1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán

35 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 851,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một khi xu hướng chính đã được thiết lập thì chẳng ai có thể thay đổi được xu hướng này cho đến khi thị trường tự chuyển xu hướng chính của nó theo hướng ngược lại.. Những ai thao túng g

Trang 1

ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

GV: LÊ ĐÌNH TRỌNG

Trang 2

Giới thiệu về PTKT

■ Phân tích kỹ thuật là dự đoán các biến động về giá cả trong tương lai dựa trên việc xemxét các biến động giá trong quá khứ Giống như dự báo thời tiết, phân tích kỹ thuậtkhông đưa đến một dự đoán hoàn toàn chính xác về tương lai Thay vào đó, phân tích kỹthuật giúp các nhà đầu tư dự đoán về những gì có thể xảy ra Phân tích kỹ thuật sử dụng

vô số kể các đồ thị mà chúng minh hoạ về giá theo thời gian Phân tích kỹ thuật áp dụngđược cho cả cổ phiếu, chỉ số, hàng hoá, các hợp đồng phái sinh hay bất kỳ loại công cụtài chính nào có thể giao dịch được

Trang 3

LÝ THUYẾT DOW

■ Dow tên đầy đủ là Charles H.Dow (1851-1902), là người sáng lập của tờ báo Wall StreetJournal; là người khởi xướng ra trường phái phân tích kỹ thuật bằng sự ra đời cùa lýthuyết Dow, và là người đầu tiên đưa ra chỉ số trung bình Dow Jones

■ Lý thuyết Dow chính là nền tảng cơ bản của Phân tích kỹ thuật, xuất phát từ hai yếu tốchính là Giá và Khối lượng

Trang 4

Các giả thuyết của lý thuyết Dow

■ Lý thuyết Dow đưa ra một số giả thuyết và sau đó phát triển từ nền tảng các giả thuyết này Điều đầu tiên chúng ta cần làm là phải thừa nhận một số giả thuyết sau đây là đúng

■ 1 Không ai có thể thao túng xu hướng chính của thị trường.

Một khi xu hướng chính đã được thiết lập thì chẳng ai có thể thay đổi được xu hướng này cho đến khi thị trường tự chuyển xu hướng chính của nó theo hướng ngược lại

Giả sử như xu hướng tăng của thị trường đã được xác lập là sẽ tăng liên tục Những ai thao túng giá cả thì chỉ có thể làm giá giảm trong một thời gian ngắn rồi nó lại tiếp tục đi trở lại xu hướng chính của thị trường là xu hướng tăng Việc bẻ gãy xu hướng chính là điều thật khó khăn và có lẽ chẳng ai muốn làm điều đó để gánh lấy thiệt hại Những kẻ thao túng giá chỉ thao túng giá trong thời gian ngắn để đạt được mục đích rồi thị trường lại quay về bản chất vỗn dĩ của nó

■ Và quan trọng là nếu có một bàn tay thao túng được thì chúng ta không đi phân tích nọ

Trang 5

Các giả thuyết của lý thuyết Dow

■ 2 Mọi thứ đều được phản ánh vào giá cả

■ Thị trường phản ánh được mọi thông tin Mọi thứ đều phản ánh vào thị trường thông qua giá

cả Giá cả là con số chung phản ánh được sự kỳ vọng, sự sợ hãi và mong chờ của tất cả những đối tượng tham gia thị trường Tất cả mọi thứ sẽ phản ánh lên giá cả Thay đổi lãi suất, tăng trưởng hay sụt giảm doanh thu lợi nhuận, bầu cử tổng thống… có thể thay đổi được giá

cả và ảnh hưởng được lên giá cả nhưng chỉ trong thời gian ngắn Còn xu hướng chính của giá

cả vẫn không thể bị ảnh hưởng.

■ 3 Lý thuyết Dow không phải công cụ hoàn hảo

■ Lý thuyết Dow đưa ra những nguyên lí và bản chất của thị trường và giúp bạn loại bỏ được những tâm lí cá nhân khi tham gia thị trường để có những nhận định đúng về thị trường Tuy nhiên, khi dựa vào lý thuyết Dow bạn phải phân tích theo tiêu chí khách quan, đừng dựa trên những mong muốn của chính mình mà phân tích thì sẽ làm phân tích của bạn lệch lạc Lúc đấy phân tích của bạn bị lệch lạc, chứ không phải là lý thuyết Dow đã đưa ra những điều không đúng Chính vì thế mới nói lý thuyết Dow không hoàn hảo Lý thuyết Dow chỉ giúp cho bạn có một cái nhìn ở xu hướng chính Ở những xu hướng thứ cấp và ngắn hạn lý thuyết Dow không thể áp dụng Vì trong xu hướng thứ cấp và xu hướng ngắn hạn giá cả thị trường

Trang 6

Các nhận định cơ bản của Lý thuyết Dow

■ 1 Phần lớn các chứng khoán tuân theo xu hướng cơ bản của thị trường tức là xu hướng của “chỉ số giá bình quân” - phản ánh xu thế chung của một số cổ phiếu đại

diện cho thị trường

Trang 7

Các nhận định cơ bản của Lý thuyết Dow

■ 2 Thị trường có 3 xu hướng: Xu hướng chính: (primary movement), xu hướng thứ

cấp: (secondary reaction), những biến động nhỏ: (minor movements)

■ Xu hướng chính: kéo dài từ nhiều tháng đến vài năm với 2 dạng: thị trường con bò

(Bullish) là thị trường tăng và thị trường con gấu (Bearish) là thị trường giảm

■ Xu hướng thứ cấp: Là sự sụt giảm đáng kể trong thị trường đầu cơ giá lên hoặc một sự

tăng giá đáng kể trong thị trường đầu cơ giá xuống, Khoảng cách đảo chiều nhìn chungbằng 1/3 đến 2/3 so với xu hướng trước đó, kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng

■ Những biến động nhỏ: không quan trọng, chính là sự biến động giá theo ngày.

Trang 8

Các nhận định cơ bản của Lý thuyết Dow

■ 3 Mỗi xu hướng vận động chính thường xảy ra trong ba giai đoạn riêng biệt.

■ Thị trường tăng (Bullish)

■ Giai đoạn lấy lại niềm tin (Receiving Cofidence): thể hiện ở hành động tích lũy mua(accumulation phase) có hiểu biết của một số nhà đầu tư lớn chống lại ý kiến chung của

cả thị trường

■ Giai đoạn cải thiện lợi nhuận (Improving Earnings): các công ty kinh doanh lời; đầu tiên

là sự gia nhập của các nhà đầu cơ, khi xu hướng trở nên rõ ràng thì công chúng sẽ thamgia Thị trường bùng nổ

■ Giai đoạn đầu cơ mạnh mẽ (Rampant Speculation): thể hiện hành động mua mạnh mẽcủa các nhà đầu cơ Cuối giai đoạn này sự phân phối bắt đầu xuất hiện

Trang 9

Các nhận định cơ bản của Lý thuyết Dow

■ Thị trường giảm (Bearish)

■ Giai đoạn mất đi hy vọng (Abandonment of hopes): thể hiện ở hành động phân phối(distribution phase) có hiểu biết của một số nhà đầu tư lớn chống lại ý kiến chung của cảthị trường, do không còn hy vọng giá tăng nữa

■ Giai đoạn sụt giảm lợi nhuận (Decreasing Earnings): LN của các công ty sụt giảm; côngchúng tham giá bán cổ phiếu do nhận được những thông tin xấu từ lợi nhuận của cáccông ty

■ Giai đoạn bán căng thẳng (Distress selling): đây là giai đoạn công chúng bán tháo trongcăng thẳng do khó bán được dù là cổ phiếu tốt

Trang 10

Các nhận định cơ bản của Lý thuyết Dow

■ 4 Giá xác định xu hướng của thị trường:

■ Thị trường giá lên:

Bắt đầu khi xuất hiện một đáy cao hơn và sau đó là một đỉnh cao hơn

Kết thúc khi ta thấy xuất hiện một đỉnh thấp hơn và một đáy thấp hơn

Thị trường giá xuống:

Bắt đầu khi ta thấy xuất hiện một đỉnh thấp hơn và sau đó là một đáy thấp hơn.Kết thúc khi ta thấy xuất hiện một đáy cao hơn và sau đó là một đáy cao hơn

Trang 11

Các nhận định cơ bản của Lý thuyết Dow

■ 5 Khối lượng giao dịch là một bằng chứng hỗ trợ cho xu hướng giá.

Khối lượng giao dịch phải tăng cùng với xu thế cở bản của thị trường

Trong một xu thế tăng, khối lượng giao dịch sẽ tăng khi giá tăng cao hơn và giảm khi giá giảm

Trong một xu thế giảm, khối lượng giao dịch sẽ tăng khi giá giảm và giảm khi phục hồi

Trang 12

Ứng dụng lý thuyết Dow

■ Xác định xu thế để đưa ra các quyết định đầu tư:

■ Xu thế tăng giá: Mua và nắm giữ

■ Xu hướng giảm giá: Bán và đứng ngoài

■ Chọn thời điểm xu hướng bị phá vỡ để quyết định thời điểm mua bán

Trang 13

Lý thuyết sóng Elliott

■ Lý thuyết sóng Elliott được đặt tên theo Ralph Nelson Elliott Dựa vào nền tảng lýthuyết Dow và quá trình quan sát các mẫu hình sóng lặp lại, Elliott cho rằng các hành vicủa con người trong thị trường tài chính được hiển thị ở các dạng mô hình sóng và cóthể dự đoán trước được

■ Lý thuyết Dow chỉ ra xu hướng chính, trong xu hướng chính lại chia ra các xu hướngthứ cấp Lý thuyết sóng Elliott sẽ gọi tên cụ thể các xu hướng thứ cấp và các xu hướngnhỏ hơn của các xu hướng thứ cấp để làm mọi vấn đề trở nên rõ ràng hơn

■ Trong một chu kỳ tăng (uptrend) thì sẽ có 5 bước sóng tăng, với sóng 1, sóng 3 và sóng

5 là sóng đẩy (impulsive wave) và sóng 2 và sóng 4 là sóng điều chỉnh (correctivewave)

■ Sau khi 5 sóng đẩy kết thúc thì một chu kỳ điều chỉnh bắt đầu với tối thiểu 3 sóng giảmđiều chỉnh (được đánh dấu là A-B-C hoặc a-b-c) Bởi vì quá trình điều chỉnh có thể phứctạp hơn nên chu kỳ điều chỉnh có thể có kéo dài hơn 3 sóng

Trang 14

Lý thuyết sóng Elliott

Trang 15

Lý thuyết sóng Elliott

■ Có 3 nguyên tắc bắt buộc khi đếm sóng như sau:

■ (1) Sóng 2 không được hiệu chỉnh quá điểm bắt đầu của sóng 1

■ (2) Sóng 3 không được là sóng ngắn nhất

■ (3) Sóng 4 không được đi vào khu vực sóng 1

■ Chúng ta gọi các sóng 1,2,3,4,5,A,B và C là các sóng thứ cấp và cũng là các sóng dàihạn 1 sóng dài hạn lại chia ra thành 5 hoặc 3 sóng trung hạn và 1 sóng trung hạn lại chia

ra thành 5 hoặc 3 sóng ngắn hạn

■ Để biết chia ra thành 5 sóng nhỏ hơn hay chia thành 3 sóng nhỏ hơn chúng ta lại xemxét sóng bị chia có phải là sóng điều chỉnh trong xu hướng lớn hơn không Nếu là sóngđiều chỉnh thì chia làm 3 sóng A, B, C Nếu không phải là sóng điều chỉnh thì chia làm 5sóng 1,2,3,4,5 Như vậy các sóng dài hạn 1,3,5,A,C được chia làm 5 sóng; các sóng dàihạn điều chỉnh 2,4,B được chia làm 3 sóng a,b,c

Trang 16

Lý thuyết sóng Elliott

Trang 17

Ứng dụng sóng Elliott

■ Xác định xu hướng

■ Sóng Elliott có thể giúp xác định xu hướng của thị trường Giai đoạn sóng đẩy(impulsive phase) thường có cấu trúc là 5 sóng và không bao giờ là 3 Vì vậy, khi pháthiện ra một giai đoạn tăng hoặc giảm với cấu trúc 5 sóng nhỏ bên trong thì có thể biếtđược xu hướng của thị trường đó

■ Xác định vùng đảo chiều

■ Sau khi xác định được xu hướng với chuỗi 5 sóng Nhà đầu tư có thể chờ đợi giai đoạnđiều chỉnh lớn diễn ra và kết thúc Nhà đầu tư có thể quan sát diễn biến tại các vùng nàytrước khi ra quyết định đầu tư

Trang 18

Phương pháp phân tích theo quá trình VSA

■ Đa phần các cổ phiếu đầu cơ thường vận động theo 4 quá trình: Tích lũy – Tăng giá –Phân phối – Giảm giá

Trang 19

Phương pháp phân tích theo quá trình VSA

■ Giai đoạn tích lũy:

■ Là giai đoạn các nhà tạo lập hoặc các tay to (MMs-BBs) tìm cách gom một lượng lớn cổphiếu ở mức giá thấp nhất có thể Quá trình này thường diễn ra ở các vùng giá đi ngang(sideway), cổ phiếu không rõ xu hướng tăng hay giảm trong vài tuần hay thậm chí vàitháng MMs-BBs cố giữ cho giá cổ phiếu nằm dưới một mức kháng cự và trên mức hỗtrợ nhất định Quá trình này chỉ kết thúc khi MMs-BBs gom đủ được khối lượng chiphối

■ Nếu các nhà tạo lập chưa gom đủ mà các đầu tư nhỏ lẻ lao vào mua để giá tăng lên thìrất có thể sẽ xảy ra quá trình tái tích lũy để rũ bỏ các nhà đầu tư nhỏ lẻ đeo bám

■ Đây là quá trình thường có thời gian kéo dài lâu nhất vì vậy các nhà đầu tư không nhấtthiết phải tham gia ngay từ giai đoạn này để tránh nguy cơ bị om vốn lâu

Trang 20

Phương pháp phân tích theo quá trình VSA

■ Giai đoạn tăng giá:

■ Là giai đoạn sau khi các nhà tạo lập hoặc các tay to (MMs-BBs) gom đủ hàng để chiphối giao dịch họ sẽ tiến hành đánh lên Giai đoạn này giá cổ phiếu sẽ tăng rất nhanh vàmạnh do các cổ phiếu lưu hành đã bị MMs- BBs gom gần hết và do đó họ sẵn sàng đặtgiá mua cao để kéo giá tăng liên tục mà không sợ bị bán ra

■ Đây lại chính là giai đoạn mà các nhà đầu tư nên tham gia Các nhà đầu tư nhỏ lẻ nênchấp nhận việc mua giá cao hơn so với giai đoạn tích lũy để coi như chúng ta trả mộtmức phí cho rủi ro om vốn nếu tham gia từ quá trình tích lũy nhưng bù lại chúng ta lại

có được lợi nhuận ngay và nhanh

Trang 21

Phương pháp phân tích theo quá trình VSA

■ Giai đoạn phân phối:

■ Là giai đoạn sau khi các nhà tạo lập hoặc các tay to (MMs-BBs) đẩy giá lên một đoạndài tạo ra một mức lợi nhuận rất lớn thì họ sẽ tiến hành phân phối bán cổ phiếu ra đểchốt lời

■ Đây là quá trình chúng ta thấy giá cổ phiếu tăng yếu hoặc không tăng được nhưng khốilượng bán ra thì lại nhiều về sau lượng cầu còn có dấu hiệu sụt nhanh và giá rớt mạnhkhông có nhiều lực đỡ

■ Nhìn thấy các dấu hiệu “rút củi đáy nồi” này các nhà đầu tư cần nhanh chóng bán rahiện thực hóa lợi nhuận để phòng tránh nguy cơ giảm giá

Trang 22

Phương pháp phân tích theo quá trình VSA

■ Giai đoạn giảm giá:

■ Sau khi phân phối xong cổ phiếu các MMs-BBs sẽ rút khỏi thị trường khiến cho cổphiếu không còn lực đỡ còn các nhà đầu tư nhỏ lẻ thì ngập trong cổ phiếu sẽ dẫn đếnviệc giảm giá mạnh và bán hoảng loạn

■ Giá cổ phiếu giai đoạn này rớt rất nhanh và mạnh nhưng lại không có lực cầu vì vậy màcòn kèm theo thanh khoản thấp

■ Chính vì vậy các nhà đầu tư cần tỉnh táo trong giai đoạn này tránh lao vào bắt đáy quásớm sẽ dẫn đến tình trạng đỡ dao rơi mà đứt tay bị bào mòn tài khoản Những nhà đầu tư

sử dụng tiền vay margin để bắt đáy thậm chí còn cháy tài khoản trong giai đoạn khốc liệtnày

Trang 23

Sử dụng các chỉ báo kỹ thuật trong giao dịch

■ Khi giá phá vỡ kháng cự thì kháng cự đó có thể biến thành hỗ trợ và ngược lại

■ Giá càng “thử” vùng kháng cự hoặc hỗ trợ nhiều mà không phá vỡ vùng đó thì vùng kháng cự hoặc hỗ trợ đó càng mạnh hơn

Trang 24

Hỗ trợ và kháng cự

Trang 25

Sử dụng Fibonacci để xác định các

ngưỡng hỗ trợ và kháng cự

■ Có một “tỷ lệ” rất đặc biệt được sử dụng để mô tả tính cân đối của vạn vật từ nhữngkhối cấu trúc nhỏ nhất của thiên nhiên như nguyên tử cho đến những thực thể có kíchthước cực kỳ khổng lồ như thiên thạch Không chỉ thiên nhiên phụ thuộc vào nó để duytrì sự cân bằng mà thị trường tài chính có vẻ như cũng vận động theo một quy luật tương

tự Các nhà toán học, khoa học, và tự nhiên học đã biết đến “tỷ lệ vàng” này trong nhiềunăm Nó được rút ra từ dãy Fibonacci, do nhà toán học người Ý, Leonardo Fibonacci(1175-1250) tìm ra Trong dãy Fibonacci (1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, 610,etc), mỗi số trong dãy là tổng của hai số trước đó Điều đặc biệt nhất trong dãy này làbất kỳ một số nào cũng đạt giá trị xấp xỉ 1.618 lần số đứng trước và 0.618 lần số đứngsau nó (0.618 là nghịch đảo của 1.618) Tỷ lệ này được biết đến với rất nhiều tên gọi: tỷ

lệ vàng, tỷ lệ thần thánh, PHI …

Trang 26

Fibonacci

Trang 28

Sử dụng Bollingger Bands

có rất nhiều tính năng hữu dụng Một trong những tính năng đó chính là hiện tượng thắtnút cổ chai của Bollinger Bands Khi biên trên và biên dưới di chuyển gần lại với nhaulàm cho dải Bollinger Bands hẹp lại trông giống như cổ chai thì đó là dấu hiệu cảnh báosắp có một sự biến động giá mạnh trong tương lại gần sau thời gian sideways tích lũytrong cổ chai Thông thường sau khi bung ra khỏi cổ chai, giá sẽ báo vào biên trên haybiên dưới mà đi tiếp

■ Chiến lược đơn giản đối với hiện tượng thắt nút cổ chai của BBs là đặt Buy hoặc Sellstop ở hai đầu biên trên và biên dưới của BBs Khi giá bắt đầu bung, bất kể hướng nàocũng đều khớp lệnh theo dự kiến của bạn

Trang 29

Sử dụng Bollingger Bands

Trang 30

Sử dụng các mô hình kỹ thuật

■ Mô hình đảo chiều : Mô hình đảo chiều thường xảy ra khi thị trường đang tăng nónghoặc giảm sâu Mô hình này diễn ra xu hướng cấp 1 sẽ bị đảo ngược và hình thành xuhướng mới

■ Các mô hình đảo chiều cơ bản: Mô hình hai đỉnh, ba đỉnh (hai đáy, ba đáy) ,Mô hình vaiđầu vai (vai đầu vai đảo ngược)

■ Mô hình tiếp diễn: Khi xuất hiện mô hình tiếp diễn, xu hướng giá sẽ tiếp tục duy trì

■ Mô hình tiếp diễn cơ bản: mô hình Chiếc tách và tay cầm, Các mẫu hình Tam giác: Tam giác hướng lên (Ascending Triangle), Tam giác hướng xuống (Descending Triandle), Tam giác cân ( Symmetrical Triangle)

Trang 31

Mô hình đảo chiều cơ bản

■ Mẫu hình hai đỉnh

Trang 32

Mô hình đảo chiều cơ bản

■ Mẫu hình Vai đầu vai

Trang 33

Mô hình tiếp diễn cơ bản

■ Mô hình Cốc và tay cầm

Trang 34

Mô hình tiếp diễn cơ bản

■ Các mẫu hình Tam giác

Trang 35

Kết luận

■ Khi tham gia đầu tư chứng khoán nhà đầu tư cần có cái nhìn tổng quan, khi phân tíchphải phân tích tổng thể để nắm bắt được các quá trình từ đó mới có thể đưa ra được cácquyết định đầu tư sáng suốt

■ Trên thực tế có rất nhiều các nhà đầu tư chỉ có cái nhìn cục bộ, dựa vào một vài chỉ báomột vài mẫu hình đơn lẻ đã vội vàng ra quyết định đầu tư mà quên đi nhìn nhận tổng thể

và sau đó họ đã phải trả những cái giá rất đắt

Ngày đăng: 28/06/2019, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w