1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

NAM CAO- NHÀ VĂN HIỆN THỰC SÂU SẮC

33 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 271 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nam Cao có một vị trí đặc biệt trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Những tác phẩm lớn của Nam Cao phần lớn ra đời trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đánh dấu bước phát triển trong trào lưu văn học hiện thực phê phán trong một thời kì tưởng chừng như bế tắc. Nam Cao bước chân vào con đường văn chương khi trên văn đàn, dòng văn học hiện thực phê phán đã xuất hiện những nhà văn tiêu biểu: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng,…nhưng tên tuổi Nam Cao không bị lu mờ. Trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình, Nam Cao đã không dẫm lên lối mòn của người đi trước. Những tác phẩm của Nam Cao đã phản ánh chân thật cuộc sống ngột ngạt, đen tối của xã hội thực dân phong kiến, và thể hiện sinh động thân phận khổ đau, bế tắc của những người tiểu tư sản nghèo và nông dân những năm 1940-1945.

Trang 1

NAM CAO (1917-1951)

Nam Cao có một vị trí đặc biệt trong văn học Việt Nam giai đoạn

1930-1945 Những tác phẩm lớn của Nam Cao phần lớn ra đời trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đánh dấu bước phát triển trong trào lưu văn học hiện thực phê phán trong một thời kì tưởng chừng như bế tắc Nam Cao bước chân vào con đường văn chương khi trên văn đàn, dòng văn học hiện thực phê phán đã xuất hiện những nhà văn tiêu biểu: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng,…nhưng tên tuổi Nam Cao không bị lu mờ Trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình, Nam Cao đã không dẫm lên lối mòn của người đi trước Những tác phẩm của Nam Cao đã phản ánh chân thật cuộc sống ngột ngạt, đen tối của xã hội thực dân phong kiến, và thể hiện sinh động thân phận khổ đau, bế tắc của những người tiểu tư sản nghèo và nông dân những năm 1940-1945

I- VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI, CON NGƯỜI VÀ QUAN ĐIỂM NGHỆ

THUẬT CỦA NAM CAO

1.Vài nét về cuộc đời,con người:

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1917 tại làngĐại Hoàng phủ Lí Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân) tỉnh Hà Nam Làng Đại Hoàng của Nam Cao ở một vùng xa phủ, huyện nên bọn cường hào chức dịch trong làng càng được dịp hoành hành Nơi đây hàng năm thường xảy ra những vụ kiện tụng lẫn nhau giữa những bọn giàu có nhiều thế lực, và không ít cảnh những người nông dân phải rời bỏ làng quê đi tha hương cầu thực Những sự việc có thựcdiễn ra ở nơi đây đã được ghi lại trên trang sách của Nam Cao với dấu ấn nặng nề

về một vùng quê nghèo đói tăm tối

Nam Cao sinh trưởng trong một gia đình nghèo, đời sống khá chật vật, trong các anh em, chỉ mình Nam Cao được đi học Đói nghèo, bệnh tật đeo đuổi vàdày vò Nam Cao ngay từ những năm còn nhỏ Thi Thành chung trượt Nam Cao theo cậu làm thợ may vào Sài Gòn kiếm sống Rời bỏ cái làng quê nghèo đói và tù túng Nam Cao mang theo nhiều ước mơ và dự định lớn lao Những tưởng những miền xa quê hương sẽ mở ra một chân trời mới lạ; nhưng rốt cuộc bệnh tật lại trả Nam Cao trở vể về với nơi chôn nhau cắt rốn Câu chuyện này được tác giả kể lại trong sống mòn:” Y vào Sài Gòn với một người làng, mặc dầu khí hậu nóng ẩm chẳng tốt tí vào cho cung bệnh của y Ở Sái Gòn, y kiếm sống bằng rất nhiều nghề,

kể cả những nghề mà những người tự xu8ng là tri thức không làm Y trà trộn với phu phen, với thợ thuyền Y mặc đồ bà ba đi chích thuốc hut ở nhà thương Còn chút thì giờ thừa nào, y học rất chăm Y đợi một dịp may mắn có thể xin xuống làm bối tàu để đi sang Pháp Y sẽ sang đấy, để nhìn rộng, biết xa, để tìm cách học thêm Phải có một cái trình độ học thức khá cao Phải luyện tài Có học có tài y để

Trang 2

đủ năng lực để phụng sự cái lí tưởng của y Tạng người y không cho y cầm súng cầm gươm, y sẽ cầm bút mà chiến đấu Y lận đận ở Sài Gòn ngót ba năm Ngót ba năm sống chật vật sống nghèo nàn nhưng rất say mê Cái mộng viễn du vẫn chưa thành thì một trận ốm thập tử nhất sinh đã đưa y về nơi chôn rau cắt rốn”.

Ở Sài Gòn về, Nam Cao ôn lại vốn học cũ và thi đậu Thành chung Nam Cao định xin đi làm công chức, nhưng vì bệnh tật nên không được chấp nhận Mộtngười trong họ mở một trường tư ở Hà Nội (trường tư thục Công Thanh, đường Thụy Khê, Hà Nội), cần một giáo viên có bằng trung học, Nam Cao được mời lên dạy học Cuộc sống của một thầy giáo kẻo trường tư đã giúp Nam Cao hiểu sâu sắc thân phận của người tiểu tư sản trí thức nghèo trong một xã hội ngột ngạt, bế tắc Khi phát xít Nhật xâm lược Đông Dương trường bị đóng cửa Nam Cao sống chật vật bằng nghề viết văn, làm gia sư, có khi thất nghiệp phải về quê “ăn bám”

vợ Năm 1943, Nam Cao gia nhập nhóòaVăn hóa cứu quốc bí mật cùng một số nhà văn như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi,…Khi cơ sở văn hóa cứu quốc và phong trào ở Hà Nội bị khủng bố mạnh, Nam Cao trở về quê và tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương

Thời kỳ cách mạng tháng Tám, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lí Nhân, và được bầu làm chủ tịch xã Sau đó ít lâu,Nam Cao được điều lên Hà Nội

và công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc Có thời kì, Nam Cao làm thư kí cho tòa soạntạp chí Tiên phong, cơ quan của Hà Nội

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nam Cao theo đoàn quân Nam tiến vào vùng Nam Trung Bộ Năm 1947, ông lên Việt Bắc Những năm kháng chiến chốngthực dân Pháp, Nam Cao vừa làm biên tập cho các báo Cứu quốc Việt Bắc, Cứu quốc trung ương vừa làm mọi công việc của một cán bộ thông tin tuyên truyền: viết tin, viết tài liệu giải thích các chính sách, làm ca dao tuyên truyền, viết truyền đơn dịch vận,…Thởi gian này, Nam Cao vinh dự được gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương(1948)

Tháng 11 năm 1951, trên đường đường vào công tác vùng địch hậu Liên khu Ba, Nam Cao bị địch phục kích và bắn chết gần bốt Hoàng Đan (Ninh Bình)

2.Quan điểm nghệ thuật:

Nam Cao là một trong số những nhà văn hiện thực phê phán có ý thức nhất vềquan điểm nghệ thuật của mình Những quan điểm đó ít khi được phát biểu trựctiếp dưới dạng lí luận mà thường bộc lộ qua những sáng tác và hình tượng nghệthuật Nhưng quan điểm nghệ thuật của Nam Cao không thể nghiên cứu tách rờivới những quan điểm quan điểm chính trị xã hội, với lập trường của nhà văn Mặtkhác cũng không thể tách rời việc nghiên cứu quan điểm nghệ thuật với sự vậnđộng của hoàn cảnh xã hội và đời sông văn học lúc bấy giờ

2.1 Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực phê phán (1930-1940) có ý thức nhất về quan điểm nghệ thuật của mình Những quan điểm đó thường được bộc lộ qua những sáng tác và hình tượng nghệ thuật của ông.

- Thời gian đầu lúc mới cầm bút (1936), Nam Cao chịu ảnh hưởng của văn họclãng mạn đương thời Mãi đến năm 1941, khi viết “Cái lò gạch cũ” (Chí Phèo),

Trang 3

ông mới thực sự cắm được cột mốc vinh quang trên con đường sáng tác theokhuynh hướng hiện thực chủ nghĩa, đồng thời mới hoàn toàn dứt bỏ được nhữngảnh hưởng của thứ văn chương lãng mạn thoát li

- Phê phán thứ ăn chương lãng mạn thoát li, Nam Cao đòi hỏi nghệ thuật phảitrở về đời sống hiện thực, phản ánh chân thực hiện thực cũng chính là tình trạngthống khổ của hàng triệu nhân dân lao động thời bấy giờ: “ Nghệ thuật có thể chỉ

là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những tiếng lầm than” (Giăng sáng) Nghệ thuậtphải chân thật, phải “vị nhân sinh”, phải gắn bó mật thiết với nhân dân, Nam Cao

đã tự nguyện “đứng trong lao khổ”, gắn bó bền lâu, sâu nặng với nhân dân laođộng Trong “Giăng sáng”, Nam Cao đã phê phán thứ nghệ thuật chỉ chạy theo cáiđẹp bên ngoài Ông đã vạch trần sự “lừa dối” của thứ nghệ thuật thi vị hóa cuộcsống đen tối, bất công Đó là thứ “Ánh trăng lừa dối" Cái đẹp, cái thi vị của ánhtrăng che dấu “cái sự thật tàn nhẫn” là tình trạng khốn khổ của nhân dân Nam Caonhận thức được rằng nghệ thuật phải gắn bó với đời sống, phản ánh chân thực bộmặt của đời sống xã hội:

+ Bộ mặt tàn bạo, thối nát của bọn thống trị (Chí Phèo)

+ Đời sống khổ cực lầm than của những người nông dân bị đẩy vào conđường tha hóa, tuyệt vọng (Chí Phèo, Lão Hạc…)

+ Những tấn bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản nghèo (Giăngsáng, Đời thừa…)

- Sự tiếp nối và bổ xung của Nam Cao với các cây bút hiện thực như Ngô Tất

Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng… Trước đó, NTT đã từng phê phán nghiêmkhắc những “ông văn sĩ thiếu lương tâm” ra sức cổ động chủ nghĩa khoái lạc vànhục dục “vui vẻ trẻ trung” (Không nên quên một bọn văn sĩ) Trong một bài bútchiến, VTP đã phê phán thẳng thừng những cây bút Tự lực văn đoàn “chạy xa sựthực bằng những danh từ điêu trá của văn chương” Còn NH nhà văn cùng thời vớiNam Cao – cũng đã từng phê phán xu hướng văn học suy đồi, cho đó là “nhữngung độc tinh thần” ( Cái bào thai) Các cây bút nói trên đều muốn nghệ thuật phảihiện thực phải gắn liền với đời sống nhân dân

2.2

Nam Cao là một nhân cách lớn, một con người chân thật, “trung thực vô ngần” (Tô Hoài).

Ông không bao giờ chịu uốn cong ngòi bút của mình, không thèm đếm xỉa đến cái

sở thích, cái “thị hiếu tầm thường của độc giả” (Lê Văn Trương), ông viết thậtlòng mình, viết đúng với những điều mình cảm, mình nghĩ, mình phát hiện Ông

có đủ bản lĩnh để đẩy đến tận cùng những tình cảm chân thật, những suy nghĩ, tưtưởng sâu sắc của mình và thái độ tình cảm ấy đã đem đến cho tác phẩm của NamCao tính chân thật sâu sắc

- Nam Cao đã thể hiện sâu sắc quan điểm: Tính cách con người là do hoàncảnh xã hội, môi trường sống quyết định Miêu tả về sự hình thành tính cách củanhân vật của Nam Cao rất chân thực và giàu sức thuyết phục Như trong “Tư cáchmõ” viết về quá trình anh cu Lộ từ một người nông dân hiền lành,chăm chỉ, được

“kẻ trên, người dưới, hàng xóm láng giềng ai cũng mến” trỡ thành một thằng mõ

Trang 4

đê tiện, “hơn cả thằng mõ chính tông” Hay trong “Sao lại thế này” lại viết về sựđổi thay của một người phụ nữ từ “người vợ nhà quê”, “mất nết” thành bà HưngPhú “có tư cách của một người đàn bà quý phái” với nhiều đức tính tốt đẹp.

2.3.

Nam Cao là nhà văn luôn có ý thức về vấn đề “đôi mắt”

- Vấn đề cách nhìn, vấn đề quan điểm đối với hiện thực cũng như vấn đề lập trường và thái độ của người cầm bút “Chao ôi! Đối với những người ở quanh

ta, nếu ta không cố mà tìm hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện,xấu xa, bỉ ổi… Toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ lànhững người đáng thương; không bao giờ ta thương…” Nam Cao luôn có ý thức

đi tìm “cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau ích kỉ che lấpmất” (Lão Hạc) Nhà văn có trái tim nhân đạo đã nhìn thấy, thậm chí ngay trong cảđáy sâu tâm hồn của một kẻ u mê, cục súc như Chí Phèo vẫn có lúc đột ngột lóelên những rung động trong sáng của tình yêu, của niềm khát khao được trở lại làmngười lương thiện

- Sau Cách mạng, Nam Cao trực tiếp đặt vấn đề cách nhìn nhân dân (chủyếu là người nông dân) trong cuộc kháng chiến để thấy được bản chất tốt đẹp –bản chất yêu nước, yêu Cách mạng Tham gia cuộc kháng chiến trường kì của dântộc, Nam Cao đã tự nguyện đặt CM lên trên nghệ thuật, sẵn sàng lám người tuyêntruyền vô danh cho CM, “muốn vứt cả bút đi để cầm lấy súng” (Đường vô Nam,1946) Và lập trường, tư tưởng đó của Nam Cao thể hiện trong truyện ngắn “Đôimắt” đã đóng góp quan trọng vào việc khẳng định, củng cố lập trường, xây dựngmột cách nhìn mới, cổ vũ văn nghệ sĩ dùng ngòi bút phụng sự cho sự nghiệpchung của toàn dân tộc

2.4 Trên phương diện cách tân nghệ thuật, Nam Cao đánh giá rất cao sự đào sâu, tìm tòi, sáng tạo của người nghệ sĩ.

- Ông chế giễu thói a dua, chạy theo mốt thời thượng, “thấy người ăn khoaicũng vác mai đi đào” (Những chuyện không muốn viết) của một số cây bút đươngthời

- Ông lên án gay gắt sự vội vàng, cẩu thả trong văn chương và coi đó là

“một sự đê tiện” Như trong “Đời thừa” (1943) ông đã khẳng định một tác phẩmvăn học phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩmchung cho cả loài người “Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ,vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi; ca tụng tình yêu, bác ái, công bằng” và "Vănchương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu Văn chương chỉdung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi

và sáng tạo ra cái gì chưa có" Ông đòi hỏi nhà văn phải có lương tâm, có nhâncách xứng với nghề; và cho rằng sự cẩu thả trong văn chương chẳng những là bấtlương mà còn là đê tiện

2.5 Tác phẩm của Nam Cao là những sản phẩm mẫu mực của một quá trình lao động rất nghiêm túc, công phu.

Trang 5

Các tác phẩm của ông như “Lão Hạc”, “Chí Phèo”, “Đời thừa”, “Sốngmòn”, “Đôi mắt” mãi mãi là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học nướcnhà.

→ Nam Cao là nhà văn đã đánh dấu ý thức nghệ thuật của trào lưu văn học hiện

thực phê phán (1930 – 1945) đi từ tự phát đến hoàn toàn tự giác Qua những ý iến

Nam Cao gửi gắm rải rác trong các sáng tác của ông, chúng ta thấy quan điểm

nghệ thuật hiện thực chue nghĩa của nhà văn đã đạt tới trình độ tự giác, hoàn chỉnh, nhất quán và tiến bộ Ông là người phát ngôn đầy đủ và sâu sắc nhất về đặc

trưng và nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực Đó là một đóng góp rấtđáng trân trọng của ông đối với chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam

II- HAI LOẠI NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM CỦA NAM CAO

Trong trào lưu hiện thực phê phán Việt Nam trong giai đoạn 1940-1945, Nam Cao nổi lên như một nhà văn tiêu biểu độc đáo Là “ người thư ký trung thành của thời đại’, với một bút pháp riêng đầy tính sáng tạo, Nam Cao đã đặt ra trước người đọc hàng loạt vấn đề: những cảnh éo le, chua chát, những bi kịch đau đớn, vật vã Thông qua những sáng tác của mình, Nam Cao đã phản ánh được cái khung cảnh ngột ngạt, tăm tối của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Những tác phẩm của Nam Cao từ truyện ngắn đầu tay nổi tiếng Chí Phèo đến tiểu thuyết Sống mòn là sự thể hiện trên nhiều bình diện về số phận của con người, và hơn thế nữa, là cuộc sống cùng khồ của cả một tầng lớp người, một giai cấp Nam Cao viết nhiều, nhưng những sáng tác của ông có thể quy về hai đề tài chủ yếu: người nông dân và người tiểu tư sản trí thức nghèo

A Đề tài người nông dân trong sáng tác của Nam Cao.

1 Nam Cao tỏ thái độ trân trọng, xót thương đối với những người nông dân nghèo.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lại ở một vùng quê mà bọn cường hào ác bá chia bè kéo cánh, đục khoét bóc lột người dân Nam Cao am hiểu thấm thía số phận của người nông dân nghèo khổ

Làng Vũ Đại là địa danh nổi tiếng gắn liền voi truyện ngắn ”Chí Phèo".Trên thực tế làng được lấy nguyên mẫu từ làng Đại Hoàng, thôn Nhân Hậu, xãHòa Hậu, huyện Ký Nhân, tỉnh Hà Nam - quê hương của nhà văn Nam Cao

Trang 6

Những câu chuyện ở làng Đại Hoàng

Câu chuyện của cụ Đạt kể về Chí Phèo ở đời thật có thể phác họa: Chí quêquán đâu không rõ, thình lình xuất hiện và sống trong cái lò gạch cũ Ngày ngàyChí đi khuân hàng cho kẻ chợ Bến Trong, được vài xu lại mua phèo lợn nhắmrượu nên Nam Cao đặt luôn cho tên Chí Phèo Tính cách cộc cằn, quậy phá củaChí Phèo được Nam Cao mượn thêm số phận của hai người cố cùng khác, những

kẻ cũng kế thừa cái lò gạch cũ sau khi Chí bỏ làng đi phu và biệt tích

Nhưng cho dù đã được Nam Cao gắn thêm sự lưu manh, thì ở đời thật cũng không

có anh Chí nào đâm chết Bá Kiến, mà kỳ thực cụ Bá sống đến tận sau năm 1945.Nhà Bá Kiến cách nhà Nam Cao non cây số, giờ vẫn còn nguyên vẹn, đã đượcNhà nước mua lại năm 1998 để bảo tồn Ông Vịnh kể cụ Bá có 12 người con, sáu

bà vợ, nay ở lại làng vẫn còn một người con, một nông dân chất phác

Ông Trần Hữu Vịnh (người trông coi nhà tưởng niệm Nam Cao và là cháu họnhà văn) nhớ khi còn sống, ông Phó Hộ (Trần Khang Hộ) - bạn chí cốt của NamCao từ ngày thơ bé - từng kể người sinh con cho Chí là một người đàn bà đã cóchồng con chứ không phải Thị Nở Vì hay đi buôn trứng từ chợ Chanh (NamĐịnh) về ngang lò gạch, chị này thường bị Chí chọc ghẹo và đã ngã lòng trongmột đêm trăng thanh vắng chỉ có “những tàu lá chuối giãy lên đành đạch như hứngtình” như Nam Cao từng miêu tả Sau khi mang thai và đẻ ra ông B., có tin vì xấu

hổ nên người đàn bà ấy đã bỏ đi biệt tăm, bỏ lại ông B lớn lên bằng cơm nhờ, búthép

Ông Vịnh kể tiếp: “Cái đêm tình tự với Chí trong cái lò gạch cũ của người đàn

bà buôn trứng được Nam Cao ghép với số phận của một người dở hơi nhất làng cótên là Trần Thị Nở, mà suy theo gia phả thì nhà văn phải gọi bằng mợ” Bởi cụTrần Bá Hòa (ông ngoại Nam Cao) là em ruột của cụ Trần Bá Dụng - cha của ôngTrần Bá Đào - chồng của Trần Thị Nở Các cụ cao niên ở Đại Hoàng kể Thị Nởngoài đời có nhiều dở hơi hơn cả những gì Nam Cao viết, chỉ biết mỗi việc làm cỏthuê cho bà ngoại Nam Cao bằng cái chép cùn, bạ đâu thì ngủ đó Lần bộ phimLàng Vũ Đại ngày ấy chiếu ở làng, dù nữ diễn viên Đức Lưu vào vai Thị Nở rấtđạt nhưng các cụ cao tuổi vẫn chép miệng: “Thị Nở ngoài đời còn khó coi hơnnhiều!”

Trang 7

Lúc Nam Cao bước vào con đường văn học, cũng là lúc xã hội Việt Nam chaođảo, ngột ngạt và bế tắc nhất Các giai cấp bị phân hóa dữ dội Đời sống của ngườinông dân bị đe dọa hơn bao giờ hết Viết về người nông dân trong thời kỳ cùngquẫn, bế tắc này, Nam Cao không dừng lại ở những hiện tượng bề mặt, ông cốgắng đi sâu vào bản chất của sự vật, và bày tỏ thái độ đồng cảm, xót thương đốivới những tâm hồn lao khổ Không như Tam Lang, Trọng Lang và một số nhà vănlãng mạn khác, Nam Cao không nhìn người nghèo với con mát khinh bỉ, giễu cợt

nhưng cũng không thị vị hóa, lý tưởng hóa họ Tấm lòng yêu thương nhân đạo và

sự hiểu biết sâu sắc về con người, đời sống ở thôn quê đã giúp Nam Cao xây dựngđược những hình tượng nông dân sinh động Từ một làng quê heo hút của mình,nhà văn đã mở rộng ra cả một thực trạng nông thôn đang trong thời kỳ lột xác.Đọc Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, chúng ta từng bắt gặp những con người bị dồnđẩy đến chân tường và đã chứng kiến không ít những số phận éo le Nhưng đếnNam Cao, cảnh nghèo đã thấm thía qua từng trang sách, và người đọc cứ day dứtkhông nguôi về bi kịch của những con người bị đẩy đến tận đáy sâu thẳm của xãhội

Phần lớn những truyện ngắn viết về đề tài nông dân của Nam Cao ra đời vàonhững năm 1940 - 1945 Cái dấu ấn một thời kỳ đen tối để lại khá sâu đậm trongnhiều truyện ngắn của Nam Cao Vẫn là những chủ đề quen thuộc như nhiều nhàvăn hiện thực khác: đời sống khó khăn, thóc cao gạo kém, con người phải vật lộn

để kiếm sống; nhưng trong tác phẩm của Nam Cao, cái đói như một sức mạnh vô

hình thít chặt lấy số phận của nhân vật Từ Nghèo đến Một đám cưới, Lão Hạc, Quái dị… chúng ta đều bắt gặp mọi hoàn cảnh chung: nông thôn xơ xác, tiêu điều.

“Nhà cửa lưa thưa Toàn những nhà tre úp xúp giữa những khu vườn rộng nhưngxấu lắm: mía đốt như lau hoặc khẳng khiu như chân gà, chuối lè tè như những câyrau diếp ngồng, dĩ chỉ đến cây khoai, cây ráy cũng không lên được Người xấu xí

và rách rưới Cái số trẻ con bụng ỏng mắt toét ngoài đường sẵn lắm” (Quái dị).

Khác với Ngô Tất Tố, viết về nông thôn, Nam Cao ít đi vào những xung độtgiai cấp gay gắt và miêu tả trên một bình diện rộng Ông tập trung chủ yếu vàonhững cuộc đời cụ thể, và cũng chỉ lẩy ra một chặng đường ngắn của nhân vật đểmiêu tả Khai thác một cách triệt để “cái hàng ngày”, nhưng Nam Cao không rơivào tự nhiên chủ nghĩa Bao giờ ông cũng biết vươn tới phản ánh cho được cáibản chất, cái có tính phổ biến, quy luật

(2) Khai thác triệt để những “cái hằng ngày” nhưng có tính quy luật (những hiệntượng có tính quy luật)

Miêu tả quá trình người nông dân bị phá sản, Nam Cao cố gắng lý giải đến

ngọn nguồn Cũng có lúc nhà văn sa đà, lệch hướng (Nửa đêm), nhưng nhìn chung

nhà văn đã tìm ra được con đường phổ biến của người nông dân Họ bị tướt đoạthết ruộng đất.Nhiều người phải lìa bỏ làng quê đi tha hương cầu thực: kẻ xiêu dạt

ra thành phố tìm đến trụ ngụ trong những căn nhà ẩm thấp, tăm tối (mẹ con Hiền

trong Truyện người hàng xóm), kẻ phẫn chí bỏ làng đi làm thuê ở đồn điền cao su

Trang 8

(con lão Hạc trong Lão Hạc) Chưa bao giờ người nông dân lại bị đặt trong hoàn

cảnh nghèo khó ly tán đến như vậy

Ly tán: Khác với Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố Nam Cao trong sáng tác cùa

mình, đã dựng nên một nông thôn nghèo đói, xơ xác, hoang vắng, heo hút, trong đó, ngườinông dân qua cuộc sống hàng ngày của họ có một số phận hết sức bi thảm Những gia đìnhnông dân, không nhà nào yên ấm: nhà nào cũng tan tác, chia lìa Bất hạnh gõ cửa từng nhà

Sự nghèo đói đã làm tan tác những gia đình Người phải ngược lên rừng kiếm ăn, kẻ phải bỏquê hương xứ sở vào làm phu ờ Nam Kì, chạy đến cùng trời cũng không sao thoát khỏi cáinghèo, cái đói và cái chết Biết bao người chết vì đói vì ốm đau không có tiền thuốc thang.Anh đĩ Chuột trong truyện ngắn Nghèo buộc phải thắt cổ tự tử để đỡ gánh nặng cho vợ con.Cái chết thật là thảm thương: "Cái bộ xương bọc trong da giãy giụa như một con gà bị bẫy,sau cùng, nó chỉ còn giật từng cái chậm dưới sợi dây thừng lủng lẳng" Phúc trong Điếuvăn ổm đau nằm "chết khô, chết nỏ" trên giường, trong khi hai dứa con anh "ẻo lả như mộtcái lá úa và buồn như một tiếng thở dài ngồi củ rủ nhìn anh bằng đôi mắt dại đi vì đói quá".Anh chết sau khi đã vắt kiệt sức mình để nuôi vợ con, chết trong sự thèm khát một bát chè

đỗ đen mà không được

Tiêu biểu cho loại này là truyện ngắn Một đám cưới Dần là cô gái lớn lêntrong hoàn cảnh nghèo khó, từ bé đã phải đi ở cho địa chủ.Mẹ mất, mới mười lămtuổi Dần đã phải quán xuyến việc nhà giúp bố.”Nhưng ông giời hình như khôngmuốn cho bố con Dần ngóc đầu lên Cuộc sống ngày một khó thêm Gạo kém,thóc cao Ngô, khoai cũng khó chuốc được mà ăn” Cái đói buộc phải tính, bố Dầnthu xếp gửi hai đứa con nhỏ cho hàng xóm để lên rừng kiếm ăn, còn Dần thì chocưới Đám cưới của Dần đến trong cảnh bần cùng, ly biệt Đếm trước hôm cưới,hai bố con Dần khóc suốt đêm Và đám cưới diễn ra âm thầm, lặng lẽ với bao nổichua xót: “Đêm tối, đám cưới mới ra đi Vẻn vẹn có sáu người, cả nhà gái, nhàtrai Ông bố vợ đã tưởng không đi Nhưng bà mẹ chồng cố mời Và lại nếu ôngkhông đi, thì hai đứa bé cũng không thể đi mà Dần thì đang khóc lóc Nếu chỉ cómình nó ra đi thì có lẽ nó cũng không chịu nốt Ông đành kéo mấy cành rào lấpngõ rồi đi vậy

Dần không chịu mặc cái áo dài của mẹ chồng đưa, thành thử lại chính bàkhoác cái áo ấy trên vai Dần mặc những áo vải ngày thường nghỉa là một cái quầncồng cộc xẫng xa đụp những miếng thật to, một cái áo cánh nâu bạc phếch và cũng

vá nhiều chỗ lắm, một bên tay rách quá, đã xé cụt gần đến nách Nó sụt sịt khóc, đibên cạnh mẹ chồng Chú rể dắt đứa em lớn của Dần Còn thằng bé thì ông bốcõng Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳnglặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ”

Số phận người nông dân trong nhiều truyện ngắn của Nam Cao được đặt ởnhững thử thách khốc liệt của cảnh nghèo Và không ít nhân vật đã bị xô đẩy đến

cái chết đau đớn, xót xa: bà cái Tý (Một bữa no), anh Đĩ Chuột (Nghèo), lão Hạc (Lão Hạc), anh Phúc (Điếu văn)

Trang 9

Chết trong uất ức: Lang Rận trong truyện ngắn cùng tên sống trong sự khinh khi và

chết trong tủi nhục Vất vưởng sống trong rách lưới, đói nghèo bân cạnh những kẻ "chỉ tơtuốt suốt ngày, nói đùa bỡn suốt ngày, cười hí hí và phát lưng nhau đồm độp", Lang Rậnphải nhẫn nhục khi bị họ "khinh bỉ, lườm nguýt, phỉ nhổ, nhạo cười, chế giễu, đủ trăm hình,trăm cấp Cái mong ước nhỏ nhoi của anh "được ngồi với họ, nghe họ nói cười, được gópvới họ một vài câu nói", vậy mà cũng không được Cuộc gặp gỡ của anh với mụ Lợi - mộtngười đàn bà mà "không có một người đàn bà nào có thể xấu hơn" bị những con mắt tò mò,thóc mách, đầy thành kiến nhìn thấy Họ cố ý làm nhục anh Không thể sống trong nhụcnhã, anh đã tìm đến một cái chết thật thê thảm: "Ông thắt cổ bằng cái ruột tượng gốc của mụLợi Cái mặt ông, đọng máu sưng lên bằng cái thớt Cái đầu ông ngoẹo xuống, như đầu mộtthằng bé khi nó dỗi Trông thật là thiểu não" Truyện ngắn Lang Rận của Nam Cao cónhững nét gần gũi với truyện ngắn Cho đỡ buồn của văn hào Nga M.Gorki về tình huốngtruyện, về hai nhân vật phụ nữ mụ Lợi và Arina, và về cách kết thúc Cả hai thiên truyện đềuthể hiện thái độ bất bình trước tình trạng những con người cùng khổ, bất hạnh bị khinh bỉ,lăng nhục, một cách thô bỉ và tàn ác Lang Rận và Cho đõ buồn là cuộc gặp gỡ kì lạ giữa hainhà văn lớn của hai nền văn học có truyền thống nhân đạo sâu sắc Cuộc đời Lão Hạc trongtruyện ngắn cùng tên cũng thật là buồn tủi, mòn mỏi trong cô đơn và nghèo đói Đến cả conchó Vàng mà lão quý mến như con như cháu là cũng không sao nuôi nổi Thật là chua chát

và mỉa mai khi Lão Hạc thốt lên: "Kiếp con chó là kiếp khổ thi ta hóa kiếp cho nó để nó làmkiếp người,may ra có sung sướng hơn một chút kiếp người như kiếp tôi chẳng được việclàm để có thể sống lương thiện, lão Hạc buộc phải tự kết liễu đời mình bằng một cái chếtthật là thảm khốc: "Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh mộtcái, nảy lên Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão Lão vật vã đến hai giờđồng hồ mới chết Cái chết thật là dữ dội" Lão Hạc đã chọn cái chết để dành phần sống chocon, chết để tạo sự sống cho một cuộc đời khác Trước Cách mạng, không có nhà văn nàolại kết thúc cuộc đời nhân vật bằng nhiều cái chết thê thảm, dữ dội, khốc liệt như Nam Cao

Nạn đói trước 1945: Viết về người nông dân Nam Cao thường xuyên đụng chạm đến

vấn đề miếng ăn, một trong những vấn đề nhức nhối của dân tộc ta Nước ta, trước Cáchmạng, triền miên trong nạn đói Cái đói là một sự thực "tàn nhẫn", một nỗi khủng khiếp, đầy

ám ảnh đến mức cái đói đã đi vào cả những nghi thức tôn giáo

Cùng viết về miếng ăn, nhưng nếu như Vũ Bằng chủ yếu miêu tả miếng ngon quanhững ấn tượng sâu sắc vế cảm giác và vị giác, Nhuyễn Tuân lại không nhấm nháp miếng

ăn bằng vị giác mà chủ yếu tiếp cận nó từ bình diện văn hóa thảm mĩ thì các nhà văn hiệnthực như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao,v.v viết về miếng ăn như là nỗi khổ lớn của con người về mặt vật chất, và thông qua đó lànỗi khổ tinh thần của họ Tuy nhiên, ngay trong số những cây bút hiện thực cũng bộc

lộ những cách nhìn khác nhau khi viết về vấn đề cái đói, miếng ăn Ngô Tất Tố qua

những tác phẩm Cái bánh chưng, Mớ rau trong hò, Làm no hay cái ăn trong những ngày nước ngập đã nhìn thẳng vào hiện thực, đặt ra một vấn đề khẩn thiết,

cấp bách cứu đói cho người nông dân

Trang 10

Nam Cao viết về cái đói, miếng ăn như một nỗi nhục nhã ê chề làm hủy hoại cả nhân phẩm và nhân tính của con người Ông nói ltới miếng ăn như là cái nhục hơn là

cái khổ tuy là cái nhục của những người cùng khổ

Bà cái Tý trong Một bữa no thật đáng thương khi bị hành hạ, giày vò trong cảnh đóiquay đói quắt Cái đói cứ dồn đẩy bà lão lừng ngày, từ cảnh: "Hơn ba tháng, bà lào chỉ ăntoàn bánh đúc Mới đẩu, còn được ngày ba tấm Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa.Tiền hết cả Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng", đến cảnh:

"Máy hôm nay bà nhịn đói" Thèm ăn lúc này không còn là nhu cẩu bình thường nữa

mà là vấn đề giữa cái sống và cái chết, đẩy bà lão đén bước đường cùng buộc phài “Tìm ra

mội kế” mượn cớ đến chơi nhà đứa cháu đang ở để kiếm bữa ăn Bà lão bằng mọi giá cố ănmột bữa no trong sự lườm nguýt, gắt gỏng, chì chiết nhục mạ của phó Thụ, một mụ địa chủkeo kiệi, nhẫn tâm, cạn tàu ráo máng Trước những lời nhục mạ tàn nhẫn của phó Thụ nhưhắt vào mặt, bà lão đáng thương vừa tủi hổ vừa nhẫn nhục, "bà cúi đầu như một con mẹ ăncắp lúa, bị tuần sương tóm được" Nam Cao đã miêu tả tình cảnh của một con người với baođức tính tốt đẹp: thờ chồng nuôi con từ khi còn rất trẻ, hết nuôi con rồi lại nuối cháu, phái

"chạy xạc cả gáu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đổng xu",đến khi bị "ốm một trận thập lử nhất sinh" thì một chút sinh lực trong thân thể còm cõi của

bà cũng không còn, đẩy bà đến tình cảnh phải từ bỏ lòng tự trọng, từ bỏ nhân cách để đổi lấymột bữa ăn Vì đói khát lâu ngày nên khi được ăn, bà lão vội vàng ăn ngay, ăn nhanh, vì sợngười khác ăn hết mất Bà lập cập ăn vội ăn vàng nên rớt cả nắm ra ngoài, sau đó còn cạonồi sồn sột "Người ta đứng lên cả rồi Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồilại để lườm với nguýt Nhưng bà lão vẫn còn thấy đói Còn cơm mà thôi ăn thì khí tiếc Vả

đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách Bà cứ ăn như không biết gì" Nam Cao bềngoài cứ thản nhiên, lạnh lùng miêu tả chậm rãi từng chi tiết, nhưng kì thực ông xiếc baothương cảm, chua xót khi miêu tả cảnh bà lão vì quá đói mà đành phải đổi nỗi khổ về vậtchất lấy nỗi nhục về tinh thần, từ bỏ cả danh dự, lòng tự trọng và nhân cách con người

Trong Tư cách mõ, miếng ăn cùng với sự xúc phạm của những người xung quanh đã

biến anh cu Lộ từ một người nông dân thật thà thành một thằng mõ "đủ tư cách mõ, chẳngchịu kém những anh mõ chính tông một tí gì: cũng đê tiện, cũng lầy là, cũng tham ăn" Còntrong Trẻ con không được ăn thịt chó, miếng ăn đã đẩy nhân vật "hắn" xuống hàng cầm thú.Trong đầu óc tối tăm của kẻ thèm ăn khát uống đến mất hết cả nhân tính này không saothoát ra được sự ám ảnh về cái màu xanh của một chai Văn Điển và màu vàng của cái môngchó nướng "Nước dãi tứa ra đầy miệng hắn, một hơi rượu rất mong manh thoáng qua mũihắn rồi vụt biến Chà! Chà! Hôm nay mát trời nhỉ? Rượu với thịt chó mà lại gặp khi trời mátthì ngon biết chừng nào là ngon! Hắn nuốt dãi hai, ba lượt [ ] Rượu thịt chó rượu thịtchó Óc hắn cứ luẩn quẩn nghĩ đến hai thứ ấy Sắc vàng bóng của một cái mông chó thuinhầy nhẫy nỡ với sắc xanh nhạt của một chai Văn Điển đầy ăm ắp cứ lần lượt hiện ra" Khiphần con trong con người hắn trỗi dậy, hắn đã tìm mọi cách để thỏa mãn sư thèm thuồng,không còn nếm xỉa gì đến vơ con Hắn đã lừa dối vợ rằng "con chó nó ăn phải bả hay saochẳng biết, sáng hôm nay cứ rú lên rồi lăn ra giẫy chết" Chỉ để thỏa mãn sự thèm khát ,àhắn đã nhẫn tâm làm thịt và cùng với lũ bạn rượu đánh chén hết nhẵn cả một con chó,không cần biết đó chính là nguồn lương thực nuôi cả nhà trong suốt nữa tháng trời Thời

Trang 11

gian tưởng cứ kéo dài ra mãi khi ngòi bút khách quan, lạnh lùng của nhà văn thản nhiênmiêu tả tỉ mỉ cảnh nói cười rung cả mái nhà trong khi" người mẹ rất còm cõi và bốn đứa congầy ốm" quây quần với nhau trong xó bếp nóng lòng sốt ruột đợi chút thức ăn thừa Biết baothèm khát, hi vọng chất chứa trong tiếng hụ hị của những đứa con:"Đói! bu ơi! đói! " đểrồi không thể nào tưởng tượng nổi, chúng ngã ngửa người khi bất ngờ thấy "trong mâm, chỉcòn bát không" Người cha ở đây thật không khác chi loài cầm thú khi hắn cùng với đámbạn ăn uống no say, ăn đến hết cả phần con, để cho "thằng cu Con khóc òa lên Nó lăn ra,chân đạp như một người giẫy chết, tay cào xe1me5 Người mẹ đỏ mũi lên và mếu xệch đ,rưng rức khóc".Qua Trẻ con không được ăn thịt chó, ngòi bút lạnh lùng sắc sảo của NamCao đã phơi bày ra một thực trạng tàn nhẫn và chua chát: Miếng ăn đáng nguyền rủa kiađang hủy hoại dần nhân cách và nhân tính con người! Nếu người cha trong Nhà nghèo của

Tô Hoài còn giữ được lương tâm và tình thương thì người cha trong Trẻ con không được ănthịt chó chỉ vì miếng ăn, vì dục vọng khoái khẩu tầm thường mà đã đánh mất cả tình phụ tử

Ở đây, ranh giới giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, giữa nhân tính và thú tính,chỉ còn tronggang tấc và thật quá mong manh!

Mỗi người một hoàn cảnh, nhưng chung quy lại là cảnh nghèo, và cái chết của họ mang một ý nghĩa tố cáo xã hội sâu sắc Điểm dáng quý ở Nam Cao là cái nhìn nhân hậu, đầy cảm thông đối với người nông dân Các nhân vật của ông dù bị đày đọa, chà đạp nhưng vẫn giữ được nhân cách, phẩm hạnh của mình Trong truyện ngắn Lão Hạc, Nam Cao đã thể hiện sinh động tính cách qua nhận thức của ông giáo đối với ông bạn láng giềng: “Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão

không muốn bán con chó vàng của lão Lão chỉ còn mỗi mình nó để làm khuây

Vợ lão chết rồi Con lão đi bằn bặt Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ lủi thủi một mình thì ai mà chả phải buồn ?…” Một sự lầm tưởng làm ông giáo xót xa, buồn cho cuộc đời, buồn cho sự tha thứ hóa và thấy như mình bị xúc phạm: “Con người đáng kình ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật

cứ mỗi ngày lại thêm đáng buồn” Sự thật được bộc lộ với tất cả vẻ đẹp chân xác: lão Hạc là người lương thiện Lão dám hì sinh cả đời mình vì hạnh phúc của đứa con Lão là người nhân hậu, thủy chung, bán con chó mà vẫn ân hận là đã phụ bạc,

ốm gần chết mà vẫn lo liệu để khỏi làm phiền đến bà con lối xóm Ông giáo xúc động như mới phát hiện ra môt tâm hồn cao cả, một nhân cách trong sáng ẩn chứa trong một con người bình thường: “Nhưng nói ra làm gì nứa! Lão Hạc ơi! Lão hãyyên lòng mà nhắm mắt” Vượt lên mọi niềm thông cảm, xót thương, người đọc bị lổi cuốn bởi một sự cảm nhận lớn lao hơn: niềm tin vào phẩm giá những cuộc đời bình thường, những thân phận bé nhỏ, những kiếp sống lầm than, những tâm hồn vượt lên cách sống bản năng, ý thức được mình “chết trong còn hơn sống đục”

2 Tác phẩm của Nam Cao phản ánh được quá trình phá sản, bần cùng hóa của người nông dân.

Trong sáng tác của Nam Cao viết về đề tài nông dân, bên cạnh loại nhân vậtchịu sự đày đọa, chà đạp của xã hội nhưng vẫn giữ được nhân phẩm của mình,còn

có một loại nhân vật đã bắt đầu bị biến chất, tha hóa Đó là Trạch Văn Đoàn (Đôi móng giò), Tương Rự (Nửa đêm), Năm Thọ, Binh Chức (Chí Phèo) và tiêu biểu hơn cả cho loại nhân vật này là Chí Phèo (trong truyện ngắn cùng tên) của Nam

Trang 12

Cao Chí Phèo cũng như nhiều nhân vật khác của Nam Cao, có những nguyên mẫuthật trong cuộc đời Nhưng nhà văn không miêu tả những con người cá thể, mà vươn tới phản ánh một hiện tượng có tính phổ biến của xã hội: một bộ phận nông dân bị xã hội thực dân phong kiến xô đẩy đến bước đường cùng, phản ứng liều lĩnh, cực đoan.

Những nhân vật tha hóa chiếm tỉ lệ không nhỏ trong thế giới nhân vật củaNam Cao Đó là những kẻ làm cha mà không khác gì loài cầm thú ăn hết cả phần

của con (Trẻ con không được ăn thịt chó, Trẻ con không biết đói) Đó là những kẻ

lao vào chơi bời, cờ bạc, rượu chè, làm tan nát gia đình như Binh Hựu, Cả Tuynh,

Mao Khiễng Ấy còn là cô Hiền trong Truyện người hàng xóm, chỉ vì dăm đồng

tiền cứu nguy trong cơn đói, đã bán đứng một đời người con gái: "Nó được cô Viễnvẫy ra thì thầm bảo, nếu muốn sẽ giúp cho một dịp kiếm dăm đồng Sau mấy phútngập ngừng, nó nghe theo! Ấy thế là một kiếp người đã bắt đầu xuống dốc, buồnlắm lắm "

Miêu tả con người tha hóa thành cảm hứng chủ đạo của tác phẩm Chí Phèo,

Tư cách mõ, Nửa đêm Trong Tư cách mõ, cu Lộ vốn là người hiền lành như đất "ăn

ở phân minh", không cờ bạc, rượu chè chỉ chăm chăm, chút chút làm để nuôi vợ,nuôi con, vậy mà dần dần bị biến thành thằng mõ tham ăn và ti tiện hơn cả "thằng

mỏ chính tông" Vì nghèo túng, lại bị mọi người xúm vào thuyết phục, bùi tai, Lộnhận lời làm mõ Nhưng khi thấy Lộ làm mõ "ngon ăn quá", mọi người sinh ra ấm

ức gen với hắn, vào hùa với nhau để làm nhục hắn Trước sự hằn học, nhục mạ,khinh ghét của những người xung quanh, Lộ đâm ra hối hận, bực tức, nhưng "sự đãtrót rồi, biết làm sao được nữa" Bị mọi người làm nhục, Lộ có lúc thấy xấu hổ cảvới vợ, muốn bỏ phắt công việc, trả lại vườn, nhưng lại tiếc Cứ như thế mỗ lần bịxúc phạm, Lộ lại tấm tức, lại thở ngắn thở dài, nhưng rồi tặc lưỡi, lại bất cần Càng

bị xúc phạm thì Lộ càng trơ trẽn, càng bị làm nhục Lộ cứ tiến dần từng bước, từchỗ hắn "bê cỗ về sân, đặt lên phản, ung dung ngồi" Đến lúc hắn "đòi cỗ to, lúc ănhắn lại còn đòi xin thêm xôi, thêm thịt, thêm cơm nữa Không đem lên cho hắn thìhắn tự xông vào chỗ làm cỗ mà xúc lấy"

Trong Nữa đêm Nam Cao tập trung miêu ta quá trình tha hóa, lưu manh hóa

của Đức, từ một đứa bé "hiền như những con nhà thiếu ăn", "ham việc hơn hamsống" trở thành một thằng du côn, một tên giết người, một kẻ điên loạn Vừa mớisinh ra, Đức đã mang một nỗi nhục lớn bị cả làng khinh bỉ: con của Trương Rự, mộtcon thú độc ác đội lốt người được mệnh danh là "Thiên lôi" chỉ đâu đánh đấy Mọingười "ghê tởm thằng bé khốn nạn mang trong huyết quản cái máu ác ngược củaquân giết người" Cả một bầu không khí đầy những ghẻ lạnh, khinh bỉ, hắt hủi vâyquanh thằng Đức Những người mẹ thừa sữa cũng hắt hủi Đức không cho sữa, có kẻthương hại thì "cho sữa rồi vội vàng lau rửa vú cho thật sạch kĩ càng, sạch sẽ" Đếnkhi lớn, Đức mon men chơi với bọn trẻ con cùng xóm cũng bị "bọn nó lảng dần",Chúng vào hùa với nhau bêu riếu, nhục mạ là "con thằng Thiên lôi, đâm lòi bụngvợ!" Vậy là sống trong môi trường phi nhân tính ấy, thằng Đức, từ một đứa bé

"múp míp, nhẵn nhịu, kháu kháu lạ", "hiền như đất, hiền như con của những nhàthiếu ăn" trở thành đứa trẻ "lặng lẽ, ngờ nghệch", " ngơ ngác", ở trong "cái xác to

Trang 13

lớn ấy chỉ có một tí to linh hồn" Trong quan niệm của Nam Cao, con người cầnthiết sự cảm thông, tình yêu thương biết nhường nào! Cho nên, đến khi gặp sự cảmthông của Nhi - một người con gái xấu xí nhưng biết nhìn nhận Đức như một conngười - cái linh hồn nhỏ nhoi, tội nghiệp của Đức vụt biến đổi Đức bỗng trở nênkhác hẳn: nhanh nhẹn hẳn lên, hay tủm tỉm cười, hay trò chuyện, biết lo xa tínhtoán Nhưng tình yêu của hai kẻ khốn khổ tủi nhục ấy bị vùi dập phũ phàn bởi sựtàn nhẫn của ông Cửu Hòa, bởi những thành kiến, định kiến độc ác của những kẻ

"ngứa mồm", những "quân dông dài" Không được coi như một con người, khôngthể sống hòa nhập với mọi người, lòng đầy uất hận Đức dấn thân vào xứ Nam Kìbát nháo "quân hồi vô phèng", nơi tụ tập của những uất ức, liều lĩnh, tuyệt vọng từbốn phương, nơi tụ hội của "trai tứ chiến, gái giang hồ", nơi mà "bọn cố cùng đemmáu của mình ra để mà tranh sống" Chính cái môi trường sống ấy đã nhào nặngĐức, từ một người vốn hiền lành, nhút nhát thành một tay du côn, một tên giếtngười dẫu trong tâm hồn đen tối của hắn vẫn chưa hết hẳn những rung động của tấmlòng hiếu thảo với người bà tội nghiệp đã biết bao vất vả, cay đắng, tủi nhục nuôidưỡng hắn từ tấm bé

Nam Cao miêu tả cuộc đời của Chí Phèo từ khi hắn sinh ra trên đời cho đếnlúc nhắm mắt, một cuộc đời bị khép kín trong vòng lẩn quẩn đầy tủi nhục, tăm tối

Cả cuộc đời Chí Phèo là một sự tố cáo xã hội thực dân phong kiến Chí Phèo là đứa trẻ bị bỏ rơi giữa cảnh màn trời chiếu đất "Hắn trần truồng và xám ngắt trongcái váy đụp để bên một cái lò gạch bỏ không" Một anh đi thả ống lươn bắt gặp và đem cho một người đàn bà góa mù Bà ta lại bán hắn cho một bác phó cối không con, và khi bác này chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đ ở cho nhà nọ Mặc dù bị mua đi bán lại, nhưng ít ra Chí Phèo cũng còn được sống trong bàn tay cưu mang của những người lao động Sự đùm bọc của những tấm lòng nhân đầy nhân nghĩa ấy phải chăng đã gieo vào lòng Chí những tình cảm tốt đẹp để sau này

nó đủ sức mà trỗi dậy trong giây phút thức tỉnh của Chí Phèo Năm hai mươi tuổi, Chí Phèo trở thành anh canh điền khỏe mạnh, hiển lành, nhút nhát và chăm chỉ làm ăn Cuộc đời nếu cứ bình lặng trôi đi thì Chí cũng sẽ giống như mọi người bình thường khác, nghèo túng nhưng yên phận Khởi đầu bà Ba, và sau đó là Bá Kiến đã khép lại quãng đời lương thiện của Chí Phèo Vào tù và ra tù là cái mốc lớn đánh dấu một bước quan trọng trong cuộc đời của Chí Phèo, nó gắn liền với sựthay đổi của tính cách con người

Sau bảy, tám năm biệt tăm, Chí Phèo trở về khác hẳn Hắn biến đổi từ cái dáng vẻ bên ngoài: "Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là

ai Trông đặc như thằng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thìđen và rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với mộtông tướng cầm chùy Cả hai cánh tay cũng thế Trông gớm chết Bằng cách làm nổi bật lên sự thay đổi dữ dội của tính cách Chí Phèo trước và sau khi đi tù về, Nam Cao tố cáo sự hủy hoại ghê gớm phẩm chất, nhân cách một con người do chế

độ nhà tù gây nên Từ một con người hiền lành nhẫn nhục Chí Phèo đã trở thành

Trang 14

một tên côn đồ hung dữ, một tay anh chị ngang ngược lúc nào cũng gây gổ, chửi bới "giở toàn những giọng uống máu người không tanh" Tất cả những hành động ngỗ ngược ấy biểu hiện phản ứng gay gắt của một con người đã đi đến chỗ đường cùng, liều lĩnh Phản ứng này mang tính chất cực đoan, thiếu sự dẫn dắt của lý trí

và mất phương hướng Chí gây sự với Bá Kiến "tao thì liều chết với bố con nhà mày" nhưng Chí cũng gây sự với cả bà hàng quán "hắn rút bao diêm, đánh xòe một cái và châm lên mái lều của mụ" Trong cơn say triền miên Chí Phèo đã trở nên mất phương hướng, trở thành tay sai của bọn thống trị trong làng và là nỗi lo

sợ của bao gia đình vô tội khác

Một mặt miêu tả quá trình tha hóa của Chí Phèo do hoàn cảnh xã hội tạo nên, nhưng mặt khác, đô mắt sắc sảo và đầy tình thân ái của Nam Cao vẫn phát hiện được trong tâm hồn cằn cỗi đó những nét đẹp đẽ, lương thiện còn rớt lại Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân như một số người nhận định Cái sắc sảo của một nhà văn luôn tìm tòi, quan sát giúp Nam Cao nhìn nhận ra vấn đề, phát hiện ra những người nông dân bị biến chất Lòng ưu ái, cảm thông của một tâm hồn nhân đạo đã giữ lại trên trang viết của ông niềm tin về nhân phẩm đẹp đẽ của người nông dân Trong đáy sâu tâm hồn của Chí Phèo, vẫn còn có những mầmmống tốt đẹp mà hoàn cảnh phũ phàng của xã hội chưa đủ sức làm thui chột hết

Sự gặp gỡ với Thị Nở và bát cháo hành ấm nóng tình người đã đánh thức dậy những tình cảm, những khát khao xưa kia của Chí Chí muốn làm người lương thiện, Chí muốn hòa nhập với xã hội xung quanh biết bao Và Thị Nở sẽ là chiếc cầu nối đưa Chí Phèo trở về với cuộc sống bình thường "Thị Nở sẽ mở đường choChí Phèo Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được

Họ sẽ thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại được ai Họ sẽ lại nhận hắn vào cái

xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện " Lần đầu tiên sau bao nhiên năm điên say đập phá, Chí Phèo mới trở lại với mơ ước bình thường, giản dị của người lao động "một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, có dấn vốn thì nuôi con lợn " Và cũng chỉ trong trạng thái thức tỉnh thì những âm thanh của cuộc sống bình thường mới dội vào tâm hồn Chí, từng tiếng chim hót, tiếng người đi chợ trao đổi, tiếng mái chèo đuổi cá trên sông Tất cả như gợi nhớ, như thức tỉnh và làm nảy nở ở Chí Phèo niềm hy vọng về một sự đổi thay

Thị Nở đến với Chí Phèo như một tia chớp, đánh thức trong Chí những lương tri và tình cảm trong sáng của người nông dân Nhưng rồi cái tia chớp ấy vụt tắt, và với Chí Phèo tất cả lại một đêm tối mênh mông không lối thoát Nhưng

mơ ước trở về làm người lương thiện trong một xã hội quay quắt, lừa đảo đã đẩy Chí rơi vào bi kịch Xã hội thực dân phong kiến không mở đường cho Chí quay vềvới cuộc sống bình thường ngay cả khi Chí khát khao nhất, tỉnh táo nhất Và những ước mơ tốt đẹp của Chí, cũng hiện ra và nhanh chóng vụt tắt, như chiếc cầuvòng bảy sắc thoáng hiện sau cơn mưa

Tuyệt vọng trong mơ ước trở về làm người lương thiện, Chí Phèo không còn một lối thoát nào khác Hắn xót xa, căm giận kẻ đã gây nên sự bất hạnh của mình Về hành động Chí Phèo trong lúc say xách dao đến nhà Bá Kiến, có người

lý giải như một hành động quen chân, bởi dự định lúc ban đầu của hắn là giết bà

Trang 15

cô Thị Nở Thực ra không hẳn như vậy Trong trạng thái chập chờn say, tỉnh - say sau khi đã có lúc tỉnh - Chí Phèo dường như đã nhớ đến kẻ thù của mình Câu nói thốt ra của Chí là lời nói của một người tỉnh táo : "Hắn dõng dạc :

- Tao muốn làm người lương thiện

xã hội thực dân phong kiến

-Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao được đánh giá cao chính là ở giá trị tố cáo của nó Thông qua số phận Chí Phèo, Nam Cao đã phản ánh một cách sâu sắc hiện thực xã hội Việt Nam những năm 1940 - 1945 và thực trạng người nông dân Việt Nam ở những năm đen tối, ngột ngạt Tuy nhiên, khi viết vể chủ đề này, NamCao cũng bộc lộ một số hạn chế của mình, ông chưa nhìn thấy được sức mạnh tìm tàng của người nộng dân Nhà văn chỉ mới miêu tả được những nông dân bị dày doa, đè nén và âm thầm chịu dựng (như dì Hảo, U hoặc_những con người tuyệt vọng, liều lĩnh rồi phản ứng cực đoan như Chí Phèo, Trương Rự, Trạch Văn Đoành ) Thời điểm ra đời những truyện ngắn cùa Nam Cao, hiện thực không hoàn toàn chỉ có đen tối như nhà văn miêu tả Rất nhiều những người nông dân đã được giác ngộ và đi theo cách mạng, nhưng hình bóng của họ chưa xuất hiện trongtác phẩm của Nam Cao Nhân vật của Nam Cao còn bị đặt trong một cấu trúc khépkín mà không thoát ra ngoài được Hình ảnh chiếc lò gạch bỏ không xuất hiện ở đầu và cuối tác phẩm Chí Phèo như mở ra và khép lại cho cuộc đời của một con người bị xã hội bỏ rơi, lừa gạt và ruồng rẫy Một hạn chế khác cũng dễ nhận thấy ởNam Cao là trong cách miêu tả ngoại hình nhân vật, ông thường quá nhấn mạnh vào những nét xấu xí, nhiều lúc trở thành quái gở Mụ Lợi, ông lang Rận (Ông lang Rận), Thị Nở, Chí Phèo (Chí Phèo) là những biểu hiện về hạn chế này của Nam Cao

Tuy nhiên, những hạn chế kể trên vẫn không làm lu mờ được những thành

công của Nam Cao qua truyện ngắn Chí Phèo Cùng với chi Dậu (của Ngô Tất

Tố), anh Pha (của Nguyễn Công Hoan), nhân vật Chí Phèo bổ sung thêm một hìnhảnh về người nống dân Việt Nam trước Cách mạng, và giúp người đọc hôm nay hiểu thêm thân phận của những con người bị lăng nhục, chà đạp trong xà hội cũ

B Đề tài người tiểu tư sản tri thức nghèo trong tác pẩm của Nam Cao

Trang 16

Cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản nghèo là một trong hai mảng đề tàichủ yếu của Nam Cao trước Cách mạng Sinh ra ở nông thôn, nhưng Nam Caosống nhiều với tầng lớp tiểu tư sản nghèo thành thị Ông am hiểu cuộc sống cùngcực của người nông dân, nhủng càng thấm thía cuộc sống của tầng lớp tiểu tư sản,bởi bản thân ông cũng tùng là giáo khổ trường tư, là nhà văn nghèo bất đắc dĩ

“phải bán dần sự sống cho mình khỏi chết đói”

1 Bi kịch vỡ mộng của người trí thức tiểu tư sản nghèo

Nhân vật tiểu tư sản trong tác phẩm của Nam Cao là những Hộ (Đời thừa),Điền (Trăng sáng), Thứ (Sống mòn), và nhũng “tôi”, “hắn” Tấ cả bọn họ đều cóchung con đường xuất thân giống nhau Đó là những “cái cảnh chung của một sốđông thanh niên con những nhà mới chỉ có thể gọi là hơi có máu mặt ở nhà quêmànđã có cái hứng khởi muốn cho con mình vượt khỏi cuộc đời bức bối, trói buộccủa ông cha” (Sống mòn) Rời bỏ cái làng quê tù túng, chật hẹp với những luật lệkhắt khe, họ nhập cuộc vào cái xã hội mới sôi đọng của chốn thị thành Mang theonhiều mơ ước của tuổi trẻ, họ bất chấp tất cả những khó khăn của thực tại

Những nhân vật trí thức nghèo của Nam Cao đều ôm ấp những ước mơ đẹp

đẽ, những dự định lớn lao: họ ao ước thành nhà văn có tên tuổi, họ khát khao trởthành nhà giáo tận tụy với nghề Những mơ ước đẹp đẽ đó nếu như gặp mảnh đấttốt sẽ phát triển và nâng con người cao hơn vươn tới những điều tốt đẹp Nhưngđáng tiếc thay họ đã đem một trái tim trong sáng và một hoài bão lớn lao để nhậpvào một cuộc đời nhỏ nhen tù túng – một cuộc đời tầm thường hóa con người vàchặt cánh những ước mơ Họ ước mơ nhưng hoàn cảnh khốc liệt lại từng ngàythiêu rụi tất cả, thế là họ rơi vào bi kịch

Cuộc đời là một chuỗi liên tiếp của những nỗi đau và niềm hạnh phúc khi

mà xã hội được sự thống trị của đồng tiền của cường quyền, ngoại xâm nó sẽ trởthành những cơn sóng đời ngầu đục và chới với, ngắc ngoải trong đó những mảnhđời nhỏ bé, đau đớn không lối thoát Bi kịch là khi con người bị đặt vào giữanhững đối kháng, mâu thuẩn giằng xé mà không có lối thoát

Bi kịch đầu tiên mà cuộc đời dành cho những con người ấy là “bi kịch vỡmộng” Đây chính là cái bi kịch khá điển hình của văn học phương Tây Họ lui tớichốn thị thành để tìm chốn tiến thân, nhưng rốt cuộc đã chôn vùi bao nhiêu ảomộng của mình ở đấy Nhân vật tiểu tư sản của Nam Cao cũng một kiểu người nhưvậy nhưng quá trình nhập cuộc và đỗ vỡ không quyết liệt bằng Chính những ước

mơ đẹp đẽ và dự tính cải cách lớn lao đã khiến Điền, Hộ, Thứ, đứng ở thế đối lậpvới xã hội Tiếp xúc với thực tế khắc nghiệt, trải qua những cuộc vật lộn kiếmsống, con người trí thức tiểu tư sản bị quăng quật nhừ tử cả thể xác lẫn tâm hồn

Cuộc sống xã hội xung quanh nặng nề, ngột ngạt, dường như không cómảnh đất nào để dung nạp những dự định tốt đẹp của họ Con người trí thức tiểu

tư sản của Nam Cao khát khao đi tìm những bến bờ mới Dự định đi xa đến với họnhư một mảnh trời xanh vẫy gọi Nhưng thực ra đấy đâu phải là con đường rộng

mở đối với họ Cả dân tộc đắm chìm trong nô lệ,làm gì có con đường riêng chomột thiểu số người Nhưng bản chất lương thiện chất phác, và cái nhìn lương thiện

Ngày đăng: 28/06/2019, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w