1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu THỰC NGHIỆM xác ĐỊNH hệ số GIÃN nở NHIỆT của bê TÔNG XI MĂNG

118 730 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 13,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ số giãn nở nhiệt về bản chất là sự tăng biến dạng của vật liệu khi sự thay đổi một đơn vị nhiệt độ. Ứng suất nhiệt là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các hư hỏng của mặt đường bê tông xi măng như: nứt vỡ tấm, hư hỏng khe co giãn, … Một sự thay đổi nhỏ trong hệ số giãn nở nhiệt của tấm BTXM đều có ảnh hưởng rất lớn đến chiều dầy thiết kế của tấm BTXM mặt đường. Theo nghiên cứu của Mallela và cộng sự 5, chất lượng, tuổi thọ của bê tông xi măng mặt đường chịu ảnh hưởng rất lớn của hệ số giãn nở nhiệt. Tại rất nhiều các bang của Mỹ, hệ số giãn nở nhiệt này đã được xác định và quy định giá trị lớn nhất của hệ số này, ví dụ tại Houston, giá trị lớn nhất của hệ số giãn nở nhiệt của đá dăm trong bê tông xi măng vào khoảng: 9.9 – 101060C đối với tấm bê tông xi măng cốt thép làm mặt đường 21,22 (Hình 1)

Trang 1

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI

TRẦN VIỆT DŨNG

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM XÁC ĐỊNH HỆ SỐ GIÃN NỞ

NHIỆT CỦA BÊ TÔNG XI MĂNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI

TRẦN VIỆT DŨNG

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM XÁC ĐỊNH HỆ SỐ GIÃN NỞ

NHIỆT CỦA BÊ TÔNG XI MĂNG

CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ

Mã số: 60580205

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

CBHDKH: TS NGUYỄN THÙY ANH

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới TS Nguyễn Thùy Anh, TS Đào Phúc Lâm, Ths Vũ Quang Dũng người đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện luận văn.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong Bộ môn Kết cấu vật liệu và Thí nghiệm công trình, trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải đã dành thời gian góp ý giúp tôi hoàn thiện luận văn của mình Xin cảm ơn gia đình và anh chị tại thư viện trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong ngày tháng học tập và nghiên cứu.

Hà Nội, ngày … tháng … Năm 2018

Học viên

Trần Việt Dũng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ SỐ GIÃN NỞ NHIỆT CTE 5

1.1 Khái niệm 5

1.2 Ảnh hưởng của hệ số giãn nở nhiệt CTE đến chất lượng của bê tông xi măng 6

1.2.1 Tính truyền nhiệt 6

1.2.2 Nhiệt dung và nhiệt dung riêng 8

1.2.3 Tính chống cháy và tính chịu lửa 10

1.3 Một số phương pháp thí nghiệm xác định hệ số giãn nở nhiệt CTE 11

1.3.1 Các phương pháp dựa theo tiêu chuẩn AASHTO TP60 11

1.3.2 Phương pháp của Đan Mạch TI-B 101 14

1.3.3 Phương pháp sử dụng lá điện trở đo biến dạng 15

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH HỆ SỐ GIÃN NỞ NHIỆT CTE CỦA BÊ TÔNG XI MĂNG 17

2.1 Lựa chọn phương pháp thí nghiệm 17

2.2 Thiết kế thiết bị thí nghiệm 18

2.2.1 Thiết bị thu dữ liệu đo UCAM 60B 19

2.2.2 Bể ổn nhiệt 21

2.2.3 Đầu đo chuyển vị LVDT 21

2.2.4 Đầu đo nhiệt độ 23

2.2.5 Thiết bị gia nhiệt 25

2.2.6 Phần mềm thu thập dữ liệu 26

2.2.7 Phụ kiện đi kèm 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ĐO HỆ SỐ GIÃN NỞ NHIỆT CTE CỦA BÊ TÔNG XI MĂNG 30

3.1 Chế bị mẫu thí nghiệm 30

3.1.1 Số liệu vật liệu đầu vào 30

3.1.2 Chuẩn bị mẫu 34

3.2 Quy trình thí nghiệm xác định CTE 41

3.3 Kết quả thí nghiệm 43

3.4 Kết luận 47

PHỤ LỤC KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM 48

Bảng 1 Kết quả thí nghiệm CTE mẫu M1 48

4

Trang 5

Bảng 2 Kết quả thí nghiệm CTE mẫu M2 63

Bảng 3 Kết quả thí nghiệm CTE mẫu M3 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hệ số giãn nở nhiệt về bản chất là sự tăng biến dạng của vật liệu khi sự thay đổi một đơn vị nhiệt độ Ứng suất nhiệt là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các hư hỏng của mặt đường bê tông xi măng như: nứt vỡ tấm, hư hỏng khe co giãn, … Một sự thay đổi nhỏ trong hệ số giãn nở nhiệt của tấm BTXM đều có ảnh hưởng rất lớn đến chiều dầy thiết kế của tấm BTXM mặt đường Theo nghiên cứu của Mallela và cộng sự [5], chất lượng, tuổi thọ của bê tông xi măng mặt đường chịu ảnh hưởng rất lớn của hệ số giãn nở nhiệt Tại rất nhiều các bang của Mỹ, hệ số giãn nở nhiệt này đã được xác định và quy định giá trị lớn nhất của hệ số này, ví dụ tại Houston, giá trị lớn nhất của hệ số giãn

nở nhiệt của đá dăm trong bê tông xi măng vào khoảng: 9.9 – 10*10-6/0C đối với tấm bê tông xi măng cốt thép làm mặt đường [21],[22] (Hình 1)

Hình 1 Tấm BTXM mặt đường bị nứt vỡ khi bị giãn nở do nhiệt nhưng

bị cản trở bởi cốt thép

Theo nghiên cứu của Siddiqui M cộng sự [20], hệ số giãn nở nhiệt của

một số loại vật cốt liệu đá dăm được trình bày trong hình 2 dưới đây Trong đó,

RS là sỏi sông, SL là đá phiến, GR là đá granit và LS là đá vôi.

1

Trang 7

Hình 2 Hệ số giãn nở nhiệt của một loại đá dăm

Theo Jussara Tanesi và cộng sự [4], giữa hệ số giãn nở nhiệt của đá dăm và

hư hỏng nứt vỡ mặt đường có quan hệ theo hàm số mũ như hình 3.

Hình 3 Quan hệ giữa tỉ lệ nứt vỡ của mặt đường BTXM với hệ số giãn nở nhiệt của đá dăm

Trong tiêu chuẩn Thiết kế cầu TCVN 11823-5:2017, điều 4.2.2 quy định về

hệ số giãn nở nhiệt như sau: Hệ số giãn nở nhiệt nên xác định bằng thí nghiệm trong phòng theo loại bê tông có cấp phối được đem dùng Trong trường hợp thiếu các số liệu chính xác, hệ số giãn nở nhiệt bê tông thường CTE = 10,8*10-

6/0C, và Bê tông nhẹ CTE = 9,0*10-6/0C Trong quá trình thi công và khai thác, nhiệt độ thay đổi gây ra ứng suất cục bộ trong kết cấu bê tông, làm giảm khả năng chịu lực của kết cấu, bởi vậy hệ số giãn nở nhiệt có ý nghĩa quan trọng

Trang 8

trong tính toán kết cấu bê tông trong quá trình thi công và khai thác là hết sức quan trọng.

Đặc biệt trong các kết cấu bê tông khối lớn như công trình đập thủy điện, các công trình dân dụng với kích thước kết cấu bê tông lớn, hiện tượng giãn nở

bê tông do nhiệt là rất lớn.

Hiện nay ở Việt Nam chưa có Tiêu chuẩn đo hệ số giãn nở nhiệt CTE, các

nghiên cứu về hệ số giãn nở nhiệt còn hạn chế Vì vậy, đề tài “Nghıên cứu thực

nghıệm xác định hệ số gıãn nở nhıệt của bê tông xı măng” là cấp thiết, có ý

nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc như thông số đầu vào cho việc thiết kế tấm bê tông xi măng làm mặt đường cứng theo AASHTO, thông số đầu vào thiết

kế kết cấu bê tông công trình cầu, dân dụng, đập thủy điện…, đặc biệt trong điều kiện hiện nay các trường đại học ở Việt Nam đã bắt đầu tự chủ trang bị thiết bị thí nghiệm, đề tài góp phần đưa ra giải pháp giảm giá thành mua sắm trang thiết bị.

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Thiết kế hệ thống đo hệ số giãn nở nhiệt của bê tông xi măng và tiến hành thử nghiệm kiểm chứng trên các mẫu bê tông xi măng.

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp đọc tài liệu;

- Phương pháp lý thuyết;

- Phương pháp thực nghiệm;

- Phương pháp thống kê;

- Phương pháp phân tích tổng hợp.

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Thiết kế hệ thống đo CTE.

- Phương pháp đo CTE.

- Bê tông xi măng.

VI KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

PHẦN MỞ ĐẦU

3

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ SỐ GIÃN NỞ NHIỆT CTE

1.1 Khái niệm

1.2 Ảnh hưởng của hệ số giãn nở nhiệt CTE đến chất lượng của bê tông xi măng

1.3 Một số phương pháp thí nghiệm xác định hệ số giãn nở nhiệt CTE

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH HỆ SỐ GIÃN NỞ NHIỆT CTE CỦA BÊ TÔNG XI MĂNG

2.1 Lựa chọn phương pháp thí nghiệm

2.2 Thiết kế thiết bị thí nghiệm

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ SỐ GIÃN NỞ NHIỆT CTE

1.1 Khái niệm

Hệ số giãn nở nhiệt [1] của một vật liệu là một đại lượng vật lý đặc trưng

cho sự thay đổi kích thước của vật liệu đó khi nhiệt độ thay đổi

Có một vài định nghĩa cụ thể cho hệ số giãn nở nhiệt: hệ số giãn nở nhiệt tuyến tính, hệ số giãn nở nhiệt thể tích.

Hệ số giãn nở nhiệt thể tích (hay hệ số giãn nở nhiệt toàn phần, hay nhiều khi ngắn gọn là hệ số giãn nở nhiệt)

Hệ số giãn nở nhiệt toàn phần có thể được đo cho mọi vật liệu ở các trạng thái rắn, lỏng, khí khác nhau; trong khi hệ số giãn nở nhiệt tuyến tính chỉ đo được cho vật liệu rắn.

Với đa số vật liệu, khi áp suất không đổi, thể tích hay kích thước của vật liệu tăng khi nhiệt độ tăng.

Sự giãn nở hay co lại của vật liệu khi nhiệt độ thay đổi cần được quan tâm khi thiết kế các hệ thống lớn liên kết nhiều vật liệu khác nhau, khi dùng thước đo khoản cách, khi thiết kế hệ thống hoạt động trong dải nhiệt độ rộng,

Hệ số giãn nở nhiệt toàn phần

Hệ số giãn nở nhiệt toàn phần được định nghĩa bởi (Incropera, 2001 p537):

(1.1)

Với ρ là mật độ, T là nhiệt độ, V là thể tích, các đạo hàm được tính khi áp suất P không đổi Như vậy β là tỷ lệ thay đổi của mật độ khi nhiệt độ tăng và áp

suất không đổi.

Đối với vật liệu tinh thể sự giãn nở nhiệt chỉ xảy ra khi trường lực không biến đổi theo hàm bậc hai.

Hệ số giãn nở nhiệt tuyến tính:

(1.2)

Hệ số giãn nở nhiệt tuyến tính tỷ lệ thay đổi độ dài dọc theo một chiều của một thanh vật liệu rắn cho mỗi độ thay đổi của nhiệt độ:

5

Trang 11

Với L là chiều dài của thanh theo chiều đã định.

Với vật liệu đẳng hướng, hệ số giãn nở nhiệt tuyến tính xấp xỉ bằng 1/3 hệ

Khi chế độ truyền nhiệt ổn định và vật liệu có dạng tấm phẳng thì nhiệt lượng truyền qua tấm vật liệu này được tính bằng công thức:

F - diện tích bề mặt của tấm vật liệu truyền nhiệt, m²;

t1, t2 - nhiệt độ bề mặt tấm vật liệu ở phía có nhiệt độ cao và phía có nhiệt độ thấp, °C;

a - chiều dày của tấm vật liệu, m;

z – thời gian truyền nhiệt, h;

λ – hệ số truyền nhiệt của vật liệu;

Hệ số truyền nhiệt của vật liệu đặc trưng cho khả năng truyền nhiệt của vật liệu đó và rút ra từ công thức dưới dạng sau:

2 1

.

,( / ) ( ).

Công thức này cho ta thấy hệ số truyền nhiệt λ của một loại vật liệu có trị

số đúng bằng nhiệt lượng truyền qua tấm làm từ vật liệu đó có diện tích bề mặt 1m², chiều dày 1m khi thời gian truyền nhiệt là 1h và độ chênh nhiệt độ giữa hai

bề mặt tấm là 1°C.

Trang 12

Hệ số truyền nhiệt của một loại vật liệu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Khối lượng thể tích, độ rỗng, cấu trúc độ rỗng, độ ẩm và nhiệt độ trung bình của bản thân vật liệu đó.

Không khí có hệ số truyền nhiệt nhỏ hơn hệ số truyền nhiệt của các vật chất khác

(λ = 0,02 kCal/m °Ch).Bởi vậy vật liệu nào có độ rỗng càng lớn, tức là khối lượng thể tích càng nhỏ, sẽ chứa nhiều không khí và vì vậy hệ số truyền nhiệt của nó cũng nhỏ Điều này được thể hiện qua công thức thực nghiệm của V.P Nhekraxov về quan hệ giữa hệ số truyền λ với khối lượng thể tích γ của cùng một loại vật đưa ra dưới đây:

2 0

số truyền nhiệt của vật liệu có độ ẩm W ( ) w với độ ẩm của nó thể hiện qua công

Trang 13

Vật liệu hữu cơ

Vật liệu vô cơ

0,003 kcal/m.°C.h 0,002 kcal/m.°C.h Khi nhiệt độ trung bình của vật liệu tăng lên thì hệ số truyền nhiệt của nó cũng tăng lên do chuyển động nhiệt của các phân tử vật chất trong vật liệu mạnh hơn Điều này được thể hiện qua công thức Vlaxốp dưới đây:

  hệ số truyền nhiệt của vật liệu ở 0°C, kcal/m.°C.h;

t – nhiệt độ trung bình của vật liệu, 0°C;

 - hệ số gia tăng của hệ số truyền nhiệt ứng với sự thay đổi của

nhiệt độ là 1°C;  = 0,0025.

Công thức trên chỉ thích hợp trong phạm vi nhiệt độ thấp hơn 100°C Khi nhiệt độ cao hơn, cần xác định lại công thức bằng thực nghiệm.

Tính truyền nhiệt có ý nghĩa rất quan trọng đối với những vật liệu dùng các

bộ phận công trình xây dựng dân dụng (như tường bao che, mái, trần ) và đặc biệt là đối với những vật liệu cách nhiệt chuyên dùng để giữ nhiệt cho các buồng

và thiêt bị nhiệt.

1.2.2 Nhiệt dung và nhiệt dung riêng

Khi vật liệu được nung nóng hay làm nguội, nó sẽ hấp thụ hay giải phóng một nhiệt lượng nào đó Nhiệt lượng đó được gọi là nhiệt dung Q và được tính theo công thức:

2 1

Q C G t   t , kcal (1.9)

Trong đó: C- nhiệt dung riêng của vật liệu;

G- khối lượng của vật liệu;

t1, t2 - nhiệt độ của vật liệu trước và sau khi nung nóng, ℃

Trang 14

Từ công thức tính nhiệt dung vừa nêu, có thể rút ra công thức tính nhiệt dung riêng C của vật liệu dưới dạng:

2 1

.( )

Q C

G t t

 , (kcal/kg.℃) (1.10) Nếu trong công thức này, thay đổi khối lượng mẫu vật liệu được nung nóng

là G=1kg, và độ chênh lệch nhiệt độ sau và trước khi thí nghiệm (t2-t1)=1℃ thì

C = Q (kcal/kg.℃) Như vậy nhiệt dung riêng của vật liệu là nhiệt lượng cần thiết để nung nóng 1 kg vật liệu lên thêm 1℃.

Mỗi vật liệu có nhiệt dung riêng biệt Nếu vật liệu là hỗn hợp của nhiều vật liệu thành phần thì nhiệt dung riêng của vật liệu hỗn hợp Chh được tính bằng công thức:

G1, G2…Gn – khối lượng của vật liệu thành phần, kg;

C1, C2…Cn – nhiệt dung riêng của các vật liệu thành phần, kcal/kg 0C.

So với các vật liệu khác, nước có nhiệt dung riêng lớn nhất (1kCal/kg℃) Bởi vậy khi vật liệu có độ ẩn của tăng thì nhiệt dung riêng của vật liệu cũng tăng lên và đươc tính theo công thức:

C – nhiệt dung riêng của vật liệu khô, kcal/kg.℃;

Cn – nhiệt dung riêng của nước, kcal/kg.℃;

W – độ ẩm của vật liệu, %.

Nhiệt dung và nhiệt dung riêng được dung trong tính toán nhiệt lượng cho gia công vật liệu xây dựng và cũng dùng để lựa chọn vật liệu dùng xây dựng các trạm nhiệt.

9

Trang 15

1.2.3 Tính chống cháy và tính chịu lửa

Tính chống cháy là khả năng của vật liệu chịu được tác dụng của ngọn lửa trong một thời gian nhất định.

Dựa vào tính chống cháy có thể chia vật liệu xây dựng làm 3 nhóm: nhóm vật liệu không cháy, nhóm vật liệu khó cháy và nhóm vật liệu không cháy.

Vật liệu không cháy là vật liệu dưới tác dụng của ngọn lửa hay nhiệt độ cao cũng không bị bắt lửa, không cháy âm ỉ và không bị cacbon hóa Khi nhiệt độ cao, số đông các vật liệu trong nhóm này có biến dạng nhỏ không đáng kể như ( gạch, ngói, bê tông, amiăng, ), song trong nhóm này có cả những vật liệu có biến dạng lớn như thép.

Vật liệu khó cháy là những vật liệu dưới tác dụng của ngọn lửa hay nhiệt

độ cao có thế bắt lửa, cháy âm ỉ hay bị cacbon hóa một cách khó khăn Tuy vật khi bỏ nguồn gây cháy thì các hiện tượng vừa nêu cũng kết thúc Thuộc về nhóm vật liệu khó cháy có bêtông asphalt, tấm phibrôlít, vật liệu gỗ hốn hợp chất chống cháy, …

Vật liệu dễ cháy là những vật liệu dưới tác dụng của ngọn lửa hay nhiệt độ cao sẽ bắt lửa và tiếp tực cháy sau khi đã bỏ nguồn cháy Nói chung các vật liệu hữu cơ đều nằm trong nhóm này.

Tính chịu lửa là tính chất của vật liệu chịu được tác dụng lâu dài của nhiệt

độ cao mà không bị chảy và biến hình.

Tùy theo khả năng chịu lửa mà vật liệu chia làm 3 nhóm: nhóm vật liệu chịu lửa, nhóm vật liệu khó chảy, nhóm vật liệu dễ chảy.

Vật liệu chịu lửa có khả năng chịu được tác dụng lâu dài của nhiệt độ cao hơn 1580℃ như gạch chịu lửa samôt, đi na, … Các vật liệu này dùng để lót bên trong các lò công nghiệp.

Vật liệu khó chảy chịu được nhiệt độ từ 1350℃ đến 1580℃ gồm những loại gạch đặc biệt để xây lò và xây ống khói.

Vật liệu dễ chảy chịu được nhiệt độ thấp hơn 350℃ thí dụ như gạch đất sét nung thông thường.

Trang 16

1.3 Một số phương pháp thí nghiệm xác định hệ số giãn nở nhiệt CTE

1.3.1 Các phương pháp dựa theo tiêu chuẩn AASHTO TP60

Mặc dù nhiều văn bản đã được công bố trong 10 năm qua về hệ số giãn nở nhiệt (CTE) và ảnh hưởng của nó đối với thiết kế mặt đường bê tông, một sai sót được phát hiện gần đây trong tiêu chuẩn AASHTO TP60-00 về sự hiệu chỉnh của thiết bị thí nghiệm cũng như giá trị CTE của bê tông Tiêu chuẩn mới AASHTO T336-09, dù dựa trên tiêu chuẩn TP 60-00 đã khắc phục vấn đề này Nghiên cứu của các tác giả Jussara Tanesi, Gary L Crawford, Mihai Nicolaescu, Richard Meininger, and Jagan M Gudimettla thể hiện sự khác nhau giữa hai phương pháp thí nghiệm và ứng dụng lâu dài cho cơ sở dữ liệu LTPP và MEPDG (Hướng dẫn thiết kế mặt đường mô hình cơ học-thực nghiệm) cũng như sự triển khai của các cơ quan ngành giao thông vận tải Những đề suất đã được đưa ra để cải thiện phương pháp thí nghiệm tiêu chuẩn AASHTO T336-09 Trung tâm nghiên cứu đường cao tốc Turner-Fairbank (TFHRC) của FHWA là một trong những nơi tiên phong trong việc thí nghiệm hệ số giãn nở nhiệt (CTE) trong 10 năm qua Họ đã thí nghiệm trên 2200 mẫu, hầu hết đều là

cơ sở dữ liệu chính cho cơ sở dữ liệu LTPP Kết quả thí nghiệm CTE LTPP ban đầu dùng để hiệu chỉnh Version 1.0 theo mô hình của MEPDG

Sự quan tâm đến thí nghiệm CTE đã tăng đáng kể trong những năm qua vì

nó được coi như là một trong những yếu tố quan trọng nhất của MEPDG Chỉ trong 5 năm, hơn 20 bài báo dã được đăng tải về CTE và ảnh hưởng của nó tới MEPDG.

11

Trang 17

Nguyên tắc của TP60 khá đơn giản Phương pháp này đo độ biến dạng dài của một mẫu bê tông bão hòa nước được đặt thẳng đứng trên một khung kim loại chịu thay đổi nhiệt độ cụ thể Một bể ổn định nhiệt được sử dụng để thay đổi dải nhiệt độ theo như phương pháp thí nghiệm Biến dạng của khung kim loại được đo và bằng sự thay đổi chiều dài của một mẫu đã biết CTE, thường là mẫu thép không gỉ 304 Tiêu chuẩn TP60 nói rằng CTE của mẫu thép không gỉ

304 bằng 17,3*10-6/°C (9,6*10-6/°F) Đây là giá trị thường thấy trong văn bản 11) và được sử dụng ở hầu hết các Bang và phòng thí nghiệm trường Đại học mà

(8-sử dụng tiêu chuẩn TP60.

Won đề xuất một phương pháp mới để tính toán CTE của bê tông dựa trên những thay đổi về tiêu chuẩn TP60 (12) Trong nghiên cứu này, các tác giả đề cập đến phương pháp mới này với tên gọi phương pháp Texas Nguyên tắc và dụng cụ thí nghiệm đề suất trong phương pháp này tương tự với tiêu chuẩn TP60 Phương pháp dựa trên cũng một nguyên tắc và cũng giả định rằng CTE của mẫu thép không gỉ 304 là bằng 17,3*10-6 /°C (9,6*10-6/°F) Sự khác nhau giữa phương pháp Texas và TP60 là các nhà nghiên cứu trước đó tính toán CTE của bê tông biểu thị đường cong của biến dạng so với đường cong nhiệt độ, trong khi ở tiêu chuẩn AASHTO 60, CTE được tính toán bằng sự thay đổi chiều dài chia cho sự thay đổi nhiệt độ hệ sau khi mẫu đã đạt trạng thái cân bằng.

Cả hai phương pháp TP60 (hay tiêu chuẩn mới AASHTO T336) và phương pháp Texas đều có thể thực hiện với cùng một loại thiết bị Thiết bị này có thể tùy chỉnh (thủ công hoặc tự động) hoặc một thiết bị thương mại tự động có sẵn.

Xem hình 1a và 1d TFHRC đã đánh giá ba thiết bị thương mại trong 2 năm qua,

nhưng chưa có thông tin xác định nào được đăng tải Hai trong số chúng đã được thương mại hóa, và một vẫn còn đang được đánh giá.

Công binh lục quân Hoa Kỳ (U.S Army Corps of Engineers ) có phương pháp xác định CTE riêng, ký hiệu là CRD-C 39-81, nó giống với phương pháp TP60 nhưng không sử dụng khung gắn mẫu; theo đó, không cần có mẫu hiệu chuẩn Thay vào đó, họ sử dụng một bộ so sánh chiều dài Các thử nghiệm sơ bộ

Trang 18

tại TFHRC sử dụng quy trình này cho thấy sự biến động lớn hơn trong kết quả

so với các phương pháp khác.

Cục khai khoáng (Bureau of Reclamation) trực thuộc Bộ nội vụ Hoa Kỳ sử dụng phương pháp USBR 4910-92, phương pháp này không cần sử dụng mẫu hiệu chuẩn.

Các phương pháp thí nghiệm khác đã được đề xuất nhưng không được sử dụng rộng rãi (13-15), bao gồm nhưng phương pháp đo CTE của hỗn hợp cốt liệu và tính toán CTE của bê tông (16).

Kích thước mẫu: Đường kính mẫu = 100mm, chiều cao mẫu = 165-210mm

13

Trang 19

Hình 1.1 Bộ thiết bị đo CTE áp dụng tại Mỹ dựa trên theo tiêu chuẩn AASHTO TP60

1.3.2 Phương pháp của Đan Mạch TI-B 101

Phương pháp TI-B của Đan Mạch là một lựa chọn khác để xác định hệ số giãn nở nhiệt của bê tông Phương pháp thử nghiệm này được thành lập vào năm

1994 bởi Viện Công nghệ Đan Mạch CTE được đo ở ba nhiệt độ khác nhau phạm vi từ 5ºC đến 30ºC Sự thay đổi độ dài, gây ra bởi sự thay đổi nhiệt độ trong phạm vi từ 5ºC đến 30ºC, được so sánh với chiều dài ở 20ºC Độ dài giữa các điểm đo trên mỗi mẫu thử được đo khi mẫu được đặt trong bể nước với nhiệt không đổi trong khoảng hai giờ.

Trang 20

Hình 1.2 Bộ dụng cụ đo gồm đầu đo Demec, thanh tham chiếu và thanh

là tương đối mất nhiều nhiều thời gian.

15

Trang 21

Hình 1.4 Quá trình gắn lá điện trở đo biến dạng

Hình 1.5 Cảm biến đo nhiệt độ và độ ẩm

Hình 1.6 Sử dụng keo silicone bảo vệ lá điện trở

Trang 22

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH HỆ SỐ GIÃN

NỞ NHIỆT CTE CỦA BÊ TÔNG XI MĂNG 2.1 Lựa chọn phương pháp thí nghiệm

Trong nỗ lực hoàn thiện nghiên cứu về CTE, FHWA tìm ra rằng CTE của mẫu thép 304 không gỉ, một mẫu hiệu chuẩn thường được dùng trong thí nghiệm CTE của bê tông xi măng theo tiêu chuẩn AASHTO TP60 không phải là 17.3*10-6/°C (9.6*10-6/°F) trong phạm vi nhiệt độ của TP60 Vấn đề quan trọng

là giá trị CTE 17.3*10-6/°C (9.6*10-6/°F) được sử dụng bởi hầu hết các phòng thí nghiệm dùng TP60 và phương pháp Texas.

Một phương pháp thí nghiệm mới đã được thừa nhận (AASHTO T336) Nó tạm thời dựa trên phương pháp thí nghiệm T60 nhưng không giả định bất kỳ giá trị nào cho mẫu hiệu chuẩn Tuy nhiên, nó yêu cầu CTE của mẫu hiệu chuẩn được xác định bởi một phòng thí nghiệm độc lập đã được chứng nhận.

Giá trị CTE trong cơ sở dữ liệu LTPP được xác định dựa trên TP60 và cần được sửa đổi vì sự chênh lệch trong giá trị CTE của mẫu hiệu chuẩn Tháng 1 năm 2011 cơ sở dữ liệu LTPP (Phiên bản 24.0) đã bao gồm những giá trị điều chỉnh.

Mô hình MEPDG được phát triển dựa trên dữ liệu của LTPP Vì cơ sở dữ liệu LTPP cần được điều chỉnh nên mô hình MEPDG cũng cần được tái hiệu chỉnh Với việc sử dụng MEPDG phiên bản 1.0, giá trị CTE cần được xác định theo TP60 thay vì T336 để phòng ngừa sự thiết kế sai.

Một số cải thiện cho T336 đã được đề xuất như là cao độ mức nước, hệ số hiệu chỉnh, chứng nhận thiết bị, hiệu chuẩn LVDT, điều kiện phá hoại mẫu và số lượng mẫu thí nghiệm.

Đề xuất lựa chọn phương pháp thí nghiệm:

+) Tất cả các phòng thí nghiệm tiến hành thí nghiệm CTE cần xác định giá trị CTE của mẫu hiệu chuẩn dựa theo ASTM E228.

+) Một mẫu tham khảo đã biết CTE dựa theo ASTM E228 cần được dùng

để đánh giá sự vận hành của thiết bị CTE.

17

Trang 23

+) Khi mô hình phần mềm MEPDG đã được tái hiệu chỉnh, các cơ quan quản lý đường cao tốc cần điều chỉnh kết quả CTE của họ theo sự chênh lệch giữa giá trị CTE giả định và giá trị CTE thực tế của mẫu hiệu chuẩn.

2.2 Thiết kế thiết bị thí nghiệm

Hiện tại, trong T 336, mẫu được làm lạnh đến 50°F ± 2°F (10 °C) trong một khoảng thời gian đủ dài để đạt được cân bằng nhiệt trong mẫu Cân bằng nhiệt trong mẫu được giả định là đạt được khi LVDT đọc liên tục được ghi lại trong vòng 0,00001 in cứ 10 phút một lần trong khoảng thời gian một tiếng rưỡi Độ dài LVDT đo được sau đó được ghi lại và mẫu được làm nóng đến 122 °F ± 2 °F (50 °F) cho đến khi nó ở trạng thái cân bằng và chiều dài được ghi lại với LVDT.

Phần này trình bày chi tiết bộ máy cụ thể được xây dựng để đánh giá CTE của các mẫu bê tông hình trụ.

Trang 24

Hình 2.1 Bộ thiết bị đo đo hệ số giãn nở nhiệt CTE Bảng 2.1 Danh sách bộ thiết bị thí nghiệm đo hệ số giãn nở nhiệt CTE T

1 Thiết bị thu tín hiệu đa kênh UCAM 60B Hình 2.1 & Hình 2.2

2 Máy tính tích hợp phần mềm thu thập dữ liệu Hình 2.1

4 Đầu đo chuyển vị LVDT Hình 2.1 & Hình 2.5

5 Đầu đo nhiệt độ Hình 2.1 & Hình 2.7

6 Thiết bị gia nhiệt Hình 2.1 & Hình 2.9

7 Phần mềm thu thập dữ liệu Hình 2.10

2.2.1 Thiết bị thu dữ liệu đo UCAM 60B

Hình 2.2 Thiết bị thu tín hiệu UCAM 60B

19

Trang 25

Hình 2.3 Chứng nhận chất lượng sản phẩm (CQ) của thiết bị thu tín hiệu

Bảng 2.2 Thông số kỹ thuật của thiết bị thu dữ liệu đa kênh

Tên thiết bị Mã hiệu Tính năng kĩ

thuật Chức năng Ghi chú

Thiết bị thu dữ

liệu đa kênh UCAM 60B

- Hỗ trợ đo tối đa đến 20000 μm/m với độ phân giải 0.1 μm/m

- Trả kháng của các lá điện trở:

60 – 1000 Ω

- Số kênh: 10 kênh (tối đa 30 kênh) có thể mở rộng lên 1000 kênh

- Tốc độ thu thập

dữ liệu: min =

20 ms

- Nguồn điện cung cấp 220V

Trang 26

2.2.2 Bể ổn nhiệt

Bể ổn nhiệt được sử dụng để duy trì mong muốn nhiệt độ nước trong bể chứa Nó có độ chính xác đọc và ổn định nhiệt độ của ± 0,25 °C và ± 0,1°C tương ứng (hình 2.4).

Hình 2.4 Bể ổn nhiệt 2.2.3 Đầu đo chuyển vị LVDT

Đầu đo DTH A-5 của hãng Kyowa Nhật Bản (Hình 2.5).

21

Trang 27

Hình 2.5 Đầu đo chuyển vị LVDT

Hình 2.6 Chứng nhận chất lượng sản phẩm (CQ) của đầu đo LVDT

Trang 28

Bảng 2.3 Thông số đầu đo LVDT của hãng Kyowa, Nhật Bản

Khối lượng Max Min

DTH-A-5 5 mm 1.5 kN 84.4 78.4 68 60 4 20 21 57  30 g DTH-A-10 10 mm 2.2 kN 96.4 85.4 75 67 4 20 21 57  35 g

2.2.4 Đầu đo nhiệt độ

Hình 2.7 Đầu đo nhiệt độ

23

Trang 29

Hình 2.8 Chứng nhận chất lượng sản phẩm (CQ) của Đầu đo nhiệt độ

Hình 2.8 Cấu tạo Đầu đo nhiệt độ

Bảng 2.4 Thông số đầu đo nhiệt độ BT-100B của hãng Kyowa, Nhật Bản

Trang 30

2.2.5 Thiết bị gia nhiệt

Theo AASHTO T336-11 và ASTM E 228-06, tốc độ gia nhiệt nóng và lạnh

≤ 5°C/min, sự thay đổi nhiệt độ trong mẫu ≤ 0.50C/cm.

Thông số thiết bị:

Nhiệt độ làm việc lớn nhất (° C): 100.

Nhiệt độ làm việc nhỏ nhất (° C): nhiệt độ môi trường.

Nhiệt độ làm việc lớn nhất của cuộn dây làm mát (° C): 100.

Nhiệt độ làm việc nhỏ nhất của cuộn dây làm mát : nhiệt độ dung dịch + 5°C.

Mức ổn định nhiệt độ (° C): ±0.2.

25

Trang 31

Hình 2.9 Thiết bị gia nhiệt 2.2.6 Phần mềm thu thập dữ liệu

Trang 33

Hình 2.10 Phần mềm thu thập dữ liệu Execute MEAS 2.2.7 Phụ kiện đi kèm

Khung đỡ cứng gắn mẫu đo

Hình 2.11 cho thấy một sơ đồ lắp ráp của thiết bị được sử dụng để xác định CTE.

Hình 2.11 Sơ đồ cấu tạo khung CTE

Trang 34

Khung đỡ cứng được xây dựng theo AASHTO T 336 Tấm trên và tấm đáy

là thép không gỉ, trong khi các thanh đỡ dọc được gia công từ hợp kim Invar Các thanh được bọc bằng băng để bảo vệ chống lại sự ăn mòn toàn bộ chiều dài đầy đủ ở giữa hai tấm thép không gỉ Ba điểm đỡ hình bán cầu có khoảng cách đều nhau trên tấm đáy Hình 2.12 cho thấy một trong các khung trước khi lắp đặt một LVDT.

Hình 2.12 Khung thép lắp mẫu đo và các sensor

29

Trang 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ĐO HỆ SỐ GIÃN NỞ NHIỆT

CTE CỦA BÊ TÔNG XI MĂNG 3.1 Chế bị mẫu thí nghiệm

3.1.1 Số liệu vật liệu đầu vào

Trang 38

Các thiết kế hỗn hợp hiện đang được sử dụng trong xây dựng các công trình xây dựng dân dụng ở thành Phố Hà Nội, được sử dụng cho nghiên cứu này

là cơ sở dữ liệu để xác định CTE từ các hỗn hợp BTXM thực tế.

33

Trang 39

Bảng 3.6 Khối lượng vật liệu cho 1m3 bê tông C30

Các mẫu bê tông đã được đúc với đường kính bằng 4 in và chiều cao bằng

8 in (đường kính bằng 100 mm và chiều cao bằng 200 mm) trong khuôn đúc mẫu hình trụ bằng nhựa hoặc sắt như trình bày trong hình 3.1 Các mẫu được cắt với kích thước với đường kính bằng 4 in chiều cao bằng 7 in (đường kính bằng

100 mm và chiều cao bằng 180 mm) theo AASHTO T 336-11 như trong Hình 3.2.

Hình 3.1 Đúc mẫu Bê tông xi măng

Trang 40

Hình 3.2 Bảo dưỡng mẫu trong bể nước

Hình 3.3 Mẫu bê tông xi măng lấy trạm thí nghiệm Bê tông Chèm tại

khu công nghiệp Amacao, Đông Anh

35

Ngày đăng: 27/06/2019, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] GS Phạm Duy Hữu, TS Ngô Xuân Quảng, Mai Đình Lộc, Vật liệu xây dựng, Nhà xuất bản Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu xây dựng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
[4] Tanesi, J., M. E. Kutay, A. R. Abbas, and R. C. Meininger. Effect of CTE Variability of Concrete Pavement Performance as Predicted; Using the Mechanistic–Empirical Pavement Design Guide. In Transportation Research Record: Journal of the Transportation Research Board, No. 2020, Transportation Research Board of the National Academies, Washington, D.C., 2007, pp. 40–44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of CTE Variability of Concrete Pavement Performance as Predicted; Using the Mechanistic–Empirical Pavement Design Guide
Tác giả: J. Tanesi, M. E. Kutay, A. R. Abbas, R. C. Meininger
Nhà XB: Transportation Research Record: Journal of the Transportation Research Board
Năm: 2007
[5] Mallela, J., A. Abbas, T. Harman, C. Rao, R. Liu, and M. Darter.Measurement and Significance of Coefficient of Thermal Expansion of Concrete in Rigid Pavement Design. In Transportation Research Record:Journal of the Transportation Research Board, No. 1919, Transportation Research Board of the National Academies, Washington, D.C., 2005, pp. 38–46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measurement and Significance of Coefficient of Thermal Expansion of Concrete in Rigid Pavement Design
Tác giả: J. Mallela, A. Abbas, T. Harman, C. Rao, R. Liu, M. Darter
Nhà XB: Transportation Research Record: Journal of the Transportation Research Board
Năm: 2005
[6] Tanesi, J., M. Hossain, T. Khanum, G. Schieber, and R. Montney. The Portland Cement Concrete Coefficient of Thermal Expansion Input for the Mechanistic–Empirical Pavement Design Guide. Presented at 85th Annual Meeting of the Transportation Research Board, Washington, D.C., 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Portland Cement Concrete Coefficient of Thermal Expansion Input for the Mechanistic–Empirical Pavement Design Guide
Tác giả: J. Tanesi, M. Hossain, T. Khanum, G. Schieber, R. Montney
Nhà XB: Transportation Research Board
Năm: 2006
[7] Kohler, E., R. F. Alvarado, and D. Jones. Measurement and Variability of Coefficient of Thermal Expansion for Concrete Pavements. Presented at 86th Annual Meeting of the Transportation Research Board, Washington, D.C., 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measurement and Variability of Coefficient of Thermal Expansion for Concrete Pavements
Tác giả: E. Kohler, R. F. Alvarado, D. Jones
Nhà XB: Transportation Research Board
Năm: 2007
[8] Kannekanti, V., and J. T. Harvey. Sensitivity Analysis of 2002 Design Guide Distress Prediction Models for Jointed Plain Concrete Pavement. In Transportation Research Record: Journal of the Transportation Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sensitivity Analysis of 2002 Design Guide Distress Prediction Models for Jointed Plain Concrete Pavement
Tác giả: Kannekanti, V., Harvey, J. T
Nhà XB: Transportation Research Record: Journal of the Transportation
[9] Ceylan, H., B. Coree, and K. Gopalakrishnan. Design of Rigid Pavement in Iowa Using Mechanistic–Empirical Pavement Design Guide.Baltic Journal of Road and Bridge Engineering, Vol. 3, No. 4, 2009, pp. 219–225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Design of Rigid Pavement in Iowa Using Mechanistic–Empirical Pavement Design Guide
Tác giả: H. Ceylan, B. Coree, K. Gopalakrishnan
Nhà XB: Baltic Journal of Road and Bridge Engineering
Năm: 2009
[10] Jahangirnejad, S., N. Buch, and A. Kravchenko. Evaluation of Coefficient of Thermal Expansion Test Protocol and Its Impact on Jointed Concrete Pavement Performance. ACI Materials Journal, Vol. 106, Jan.–Feb.2009, pp. 64–71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of Coefficient of Thermal Expansion Test Protocol and Its Impact on Jointed Concrete Pavement Performance
Tác giả: S. Jahangirnejad, N. Buch, A. Kravchenko
Nhà XB: ACI Materials Journal
Năm: 2009
[11] Oberg, E., F. Jones, and H. Horton. Machinery’s Handbook, 25th ed. Industrial Press, New York, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Machinery’s Handbook
[13] Steffe, J., and C. Daubert. Bioprocessing Pipelines: Rheology and Analysis. Freeman Press, East Lansing, Mich., 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bioprocessing Pipelines: Rheology and Analysis
Tác giả: J. Steffe, C. Daubert
Nhà XB: Freeman Press
Năm: 2006
[15] Won, M. Improvements of Testing Procedures for Concrete Coefficient of Thermal Expansion. In Transportation Research Record:Journal of the Transportation Research Board, No. 1919, Transportation Research Board of the National Academies, Washington, D.C., 2005, pp. 23–28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transportation Research Record:"Journal of the Transportation Research Board, No. 1919
[16] Burnham, T., and A. Koubaa. A New Approach to Estimate the In-Situ Thermal Coefficient and Drying Shrinkage for Jointed Concrete Pavement.Proc., 7th International Conference on Concrete Pavements, Orlando, Fla., Sept. 9–13, 2001, pp. 313–332 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A New Approach to Estimate the In-Situ Thermal Coefficient and Drying Shrinkage for Jointed Concrete Pavement
Tác giả: T. Burnham, A. Koubaa
Nhà XB: Proc., 7th International Conference on Concrete Pavements
Năm: 2001
[17] Sakyi-Bekoe, K. Assessment of the Coefficient of Thermal Expansion of Alabama Concrete. Master’s thesis, Auburn University, Ala., 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment of the Coefficient of Thermal Expansion of Alabama Concrete
Tác giả: Sakyi-Bekoe, K
Nhà XB: Auburn University
Năm: 2008
[2] AASHTO T336-11, Standard Method of Test For Coefficient of Thermal Expansion of Hydraulic Cement Concrete Khác
[3] ASTM E 228-11, Standard Test Method for Linear Thermal Expansion of Solid Materials With a PushRod Dilatometer Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w