng người quản lý có trách nhiệm đảm bảo rằng lợiích thu được cho các cổ đông là tối đa và vì quyết định này có những hiệu quả to lớnđối với khả năng cạnh tranh của các tổ chức Các quyết định về các tỷ lệ tổng nợ trênvốn được coi là một chiến lược cho các nhà quản lý, tức là định hướng trong tương lai

và có tác dụng lâu dài Quyết định cấu trúc tài chính trực tiếp ảnh hưởng đến lợinhuận của các tổ chức, điều này làm cho nó là một quyết định quan trọng và không hề

bị xem nhẹ trong tài chính doanh nghiệp Mặc dù các ngân hàng khác các tổ chức kinh

tế khác nhưng họ vẫn phải đối mặt với những thách thức tương tự như các lựa chọncấu trúc tài chính sẽ giảm thiểu chi phí vốn và tăng hiệu quả hoạt động như trong các

tổ chức kinh tế Mục tiêu chính của ngân hàng là để mang lại lợi nhuận, tuy nhiên, lợinhuận của ngân hàng là rất quan trọng không chỉ đối với các bên trực tiếp quan tâm(cổ đông, quản lý, nhân viên, khách hàng), mà còn cho toàn bộ nền kinh tế Vì thế,việc nghiên cứu các quyết định về cấu trúc tài chính có tác động như thế nào đến hiệuquả hoạt động của các ngân hàng là một vấn đề được các nhà kinh tế trên thế giới hiệnnay đặc biệt quan tâm

Ở lĩnh vực phi tài chính trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về các mốiquan hệ giữa cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động còn ở lĩnh vực tài chính cácbằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu về ngân hàng trên thế giới đã có các quanđiểm trái ngược nhau: một số nghiên cứu đã tìm thấy một mối quan hệ tiêu cực giữađòn bẩy và lợi nhuận bẩy trong các ngân hàng như các nghiên cứu của (Rajan vàZingalas, 1995; Titman và Wessels, 1988) còn Taub (1975) thông qua phân tích hồiquy tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa nợ và lợi nhuận, ngoài ra một nghiên cứucủa (Abor, 2005) cũng phát hiện ra một mối quan hệ tích cực mạnh mẽ giữa tổng nợ

và lợi nhuận, vì vậy từ kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy rằng các cuộc thảoluận về mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động vẫn còn đang tiếptục Ở Việt Nam, các nghiên cứu về mối quan hệ và tác động giữa cấu trúc tài chính

và hiệu quả hoạt động không nhiều, đặc biệt là nghiên cứu về cấu trúc tài chính củacác ngân hàng thương mại Do vậy, việc nghiên cứu tác động của cấu trúc tài chínhđến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn màcác ngân hàng Việt Nam đang trong tiến trình thực hiện đề án tái cơ cấu của chính phủ

Trang 13

và ngân hàng nhà nước để hoạt động một cách an toàn và có hiệu quả trở nên cần thiết

và đặc biệt có ý nghĩa, chính vì các lý do đó tác giả quyết định nghiên cứu đề tài “Tác

động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại”

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu đánh giá tác động của cấu trúc tài chính tới

hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

- Đề xuất một số gợi ý đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam

Từ mục tiêu trên, nghiên cứu hướng tới trả lời câu hỏi: cấu trúc tài chính có tácđộng như thế nào tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam?Câu hỏi nghiên cứu này được chi tiết bởi các câu hỏi cụ thể:

- Để đánh giá tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động của cácngân hàng thương mại Việt Nam sử dụng mô hình nghiên cứu nào?

- Tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàngthương mại Việt Nam được đánh giá thế nào thông qua mô hình nghiên cứu?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghiên cứu cấu trúc tài chính của các ngânhàng thương mại Việt Nam và tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt độngcủa các ngân hàng thương mại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Nghiên cứu 19 ngân hàng thương mại Việt Nam

+ Về thời gian: Nghiên cứu 19 ngân hàng thương mại Việt Nam trong 9 năm(2008-2016)

+ Về nội dung:

Luận án nghiên cứu về cấu trúc vốn, trong cấu trúc vốn luận án tập trungnghiên cứu cấu trúc nguồn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 14

Luận án nghiên cứu về hiệu quả tài chính, bởi trên thị trường Việt Namnhững chỉ tiêu tài chính đáng tin cậy thường có trong các báo cáo tài chính được kiểmtoán phổ biến hơn nhiều các dữ liệu khác về thị trường, về chất lượng sản phẩm, dịch

vụ, về mức độ hài lòng và lực lượng lao động… nên quan điểm về hiệu quả mà tác giả

sử dụng trong luận án để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại

là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính

Luận án nghiên cứu về tác động của cấu trúc nguồn vốn đến hiệu quả tàichính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

4 Những đóng góp của luận án

Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

(1) Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu về tác động của cấu trúc tàichính tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam (2) Với cácnghiên cứu trước, khi nghiên cứu về cấu trúc tài chính các tác giả thường nghiên cứucấu trúc vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ: các biến đại diện cho cấu trúctài chính thường bao gồm hệ số nợ (ngắn hạn, dài hạn), đòn bầy tài chính, hay tỷ lệvốn chủ sở hữu trên tổng tài sản Với đặc thù cấu trúc vốn của ngành ngân hàng(không phân chia các khoản nợ phải trả theo thời hạn thanh toán) nên không thểnghiên cứu tách bạch hệ số nợ ngắn hạn và dài hạn, mặt khác, các nghiên cứu đềuchưa hề đề cập đến mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính của các ngân hàng thương mạitrong mối quan hệ với tài sản, đặc biệt là với phần tổng dư nợ cho vay của các ngânhàng mà cho vay chính là hoạt động cơ bản và đem lại nguồn thu chủ yếu cho cácngân hàng thương mại Trong luận án này ngoài các biến như tỷ lệ vốn chủ sở hữu trêntổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nợ tác giả đã đưa thêm biến tỷ lệ vốn chủ

sở hữu trên tổng dư nợ cho vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng các khoản tiền gửivào nghiên cứu của mình (3) Tác động tích cực của đòn bẩy tài chính đến hiệu quảhoạt động kinh doanh là vấn đề được biết đến rộng rãi trong hầu hết các nghiên cứucho các doanh nghiệp kể cả lĩnh vực tài chính và phi tài chính và được giải thích bằng

lý thuyết M&M và lý thuyết đánh đổi, nhưng với nghiên cứu này thì các lý thuyết nàykhông giải thích được các kết quả thực nghiệm, nghiên cứu này dựa trên những luậngiải của khung lý thuyết trật tự phân hạng áp dụng cho trường hợp các ngân hàngthương mại tại Việt Nam

Những phát hiện rút ra từ kết quả nghiên cứu

(1) Cấu trúc tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam có tỷ lệ nợ rất cao (2)Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính đều có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt

Trang 15

động của các ngân hàng thương mại, điểm đặc biệt của nghiên cứu ở đây là phát hiện

tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng dư nợ cho vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tiền gửicủa khách hàng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thươngmại Việt Nam: điều này nói lên mức độ cẩn thận của các ngân hàng thương mại ViệtNam trong việc cho vay và việc đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi của kháchhàng bằng vốn chủ sở hữu (3) Các nhân tố tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạtđộng như tỷ lệ chi phí trên thu nhập hay tổng tiền gửi của khách (4) Nhân tố tốc độtăng trưởng tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động

Những đề xuất mới mang tính ứng dụng rút ra từ kết quả nghiên cứu

(1)Đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam: nên tăng quy mô vốn chủ sở hữunhằm giảm tỷ lệ nợ trong tổng nguồn vốn, sáp nhập một số ngân hàng có quy mô vốnnhỏ hiệu quả hoạt động chưa tốt và các ngân hàng hoạt động tốt có tiềm lực tài chính

để tăng quy mô cho các ngân hàng này (2)Xây dựng một cấu trúc tài chính hợp lý phùhợp với đặc thù từng nhóm ngân hàng: nhóm ngân hàng có quy mô nhỏ hiệu quả kém,nhóm ngân hàng ở mức trung và nhóm ngân hàng quy mô lớn hiệu quả hoạt động tốt.(3) Đối với chính phủ và ngân hàng nhà nước: xây dựng một môi trường thuận lợi cho

sự phát triển an toàn và bền vững của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đưa ra lộtrình cụ thể để yêu cầu các ngân hàng thương mại đảm bảo hệ số an toàn vốn theochuẩn Basel II, hỗ trợ thủ tục sáp nhập và hợp nhất giữa các ngân hàng

5 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mục lục, danh mục từ ngữ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận án được kết cấu thành 5 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt

động của các ngân hàng thương mại

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động

của các ngân hàng thương mại

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.

Chương 4:Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu

quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 5: Một số giải pháp và khuyến nghị đề xuất đối với các ngân hàng thương mại

Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan nghiên cứu về tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt

động của các ngân hàng thương mại.

Về cơ bản lý thuyết cấu trúc vốn được đề xuất bởi Modigliani và Miler (1958) vẫnchưa có được dự đoán hợp lý nào cho mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinhlợi Berger (2002) thông qua việc kiểm lý thuyết chi phí đại diện đã khẳng định mốiquan hệ nhân quả giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngânhàng thương mại Trong khi các nghiên cứu khác trong lĩnh vực này cũng chỉ rõ chiềuhướng tác động của cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động nhưng có sự không đồngthuận về xu hướng tác động Những khác biệt của các nghiên cứu này được luận giảibởi cách tiếp cận đối với từng lý thuyết mà nghiên cứu cụ thể đó ủng hộ

1.1.1.Quan điểm về ảnh hưởng tích cực của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại.

Theo cách tiếp cận vấn đề của lý thuyết đánh đổi, trong điều kiện thị trườngkhông hoàn hảo bởi sự hiện diện của thuế, chi phí phá sản và chi phí khánh kiệt tàichính thì mệnh đề về “sự không liên quan của nợ” được gỡ bỏ Modigliani và Miler(1963) cũng đưa ra đề xuất về việc gia tăng sử sụng nợ để được hưởng lợi ích “lá chắnthuế” từ khoản tiền lãi được khấu trừ, do vậy trong ngân hàng cũng như trong bất kỳngành nào, việc sử dụng nợ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh

Trên cơ sở lập luận trên, giả thuyết chính của các nghiên cứu theo cách tiếp cậnnày là đòn bẩy tài chính cao hơn (hay tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp hơn) trong cấu trúcvốn của các ngân hàng thương mại có liên quan đến hiệu quả hoạt động cao hơn Ủng

hộ cho quan điểm này, một số nghiên cứu đã đưa ra các kết quả về tác động cùngchiều của cấu trúc vốn tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại như:

Trong nghiên cứu năm 2002, Berger nghiên cứu về cấu trúc vốn và hiệu quả tàichính của các ngân hàng thương mại Mỹ thông qua việc kiểm định lý thuyết chi phíđại diện Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện trên mẫu 695 ngân hàng thương mại của

Mỹ giai đoạn 1990-1995, và được kiểm tra lại trên tổng thể 7320 ngân hàng Mỹ giaiđoạn này Kết quả cho thấy: có sự tác động qua lại giữa cấu trúc vốn và hiệu quả tàichính của ngân hàng Cụ thể, tồn tại mối tương quan nghịch (-) giữa hiệu quả tài chính(ROE) và tỷ lệ vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản (ECAP-Financial equity capital divided by

Trang 17

gross total assets), hay nói cách khác, có sự tác động qua lại tương hỗ (cùng chiều)giữa ROE và đòn bẩy tài chính của ngân hàng Ngoài ra, theo nghiên cứu cho thấy,hiệu quả tài chính của ngân hàng còn bị tác động bởi tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổđông khác nhau (cá nhân, tổ chức…), chỉ số tiền gửi thị trường, độ lệch chuẩn củaROE…

Navapan và Tripe (2003) nghiên cứu chuyên sâu mối quan hệ giữa tỷ lệ an toànvốn và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các ngân hàng ở Úc và New Zealand từ năm

1996 đến 2002 Kết quả thực nghiệm cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ

an toàn vốn và lợi nhuận ở các ngân hàng New Zealand Còn ở Úc, mối quan hệ giữa

tỷ lệ an toàn vốn và ROE không rõ ràng, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệtlớn giữa các ngân hàng lớn và các ngân hàng nhỏ

Kế thừa nghiên cứu của Berger (2002), Hutchison và Cox (2006) nghiên cứulĩnh vực ngân hàng của Mỹ, nguồn dữ liệu được thu thập từ báo cáo CALL hàng quýcủa Ngân hàng Dự trữ Liên bang trong hai giai đoạn: từ tháng 12/ 1982 - tháng 12/

1989 và từ tháng 12/1996 đến tháng 12/2002 Giả thiết thứ nhất của nghiên cứu là:đòn bẩy tài chính có liên quan tích cực đến tỷ lệ lợi nhuận/vốn chủ sở hữu TheoHutchison và Cox để đạt được lợi nhuận, các công ty cổ phần sử dụng nhiều kỹ thuật

và chiến lược khác nhau Một trong số đó là chiến lược về cấu trúc vốn Về cơ bản,một công ty có thể áp dụng đòn bẩy tài chính cao hay thấp: với lợi nhuận ròng trêntổng tài sản không thay đổi thì số vốn cổ phần càng lớn, tổng tài sản chia cho tổng vốnchủ sở hữu của cổ đông càng nhỏ thì lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của Mô hìnhDuPont càng cao Do đó các ngân hàng có động cơ để giảm thiểu số vốn cổ phần đãđầu tư nhằm tối đa hóa lợi tức trên vốn chủ sở hữu Mặt khác, khi đòn bẩy tài chínhcao cùng với đó là rủi ro tài chính tăng cao, phần lớn tài sản của các ngân hàng là vôhình như nguồn nhân lực, mạng lưới khách hàng, lợi thế thương mại, sự tích lũy vốnnày làm ngân hàng có nguy cơ thua lỗ nếu lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính

Vì vậy, để bảo vệ lợi thế và đảm bảo sức mạnh tài chính, ngân hàng sẽ giảm rủi ro tàichính bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chính thấp Do đó quyết định tài chính được gắn

bó với các hoạt động của ngân hàng Rủi ro kinh doanh cao hơn liên quan đến ROAcao kết hợp với rủi ro tài chính thấp hơn thông qua đòn bẩy tài chính thấp hơn do có

số vốn chủ sở hữu cao hơn Giả thiết thứ hai của nghiên cứu là: đòn bẩy tài chính cóliên quan tiêu cực đến tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản Thực tế nghiên cứu cho thấy có mộtmối quan hệ tích cực giữa đòn bẩy tài chính và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.Các bằng chứng ủng hộ giả thuyết rằng có một mối quan hệ tích cực giữa vốn chủ sởhữu và ROA, ROE cho mỗi một trong hai khoảng thời gian Các giai đoạn 1983-1989

Trang 18

đã có 87.928 và 1996-2002 có 59.623 quan sát tương ứng Dữ liệu thô được sử dụngtrong các hàm hồi quy cũng như hai kỹ thuật thay thế để xử lý tiêu cực và gần bằng 0.Hutchison và Cox đã chứng minh rằng đối với các ngân hàng ở Mỹ, có mối quan hệtích cực giữa đòn bẩy tài chính và ROE cho cả giai đoạn 1983-1989 và 1996-2002.

Tuy nhiên, kết quả rất nhạy cảm với các vấn đề đo lường dữ liệu Hơn nữa, tỷ lệ đònbẩy tài chính và ROE dường như có sự khác biệt giữa hai giai đoạn nghiên cứu.Và khiquan sát ROA một mô hình tương tự như với ROE thì họ nhận thấy rằng ROA có liênquan nghịch với đòn bẩy tài chính Tuy kết luận cuối cùng là mối quan hệ giữa vốnchủ sở hữu của ngân hàng và thu nhập là tiêu cực, nhưng dường như các kết quảnghiên cứu cho thấy rằng ở các giai đoạn nghiên cứu khác nhau thì các kết quả cũngkhác nhau

Nghiên cứu của Pratomo và Ismail (2006) đưa ra giả thuyết về chi phí của của

15 ngân hàng Hồi giáo ở Malaysia trong giai đoạn 1997-2004, theo đó ngân hàng cóđòn bẩy cao có xu hướng giảm chi phí đại lý Pratomo và Ismail đặt hiệu quả lợi nhuậncủa ngân hàng là chỉ số giảm chi phí đại lý và tỷ lệ vốn chủ sở hữu của một ngân hàngnhư một chỉ số về đòn bẩy Pratomo và Ismail đã kiểm tra sự liên kết của hiệu quả lợinhuận được đo lường bằng lợi tức trên vốn chủ sở hữu và đòn bẩy tài chính Cụ thể,đòn bẩy tài chính có tác động tương hỗ (+) đến hiệu quả tài chính của ngân hàng Kếtquả nghiên cứu của các nhân tố khác đến hiệu quả tài chính của ngân hàng: độ lệchchuẩn của ROE (SDROE), chỉ số tiền gửi thị trường (HERF) có tương quan thuận, chovay (LOAN) có tác động ngược chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê, trong khi đónhân tố đầu tư chứng khoán (SEC) có tác động ngược chiều với hiệu quả tài chính, ởmức ý nghĩa 1% quy mô ngân hàng (SIZE) có tác động ngược chiều với hiệu suất củangân hàng Các kết quả nghiên cứu này cho thấy tuy đòn bẩy tài chính có tác độngtương hỗ đến hiệu quả tài chính nhưng dường như đối với các ngân hàng quy mô lớnthì tác động này lại có xu hướng không được rõ rệt

Hoffmann (2011) sau khi phân tích lợi nhuận của 11.777 ngân hàng Mỹ, nghiêncứu này tìm cách kiểm tra các yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng Mỹ tronggiai đoạn 1995-2007, với tổng số 108.439 quan sát ngân hàng trong các năm Phântích thực nghiệm kết hợp các biến cụ thể (nội sinh) và kinh tế vĩ mô (ngoại sinh) thôngqua bộ ước lượng hệ thống GMM Các phát hiện thực nghiệm ghi lại mối liên hệ tiêucực giữa tỷ lệ vốn và khả năng sinh lời, hỗ trợ quan điểm cho rằng các ngân hàng đanghoạt động quá thận trọng và bỏ qua các cơ hội giao dịch có khả năng sinh lợi Trongnghiên cứu của mình, ông nhấn mạnh rằng khung quy định phức tạp của ngành ngânhàng Hoa Kỳ và các yêu cầu về vốn tối thiểu của nó đã ảnh hưởng đến các quyết định

Trang 19

tài chính về thu nhập của các ngân hàng Ông lập luận rằng mối quan hệ giữa cấu trúcvốn và lợi nhuận không đơn điệu Nhưng ông tuyên bố rằng nếu mối quan hệ khôngđơn điệu bị bỏ qua và tập trung vào hiệu quả duy nhất thì mối quan hệ giữa chúng cóthể là tiêu cực Bởi vì sự gia tăng đột ngột của vốn sẽ không được sử dụng ngay, do đó

nó sẽ dẫn đến giảm lợi nhuận Hơn nữa, nghiên cứu này đã phân tích giai đoạn trướccuộc khủng hoảng ngân hàng năm 2009, khi đó hầu hết các ngân hàng Mỹ đều đượcđánh giá cao vào thời điểm đó Hầu hết trong số đó đã bị phá sản trong hệ thống đánhgiá xếp loại S & P Điều này có nghĩa là các ngân hàng lớn đã hành động không liênquan nhiều đến sự hiểu biết về M&M Nhưng chỉ sau cuộc khủng hoảng ngân hàngnăm 2009 ở Hoa Kỳ, các hệ thống quy định đã tăng mức dự trữ vốn tối thiểu của cácngân hàng Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ không đơn điệu giữa tỷ lệ vốn vàkhả năng sinh lời, hỗ trợ các giả thuyết về hiệu quả và giá trị nhượng quyền thươngmại Biến phụ thuộc là hiệu quả đo bởi lợi tức trên vốn chủ sở hữu (EFCROE), cácbiến độc lập được xác định bởi tỷ lệ vốn (CAP), vốn cổ phần trên tổng tài sản chongân hàng i trong kỳ t; kích thước ngân hàng, tập trung thị trường, khả năng cho vay,nhu cầu tiền gửi, chi phí lãi vay, đầu tư chứng khoán, rủi ro của ngân hàng, cộng vớimột loạt các biến kiểm soát như tỷ lệ chiết khấu của ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa

Kỳ, chỉ số ngân hàng NASDAQ và danh tiếng của ngân hàng, kích thước ngân hàngđược tính bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản (SIZE) Chỉ số Herfindahl về mức độthị trường (HERF) và tỷ lệ tiền gửi thị trường của ngân hàng mỗi năm và cho mỗi tiểubang (SHAREDEPOSIT) Các kết luận chính của nghiên cứu này là có một mối quan

hệ thực nghiệm không đơn điệu giữa khả năng sinh lợi của ngân hàng và tỷ lệ vốn chủ

sở hữu của nó Cụ thể, đối với ngành ngân hàng Mỹ, rủi ro hiệu quả và giả thuyết giátrị nhượng quyền thương mại là những yếu tố quan trọng nhất giải thích mối quan hệgiữa lợi nhuận và vốn Giả thuyết về rủi ro hiệu quả cho rằng các ngân hàng hiệu quảnhất (những ngân hàng có lãi suất cao hơn) sẽ chọn mức vốn thấp; trong khi giả thuyết

về giá trị nhượng quyền thương mại, các ngân hàng hiệu quả nhất sẽ tìm kiếm các tỷ lệvốn cao Theo kinh nghiệm, giả thuyết rủi ro hiệu quả chiếm ưu thế bất cứ khi nào tỷ

lệ vốn thấp hơn 41% Sau đó, giả thuyết giá trị nhượng quyền thương mại có hiệu lực.Nếu bỏ qua mối quan hệ không đơn điệu và chú ý đến quan hệ nhân quả đơn lẻ thì mốiquan hệ tiêu cực mạnh mẽ giữa vốn và lợi nhuận trở nên rõ ràng Nghĩa là: một sự giatăng bất ngờ về vốn có xu hướng dẫn đến giảm lợi nhuận của ngân hàng Trong thực

tế, Berger (1995) chỉ ra rằng mối quan hệ tiêu cực này có một sự hấp dẫn trực quan vàphù hợp với mô hình một mình độc lập với thông tin bất đối xứng giữa ngân hàng vàcác nhà đầu tư cá nhân của nó Tỷ lệ vốn cao hơn có xu hướng giảm rủi ro trên vốnchủ sở hữu và do đó làm giảm lợi tức kỳ vọng trên vốn chủ sở hữu mà nhà đầu tư tìm

Trang 20

kiếm Nói cách khác, một tỷ lệ vốn cao biểu thị rằng một ngân hàng đang hoạt độngquá thận trọng và bỏ qua các cơ hội giao dịch có khả năng sinh lợi Thứ hai, có sựkhông cân đối về quy mô trong ngành ngân hàng Mỹ Chỉ các ngân hàng nhỏ mới cóthể tận dụng được kích thước của chúng Thực tế là khả năng sinh lời của các ngânhàng này chủ yếu là trung gian tài chính và là kết quả của việc áp dụng và sử dụnghiệu quả công nghệ mới thay vì quy mô danh mục đầu tư của họ Thứ ba, bên cạnh cácyếu tố nội sinh giải thích khả năng sinh lời, kết quả cho thấy rằng các yếu tố ngoại sinhxác định hiệu quả trong lợi nhuận của các ngân hàng Hơn nữa, các vấn đề kinh tế cổđiển của tính không đồng nhất, không thể kiểm soát và tính đồng nhất, thường lànhững thiếu sót trong loại phân tích chéo và phân đoạn thời gian này, đã được kiểmsoát Phần mở rộng của nghiên cứu này nằm trong một so sánh xuyên quốc gia vàtrong phân tích yếu tố quyết định đòn bẩy trong ngành ngân hàng.

Nghiên cứu của Saeed (2013) trong đó đánh giá tác động của cấu trúc vốn đếnhiệu suất của các ngân hàng tại Pakistan trong giai đoạn (2007-2011) đã phát hiện mộtmối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố quyết định cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt độngcủa ngành ngân hàng Mẫu nghiên cứu bao gồm 25 ngân hàng, được liệt kê tại (KSE)hoặc tại (SBP) ngân hàng nhà nước Pakistan trong giai đoạn 2007- 2011 Các biến độclập bao gồm nợ dài hạn, nợ ngắn hạn, tổng nợ và các biến kiểm soát bao gồm quy môdoanh nghiệp, tăng trưởng tài sản và biến phụ thuộc là ROE, ROA và thu nhập trênmỗi cổ phiếu (EPS) Kết quả nghiên cứu xác nhận sự phụ thuộc tích cực mạnh mẽ của

nợ ngắn hạn trên vốn (STDTC), tổng số nợ trên vốn và quy mô DN (SIZE) đối với tất

cả các chỉ số sinh lời (ROA, ROE và EPS) Nhưng nợ dài hạn trên vốn (LTDTC) lại cómối quan hệ nghịch với ROA, ROE và EPS Tăng trưởng tài sản (AG) có tác động tiêucực không đáng kể đến ROA và ROE, trong khi tác động tiêu cực đáng kể đến EPS

1.1.2 Quan điểm về ảnh hưởng tiêu cực của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại.

Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận này chủ yếu dựa trên cơ sở lý thuyết trật tựphân hạng và kết hợp với các giới hạn của lý thuyết người đại diện cho rằng khi đònbẩy tài chính cao hơn sẽ làm dòng tiền tự do bị giới hạn mặt khác sẽ làm các nhà quản

lý gia tăng việc e ngại rủi ro, cuối cùng các nhà quản trị sẽ quyết định từ bỏ các dự ánrủi ro cao tuy khả năng sinh lời cao, vì thế đòn bẩy tài chính cao nhưng hiệu quả hoạtđộng không cao do các dự án có dòng tiền thuần dương lớn đã bị từ bỏ Mặt khác, khiđòn bẩy tài chính cao các chủ nợ được xem như là có rủi ro cao hơn các cổ đông, khi

đó họ yêu cầu các nhà quản trị phải cắt giảm chi phí cũng như từ bỏ những dự án có

Trang 21

rủi ro cao và lúc này đòn bẩy tài chính cao dẫn đến việc hiệu quả hoạt động suy giảmtrong dài hạn.

Trong số các nghiên cứu mà tác giả có thể khảo sát về tác động của cấu trúc tàichính đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại thì phần lớn các nghiêncứu đề cập đến mối quan hệ ngược chiều này

Kết quả nghiên cứu của Berger (1995) nghiên cứu cho các ngân hàng Mỹ từnăm 1983-1989 kết luận rằng có sự tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệlợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ tài sản vốn (CAR, tỷ lệ nghịch của đònbẩy) Mặc dù tác động tích cực của ROE là kết luận trái chiều, tác động của vốn chủ sởhữu đến thu nhập của cổ đông được giải thích bằng việc giảm chi phí tài chính đốivới một khoản nợ không có bảo hiểm khi đòn bẩy tài chính giảm

Demirguc và Huizinga (2000), nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệuquả hoạt động của ngân hàng, tác giả dùng số liệu 80 quốc gia trong 8 năm (1990-1997), nghiên cứu sử dụng 2 nhóm chỉ số: các chỉ số vi mô như giá trị sổ sách của vốnchủ sở hữu (tài sản trừ đi nợ) trên tổng tài sản; tổng dư nợ trên tổng tài sản; tài sản sinhlãi không phải trả lãi/tiền mặt; tiền gửi thu nhập không lãi tại các ngân hàng khác; tàisản thu nhập ngoài lãi khác trên tổng tài sản… Các chỉ số vĩ mô: GNP/cap; GNP thựctrên đầu người; tốc độ tăng trưởng hàng năm của GDP thực; lạm phát hàng năm từgiảm phát GDP; Cơ cấu tài chính: tổng TS của các ngân hàng chia cho GDP; tổng tàisản của NHTW chia cho GDP; tín dụng cho khu vực tư nhân bằng tiền gửi các ngânhàng chia cho GDP; vốn hóa TTCK chia cho GDP; tổng giá trị của các cổ phiếu đượcgiao dịch chia cho GDP Nghiên cứu cho thấy rằng trong các hệ thống tài chính kémphát triển thường các ngân hàng có lợi nhuận cao hơn Khi hệ thống tài chính pháttriển cấu trúc tài chính được kiểm soát tức là sự phát triển tương đối của các ngân hàng

so với thị trường, kết quả hồi quy cho thấy rằng ngân hàng càng phát triển càng làmgiảm lợi nhuận của ngân hàng.Thị trường ngân hàng kém phát triển có xu hướng thịnhvượng với nguồn lực ít ỏi với sự thiếu hiệu quả và hành vi định giá ít cạnh tranh hơn,cũng như được lợi nhuận tương đối cao hơn Do đó phát triển ngân hàng càng lớn hơncàng mang lại sự cạnh tranh gay gắt hơn và lợi nhuận thấp hơn Nghiên cứu cũng thấyrằng trong các hệ thống tài chính kém phát triển TTCK cải thiện lợi nhuận của ngânhàng, điều này phản ánh sự bổ sung giữa ngân hàng và sự phát triển của TTCK Cụthể, phát triển TTCK cải thiện khả năng tài trợ vốn cổ phần cho các DN có thể làmtăng khả năng vay vốn của họ Hơn nữa, thông tin tốt hơn và dễ dàng hơn có sẵn trênTTCK cũng cho phép các ngân hàng đánh giá tốt hơn rủi ro tín dụng Điều này có thểdẫn đến sự gia tăng lợi nhuận ngân hàng Tuy nhiên, ở các mức độ phát triển cao hơn

Trang 22

của TTCK, nghiên cứu không còn quan sát thấy những đặc trưng này này Nhìn chung,nghiên cứu cho thấy đối với các quốc gia có hệ thống tài chính kém phát triển: việcphát triển tài chính lớn hơn sẽ nâng cao hiệu quả của ngành ngân hàng, có khả năngdẫn đến tăng tăng trưởng, cả ở cấp độ vi mô và ở cấp độ vĩ mô Tuy nhiên, nghiên cứuthấy rằng cấu trúc tài chính mỗi ngân hàng không có ảnh hưởng đáng kể, hay có thểnói độc lập đối với lợi nhuận ngân hàng Tóm lại, thông qua nhóm chỉ số vi mô nghiêncứu cho thấy hiệu quả kinh doanh của ngân hàng được đo lường bởi lợi nhuận trướcthuế trên tài sản (ROA) bị tác động bởi nhiều yếu tố như: đặc điểm kinh doanh củangân hàng, điều kiện kinh tế vĩ mô, quy mô tài sản của ngân hàng, đặc biệt quy môvốn chủ sở hữu càng lớn sẽ cho thấy sức mạnh của ngân hàng, đồng thời đa dạng hóađược hoạt động của các ngân hàng và có điều kiện để làm tăng lợi nhuận cho các ngânhàng Kết quả nghiên cứu này tuy cho thấy quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàngcàng lớn thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng cao nhưng quan sátnày chỉ thấy được ở những quốc gia có hệ thống tài chính kém phát triển.

Hortlund (2005) trong nghiên cứu của mình cho rằng kết quả nghiên cứu củaBerger (1995) và Demirguc và Huizinga (2000) là khó giải thích vì theo tác giả ROE

sẽ tăng tuyến tính với tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DER), tác giả cho rằng có khảnăng khác là tương quan nghịch giữa đòn bẩy và lợi nhuận có thể phản ánh hoàn cảnhđặc biệt của những năm 1980 và đầu những năm 1990 Những năm 1980 là một thập

kỷ tự do hóa tài chính, và những năm 1990 là thời kỳ hỗn loạn tài chính Tác giả chorằng trong một thập kỷ sự khác biệt trong đòn bẩy ngân hàng (ít nhất là ở châu Âu và

ở miền Bắc Mỹ) là rất nhỏ Do đó, tác giả trình bày dữ liệu mới về đòn bẩy và lợinhuận của các ngân hàng thương mại Thụy Điển từ những năm 1870- 2001 và khámphá các dấu hiệu của mối quan hệ trong dài hạn Dữ liệu được lấy từ tóm tắt Báo cáoNgân hàng (Sammandrag af bankernas uppgifter) Trong nghiên cứu của mình tác giảgặp hai vấn đề gây khó khăn đó là: báo cáo tóm tắt không hiển thị dự trữ bắt buộc chocác ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn 1948, 1919,1968 Thứ hai, thuế suất doanhnghiệp rất đa dạng, từ gần như bằng 0 trong thế kỷ 19, đến hơn 50% vào những năm1970…kết quả nghiên cứu cuối cùng cho thấy tồn tại mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệvốn chủ sở hữu và ROE (hay là tỷ lệ đòn bầy và ROE có mối tương quan nghịch)trong giai đoạn 1870-1980 (với ý nghĩa này, nghiên cứu hỗ trợ các kết quả trước đócủa Berger, 1995 và Demirgüç & Huizinga, 2000), nhưng trong những năm 1980 –

1990 thì mối quan hệ này không thật mạnh mẽ và tác giả cho rằng về lâu dài, mối quan

hệ tích cực giữa đòn bẩy và lợi nhuận trong ngân hàng cần được xác nhận lại, nghĩa là

Trang 23

trong nghiên cứu của mình Hortlund chỉ thấy được sự tác động nghịch chiều tại giaiđoạn đầu của nghiên cứu, còn giai đoạn thứ hai thì mối quan hệ này không rõ ràng.

P Bach (2006) nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và khả năng sinhlợi của ngân hàng Croatia các dữ liệu về hoạt động kinh doanh của 30 ngân hàng có sốliệu đầy đủ từ năm 1999 - 2003 đã được tập hợp Mục tiêu của nghiên cứu này là đểthiết lập các yếu tố quyết định lợi nhuận ngân hàng Croatia, với sự nhấn mạnh đặc biệtvào các yếu tố môi trường (tổng sản phẩm trong nước, lạm phát, tỷ giá hối đoái) và cácyếu tố đó được cụ thể cho từng ngân hàng (kích thước, chi phí và doanh thu) Các biếnhiệu quả ngân hàng được đo bởi lợi nhuận trên tài sản bình quân (ROAA), lợi nhuậntrên vốn chủ sở hữu bình quân (ROAE) Theo tác giả sự tương quan giữa ROAA vàROAE là đáng kể, cả hai chỉ số này được kết nối thông qua các hệ số nhân vốn chủ sởhữu bình quân EM (tài sản ròng chia cho vốn chủ sở hữu bình quân) Chỉ số này đođòn bẩy tài chính, và trong cùng một thời điểm nó là thước đo của lợi nhuận và rủi ro

Kể từ đó ROAE có thể được tính như một sản phẩm của ROAA và EM hay có thể kếtluận rằng ROAE có thể tăng bằng cách tăng lợi nhuận/tài sản hoặc bằng cách tăng đònbẩy tài chính Điều quan trọng là phải nhấn mạnh rằng ROAE là rất nhạy cảm với cácROAA, có nghĩa là sự thay đổi nhỏ trong ROAA dẫn đến một sự thay đổi lớn trongROAE Các thông số của hai phương trình hồi quy được ước tính, với các biến phụthuộc khác nhau ROAA, ROAE và các biến độc lập (tỷ lệ vốn/tài sản, tín dụng /tài sản,tài sản không sinh lợi/tổng tài sản, tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người, chiphí vận hành/tỷ lệ tài sản, thị phần, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước, tỷgiá bình quân, lạm phát) Kết quả thực nghiệm của mô hình hồi quy cho thấy trong các

kỳ quan sát năm 1999 - 2003 lợi nhuận các ngân hàng Croatia phụ thuộc chủ yếu vàođặc điểm cụ thể cho từng ngân hàng ROAA có liên quan tích cực đến vốn/tài sản vàtài sản không sinh lợi/tổng tài sản ROAE có liên quan tích cực đến tài sản không sinhlợi/tổng tài sản, chi phí vận hành/tỷ lệ tài sản Các biến kinh tế vĩ mô không có liênquan thống kê với lợi nhuận các ngân hàng, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng nghiêncứu đã được xử lý với chuỗi thời gian khá ngắn Nghiên cứu có thể kết luận rằng trongthời gian ngắn và điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định, các ngân hàng có quy mô vốn lớnhay đòn bẩy thấp hơn hoạt động có hiệu quả hơn

Tiếp tục nghiên cứu năm 1995, Berger et al (2008) đã tiến hành phân tích cấutrúc vốn và lợi nhuận của 666 ngân hàng thương mại niêm yết tại Mỹ trong giai đoạn1992-2006 Nghiên cứu đã quan sát thấy rằng mặc dù khối lượng bất thường của lợinhuận tích lũy trong thời gian này, các ngân hàng đang tìm kiếm để tăng hơn và nhiềuhơn nữa tỷ lệ phần trăm của vốn tự có bằng cách phát hành cổ phiếu mới Điều này có

Trang 24

nghĩa là lợi nhuận của các ngân hàng cao hơn sẽ được đáp ứng được khả năng củamình để tăng vốn tự có do tích lũy Do đó có một mối quan hệ ngược chiều giữa mứclợi nhuận ngân hàng và các khoản nợ của họ.

Trong một nghiên cứu thực nghiệm khác, Gropp và Heider (2009) phân tíchtrên 200 ngân hàng ở Mỹ và EU giai đoạn 1991-2004 và lập luận rằng cấu trúc vốncủa các ngân hàng khác với các công ty tài chính khác, vì tiền gửi thường không sẵn

có cho các công ty, đối với các DN, khoản tiền gửi có thể được xem như là khoản nợngắn hạn Các nhà nghiên cứu quan sát thấy hầu hết các ngân hàng đều đang tài trợ tàisản bằng tiền gửi Nói cách khác, vì khoản tiền gửi là một phần của đòn bẩy, có nghĩa

là hầu hết các ngân hàng của EU đều được đánh giá cao Sau khi phân tích mối tươngquan, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng tỷ suất lợi nhuận và tỷ số đòn bẩy tương quan

âm Tuy nhiên, khi hầu hết các ngân hàng được đánh giá cao, họ bắt đầu tìm kiếm lý

do tại sao các ngân hàng rất cần đòn bẩy nếu đòn bẩy làm giảm lợi nhuận Sau đó, họkết luận với câu trả lời rằng việc huy động vốn bằng cách phát hành vốn cổ phần có chiphí cao hơn các khoản nợ, và tâm lý "quá lớn để thất bại" bên cạnh các vấn đề đại diệngiữa các nhà quản lý và các cổ đông đã đẩy các ngân hàng có tỷ lệ đòn bẩy cao hơn

Osborne, Fuertes và Milne (2011) khi mở rộng kết quả nghiên cứu của Berger(1995) và năm (2008) đã nghiên cứu về các ngân hàng Mỹ, mẫu nghiên cứu bao gồm15.000 ngân hàng vào đầu giai đoạn mẫu vào năm 1977, giảm xuống dưới 11.000 vàonăm 1995 và khoảng 7000 vào năm 2010 Trong nghiên cứu này, các tác giả đã xemxét lại hiệu quả của vốn đối với khả năng sinh lợi của các ngân hàng Mỹ trong giaiđoạn 1977-2010 để đánh giá xem mối quan hệ có khác nhau giữa các ngân hàng haykhông, và liệu mối quan hệ có thay đổi theo thời gian hay không Nghiên cứu tiếnhành phân tích trong hai phần: đầu tiên, nghiên cứu thêm dữ liệu từ 1993-2010 để thựchiện phân tích có hệ thống hơn về mối quan hệ trong một khoảng thời gian dài hơn đãđược thực hiện trước đây Phù hợp với nghiên cứu đó, các tác giả tìm thấy một mốiquan hệ tích cực trong những năm 1980 trong cuộc khủng hoảng tiết kiệm và cho vay.Trong phần hai của phân tích, các tác giả đã trình bày kết quả từ một phiên bản cảitiến của mô hình, trong đó không chỉ bao gồm ảnh hưởng của tỷ lệ vốn mục tiêu dàihạn mà còn cả thặng dư hoặc thâm hụt tỷ lệ vốn dài hạn Nghiên cứu khai thác mặt cắtngang của mẫu theo cách này cho phép kiểm tra mạnh mẽ hơn giả thuyết rằng vốn ảnhhưởng đến khả năng sinh lời khác nhau tùy thuộc vào việc các ngân hàng có ở trên haydưới mức vốn tối ưu của chúng Đặc điểm kỹ thuật cho phép tính không đồng nhấtđáng kể của tỷ lệ vốn mục tiêu và trong mô hình lợi nhuận để nắm bắt chính xác liệucác ngân hàng có gần với tỷ lệ vốn tối ưu của họ hay không Phân tích thấy rằng trong

Trang 25

khi mối quan hệ lâu dài giữa các tỷ lệ vốn và ROA luôn tích cực, thì có những ảnhhưởng bất đối xứng về độ lệch so với tỷ lệ vốn mục tiêu dài hạn; thâm hụt có xu hướngliên quan tích cực với ROA trong tương lai trong khi thặng dư có xu hướng liên quanchặt chẽ với ROA Điều này phù hợp với lý thuyết cân đối về cấu trúc vốn và cho thấyrằng trong điều kiện căng thẳng, các ngân hàng có thể cải thiện khả năng sinh lời của

họ bằng cách tăng tỷ lệ vốn Những phát hiện này phần lớn ủng hộ các kết luận củaBerger (1995) rằng các ngân hàng trong cuộc khủng hoảng tiết kiệm và cho vay cuốinhững năm 1980 đã có thể cải thiện khả năng sinh lời của họ bằng cách tăng tỷ lệ vốncủa họ Nghiên cứu nhận thấy rằng điều này đúng đối với các ngân hàng có rủi ro danhmục đầu tư cao Những năm 1990 và đầu những năm 2000, sự không đối xứng khônghoàn toàn rõ ràng và có rất ít bằng chứng cho thấy các ngân hàng vốn thấp có thể cảithiện khả năng sinh lời bằng cách tăng tỷ lệ vốn Các tác giả tiếp tục tìm thấy một mốiquan hệ tiêu cực mạnh mẽ đối với các ngân hàng có vốn cao so với tỷ lệ vốn mục tiêudài hạn của họ Những kết quả này có ý nghĩa chính sách quan trọng đối với hoạt độngcủa các yêu cầu về vốn Chi phí của các yêu cầu về vốn phụ thuộc vào nơi chúng đượcthiết lập liên quan đến mức vốn mong muốn của chính ngân hàng Các biến nghiêncứu: ROE (SDROE), tỷ lệ cho vay thương mại và công nghiệp với tổng tài sản (C &I), tỷ lệ đánh đổi phí cho tổng tài sản (CHARGE), tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản (NPL),

tỷ lệ rủi ro trong tài sản (RW), cổ phiếu của ngân hàng của thị trường tiền gửi tại địaphương (BANKSHARE), chỉ số tập trung tại các thị trường địa phương của ngân hàng(HERF), tỷ lệ tiền gửi của ngân hàng trong thị trường (MSA), sự tăng trưởng của thịtrường tiền gửi tại địa phương , tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản (AC) và chỉ sốkích thước (size) Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tiêu cực mạnh mẽ giữa tỷ lệ tàisản và lợi nhuận không phụ thuộc vào quy mô của các ngân hàng Các nhà nghiên cứucũng cho biết hai lý do đòn bẩy cao của các ngân hàng Mỹ, đầu tiên là các ngân hàngnày có yêu cầu về vốn tối thiểu để đảm bảo cho việc bảo vệ các ngân hàng trong điềukiện kinh tế bất ngờ và điều này tối ưu hoá nguồn vốn của họ, để giá trị của các ngânhàng sẽ được tối đa hóa Thứ hai, nợ có lợi cho các ngân hàng vì lợi thế về thuế vàtrợ cấp của chính phủ đối với chi phí phá sản Sau đó, các nhà nghiên cứu lập luậ nrằng nếu các yêu cầu về vốn tối thiểu là ràng buộc và thiết lập trên tỷ lệ vốn tối ưucủa các ngân hàng, mối quan hệ giữa vốn và khả năng sinh lợi có thể là tiêu cực Về

cơ bản nghiên cứu nhận thấy rằng trong những giai đoạn khủng hoảng hoặc trongtrong trường hợp thông tin bất cân xứng… thì tác động của cấu trúc tài chính tới hiệuquả hoạt động của các ngân hàng thương mại là ngược chiều

Trang 26

Nghiên cứu của Kundid (2012) : về tầm quan trọng của việc lựa chọn cấu trúcvốn đối với lợi nhuận ngân hàng Nghiên cứu được tiến hành trên dữ liệu của 28 ngânhàng thương mại tại Cộng hòa Croatia trong giai đoạn 2003-2008, đây được coi là mộtkhoảng thời gian ổn định của ngành ngân hàng nước này do quá trình phục hồi, hợpnhất, tư nhân hóa và hiện đại hóa Nghiên cứu cho rằng tính đa dạng của ngân hàng làmột biến phụ thuộc trong mô hình được đề xuất: nó xấp xỉ với giá trị lợi nhuận trên tàisản (ROA) Trong nghiên cứu này Kundid cho rằng vốn cổ phần (ROE) có thể khôngphải là một chỉ báo thích hợp cho việc phát triển mô hình này đối với ngành ngân hàng

vì ROE là kết quả của ROA và hệ số nhân vốn, tức là một sự đảo ngược vốn chủ sởhữu, ông cho rằng rủi ro lớn thường liên quan đến việc quản lý nợ lớn hơn, do đó ROAnổi lên như là một biện pháp được ưa chuộng về tính khả thi Các biến độc lập được sửdụng trong mô hình hồi quy của nghiên cứu được phân loại thành một trong bốn nhómcác chỉ số: các chỉ số tăng trưởng, các chỉ số cơ cấu vốn, các chỉ số chi phí lãi suất vàcác chỉ số khác Nhóm chỉ số tăng trưởng: RASTAK chỉ số tăng trưởng tài sản;RASTJK chỉ số tăng trưởng vốn điều lệ; RASTDEP chỉ số tăng trưởng của tiền gửi;OSUAK tiền gửi được bảo hiểm/tổng tài sản Nhóm chỉ số cơ cấu vốn bao gồm:UKUAK vốn chủ sở hữu/tổng tài sản; UPKUAK các khoản vay đã nhận/tổng tài sản;UPDUAK tiền gửi /tổng tài sản; Chỉ số chi phí lãi suất; Chỉ số chia sẻ thị trường:TRUDIO thị phần của tài sản ngân hàng; Quy mô ngân hàng; Tỷ lệ an toàn vốn Môhình hồi quy phát triển được xác định cụ thể, các kết quả thu được bằng cách sử dụngSTATA 11 và EViews 7 Kết quả cho thấy: biến phụ thuộc (ROAi, t-1) và các biếnđộc lập tăng trưởng của quy định vốn (RASTJK), tỷ lệ an toàn vốn (AK), các chỉ sốchi phí lãi suất có một dấu hiệu tiêu cực và có ý nghĩa thống kê Ước tính các thông số

là cao nhất cho chỉ số chi phí lãi suất trên và lợi tức trên tài sản trong kỳ trước (ROAi,t-1) Như vậy, KT1 và ROAi, t-1 có tác động ngược chiều cao nhất đến ROA Hơnnữa, sự tăng trưởng của tài sản (RASTAK), tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tài sản (UKUAK), dựtrữ bắt buộc (GR) và tỷ lệ tiền gửi được bảo hiểm (OSUAK) nằm trong một mối quan

hệ cùng chiều với biến phụ thuộc và có ý nghĩa thống kê Kết quả cũng cho thấy sự sụtgiảm mạnh ROA của các ngân hàng vừa và nhỏ kể từ năm 2006 và sự gia tăng đồngthời của ROA của ngân hàng lớn nhất trong hai năm gần nhất có thể là lời giải thíchcho các kết quả trước đây Nghiên cứu cũng cho thấy: các ngân hàng cỡ nhỏ thường có

tỷ lệ vốn cao hơn các yêu cầu quy định và có khả năng quản lý rủi ro khiêm tốn Đồngthời, các ngân hàng nhỏ có lợi nhuận thấp hơn (hoặc hoạt động với tổn thất) trong khităng trưởng tài sản của họ bị giới hạn bởi thước đo pháp lý của CNB về các giới hạntăng trưởng thường phù hợp hơn với các ngân hàng lớn phát triển Tỷ lệ vốn chủ sởhữu/tài sản có kết nối tích cực với ROA của ngân hàng và do đó việc tài trợ vốn chủ sở

Trang 27

hữu cao hơn là một nguồn tăng lợi nhuận của ngân hàng Tóm lại, nghiên cứu nàycho thấy các ngân hàng có vốn chủ sở hữu cao và tiền gửi được bảo hiểm sẽ có ROAcao hơn.

Nghiên cứu của Awunyo và Badu (2012) đánh giá cấu trúc vốn và hiệu suất củacác ngân hàng niêm yết ở Ghana trong giai đoạn 2000-2010, phát hiện ra rằng cácngân hàng niêm yết trên SCK Ghana được đánh giá cao về việc sử dụng đòn bẩy Đây

có thể là do sự phụ thuộc của họ vào nợ ngắn hạn như một kết quả tương đối cao củalãi suất cho vay của ngân hàng Ghana và mức độ thấp của hoạt động thị trường tráiphiếu và có một mối liên hệ tiêu cực với hiệu quả hoạt động ngân hàng Nghiên cứu sửdụng ba biến phụ thuộc để xem xét hiệu suất đó là ROA, ROE và Tobin‟s Q là tỷ lệgiá trị thị trường của vốn chủ sở hữu đối với giá trị sổ sách Lựa chọn này được đưa rabởi giả định rằng các chỉ số này có thể có cách diễn giải khác nhau về hiệu suất củangân hàng Các biến độc lập bao gồm biến cấu trúc LEV: tỷ lệ tổng nợ trên tổng sốvốn; FIRMSIZE tổng doanh thu; DEBT:nợ ngắn hạn; Biến điều khiển: AGE tuổi củangân hàng; BODSIZE kích thước ban đầu của ngân hàng; MCAP vốn hóa thị trường.Nghiên cứu thấy rằng cơ cấu vốn trung bình của các ngân hàng niêm yết trên SCKGhana là 87% Trong giai đoạn nghiên cứu cho thấy các ngân hàng niêm yết trênSGDCK được đánh giá cao việc này có thể được coi là do phụ thuộc quá nhiều vào nợngắn hạn do lãi suất cho vay của ngân hàng Ghana tương đối cao và hoạt động thịtrường trái phiếu ở mức thấp Việc điều chỉnh các ngân hàng này là kết quả của sự phụthuộc quá mức vào nợ ngắn hạn Trong số 87% thì nợ trung bình, ngắn hạn, tráchnhiệm pháp lý chiếm 86,61% tổng số tiền này (75% tổng số vốn) trong khi 23,39%còn lại là nợ dài hạn Ngoài ra thị trường trái phiếu ở Ghana không được phát triểnđúng cách để thu hút các ngân hàng lựa chọn nợ dài hạn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằngcấu trúc vốn có liên quan nghịch với hiệu suất được thể hiện bởi các kết quả hồi quycủa hàm ROE và Tobin's q có nghĩa là có một mối quan hệ tiêu cực giữa đòn bẩy vàROE Các biến điều khiển khác trong mô hình cụ thể là kích thước (được thể hiệnbằng tổng tài sản), độ tuổi, giá trị vốn hóa thị trường tất cả đều thể hiện mối quan hệtiêu cực với ROE, tuy nhiên chỉ kích thước bảng và tổng doanh thu có ý nghĩa thống

kê với biến phụ thuộc Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy mối quan hệ không đáng

kể giữa cấu trúc vốn và hiệu suất ngân hàng được đo bằng ROA Kết quả cho thấy âmtính nhưng có ý nghĩa thống kê;

Nghiên cứu của Prof (Dr) Velnampy & J Aloy Srilanca (2012) về mối quan

hệ giữa cấu trúc vốn & lợi nhuận: Mục đích của nghiên cứu này là để điều tra mối

quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lời của 10 ngân hàng Srilankan niêm yết

Trang 28

trong 8 năm từ năm 2002 - 2009 Dữ liệu đã được phân tích bằng cách sử dụng số liệuthống kê mô tả và phân tích tương quan để tìm ra mối liên hệ giữa các biến Các biếncủa mô hình nghiên cứu bao gồm biến độc lập là các biến về cấu trúc vốn: Debt/EquityD/E: tỷ lệ nợ/VCSH; Debt to Total Funds: nợ /tổng kinh phí và các biến về lợi nhuận

là biến phụ thuộc bao gồm: NPR (Net Profit Ratio)- lợi nhuận thuần; RCE (Return onCapital mployed); ROE (Return on Equity) và NIM (Net Interest Margin) Những pháthiện chính của nghiên cứu như sau : kết quả của phân tích cho thấy rằng có một mốiliên hệ trái chiều giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lời Nó cho thấy một thực tế làngân hàng ở Sri Lanka phụ thuộc nhiều vào nợ (dài hạn cho vay) chứ không phải làvốn chủ sở hữu Kết quả từ các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và lợinhuận là không thuyết phục và đòi hỏi các công ty phải đối mặt với câu hỏi quan trọngtrong nhu cầu tài chính mới là liệu tăng nợ hoặc vốn chủ sở hữu Mặt khác, thông quaphân tích hồi quy, nghiên cứu cho thấy kết quả là tỷ lệ nợ D/E có mối quan hệ chặtchẽ (43,7%) với tỷ suất lợi nhuận ròng (NIM), lợi nhuận ròng (NPR) (50,5%) Ngượclại, giả thuyết D/E có tác động mạnh mẽ đến Return on Equity (ROE) và Return onCapital Employed (ROCE) đã bị từ chối

Nghiên cứu của Pastory, Marobhe và Kaaya (2013) về mối quan hệ giữa cấutrúc vốn và hiệu suất của ngân hàng thương mại: nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 20ngân hàng ở Tanzania trong khoảng thời gian 2005-2011 Hiệu suất ngân hàng được

đo lường bởi ROA và ROE Các kết quả mô tả mối quan hệ tiêu cực giữa cấu trúc vốn

và hiệu suất ngân hàng khi họ chỉ ra hệ số âm Các biến độc lập là vốn để cho vay, vốnchủ sở hữu trên tổng tài sản, nợ phải trả trên vốn Các biến kiểm soát là logarit củatổng tài sản, logarit tổng tiền gửi ngân hàng và kích thước ngân hàng Nghiên cứu kếtluận rằng mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu suất của các ngân hàng là tiêu cực,kết quả là có ý nghĩa ở mức 5% Trong khía cạnh này nó kết luận mức độ nợ ảnhhưởng đến hiệu suất của các ngân hàng xấu, mặc dù điều đó trái ngược với các nghiêncứu khác, nhưng được hỗ trợ với các nghiên cứu thực nghiệm bao gồm cả lý thuyết vịthế Các biến kiểm soát như Ln tổng tài sản, Ln tiền gửi ngân hàng và kích thước đãcho thấy xu hướng tích cực, và có xu hướng tăng hiệu suất của các ngân hàng mặc dùkết quả là không có ý nghĩa thống kê

1.1.3 Trường phái thứ ba: cấu trúc tài chính độc lập với hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại.

Theo cách tiếp cận này, Ngo (2006) đã tiến hành một nghiên cứu với mẫu là

2500 ngân hàng lớn nhất (theo tổng tài sản) ở Mỹ và theo dõi chúng từ quý 3 năm1996

cho đến tháng 3 năm 2005 với một bộ dữ liệu rất lớn trên 62.000 quan sát ngân hàng

Trang 29

Biến phụ thuộc chính là thu nhập của ngân hàng : ROE và ROA Nghiên cứu này đặt ra

để điều tra chi tiết mối quan hệ giữa vốn và lợi nhuận trong ngân hàng Ông cho rằngvốn và sự an toàn của nó đã đi đầu trong cuộc tranh luận quy định trong nhiều thập kỷ,nhưng dường như chúng ta cũng không làm rõ hơn được sự tác động của vốn đến hiệusuất ngân hàng Các ngân hàng luôn phản đối các yêu cầu khắt khe hơn cho thấy rằngviệc nắm giữ vốn bổ sung là tốn kém và do đó cản trở lợi nhuận, nhưng vẫn tiếp tục duytrì mức vốn cao hơn mức yêu cầu đặc biệt của chính quyền Cũng như bất kỳ hoạt độngkinh tế nào, việc tăng vốn cũng có chi phí nhưng cũng cung cấp các lợi ích bổ sungđược đền bù đầy đủ Do yêu cầu vốn không ràng buộc, ông cho rằng tỷ lệ vốn của ngânhàng được xác định nội sinh trong quy trình tối đa hóa lợi nhuận Các kết quả từ nghiêncứu này mang lại bằng chứng rõ ràng cho tính không đồng nhất của tỷ lệ vốn Trái vớinhững gì đã được báo cáo với tần suất đáng ngạc nhiên trong quá khứ, ông không tìmthấy mối quan hệ có hệ thống giữa vốn và lợi nhuận trong ngân hàng Những phát hiệnnày ủng hộ quan điểm rằng thị trường thành công trong việc đưa ra các tỷ lệ vốn xấp xỉcho các ngân hàng khác nhau Các tỷ lệ vốn này khác nhau giữa các ngân hàng do cáctình huống đặc thù với các ngân hàng Nếu những thay đổi tỷ lệ vốn là kết quả của thịtrường cạnh tranh hoàn hảo, họ sẽ loại bỏ bất kỳ mối quan hệ giữa vốn và hiệu suấtngân hàng Mặc dù không có xác nhận quyền sở hữu nào được đưa ra thị trường trong

đó cấu trúc vốn được hình thành là hoàn hảo, bằng chứng này cho thấy rằng nó khôngphải là không hoàn hảo như để tạo ra một mối quan hệ có hệ thống mà không bị thayđổi bởi các nhà đầu tư tìm cách tối đa hóa lợi nhuận mà họ kiếm được Tóm lại,trái vớihầu hết các nghiên cứu đã công bố ông không tìm thấy có mối quan hệ đáng kể về mặtthống kê giữa vốn và lợi nhuận Một phản ứng tích cực của tài sản là vốn cổ phần caohơn, giảm chi phí vay được bù đắp bằng chi phí phát hành cổ phiếu cao hơn Vì vậy,hiệu quả thuần của vốn chủ sở hữu tăng lên đã được chứng minh là bằng không về tỷ lệlợi nhuận của ngân hàng (được tính bằng ROA và ROE) và ngược lại

Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đã kiểm tra mối quan hệ hệ giữacấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa các thịtrường khác nhau và các khoảng thời gian khác nhau (Angbazo, 1997, Demirguc-Kunt

và Huizinga, 1999; Vennet, 2002, Nier và Baumann, 2006; Flannery và Rangan,2008) Điều này có thể do lí thuyết trật tự phân hạng vì thu nhập cao trong quá khứthúc đẩy vốn cao hơn trong hiện tại Mặc dù như đã đề cập, cả mức vốn đầu tư theoyêu cầu và các quan điểm về trật tự phân hạng dự đoán rằng trong dài hạn, lợi nhuậncao hơn dẫn đến một một tỷ lệ vốn mong muốn thấp hơn Tuy nhiên, các nghiên cứuđược trích dẫn ở trên có một giới hạn vì họ áp đặt hạn chế rằng mối quan hệ giữa cấu

Trang 30

trúc vốn và lợi nhuận là tuyến tính và đồng nhất giữa các ngân hàng và các khoảngthời gian Mối quan hệ tích cực được tìm thấy là mối quan hệ trung bình giữa các ngânhàng và các khoảng thời gian Berger (1995) ước tính mối quan hệ tuyến tính giữaROE và vốn là trái chiều đối với các ngân hàng thương mại Mỹ nhưng cho phép cácmối quan hệ (và trên thực tế là toàn bộ mô hình) thay đổi giữa các giai đoạn 1983-

1989, trong đó các ngân hàng nói chung được cho là dưới mức tỷ lệ vốn tối ưu, và1990-1992 trong đó họ được cho là đã vượt quá tỷ lệ vốn tối ưu của họ Hệ số này làtích cực trong giai đoạn đầu và tiêu cực trong lần thứ hai, phù hợp với lý thuyết trênrằng tỷ lệ vốn tối ưu tăng trong giai đoạn căng thẳng và các ngân hàng khởi hành từ tỷ

lệ vốn tối ưu của họ trong ngắn hạn Tuy nhiên, phương pháp này không cho phép cácmối quan hệ thay đổi giữa các ngân hàng, theo quan điểm lý thuyết, nó có thể sẽ tùythuộc vào việc các ngân hàng có ở trên hay dưới tỷ lệ vốn tối ưu và mức độ gần gũivới chúng Osterberg và Thomson (1996) đã khám phá các yếu tố quyết định đòn bẩycủa các công ty cổ phần ngân hàng Hoa Kỳ (BHCs) trong giai đoạn 1987-1988 Đặcđiểm kỹ thuật của họ bao gồm một khoản thu nhập tuyến tính và thuật ngữ tương tácbao gồm thu nhập nhân với mức độ yêu cầu về vốn Họ thấy rằng cấu trúc vốn và thunhập có tương quan dương, và mối quan hệ này là tích cực hơn cho các ngân hàng gầnvới mức tối thiểu quy định Gropp và Heider (2010) nghiên cứu các yếu tố quyết địnhđòn bẩy cho các ngân hàng lớn của Mỹ và châu Âu trong giai đoạn 1991-2004 Chúngbao gồm lợi tức trên tài sản và lợi tức trên tài sản nhân với một biến giả bằng 1 nếungân hàng gần với yêu cầu quy định ROA và cấu trúc vốn có mối liên hệ tiêu cực,nhưng khi vốn gần với mức tối thiểu quy định, mối quan hệ tổng thể không khác gì sốkhông Các đặc điểm phi tuyến tính được sử dụng trong Gropp and Heider (2010) vàOsterberg và Thomson (1996) bị hạn chế vì mối quan hệ chỉ có thể thay đổi đối vớicác ngân hàng có vốn đầu tư thấp Các yếu tố thúc đẩy mối quan hệ giữa cấu trúc vốn

và hiệu quả hoạt động được xác định ở trên cho thấy mối quan hệ có thể khác nhau tùythuộc vào việc ngân hàng ở trên hay dưới tỷ lệ vốn tối ưu và do đó mối quan hệ có thểthay đổi giữa các ngân hàng có vốn cao và các ngân hàng vốn vừa và ngân hàng vốnthấp Một vấn đề liên quan là các nghiên cứu cho rằng phi tuyến tính gần với mức tốithiểu quy định đối với các ảnh hưởng của quy định Trong khi đúng là quy định có thểtạo ra một mối quan hệ tích cực mạnh mẽ gần với mức tối thiểu quy định, kỷ luật thịtrường có thể mang lại hiệu quả tương tự và nó là vấn đề đáng kể cho dù những nghiêncứu này đã thực sự xác định được một hiệu quả điều chỉnh gia tăng khác với các yếu tốđánh đổi có liên quan

Cuối cùng, các nghiên cứu về các yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàngđều nhắc đến vai trò của vốn trong việc xác định lợi nhuận Giả thuyết rằng các ngân

Trang 31

hàng có vốn đầu tư nước ngoài có ROA cao hơn và/hoặc biên lãi ròng cao hơn đãđược xác nhận trong Abreu và Mendes (2002), Anthanasoglou et al (2005) (2006),Demirgüç-Kunt và Huizinga (1998), Kosmidou et al (2005), Košak và Čok (2008),Kundid et al (2011), Mamatzakis và Remoundos (2003), Ramlall (2009), Sayilgan

và Yildirim (2009), Sufian và Razali Chong (2008) Ngoài ra, Abreu và Mendes(2002), Goddard et al (2004), Bach et al (2009) đã chứng minh được những ảnh hưởngtích cực của vốn chủ sở hữu cao hơn trong cấu trúc vốn đến ROE

Như vậy, có thể thấy mặc dù cấu trúc vốn có tác động quan trọng đến hiệu quảhoạt động của các NHTM, tuy nhiên cho đến nay các kết quả nghiên cứu thực nghiệmvẫn chỉ ra tính đa hướng trong mối quan hệ này Chính điều này thúc đẩy các nghiêncứu tiếp tục kiểm tra về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động ở các bốicảnh mới hơn như các nước có nền kinh tế chuyển đổi hay các nước đang phát triển,hoặc ở những giai đoạn đặc biệt của nền kinh tế một nước

1.2 Khoảng trống nghiên cứu

Qua phần tổng quan trên tác giả nhận thấy

- Phần lớn các tác giả khi nghiên cứu về cấu trúc vốn tác động đến hiệu quảhoạt động thường nghiên cứu cấu trúc vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ,các tác giả đều sử dụng các biến đại diện cho cấu trúc vốn là hệ số nợ (ngắn hạn, dàihạn), đòn bẩy tài chính (tổng nợ/ tổng tài sản), tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, vớiđặc thù cấu trúc vốn của ngành ngân hàng (không phân chia các khoản nợ phải trả theothời hạn thanh toán) nên không thể nghiên cứu tách bạch hệ số nợ ngắn hạn và dài hạn.Thêm nữa các nghiên cứu trên thế giới chưa đề cập đến mối quan hệ giữa cấu trúc vốncủa các ngân hàng thương mại trong mối quan hệ với tài sản, đặc biệt là với phần tổng

dư nợ cho vay của các ngân hàng (Total Loans), vì cho vay là hoạt động cơ bản vàđem lại nguồn thu chủ yếu cho các NHTM

- Biến đại diện cho hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại là ROA,ROE chiều tác động của các biến thuộc cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động chưađồng nhất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự phát triển của nền kinh tế mối nước trongtừng giai đoạn, đặc thù từng quốc gia nghiên cứu

- Các biến kiểm soát trong nghiên cứu của các tác giả là rất đa dạng: từ các chỉ

số vi mô như: quy mô ngân hàng, tỷ số tiền gửi thị trường, cho vay, đầu tư chứngkhoán, nhóm chỉ số chi phí lãi suất, chỉ số chia sẻ thị trường, tuổi của ngân hàng, tỷ lệvốn hóa thị trường, tỷ lệ nợ xấu, đến các chỉ số vĩ mô: GNP, GDP, thị phần, lạm phát chiều tác động của các biến này đến hiệu quả hoạt động của các NHTM chưa thốngnhất tùy thuộc vào đặc thù của từng nước Hạn chế trong các nghiên cứu trước đây khi

Trang 32

nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàngthương mại chưa đưa được biến đặc trưng của ngành vào nghiên cứu vì vậy kết quảước lượng vẫn còn hạn chế và khác biệt giữa các nghiên cứu đặc thù riêng của từngquốc gia.

- Các nghiên cứu chỉ ra tính đa hướng trong tác động của cấu trúc vốn đến hiệuquả hoạt động của các NHTM, chiều tác động không đồng nhất: trong cùng mộtnghiên cứu nhưng ở các giai đoạn khác nhau cũng cho thấy sự khác biệt giữa các kếtquả nghiên cứu

- Tại Việt Nam, có các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến cấu trúc tàichính, các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM còn các nghiêncứu về sự tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động chủ yếu cho cácngành nghề khác, chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực này trong ngành ngân hàng Đóchính là lý do để tác giả sẽ nghiên cứu tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quảhoạt động của các NHTM Việt Nam

- Về thời gian nghiên cứu, tại Việt Nam có rất ít các nghiên cứu trong lĩnh vựcngân hàng liên quan đến mảng cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động trong khoảngthời gian dài nhất là từ giai đoạn khủng hoảng tài chính của nền kinh tế, nghiên cứunày của tác giả thời gian sẽ kéo dài từ năm 2008 đến năm 2016

Trang 33

Kết luận chương 1

Trong chương này tác giả đã tổng quan các nghiên cứu từ trước đây có liên quanđến đề tài, hầu hết các nghiên cứu đề chỉ ra được tác động của cấu trúc vốn đến hiệuquả hoạt động của các NHTM

Các nghiên cứu đều sử dụng các biến đại diện cho cấu trúc vốn là hệ số nợ, đònbẩy tài chính, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản biến đại diện cho hiệu quả hoạt độngcủa các NHTM là ROA, ROE chiều tác động của các biến thuộc cấu trúc vốn đến hiệuquả hoạt động chưa đồng nhất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự phát triển của nềnkinh tế mối nước trong từng giai đoạn, đặc thù từng quốc gia nghiên cứu

Các biến kiểm soát trong nghiên cứu của các tác giả là rất đa dạng: từ các chỉ số

vi mô như: quy mô ngân hàng, tỷ số tiền gửi thị trường, cho vay, đầu tư chứng khoán,nhóm chỉ số chi phí lãi suất, chỉ số chia sẻ thị trường, tuổi của ngân hàng, tỷ lệ vốn hóathị trường, tỷ lệ nợ xấu, đến các chỉ số vĩ mô: GNP,GDP, thị phần, lạm phát chiềutác động của các biến này đến hiệu quả hoạt động của các NHTM chưa thống nhất tùythuộc vào đặc thù của từng nước Hạn chế trong các nghiên cứu trước đây khi nghiêncứu về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các NHTM chưa đưađược biến đặc trưng của ngành vào nghiên cứu vì vậy kết quả ước lượng vẫn còn hạnchế và khác biệt giữa các nghiên cứu đặc thù riêng của từng quốc gia

Thông qua phần tổng quan tác giả đã xác lập được khoảng trống nghiên cứu để

bổ sung cả về lý luận và thực tiễn về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt độngcủa các NHTM

Trang 34

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TỚI

HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Từ thập niên 1950s đã có nhiều những nghiên cứu về cấu trúc vốn đặc biệt là

về cấu trúc vốn tối ưu Về lý thuyết có rất nhiều lý thuyết nghiên cứu về cấu trúc vốn

và mối quan hệ của nó với hiệu quả hoạt động như lý thuyết M&M, lý thuyết trật tựphân hạng, lý thuyết đánh đổi, lý thuyết chi phí đại diện Có rất nhiều các nghiên cứuthực nghiệm về cấu trúc vốn để kiểm tra lại các lý thuyết trên, tuy nhiên chưa có một

lý thuyết nào giải thích được một cách hoàn hảo tất cả các trường hợp nghiên cứu dođặc thù của mỗi nền kinh tế, mỗi nước và mỗi ngành nghề khác nhau Trong nội dungcủa chương này tác giả làm rõ các trường phái lý thuyết đã nghiên cứu về cấu trúc vốn

từ đó vận dụng giải thích phần nào tác động của cấu trúc vốn tới hiệu quả hoạt độngtại các NHTM Việt Nam

2.1.Cấu trúc tài chính trong các ngân hàng thương mại

2.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính.

Quan niệm về ngân hàng thương mại : Có nhiều khái niệm khác nhau về ngân

hàng thương mại, nhưng nhìn chung các nhà kinh tế thống nhất rằng “Ngân hàngthương mại là một định chế tài chính trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính baogồm nhận gửi và cho vay bằng tiền, thanh toán và các dịch vụ tài chính khác” (F.S.Mishkin, 1992) Ở các nước phát triển, đặc biệt là Châu Âu và Hoa Kỳ, thuật ngữ

„ngân hàng‟ được hiểu là các định chế tài chính bao gồm các NHTM, các định chế tiếtkiệm và cho vay, các quỹ hay các hình thức hợp tác cung cấp dịch vụ tín dụng,

v.v Trong khi đó ở Việt Nam “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được

thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quyđịnh của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” “Hoạt động ngân hàng là việc kinhdoanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:a) Nhận tiềngửi; b)Phát hành các chứng chỉ tiền gửi;c) Cấp tín dụng; d) Cung ứng dịch vụ thanhtoán qua tài khoản” (Theo Luật các TCTD số 47/2010/QH12 do Quốc Hội nướcCHXHCN Việt Nam ban hành ngày 16/06/2010)

Mặc dù có sự khác nhau về các thuật ngữ sử dụng để đưa ra khái niệm hoặc cóthể có những giới hạn nhất định đối với phạm vi hoạt động của các NHTM giữa cáctrường phái ở các nước khác nhau, song về cơ bản bản chất của NHTM được nhậnthức là thống nhất Các NHTM được hiểu chính là các DN đặc biệt, hoạt động trên một

Trang 35

lĩnh vực đặc biệt và với đối tượng kinh doanh là hàng hóa đặc biệt.

Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTM: NHTM có những đặc thù riêng

trong hoạt động kinh doanh của mình, cụ thể như:

- Trong hoạt động kinh doanh thì nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng đặc biệtlớn trong các loại vốn khác và là yếu tố mang tính chi phối tới hiệu quả hoạt độngkinh doanh của NHTM, nguồn vốn này cũng quyết định qui mô của các NHTM.Nguồn vốn huy động xuất phát từ hai nhóm nguồn vốn tiền gửi và vốn phi tiền gửi

- Các hoạt động kinh doanh chính của NHTM gồm kinh doanh tiền tệ, tín dụng

và dịch vụ, trong đó hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn chính vì thế chỉ tiêu lợinhuận của ngân hàng phụ thuộc phần lớn vào hoạt động cho vay, hay nói cách kháchiệu quả hoạt động của các NHTM phụ thuộc nhiều vào hiệu quả hoạt động cho vay.Nhưng hoạt động cho vay của NHTM luôn có khả năng đối mặt với rủi ro: Kháchhàng không trả được nợ , khách hàng cố tình không trả nợ cho ngân hàng.Vì thế trongquá trình cho vay ngân hàng phải tuân thủ qui trình nghiêm ngặt về thẩm định để hạnchế đến mức thấp nhất và kiểm soát được rủi ro

- Hoạt động kinh doanh của ngân hàng diễn ra một cách liên tục : bản chất hoạtđộng của ngân hàng là liên tục theo giờ và ngày làm việc quy định Điều này đảm bảo

sự yên tâm cho khách hàng thực hiện các giao dịch tại ngân hàng Khách hàng gửi tiền

có thể rút tiền trong thời gian giao dịch của ngân hàng, khách hàng vay tiền có thể liên

hệ và được xem xét cho vay nếu tuân thủ đầy đủ những qui định của ngân hàng Điềunày đồng nghĩa với việc NHTM luôn phải đảm bảo tính thanh khoản, cân đối nguồntiền hợp lý để đáp ứng nhu cầu của khách hàng

- Các hoạt động kinh doanh của NHTM có mối liên hệ chặt chẽ với nhau gópphần tạo ra dòng lưu chuyển tiền tệ trong ngân hàng Chính sự tương tác này tạo nênguồng máy hoạt động của NHTM giúp cho hoạt động của ngân hàng được trơn tru, tạothành một khối thống nhất hoàn chỉnh Khi hoạt động của ngân hàng đạt đến mức nhưvậy sẽ là yếu tố quan trọng để thúc đẩy ngân hàng ngày càng phát triển bền vững Mốiquan hệ này được tạo ra bởi hệ thống khách hàng của ngân hàng với việc sử đa dạngcác sản phẩm, cả trong và ngoài bảng cân đối kế toán

- Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự quản lý của NHTW thông qua việcthực hiện chính sách tiền tệ Hoạt động của NHTM là kinh doanh tiền tệ: một loạihàng hóa đặc biệt, hàng hóa mang tính xã hội hóa cao Mặt khác, hoạt động kinhdoanh của NHTM luôn phải đối mặt với các loại rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi rothanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro quản lý điều này đòi hỏi ngân hàng phải xây dựngkhung quản trị rủi ro và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho từng hoạt động Hoạtđộng của ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế vì thế nó có sự nhạy cảm

Trang 36

cao độ với các quyết sách kinh tế Sự đổ vỡ của một NHTM ảnh hưởng xấu tới cả một

hệ thống tài chính quốc gia bởi sự tương tác đa chiều giữa các NHTM và các chủ thểkhác trong nền kinh tế Vì vậy, bất kể quốc gia nào cũng đều xây dựng hệ thống chínhsách điều hành đối với các hoạt động của các NHTM Việc thiết lập khung pháp lý đầy

đủ cho các hoạt động của NHTM sẽ bảo vệ quyền lợi của khách hàng, nhà đầu tư vàđối tác

Các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM

Hoạt động nguồn vốn: Hoạt động nguồn vốn là hoạt động cơ bản, mang tính

chất quyết định đối với mọi hoạt động khác của NHTM Khác với các loại hình DNkhác, quy mô vốn chủ sở hữu của các NHTM chỉ luôn ở mức „rất nhỏ‟ so với quy môhoạt động kinh doanh Do vậy, các NHTM kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn củacác chủ thể khác trong nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ huy động vốn Một NHTMlớn, đồng nghĩa với quy mô hoạt động kinh doanh lớn và quy mô nguồn vốn lớn Chỉ

có nguồn vốn đủ lớn và ổn định, NHTM mới có thể mở rộng cho vay, đầu tư và cungcấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và xã hội Cơ cấu nguồn vốn cácNHTM hiện đại ngày nay bao gồm như sau:

Vốn chủ sở hữu của NHTM: Giống như các DN khác, NHTM cũng phải có

vốn ban đầu để đăng ký kinh doanh và tiến hành hoạt động theo luật định và đượccoi là một nguồn vốn rất quan trọng Tuỳ theo loại hình tổ chức của ngân hàng, vốnchủ sở hữu có thể được hình thành từ những nguồn gốc khác nhau, và được tích luỹthêm từ kết quả kinh doanh của NHTM Mặc dù, như đã đề cập trên đây, vốn chủ sởhữu của các NHTM chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn, song tính chất vậnđộng lại rất ổn định Do vậy, các NHTM có thể chủ động sử dụng mà không sợ gặpphải rủi ro thanh khoản Mặt khác, qui mô vốn chủ sở hữu còn phản ánh khả năng tàichính, khả năng huy động vốn và uy tín của một ngân hàng trên thương trường Hơnnữa, vốn chủ sở hữu chính là nguồn để bù đắp mỗi khi danh mục tài sản của NHTM

bị giảm giá Vốn chủ sở hữu được coi là „đệm đỡ‟ cho rủi ro trong hoạt động kinhdoanh của các NHTM

Chính vì vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng như vậy nên hiệp hội ngân hàngquốc tế, ủy ban Basel và chính phủ các nước trên thế giới đều có quy định cụ thể về quy

mô vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ với quy mô hoạt động của NHTM Theo đó, vốnchủ sở hữu có thể được phân chia thành hai bộ phận, gồm vốn cơ bản (Tier 1 hay corecapital) và vốn bổ xung (Tier 2 hay supplementary capital) nhưng tổng quy mô khôngđược nhỏ hơn 8% giá trị của tài sản có thể mang lại rủi ro (CAR≥8%) Trên thực tế, cácNHTM ở hầu khắp các nước phát triển và nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á luôn

có tỷ lệ này ở mức trên 10%, các nước thuộc khối OECD luôn ở trên mức 15% (Nguồn

Trang 37

Basel Accord, Basel 2 (2005), Ủy ban Basel)

Nguồn vốn huy động : trên cơ sở vốn chủ sở hữu, NHTM tiến hành huy động

mọi nguồn tiền tạm thời “nhàn dỗi” từ mọi chủ thể khác trong nền kinh tế dưới cáchình thức tiền gửi (của dân cư và các DN) hoặc dưới các hình thức đi vay (vay củaNHTW, của NHTM khác và qua phát hành các công cụ nợ) Nguồn vốn tiền gửi luônchiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của cácNHTM, bao gồm tiền gửi của DN, thường là không kỳ hạn, và tiền gửi của dân cư,thường là tiền gửi có kỳ hạn hay tiền tiết kiệm

Với chức năng là „thủ quỹ của doanh nghiệp‟, kết hợp với yêu cầu mang tínhchất pháp lý của việc mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng, nguồn vốn tiền gửicủa các doanh nghiệp luôn có tỷ trọng rất lớn trong nguồn vốn của các NHTM Nguồntiền này nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp, do vậy nó có thể được rút ra hoặc sử dụng bất kỳ lúc nào, còn gọi là tiền gửikhông kỳ hạn hay là tiền gửi giao dịch Xuất phát từ mục đích gửi tiền và do được sửdụng các giao dịch miễn phí, nên doanh nghiệp không được trả lãi, hoặc chỉ với lãisuất rất thấp cho khoản tiền gửi không kỳ hạn nên đây có thể coi là nguồn vốn „rẻnhất‟ của NHTM Các NHTM có uy tín lớn với nhiều khách hàng doanh nghiệp vàtiền gửi không kỳ hạn, chi phí nguồn vốn sẽ càng thấp và hiệu quả sẽ càng cao

Khác với doanh nghiệp, đa số các tầng lớp dân cư thường gửi tiền dưới dạngtiết kiệm, hay tiền gửi có kỳ hạn nhằm mục đích thu nhập qua lãi suất Phần nguồn vốn

là tiền gửi không kỳ hạn của dân cư trên các tài khoản sử dụng thẻ thanh toán hoặcphát hành séc cá nhân, séc du lịch, v.v…, rất phổ biến ở các nước đang phát triển cóthể coi như tiền gửi giao dịch Tiền gửi tiết kiệm tuy phải trả lãi cao và tỷ trọng nhỏhơn, song có tính chất ổn định Đây là điều có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạtđộng nguồn vốn của các NHTM

Nguồn vốn tiền gửi luôn là bộ phận nguồn vốn quan trọng nhất và được coi làđối tượng kinh doanh chính của các NHTM Tuy vậy, trong quá trình hoạt động kinhdoanh, các NHTM vẫn có khả năng rơi vào tình trạng thiếu nguồn vốn và không đápứng được những nhu cầu sử dụng đột xuất của khách hàng, thậm chí có thể gặp khókhăn về khả năng thanh toán Để bổ xung thêm cho nguồn vốn tiền gửi, NHTM có thể

đi vay từ các NHTM khác và vay từ NHTW dưới nhiều hình thức khác nhau Nhữnghoạt động huy động và sử dụng vốn lẫn nhau của các ngân hàng đã hình thành và pháttriển thị trường tiền tệ liên ngân hàng, rất sôi động và là bộ phận cấu thành quan trọngnhất của hệ thống thị trường tài chính các quốc gia

Ngoài ra, cũng như các doanh nghiệp khác, NHTM cũng có thể đi vay chủ độnghơn bằng cách phát hàng kì phiếu và trái phiếu để huy động nguồn vốn trên thị trường

Trang 38

tài chính mỗi khi có nhu cầu Hoạt động nguồn vốn này không chỉ mang lại những lợiích cho các NHTM mà còn cung cấp nguồn hàng hoá làm phong phú thêm cho cáchoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán.

Hoạt động sử dụng vốn của NHTM:Các hoạt động nguồn vốn trên đây sẽ

hình thành nên tài sản nợ và NHTM có trách nhiệm chi trả đối với tất cả các nguồnvốn này theo yêu cầu của khách hàng Mặc dù nguồn vốn là yếu tố quyết định đến toàn

bộ các hoạt động kinh doanh của NHTM song cũng chỉ thực sự có ý nghĩa khi NHTM

có khả năng sử dụng vào các mục đích cho vay, đầu tư phát triển nền kinh tế và nângcao mức sống của cộng đồng nói chung và lợi ích của chính bản thân ngân hàng nóiriêng

Hoạt động trung gian tài chính của NHTM:Song song với các hoạt động huy

động và sử dụng vốn nói trên, hoạt động trung gian tài chính, cũng là hoạt động rất cơbản và quan trọng của các NHTM, cung cấp các dịch vụ tài chính thoả mãn các nhucầu của các đối tượng khách hàng Ngoài việc làm trung gian thanh toán, cùng với quátrình phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, các dịch vụ trung gian ngày càngtrở nên đa dạng và phong phú Một mặt, sự phát triển này làm tăng hiệu quả và khảnăng quản lý tài sản cũng như các hoạt động NHTM, mặt khác cho phép các NHTM

có thể liên kết với nhau trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới để thực hiện cácnghiệp vụ kinh doanh rất phức tạp cũng như đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu củakhách hàng ở khắp mọi nơi trên thế giới Với việc cung cấp các phương tiện thanhtoán điện tử, hệ thống chuyển rút tiền tự động, dịch vụ ngân hàng tại nhà và các dịch

vụ tài chính tiện ích khác, các NHTM thực sự đã trở thành „người bạn đồng hành‟không thể thiếu không chỉ đối với quá trình sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp mà còn đối với đời sống hàng ngày của các tầng lớp dân cư

2.1.2 Cấu trúc tài chính NHTM

Khái quát về cấu trúc tài chính: có nhiều quan niệm khác nhau về mặt phạm vi

nghiên cứu đối với cấu trúc tài chính (Financial Structure):

Thứ nhất: các nhà nghiên cứu cho rằng cấu trúc tài chính chính là cấu trúc vốn,

là tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả chiếm trong tổng nguồn vốn của doanhnghiệp Hay “Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là sự kết hợp giữa việc sử dụngvốn nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp ”(Theo S.A.Ross W.Westerfield và Bradford D Jordan,2003; Dare và Sola, 2010; Đoàn Ngọc Phi Anh, 2010; Foyeke và cộng sự, 2016)

Thứ hai: các nhà nghiên cứu cho rằng “Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp

bao gồm nợ ngắn hạn cộng với nợ trung, dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phầnthường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư ở một doanh nghiệp” (Macguigan

và cộng sự, 2006; Cameron và Trivedi, 2010; Trần Ngọc Thơ, 2010)

Trang 39

Thứ ba: các nhà nghiên cứu cho rằng khi nghiên cứu và xem xét cấu trúc tài

chính cần phải nghiên cứu dưới cả hai góc độ: góc độ thứ nhất đó là cấu trúc vốn củadoanh nghiệp và thứ hai đó là cấu trúc vốn xét trong mối liên hệ với cấu trúc tài sảncủa doanh nghiệp (Nguyễn Văn Công, 2010; Nguyễn Năng Phúc, 2011; Phạm ThịThủy và Nguyễn Thị Lan Anh, 2012)

Như vậy, theo quan điểm thứ nhất thì cấu trúc tài chính chỉ xem xét trong phạm

vi cấu trúc vốn, còn quan điểm thứ hai xem xét cấu trúc tài chính ở phạm vi rộng hơntrong cả ngắn hạn và dài hạn Còn ở quan điểm thứ ba ngoài việc xem xét cấu trúc tàichính bao gồm cấu trúc vốn như hai quan điểm trên còn nghiên cứu cả cấu trúc tài sản

và mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và cấu trúc tài sản

Theo tác giả cấu trúc tài chính (Financial Structure) là cấu trúc nguồn vốn (Capital Structure) trong các doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại và cấu trúc này bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho các quyết định đầu tư ở một doanh nghiệp hay môt ngân hàng.

2.1.2.1.Cấu trúc nguồn vốn

Cấu trúc nguồn vốn (còn gọi là cơ cấu vốn) đề cập đến mối quan hệ kết hợpgiữa các nguồn tài trợ khác nhau trong doanh nhiệp và thường là nhấn mạnh đến sựkết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu (Vũ Duy Hào và các tác giả, 1997; NguyễnMinh Kiều, 2006; Brealey và các tác giả, 2008; Brigham và Houston, 2009)

Hay nói các khác: cấu trúc nguồn vốn là các chỉ tiêu đo lường tỷ trọng của từng

bộ phận nguồn vốn trong tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp, NHTM Nguồn vốncủa các doanh nghiệp như đã nêu trên bao gồm nhiều nguồn tài trợ khác nhau nhưngchủ yếu quy về hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả

Nợ phải trả là số tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm và nghĩa vụ phải trả chocác chủ nợ, căn cứ vào thời gian thanh toán mà được chia thành: nợ ngắn hạn và nợ dàihạn Nợ ngắn hạn là khoản nợ hay một nghĩa vụ nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệmthanh toán trong vòng một năm Nợ dài hạn ghi nhận nghĩa vụ phải trả nợ gốc và lãi

mà người đi vay phải trả cho người cho vay trong khoảng thời gian dài

Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp,ngân hàng, các cổ đông trong các công ty và NHTM cổ phần, các thành viên trong cáccông ty, ngân hàng liên doanh Thành phần của vốn củ sở hữu bao gồm: vốn góp cổphần thường, lợi nhuận giữ lại chưa phân phối, chênh lệch đánh giá lại tài sản, thặng

dư vốn cổ phần, các quỹ, nguồn kinh phí

Dưới đây ta xem xét sự khác biệt giữa cấu trúc nguồn vốn của ngân hàngthương mại và của các doanh nghiệp:

Trang 40

Bảng 2.1: Cấu trúc nguồn vốn của ngân hàng thương mại và doanh nghiệp.

BCĐKT NGÂN HÀNG

Mẫu số B02-TCTD

BCĐKT DOANH NGHIỆP Mẫu số B01 – DN

NỢ PHẢI TRẢ

I-Các khoản nợ chính phủ và NHNN

II- Tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác

III-Tiền gửi của khách hàng

IV-Các công cụ tài chính phái sinh và các

I-Vốn chủ sở hữuII- Nguồn kinh phí và quỹ khác

(Theo Mẫu số B01/DN, ban hành theo TT số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ tài chính và B02/TCTD, ban hành theo TT số 22/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017 của NHNN)

Cũng giống như phần nguồn vốn trong BCĐKT của doanh nghiệp, phần nguồnvốn trong BCĐKT của các ngân hàng cũng phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện cóvào thời điểm lập báo cáo của NHTM, được chia thành nợ phải trả và nguồn vốn chủ

sở hữu, qua đó nhằm đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng Riêng phần nợphải trả trong BCĐKT của ngân hàng sẽ không chia thành nợ phải trả ngắn hạn và nợphải trả dài hạn giống như trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Nguyên do là

vì phần lớn nợ phải trả của ngân hàng đều có thể thực hiện hay thanh toán trong thờigian gần Các lý thuyết về cấu trúc vốn DN cung cấp các nền tảng hữu ích khi phântích cấu trúc vốn của ngân hàng Tuy nhiên, cấu trúc vốn giữa ngân hàng và các DNphi tài chính cũng có những điểm khác biệt như bảng trên Như vậy, nhìn cấu trúc vốncủa ngân hàng như bảng 2.1 trên ta thấy được đối với nợ phải trả của các ngân hàngthay vì trình bày theo thứ tự thời hạn thanh toán của nghĩa vụ nợ như đối với của các

DN thì các khoản nợ phải trả của các ngân hàng được phân loại “theo bản chất và xắpxếp theo tính thanh khoản tương ứng với kỳ đáo hạn của chúng và nợ phải trả ngắnhạn và dài hạn của ngân hàng không được trình bày riêng biệt vì phần lớn tài sản và nợphải trả của ngân hàng có thể được thực hiện hoặc thanh toán trong tương lai gần”

Ngày đăng: 29/06/2019, 18:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abor, J. (2005), “The effect of capital structure on profitability: an empirical analysisof listed firms in Ghana”, Journal of Risk Finance. Vol. 6 No.5, pp.438 - 445 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of capital structure on profitability: an empiricalanalysisof listed firms in Ghana”, "Journal of Risk Finance
Tác giả: Abor, J
Năm: 2005
2. Abreu, M., and V. Mendes (2003), Do macro-financial variables matter for European bank interest margins and profitability?, Paper presented at EcoMod Network Conference, Istanbul Sách, tạp chí
Tiêu đề: Do macro-financial variables matter forEuropean bank interest margins and profitability
Tác giả: Abreu, M., and V. Mendes
Năm: 2003
3. Achou, T. F., & Tenguh, N. C. (2008), Bank performance and credit risk management (Unpublished Master’s Thesis, University of Skovde, Sweden Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bank performance and credit riskmanagement (Unpublished Master’s Thesis
Tác giả: Achou, T. F., & Tenguh, N. C
Năm: 2008
4. Akhtar ,M,F (2011), “Factors Influencing the Profitability of Conventional Banks of pakistan”, International Research Journal of Finance and Economics - Issue 66, pp.125-132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors Influencing the Profitability of ConventionalBanks of pakistan”, "International Research Journal of Finance and Economics
Tác giả: Akhtar ,M,F
Năm: 2011
5. Alan K, Robert H. Litzenberger (1973), “A state – preference model of optimal financial leverage”, The Journal of financial, 28(4):911-922 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A state – preference model of optimalfinancial leverage”, "The Journal of financial
Tác giả: Alan K, Robert H. Litzenberger
Năm: 1973
6. Allen, F., Carletti, E. and Marquez, R. (2011), “Credit market competition and capital regulation”, Review of Financial Studies, 24, 983-1018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Credit market competition andcapital regulation”, "Review of Financial Studies
Tác giả: Allen, F., Carletti, E. and Marquez, R
Năm: 2011
7. Angbazo, L. (1997), “Commercial bank Net Interest Margins, default risk, interest rate risk and off balance sheet banking”, Journal of Banking and Finance 21, pp. 55–87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Commercial bank Net Interest Margins, default risk,interest rate risk and off balance sheet banking”, "Journal of Banking andFinance
Tác giả: Angbazo, L
Năm: 1997
8. Anthanasoglou, P., Delis, M., & Staikouras, C. (2006), Determinants of banking profitability in South Eastern European region, Bank of Greece Working Paper, 06/07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of bankingprofitability in South Eastern European region
Tác giả: Anthanasoglou, P., Delis, M., & Staikouras, C
Năm: 2006
9. Asarkaya, Y. and Ozcan, S. (2007), “Determinants of capital structures in financial industries: The case of Turkey”, Journal of Banking and Financial Markets, Vol.1, No.1, pp.91-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of capital structures infinancial industries: The case of Turkey”, "Journal of Banking and FinancialMarkets
Tác giả: Asarkaya, Y. and Ozcan, S
Năm: 2007
10. A, Demirgüc and Huizinga, H. (2000), “Determinants of commercial bank interest margins and profitability: Some international evidence”, The World Bank Economic Review 13, 379-408 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of commercial bankinterest margins and profitability: Some international evidence”, "The WorldBank Economic Review
Tác giả: A, Demirgüc and Huizinga, H
Năm: 2000
11. Ata, H.A. and Ag, Y. (2010), “Firma Karakteristiginin Sermaye Yapisi Uzerindeki Etkisinin Analizi”, Istanbul Universitesi Iktisat Fakultesi Ekonometri ve Istatistik Dergisi, Vol.11, No.x, p.45-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Firma Karakteristiginin Sermaye YapisiUzerindeki Etkisinin Analizi”, "Istanbul Universitesi Iktisat FakultesiEkonometri ve Istatistik Dergisi
Tác giả: Ata, H.A. and Ag, Y
Năm: 2010
12. Awunyo, D and Badu, J (2012), “Capital Structure and Performance of Listed Banks in Ghana”, Global Journal of Human Social Science, Volume 12 Issue 5, pp 3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Capital Structure and Performance of ListedBanks in Ghana”, "Global Journal of Human Social Science
Tác giả: Awunyo, D and Badu, J
Năm: 2012
13. Banal-Estanol, A. (2010), “The Modigliani-Miller Propositions, Taxes and Bankruptcy Costs”, Corporate Finance - MSc in Finance. BGSE, January.pp.20-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Modigliani-Miller Propositions, Taxes andBankruptcy Costs”, "Corporate Finance - MSc in Finance
Tác giả: Banal-Estanol, A
Năm: 2010
14. Basel Committee on Banking Supervision (2005), International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards :A Revised Framework, Comprehensive Version (BCBS), Basel: Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Convergence ofCapital Measurement and Capital Standards :A Revised Framework
Tác giả: Basel Committee on Banking Supervision
Năm: 2005
15. Bashir,A.M. (2003), “Determinants of profitability in Islamic banks: someevidence from the Middle East”, Islamic Economic Studies Vol. 11, No. 1:31-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of profitability in Islamic banks: someevidence from the Middle East”, "Islamic Economic Studies
Tác giả: Bashir,A.M
Năm: 2003
16. Berger et al (2008), “Bank ownership type and banking relationships”, Journal of Financial Intermediation 17 (2008) 37–62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bank ownership type and banking relationships”, "Journalof Financial Intermediation
Tác giả: Berger et al
Năm: 2008
17. Berger, A and Di Patti (2002), Capital Structure and Firm Performance: A New Approach to TestingAgency Theory and an Application to the Banking Industry, Feds Paper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Capital Structure and Firm Performance: A NewApproach to TestingAgency Theory and an Application to the Banking Industry
Tác giả: Berger, A and Di Patti
Năm: 2002
18. Berger, A. N. (1993), "Distribution-Free Estimates of Efficiency in the U.S.Banking Industry and Tests of the Standard Distributional Assumptions"Journal of Productivity Analysis 4, pp.261- 292 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Distribution-Free Estimates of Efficiency in the U.S.Banking Industry and Tests of the Standard Distributional Assumptions
Tác giả: Berger, A. N
Năm: 1993
19. Berger, A. N. (1995), “The relationship between capital and earnings in banking”, Journal of Money Credit and Banking 27, pp.432-456 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The relationship between capital and earnings inbanking”, "Journal of Money Credit and Banking
Tác giả: Berger, A. N
Năm: 1995
20. Berger, A. N., John H. Leusner, and John J. Mingo (1994), "The Efficiency of Bank Branches", Board of Governors of the Federal Reserve, Finance and Economics Discussion Series Paper 94-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Efficiency ofBank Branches
Tác giả: Berger, A. N., John H. Leusner, and John J. Mingo
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w