1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, khảo sát để tìm ra các hình thức, giải pháp đem lại hiệu quả cao về tuyên truyền công tác DS KHHGĐ trong đồng bào công giáo và tin lành nhằm đạt được tỷ lệ phát triển dân số thích hợp

88 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 497,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, là yếu tố cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn có những định hướng chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình phù hợp, kịp thời với từng giai đoạn phát triển của đất nước, từng bước điều chỉnh theo hướng bao quát, toàn diện, chú trọng nâng cao chất lượng dân số thích ứng với những biến đổi về cơ cấu dân số. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm đến chính sách phát triển dân số; ngày 26121961, Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 216CP Về hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay ở nước ta số người theo đạo Công giáo và Tin lành hơn 8 triệungười, chiếm khoảng 8% dân số cả nước Từ khi Đảng, Nhà nước ta tiến hànhcông cuộc đổi mới đất nước đến nay đã được hơn 30 năm và thành quả thuđược rất to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân, trong đó có tín đồ Công giáo và Tin lành không ngừngđược nâng lên Đồng bào có đạo nói chung, đồng bào Công giáo và Tin lànhnói riêng tin tưởng vào đường lối, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước,tích cực tham gia vào các phong trào phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo

và làm giàu; xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; hoạt động từ thiện xãhội…

Tuy vậy, vẫn còn tỷ lệ không nhỏ đồng bào Công giáo và Tin lành,nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, đời sống vẫn còn khókhăn Nguyên nhân của thực trạng này có nhiều, trong đó có nguyên nhân vềtrình độ dân trí và nhận thức của đồng bào có đạo còn hạn chế; tỷ lệ tăng dân

số tự nhiên cao, số cặp vợ-chồng sinh con thứ ba trở lên trong các gia đìnhCông giáo, Tin lành còn tương đối phổ biến; nhiều người trong độ tuổi laođộng không có hoặc thiếu việc làm, …

Những năm qua, công tác tuyên truyền về dân số -kế hoạch hóa gia

đình (DS-KHHGĐ) trong vùng đồng bào tôn giáo nói chung và đồng bàoCông giáo và Tin lành nói riêng đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, đoànthể nhân dân quan tâm và thu được một số kết quả nhất định, đạt được mụctiêu cơ bản của chiến lược DS-KHHGĐ Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Cácban, ngành, đoàn thể các cấp đã tham mưu cho các cấp ủy đảng, chính quyềnđịa phương ban hành nhiều văn bản chỉ đạo sát sao công tác DS-KHHGĐ.Công tác truyền thông cũng đáp ứng được yêu cầu tuyên truyền, vận động đốitượng thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ; các báo, đài phát thanh, truyền hìnhcủa trung ương và địa phương đã có những chuyên mục, chuyên trang mangnội dung phản ánh tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về DS-KHHGĐ.Tuy nhiên, công tác tuyên truyền về DS-KHHGĐ vẫn còn tồn tại một sốhạn chế như: công tác tuyên truyền, vận động ở vùng sâu, vùng xa còn khókhăn; các địa phương còn tồn tại nhiều phong tục tập quán nặng nề trong thực

Trang 2

hiện công tác DS-KHHGĐ, nhiều tín đồ của Công giáo, Tin lành vẫn còn cóquan niệm cổ hủ “trời sinh voi thì sinh cỏ” nên vẫn đẻ nhiều con, dẫn đếncuộc sống nghèo khó, trẻ em thất học, Trước tình hình đó, việc triển khai

thực hiện Đề tài “Tuyên truyền về dân số - kế hoạch hóa gia đình trong đồng bào Công giáo và Tin lành” nhằm khẳng định vai trò và đánh giá thực

trạng của công tác tuyên truyền, đặc biệt là công tác tuyên truyền về KHHGĐ trong đồng bào Công giáo và Tin lành, trên cơ sở đó đề ra nhữnggiải pháp thực hiện có hiệu quả là việc làm hết sức cần thiết hiện nay

DS-2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thời gian thực hiện đề tài bốn năm, bắt đầu từ 31-12-2014 đến cuốitháng 10 năm 2018; tiến độ cụ thể như sau:

- Năm 2015, Ban Chủ nhiệm đề tài triển khai 14 chuyên đề.

+ Chuyên đề 1: Các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tácdân số-kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) qua các thời kỳ

+ Chuyên đề 2: Khái quát về Công giáo và Tin lành; đặc thù của côngtác tuyên truyền DS-KHHGĐ trong đồng bào Công giáo và Tin lành

+ Chuyên đề 3: Kỹ năng vận động, tuyên truyền DS-KHHGĐ trongđồng bào Công giáo và Tin lành

* Chuyên đề 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14: Công tác tuyên truyềnDS-KHHGĐ trong đồng bào Công giáo và Tin lành tỉnh…… Thực trạng vàgiải pháp Gồm 11 tỉnh: Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, BắcNinh, Hải Dương, Hưng Yên, Gia Lai, Kon Tum, Sơn La, Điện Biên

- Năm 2016, Ban Chủ nhiệm đề tài triển khai 16 chuyên đề.

+ Chuyên đề 1: Tác động của việc sinh đẻ có kế hoạch đối với vấn đềmôi trường sống của đồng bào Công giáo và Tin lành-Đề xuất và giải pháp+ Chuyên đề 2: Vai trò của công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ trongđồng bào Công giáo và Tin lành-Đề xuất, kiến nghị và giải pháp

+ Chuyên đề 3: Đánh giá tác động xã hội đối với hoạt động tuyên truyềnDS-KHHGĐ trong đồng bào Công giáo và Tin lành-Đề xuất và giải pháp+ Chuyên đề 4: Thực trạng DS-KHHGĐ trong đồng bào Công giáo vàTin lành-Đề xuất và giải pháp

+ Chuyên đề 5: Thực trạng công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ trongđồng bào Công giáo và Tin lành-Đề xuất và giải pháp

Trang 3

+ Chuyên đề 6: Thực trạng công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ trongđồng bào Công giáo và Tin lành ở miền Bắc – Kiến nghị và giải pháp

+ Chuyên đề 7: Thực trạng công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ trongđồng bào Công giáo và Tin lành ở Tây Nguyên– Kiến nghị và giải pháp + Chuyên đề 8: Thực trạng công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ trongđồng bào Công giáo và Tin lành ở miền Trung – Kiến nghị và giải pháp + Chuyên đề 9: Thực trạng công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ trongđồng bào Công giáo và Tin lành ở các tỉnh Đông Nam Bộ– Kiến nghị và giảipháp

+ Chuyên đề 10: Thực trạng công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ trongđồng bào Công giáo và Tin lành ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long– Kiếnnghị và giải pháp

+ Chuyên đề 11: Thực trạng công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ trongđồng bào Công giáo và Tin lành qua các cơ quan báo chí (báo in, báo phátthanh-truyền hình, báo mạng…)– Kiến nghị và giải pháp

+ Chuyên đề 12: Quan niệm về hôn nhân, gia đình và sinh đẻ có kếhoạch của đồng bào Công giáo và Tin lành qua giáo lý, giáo luật

+ Chuyên đề 13: Thực trạng công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ trongđồng bào Công giáo và Tin lành qua hệ thống chính trị (qua hệ thống văn bảnchỉ đạo, qua việc phổ biến, truyên truyền, vận động…)– Kiến nghị và giảipháp

+ Chuyên đề 14: Những thuận lợi, khó khăn trong công tác tuyên truyền

về DS-KHHGĐ trong đồng bào Công giáo và Tin lành-Kiến nghị và giải pháp+ Chuyên đề 15: Công tác truyền thông DS-KHHGĐ của các chức sắcCông giáo và Tin lành -Kiến nghị và giải pháp

+ Chuyên đề 16: Xu thế phát triển của Công giáo và Tin lành và nhữngvấn đề đặt ra trong công tác tuyên truyền về DS-KHHGĐ- Kiến nghị và giảipháp

- Năm 2017: Tổ chức 2 lớp tuyên truyền về về DS-KHHGĐ Lớp 1 mở

tại huyện Thông Nhất, tỉnh Đồng Nai Lớp 2 mở tại huyện Hoa Lư, tỉnh NinhBình

- Năm 2018: Tổ chức 2 lớp tuyên truyền về về DS-KHHGĐ Lớp 1 mở

tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Lớp 2 (chưa mở)

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trang 4

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu, khảo sát để tìm ra các hình thức, giải pháp đem lại hiệu quảcao về tuyên truyền công tác DS-KHHGĐ trong đồng bào Công giáo và Tinlành nhằm đạt được tỷ lệ phát triển dân số thích hợp

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, khảo sát toàn diện công tác tuyên truyền về DS-KHHGĐtrong đồng bào Công giáo và Tin lành của các tổ chức thuộc hệ thống chínhtrị và hệ thống báo chí, đánh giá những việc làm được và những việc chưalàm được; chỉ ra những bất cập, tồn tại trong công tác tuyên truyền về DS-KHHGĐ trong đồng bào Công giáo và Tin lành, tìm rõ nguyên nhân bất cậptrên cơ sở đó tìm ra biện pháp giải quyết

- Dựa trên những tài liệu thu thập được và kết quả khảo sát thực tế vềtuyên truyền miệng, tuyên truyền bằng các văn bản của hệ thống chính trị,tuyên truyền qua hệ thống báo chí để xây dựng chính sách cụ thể và có địnhhướng giải pháp phù hợp về công tác truyền thông DS-KHHGĐ trong đồngbào Công giáo, Tin lành

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể trong hệ thống chính trị;

- Các cơ quan, đơn vị làm công tác tuyên giáo;

- Các cơ quan truyền thông (báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử);

- Các chức sắc tôn giáo (linh mục, mục sư) và tín đồ của Công giáo, Tinlành

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu, khảo sát về công tác tuyên truyền DS-KHHGĐ trong đồngbào Công giáo và Tin lành qua hệ thống chính trị và các cơ quan báo chí củacác tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc, miền Trung, Tây Nguyên, ĐôngNam Bộ, Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long)

5 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa trên những văn bản của Đảng, Nhà nước, đoàn thể trong hệ thống

chính trị về công tác truyền thông về dân số-kế hoạch hóa gia đình;

- Trực tiếp làm việc với các cơ quan trong hệ thống chính trị, cơ quanbáo, chí trong hệ thống truyền thông trao đổi về cách thức và biện pháp tuyêntruyền về dân số-kế hoạch hóa gia đình; mở lớp tuyên truyền về DS-KHHGĐ

Trang 5

- Phỏng vấn các chức sắc tôn giáo (linh mục, mục sư); Tìn đồ Công giáo

và Tin lành

- Tổ chức hội thảo với chức sắc linh mục, mục sư và một số cơ quan,đơn vị có liên quan

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Đề tài có 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2: Thực trạng công tác tuyên truyền dân số-kế hoạch hóa gia đình trong đồng bào Công giáo và Tin lành.

Chương 3: Giải pháp về công tác tuyên truyền dân số-kế hoạch hóa gia đình trong đồng bào Công giáo và Tin lành.

Trang 6

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình qua các thời kỳ

Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình luôn được Đảng và Nhà nướcViệt Nam xác định là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh

tế xã hội, là yếu tố cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn có những định hướng chính sáchdân số - kế hoạch hóa gia đình phù hợp, kịp thời với từng giai đoạn phát triểncủa đất nước, từng bước điều chỉnh theo hướng bao quát, toàn diện, chú trọngnâng cao chất lượng dân số thích ứng với những biến đổi về cơ cấu dân số.Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm đếnchính sách phát triển dân số; ngày 26-12-1961, Hội đồng Chính phủ (nay làChính phủ) đã ban hành Quyết định số 216/CP Về hướng dẫn sinh đẻ có kếhoạch và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em

Sau khi miền Nam được giải phóng, non sông nối liền một dải, Đảng tatiếp tục chủ trương đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch,kiên quyết giảm dần tốc độ tăng dân số hằng năm Điều này thể hiện rõ trongcác văn kiện tại Đại hội Đảng lần thứ IV (năm 1976) và văn kiện của các đạihội sau đó Trong Văn kiện Đại hội lần thứ V (năm 1981), đã nói rõ: Giảm tốc

độ tăng dân số bình quân của cả nước từ 2,4% hằng năm xuống 1,7% vàonăm 1985 Đến Đại hội lần thứ VI (năm 1986), văn kiện Đại hội tiếp tục đề ramục tiêu cho công tác dân số: Giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 2,2% hiện nayxuống 1,7% vào năm 1990

Những năm đó, mặc dù Đảng, Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong côngtác DS-KHHGĐ, nhưng đến năm 1992, tốc độ phát triển dân số cả nước vẫnchưa có chuyển biến đáng kể Mức sinh tuy có giảm nhưng chậm, tỷ suất sinhthô năm 1992 vẫn ở mức cao: trên 3% Vì vậy, ngày 14/01/1993, Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa VII đã ra Nghị quyết số 04-NQ/TW Về chínhsách dân số - kế hoạch hóa gia đình Nghị quyết khẳng định vai trò của côngtác DS-KHHGĐ Đồng thời chỉ rõ, sự gia tăng dân số quá nhanh là một trongnhững nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, gâykhó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặttrí tuệ, văn hóa, thể lực của giống nòi Nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra,

Trang 7

trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn,thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt Sau khi đánh giá tình hình dân số đấtnước, Trung ương Đảng đã nêu rõ 5 quan điểm và các mục tiêu đến 2015 nhưsau:

- Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọngcủa chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hộihàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa từng người, từng gia đình và của toàn xã hội

- Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình

là vận động, tuyên truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ kế hoạch hoágia đình đến tận người dân; có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho ngườichấp nhận gia đình ít con, tạo động lực thúc đẩy phong trào quần chúng thựchiện kế hoạch hoá gia đình

- Đầu tư cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là đầu tư mang lạihiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách chocông tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời động viên sự đóng gópcủa cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế

- Huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác dân số và kếhoạch hoá gia đình, đồng thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản

lý theo chương trình mục tiêu, bảo đảm cho các nguồn lực nói trên được sửdụng có hiệu quả và đến tận người dân

- Để đạt được mục tiêu trong thời gian tương đối ngắn, điều có ý nghĩaquyết định là Đảng và chính quyền các cấp phải lãnh đạo và chỉ đạo tổ chứcthực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình theo chương trình

Nhằm thực hiện tốt Nghị quyết 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa VII, ngày 06/3/1995, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 05-CT/TW Về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chính sáchDS-KHHGĐ Tiếp đó, ngày 17/01/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị37-CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hiện chiến lượcdân số - kế hoạch hóa gia đình và ngày 19/5/1997, Thủ tướng Chính phủ cũngquyết định lấy ngày 26/12 hàng năm làm Ngày Dân số Việt Nam nhằm tậptrung toàn xã hội cho công tác này Điều chỉnh sự phát triển dân số cho phùhợp với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trước mắt cũng như lâu dài

Trang 8

Đến năm 2000, sau hơn 5 năm thực hiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấphành Trung ương Đảng khóa VII Về chính sách dân số và kế hoạch hóa giađình, với sự chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự tham giatích cực của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và sự hưởng ứng mạnh mẽ củanhân dân, chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình đã thực sự đi vào cuộcsống và đạt được những kết quả quan trọng: nhận thức của toàn xã hội đã cóbước chuyển biến rõ rệt, quy mô gia đình có một hoặc hai con được chấpnhận ngày càng rộng rãi; nhịp độ gia tăng dân số nhanh đã được khống chế,

số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ trên 3,5 connăm 1992, xuống 2,28 con năm 2002, tỉ lệ tăng dân số giảm tương ứng từ hơn2% còn 1,32% Kết quả của công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình đã gópphần rất quan trọng vào sự phát triển kinh tế- xã hội, tăng thu nhập bình quânđầu người hàng năm, xóa đói, giảm nghèo và nâng cao mức sống của nhândân Với những thành tựu của công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, năm

1999, Việt Nam đã được nhận Giải thưởng Dân số của Liên hợp quốc Tuy nhiên, từ sau năm 2000 đến nay, kết quả thực hiện chính sáchDS-KHHGĐ chững lại và giảm sút Trong hai năm 2003 và 2004, tỉ lệ pháttriển dân số, tỉ lệ sinh con thứ ba trở lên tăng mạnh trở lại Đặc biệt là tìnhtrạng cán bộ, đảng viên sinh con thứ ba trở lên tăng nhiều ở hầu hết các địaphương, gây tác động tiêu cực đến phong trào nhân dân thực hiện kế hoạchhóa gia đình Tình hình này đã làm chậm thời gian đạt mức sinh thay thế(trung bình mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có hai con) Vì vậy, ngày22/3/2005, Bộ Chính trị khóa IX đã ra Nghị quyết số 47-NQ/TW về tiếp tụcđẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Tiếp đó, Chính phủ đã có nhiều văn bản để thực hiện Nghị quyết số NQ/TW của Bộ Chính trị Ngày 01/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã raQuyết định số 09/2006/QĐ-TTg Về việc ban hành chương trình hành độngcủa Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của BộChính trị Ngày 03/10/2006, Chính phủ ra Nghị định số 114/NĐ-CP Quy định

47-xử phạt hành chính về dân số và trẻ em Ngày 06/6/2007, Thủ tướng Chínhphủ đã ra Chỉ thị số 13/2007/CT-TTg Về tăng cường thực hiện Chương trìnhhành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày22/3/2005 của Bộ Chính trị Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân sô– kế hoạch hóa gia đình

Trang 9

Ngày 15/10/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 94-QĐ/TW

Về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm chính sách dân số Ngày 24/3/2008, Ủyban Kiểm tra Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 11/HD-UBKTTW Vềviệc thực hiện Quy định sô 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị Về

xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm chính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình.Ngày 08/11/2007, Thủ tướng Chính phủ cũng ra Quyết định số170/23007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về phê duyệt Chương trìnhmục tiêu quốc gia dân số - kế hoạch hóa gia đình giai đọan 2006 – 2010; sau

đó ngày 04/8/2008, Thủ tướng Chính phủ lại ra Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg

Về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình

Sau ba năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày04/6/2008, Ban Bí thư đã ra Thông báo kết luận 160-TB/TW Về thực hiệnchính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình và một số giải pháp cấp bách; sau

đó, ngày 01/04/2009 Bộ Chính trị tiếp tục ra Kết luận số 44-KL/TW Về kếtquả 03 năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của BộChính trị Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa giađình, trong đó nhấn mạnh: tiếp tục kiên trì thực hiện mục tiêu gia đình ít con,nâng cao chất lượng cuộc sống và cơ cấu dân số

Ở Việt Nam, vấn đề bảo đảm an ninh lương thực cho quốc gia là mộttrong những mục tiêu hàng đầu nhằm xóa bỏ tình trạng nghèo, đói của ngườidân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa Hiện nay an ninh lương thực của Việt Namđang được bảo đảm Tuy nhiên, trong tương lai, Việt Nam cũng đứng trướcnhững thách thức không nhỏ như diện tích đất trồng lúa bình quân đầu ngườivào loại thấp nhất trên thế giới, mặt khác, Việt Nam đang tiến hành côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên diện tích đất trồng lúa có xu hướnggiảm mạnh Theo tổ chức Liên hợp quốc trong những năm tới, Việt Nam làmột trong 30 quốc gia “có nguy cơ cực lớn” do các tác động của biến đổi khíhậu Diện tích đất cả nước có thể bị ngập lụt tới 5,3% tổng diện tích đất canhtác, trong khi dân số vẫn tiếp tục tăng Tổng cầu về lương thực ngày càng lớn,trong khi đó tổng cung bị đe dọa bởi diện tích đất canh tác bị thu hẹp do biếnđổi khí hậu, nước biển dâng, dịch bệnh, Đây là những vấn đề được Đảng,Nhà nước rất chú ý trong quá trình hoạch định chính sách dân số ở Việt Nam Một trong những yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài là cần xây dựng hệthống pháp luật về dân số phù hợp Hiến pháp sửa đổi 2013 Việt Nam đã xác

Trang 10

định phát triển bền vững là mục tiêu chiến lược của quốc gia Để góp phần đạtđược mục tiêu này, Đảng và Nhà nước đặt kế hoạch hóa gia đình là trọng tâmcủa chính sách dân số là hoàn toàn hợp lý Hiện nay và trong tương lai, khimức sinh đã giảm bền vững với mức sinh thay thế, để đạt được nhu cầuchuyển hướng chính sách dân số: từ dân số - kế hoạch hóa gia đình sangchính sách dân số và phát triển mục tiêu phát triển bền vững thì trọng tâm củachính sách dân số cần phải thay đổi để thích ứng với bối cảnh phát triển mới,như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển việc làm có giá trị cao đểtận dụng cơ cấu dân số vàng; phát triển hệ thống giáo dục và y tế phù hợp với

cơ cấu dân số thay đổi mạnh mẽ; dân số già và an sinh xã hội; mất cân bằnggiới tính khi sinh và hệ lụy; di dân và chất lượng cuộc sống, Yếu tố dân sốcần được giải quyết trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển bền vững, vìdân số vừa là động lực tạo ra sự phát triển, vừa là đối tượng thụ hưởng sựphát triển để kiến tạo xã hội phát triển ở trình độ cao hơn Do vậy, chuyển đổitrọng tâm của chính sách dân số, từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và pháttriển là yêu cầu bức thiết hiện nay Cần rà soát, bổ sung, điều chỉnh hệ thốngpháp luật về dân số phù hợp Hiến pháp sửa đổi năm 2013, lồng ghép biến dân

số vào kế hoạch hóa phát triển

Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo, trong đó có chính sách với Cônggiáo, Tin lành có mối quan hệ mật thiết hữu cơ tỷ lệ tăng hoặc giảm cơ học vềdân số Hiện nay nhân dân các dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa theo đạoTin lành và Công giáo ngày càng tăng Nhìn chung tín đồ theo Công giáo, Tinlành có trình độ dân trí, thu nhập thấp mức sống còn gặp nhiều khó khăn, điềuđáng chú ý là tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của tín đồ Công giáo, Tin lành ở cácvùng dân tộc, vùng sâu vùng xa phát triển nhanh Vì vậy, Đảng, Nhà nước đã,đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền và xây dựng chính sách dân số kế hoạchhóa gia đình phù hợp cho đối tượng này Bảo đảm đủ kinh phí cho công tácdân số và kế hoạch hoá gia đình Tăng cường công tác thông tin về dân số,tuyên truyền rộng rãi các chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác dân số

kế hoạch hóa gia đình Thực hiện giáo dục dân số là tín đồ Tin lành, Cônggiáo với nội dung thích hợp, hình thức đa dạng, có sự tham gia của toàn xãhội

Trang 11

Sau nhiều năm nỗ lực phấn đấu của các cấp ủy Đảng, chính quyền,đoàn thể, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đã đạt được những kết quảquan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.Chúng ta đã khống chế thành công tốc độ gia tăng dân số, đạt mức sinh thaythế sớm hơn 10 năm so với mục tiêu đề ra và tiếp tục duy trì cho đến nay Cơcấu dân số có những chuyển dịch tích cực Chất lượng dân số được cải thiện

về nhiều mặt; tuổi thọ trung bình tăng nhanh

Tuy nhiên, mức sinh giữa các vùng còn chênh lệch đáng kể, mất cânbằng giới tính khi sinh tăng nhanh và đã ở mức nghiêm trọng; tầm vóc, thểlực của người Việt Nam chậm được cải thiện; chưa có giải pháp đồng bộ pháthuy lợi thế của thời kỳ dân số vàng và thích ứng với già hóa dân số; chấtlượng dân số còn thấp; phân bố dân số, quản lý di cư còn nhiều bất cập… Trước thực trạng này, ngày 25/10/2017, tại Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương lần thứ sáu khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW Vềcông tác dân số trong tình hình mới Nội dung Nghị quyết, ngoài việc điểm lạinhững thành tựu và hạn chế sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lầnthứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII còn có nhiều điểm mới đáng chú

ý Đó là việc chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đìnhsang dân số và phát triển, giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề dân số vềquy mô, cơ cấu, phân bố chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác độngqua lại với phát triển kinh tế, xã hội Bên cạnh đó, Nghị quyết đặt ra vấn đềduy trì vững chắc mức sinh thay thế vì nó có ý nghĩa quan trọng trong việcnâng cao chất lượng dân số Nước ta đã khống chế thành công tốc độ gia tăngdân số, đạt mức sinh thay thế sớm 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết đề ra

và tiếp tục duy trì cho đến nay, hạn chế tăng thêm hàng chục triệu người Dân

số trong độ tuổi lao động tăng mạnh và nước ta đang ở trong thời kỳ dân sốvàng, một cơ hội hiếm có để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế- xã hội Do đó, việcduy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh

đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người vào năm 2030 đã được Banchấp hành trung ương đề ra như là mục tiêu cụ thể đầu tiên, quan trọng trongcông tác dân số

Một số điểm mới đáng chú ý khác trong Nghị quyết là:

Trang 12

- Đề cao sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp: Đưa

công tác dân số, đặc biệt là nâng cao chất lượng dân số thành một nội dungtrọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp

Đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thựchiện chủ trương, chính sách về công tác dân số, nhất là sinh đủ 2 con, chútrọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn

xã hội…

- Đổi mới về nội dung tuyên truyền: Nghị quyết số 21-NQ/TW nêu rõ

nội dung truyền thông, giáo dục phải chuyển mạnh sang chính sách dân số vàphát triển nhưng vẫn tiếp tục thực hiện cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên

có 2 con, tập trung vận động sinh ít con hơn ở vùng, đối tượng có mức sinhcao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ởnhững nơi có mức sinh thấp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, khơidậy phong trào mọi người dân thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao, cólối sống lành mạnh, chế độ dinh dưỡng hợp lý để nâng cao sức khỏe tầm vóc,thể lực người Việt Nam Nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm các quy địnhcủa pháp luật về cư trú, về cấm tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống Đổi mớitoàn diện nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục dân số, sức khỏe sinhsản trong và ngoài nhà trường Hình thành kiến thức và kỹ năng về dân số,sức khỏe sinh sản đúng đắn, có hệ thống ở thế hệ trẻ

- Đổi mới nội dung tập huấn cho cán bộ dân số: Đẩy mạnh công tác

đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, thực hiện chuẩn hóa đội ngũ cán bộdân số các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu chuyển hướng sang chính sáchdân số và phát triển Đưa nội dung dân số và phát triển vào chương trình đàotạo, tập huấn, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăngcường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ, tạothuận lợi cho người dân…

- Ban hành Chiến lược dân số trong tình hình mới, phát huy tối đa lợi

thế cơ cấu dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nướcnhanh, bền vững và thích ứng với già hóa dân số

- Nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số: Phát triển và nâng cao hiệu

quả hoạt động của mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số toàn diện về quy mô,

cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số Tiếp tục củng cố mạng lưới dịch vụ kế

Trang 13

hoạch hóa gia đình và thực hiện các biện pháp sàng lọc trước sinh, sơ sinh,phát triển mạnh hệ thống chuyên ngành lão khoa trong các cơ sở y tế…

Cùng với việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết lãnhđạo công tác dân số thì Chính phủ cũng ban hành Chương trình hành độngthực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương Trong đó xác định rõmục đích, yêu cầu; nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và vấn đề tổ chức thực hiện.Mặt khác, Quốc hội cũng khẩn trương xây dựng bộ Luật Dân số (hiện nay đãhoàn thành việc dự thảo) nhằm thay thế Pháp lệnh Dân số Sau hơn 15 nămthực hiện Pháp lệnh Dân số (PLDS) và Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 PLDS đãgóp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành ở Trung ương và địaphương về ý nghĩa, vai trò của công tác dân số, về trách nhiệm của các cơquan, tổ chức và cá nhân trong công tác dân số; tạo cơ sở pháp lý thuận lợicho công tác dân số và góp phần đưa công tác dân số ngày càng đi vào nềnnếp Sau 15 năm triển khai thực hiện PLDS, với sự chỉ đạo sâu sát của các cấp

uỷ đảng, chính quyền, sự tham gia tích cực của các đoàn thể nhân dân và củanhân dân, chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình đã thực sự đi vào cuộcsống và đạt được những kết quả quan trọng Từ đó, góp phần xây dựng một

hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, từng bước có tính khả thi, công khai

và minh bạch, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Từ khi có hiệu lực đếnnay, PLDS đã chứng tỏ vị trí, vai trò quan trọng trong việc tạo thể chế để triểnkhai công tác dân số trên phạm vi cả nước

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, PLDS đã bộc lộnhững hạn chế, khó khăn, vướng mắc Đó là, về cơ sở pháp lý, kỹ thuật lậppháp, PLDS và các văn bản hướng dẫn thi hành còn bộc lộ nhiều khiếmkhuyết, hạn chế Pháp lệnh cũng thiếu các quy định cụ thể về quyền, tráchnhiệm và cơ chế thực hiện của các chủ thể trong xã hội đối với việc giải quyếtnhững vấn đề dân số cụ thể Có nhiều luật chuyên ngành được ban hành nênmột số quy định của PLDS trùng lặp, thiếu thống nhất với pháp luật về dân sốhiện hành Về thực tiễn, kết quả thi hành PLDS cho thấy một số vấn đề dân sốmới phát sinh chưa được pháp luật điều chỉnh… Vì vậy, việc cần có bộ LuậtDân số thay thế PLDS Đây là việc làm cần thiết Hiện nay dự thảo Luật đãhoàn thành

Trang 14

Dự thảo Luật Dân số gồm có 7 chương, 35 điều quy định về quy môdân số và kế hoạch hóa gia đình; cơ cấu dân số; phân bố dân số; chất lượngdân số; điều kiện bảo đảm thực hiện công tác dân số và trách nhiệm thi hành.Các nội dung của dự thảo Luật đã cơ bản đáp ứng được các yêu cầu mà Nghịquyết số 21 của Trung ương đề ra, đó là duy trì vững chắc mức sinh thay thế;đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơcấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý, nângcao chất lượng dân số, đặc biệt là các vấn đề sàng lọc trước sinh, sơ sinh;chăm sóc sức khỏe sinh sản; chiều cao; tuổi thọ; các giải pháp cụ thể, thiếtthực của công tác y tế đặc trưng gắn với dân số và phát triển.

Luật Dân số nếu được thông qua sẽ là một cơ hội tốt cho Việt Nam thểhiện để rõ tính thống nhất giữa Hiến pháp và luật pháp, giữa luật pháp quốc tế

và luật pháp Việt Nam Đó là đưa cam kết thực hiện Chương trình Hành độngHội nghị Dân số và Phát triển (ICPD) vào quy định của pháp luật: bảo vệ vàthực hiện đầy đủ quyền của các cặp vợ chồng và các cá nhân trong việc quyếtđịnh sinh sản tự do và có trách nhiệm Đây cũng là bước chuyển hướng chínhsách từ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình sang Dân số - Phát triển bền vững vớichính sách và pháp luật dân số của Việt Nam sẽ được xây dựng dựa trên bằngchứng khoa học và thích ứng với các cơ hội và thách thức của tình hình dân

số mới, cũng như đáp ứng được những mong muốn và khát vọng của ngườidân Việt Nam

1.2 Những tác động của giáo lý, giáo luật, tổ chức giáo hội và các yếu tố tâm lý dân tộc, phong tục, tập quán, văn hóa tộc người đến sự gia tăng dân số

1.2.1 Tác động của giáo lý, giáo luật và tổ chức giáo hội

Công tác DS - KHHGĐ trong vùng đồng bào Công giáo, Tin lành ởnước ta tuy đã có những chuyển biến đáng kể nhưng vẫn đang phải đối mặtvới không ít khó khăn Thực tế ở nước ta thời gian qua cho thấy, ở những nơi

có đông đồng bào Công giáo, Tin lành sinh sống, mức sinh sản thường caohơn so với những vùng dân cư khác Công tác dân số kế hoạch hóa gia đìnhkhi xâm nhập vào các cộng đồng dân cư này thường gặp nhiều trở ngại Sở dĩ

có thực trạng này có nhiều nhân tố, trong đó có những nhân tố quan trọng làtính đặc thù của Công giáo, Tin lành thể hiện trên một số điểm sau:

Trang 15

Một là, giáo lý, giáo luật của Công giáo, Tin lành tác động không nhỏ đến hành vi sinh sản của tín đồ

Đối với Tin lành, giáo lý, giáo luật có chi phối đối với sự gia tăng dân

số, nhưng sự chi phối đó không lớn như Công giáo Công giáo có một hệthống giáo lý, giáo luật đồ sộ, được xây dựng và chỉnh biên qua hàng chục thế

kỷ, chi phối toàn bộ toàn bộ đời sống của tín đồ Khi nói về giáo lý, giáo luậtCông giáo, người ta thường nói đến “Kinh bổn” như một sách dạy vắn tắtnhững điều mà các tín đồ Ki tô phải tin, phải làm Trong lĩnh vực dân số-kếhoạch hóa gia đình, giáo lý, giáo luật Công giáo được thể hiện rõ nhất trongphép bí tích thứ nhất: Bí thích Hôn phối Trong đó trình bày các mục tiêu,nguyên tắc quy định hành vi của các tín đồ Công giáo trong vấn đề hôn nhân,gia đình và tái sinh sản Theo giáo lý, đặc tính chủ yếu của Bí tích này là tínhđơn nhất (một vợ, một chồng); bất khả phân ly và sãn sàng sinh sản con cái đểnối dòng, để thờ kính cha mẹ Người Công giáo quan niệm đông con để bảo

vệ an ninh bộ tộc, để có nhân công, bảo tồn nòi giống Giáo lý Công giáotrong thời kỳ trước Công đồng Vatican II thường gắn việc kết hôn, quan hệtình dục với việc sinh nhiều con

Được coi là bước ngoặt trong xu hướng canh tân và nhập thế của giáohội Roma, Công đồng Vatican II khi nói về hôn nhân và việc sinh sản vẫn tiếptục khẳng định và đề cao phẩm giá hôn nhân và gia đình Tuy không nóithẳng quan điểm khuyến khích đông con, song trong văn kiện của Công đồngvẫn khẳng định “Chúa sáng tạo đã chúc phúc cho đôi bạn đầu tiên của loàingười: các ngươi hãy sinh sôi nảy nở đầy dẫy trên trái đất”; “Con cái là ơnhuệ quý báu nhất của hôn nhân Bổn phận truyền sinh và giáo dục phải đượccoi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng, là trách nhiệm trước Chúa, là điều tếnhị với sự cổ vũ sinh sản không điều kiện

Giáo lý Công giáo dường như vẫn đồng nhất hôn nhân với trách nhiệmsinh những đứa con cho Chúa, giao hợp mà không có con là do ý muốn ích

kỷ, đáng bị trừng phạt Trong Công đồng Vatican II cũng vẫn phổ biến quanđiểm được trình bày trong Tông điệp Casti Connubii của Giáo hoàng Piô XI:

“Việc sinh con và giáo dục con cái là mục đích đệ nhất của việc kết hôn namnữ Vì thế sinh đẻ là việc thánh thiêng, diệu kỳ, không ai được xâm phạmtới” Năm 1981, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh: “Vâng theo chân

lý là chính Chúa kitô đòi quyền chính đôi vợ chồng được tự do bàn tính với

Trang 16

nhau mà quyết định việc điều hòa sinh sản Không quyền bính xã hội nào, kể

cả quốc tế có quyền ép buộc vợ chồng phải theo những biện pháp vô luân đểsinh đẻ có kế hoạch”

Ở nước ta, quan điểm của Giáo hội với vấn đề dân số, quyền sinh đẻ và

sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, một số linh mục đã công khaituyên bố quan điểm “Sinh bao nhiêu con, sinh khi nào, hoàn toàn do vợchồng quyết định Không ai có quyền can thiệp, áp đặt” và “xã hội khôngđược bắt ép phải kế hoạch bằng biện pháp này hay biện pháp kia Nên đẻ mấycon? Khi nào đẻ? Hoãn đẻ hay thôi” Với cách nhìn nhận này, giáo lý Cônggiáo muốn nhấn mạnh việc sinh bao nhiêu con là quyền của các cá nhân, xãhội không được phép can thiệp đến và công khai phản đối một số biện pháp

kế hoạch hóa gia đình mà xã hội phổ biến

Trong chính sách dân số của nước ta, quyền sinh sản của người dân,trong đó có đồng bào Công giáo vẫn được coi trọng Song, các quan điểm trênthể hiện trong giáo lý Công giáo và cách lý giải cụ thể quan điểm đó của một

số chức sắc đã gây khó khăn rất nhiều cho các cấp chính quyền, đoàn thểtrong cuộc vận động thực hiện công tác DS-KHHGĐ

Năm 1968, trong Thông điệp “Đời sống con người”, Giáo hoàng Phaolô

đã nêu ra những nguyên tắc của việc điều hòa sinh sản: “Phải loại bỏ tất cảnhững hành động hoặc dự kiến trước khi giao hợp hay trong lúc giao hợphoặc khi triển khai các hậu quả tự nhiên của nó” Trong các sách về giáo lýhôn nhân được phổ biến tại các vùng Công giáo nước ta, ý tưởng trên đã được

cụ thể hóa Giáo lý, giáo luật cấm bất cứ hành động nào nhằm ngăn chặn sựsinh sản Nghĩa là không được dùng thuốc viên cản thụ thai; đặt vòng trong tửcung; dùng mũ bịt của tử cung; dùng “áo mưa” bao dương vật; không đượcthắt ống dẫn tinh; không được xuất tinh ra ngoài âm đạo Cấm phá thai Aiphá thai vừa phạm tội vừa bị vạ

Quan điểm của Công đồng Vatican II không chấp nhận các biện phápgọi là “nhân tạo” như đã nói ở trên, mà chỉ chấp nhận những biện pháp đượccoi là “tự nhiên”, nghĩa là thông qua một số phương pháp có thể giúp các cặp

vợ chồng biết được những ngày trứng rụng để chủ động điều tiết việc quan hệ

vợ chồng Các phương pháp đó là phương pháp Ogino-Knaus, dựa vào việctính chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ (biện pháp tính lịch) Phương phápBillings, căn cứ vào triệu chứng chất nhờn tiết ra ở âm đạo phụ nữ Phương

Trang 17

pháp đo thân nhiệt, tiến hành đo và theo dõi thân nhiệt của phụ nữ Phươngpháp Tets-Tape (thuốc thử ngoài), dựa vào giấy tờ có thuốc thử đặt vào âmđạo Nói chung, các phương pháp này đòi hỏi sự tiết dục ở các cặp vợ chồng

và đều khó thực hiện, hiệu quả không cao, nhất là với người dân ở nông thônViệt Nam, trình độ học vấn còn thấp

Như vậy, hầu hết các biện pháp tránh thai hiện đại có hiệu quả như đặtdụng cụ tử cung, triệt sản, bao cao su, viên thuốc uống.vv đều nằm trong sựcấm đoán của giáo luật, còn hầu hết những biện pháp có tính truyền thống,khó sử dụng, hiệu quả thấp lại ở trong sự cho phép của Giáo hội Nếu vì một

lý do nào nào đó mà người Công giáo phải sử dụng các biện pháp tránh thaikhông được giáo lý, giáo luật cho phép thì về tâm lý nhiều tín đồ cho rằng, họcảm thấy áy náy, lương tâm không yên Điều đó cho thấy, nhiều người Cônggiáo bị chi phối bởi giáo lý, giáo luật của Công giáo khi sử dụng các biệnpháp tránh thai

Hai là, ảnh hưởng của tổ chức giáo hội cơ sở của Công giáo đối với hành vi sinh sản của giáo dân

Với Công giáo, Giáo hội là tổ chức xã hội-tôn giáo của các tín đồ liênkết với nhau bằng đức tin và cùng chịu các phép bí tích như nhau và vângphục một thủ lĩnh là Giáo hoàng Theo Kinh thánh, Giáo hội là “một cộngđồng hữu hình và có tổ chức mà chúa Ki-tô đã sáng lập để lưu tồn sự hiệndiện của mình trên trần gian và tiếp tục thực hiện hai sứ mạng của mình làgiảng dạy chân lý và ban sự sống Đứng đầu tổ chức Công giáo là Giáohoàng, người kế vị Thánh Phêrô Điều khiển công việc của Tòa thánh là ởcác địa phận là giám mục Cơ sở thấp nhất của Giáo hội là các xứ đạo, họ đạo

do linh mục chăn dắt Linh mục có nhiệm vụ chăm sóc giáo dân thuộc giáo xứcủa mình, không tham gia việc đời, thực hiện các phép bí tích và giáo huấncho các tín đồ Giúp việc cho các linh mục là Hội đồng giáo xứ địa phương,đứng đầu là các trùm xứ hoặc trùm họ Trong điều kiện thiếu linh mục thì ởcác xứ đạo không có linh mục, hội đồng giáo xứ và ông trùm đạo có một vaitrò đặc biệt quan trọng

Linh mục là chức sắc đại diện cho tổ chức giáo hội cơ sở của Công giáo,thực hiện chức năng quản lý giáo dân về đời sống tâm linh Vì vậy, vai trò của

tổ chức giáo hội cơ sở của Công giáo trong việc duy trì các chuẩn mực cộng

Trang 18

đồng, trong việc kiểm soát hành vi của giáo dân được thể hiện qua vai trò củacác chức sắc này.

Thực tế các chức sắc Công giáo, đặc biệt là linh mục-những người đượccoi là thay mặt Chúa chăn dắt giáo dân có vị thế, vai trò rất lớn trong đời sốngcủa cộng đồng giáo dân, nhất là ở những nơi sùng kính đạo cao thì mỗi lờinói, hành động của linh mục thường được coi như những điều luật, khuônmẫu hành vi của giáo dân Lời nói của linh mục với giáo dân rất có giá trị Vìvậy, quan điểm của chức sắc Công giáo về vấn đề dân số, đặc biệt là về vấn

đề sử dụng các biện pháp tránh thai không thể không ảnh hưởng đến hành vicủa giáo dân

Nhìn chung bề ngoài các chức sắc Công giáo tỏ thái độ ủng hộ các chủtrương, chính sách dân số của Nhà nước Tuy nhiên, thực chất vẫn có không ít

vị linh mục vẫn ủng hộ tỷ lệ sinh cao, vì cho rằng: có nhiều con cháu cũng cólợi, khi về già thì gia đình vui vẻ, Giáo hội thêm tín đồ Điều đó cho thấy rằngkhông ít chức sắc Công giáo vẫn có tư tưởng muốn tăng thêm nhanh số lượnggiáo dân thông qua việc tăng dân số trong cộng đồng Công giáo và coi đónhư một cách truyền giáo

Khi nghiên cứu quan điểm của các chức sắc Công giáo về thái độ của họvới các biện pháp tránh thai được phổ biến, cũng như hành động thực tế của

họ trong cộng đồng thấy rằng, có những quan điểm khác nhau:

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, ngoài biện pháp “tự nhiên”, giáo

dân có thể được sử dụng một số biện pháp “nhân tạo” như vòng tránh thai,bao cao su

Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, tỏ thái độ phản đối mạnh mẽ việc

phổ biến và thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại trong Cộng đồng giáodân với lý do: các biện pháp đó không phù hợp với luật của Giáo hội

Chức sắc Công giáo ở không ít nơi thường có những phản ứng tuykhông công khai, nhưng gây sức ép khá căng thẳng với chính quyền, nhất làvào thời điểm địa phương tổ chức các đợt tuyên truyền, vận động thực hiện kếhoạch hóa gia đình Có thể nói người phụ nữ Công giáo ở không ít nơi khi lựachọn sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình đã phải chịu đồng thời hai

áp lực trái ngược nhau giữa đạo và đời; một mặt từ sự kiểm soát chặt chẽ củaGiáo hội, mặt khác chịu sức ép tâm lý từ các cuộc vận động của chính quyền,Mặt trận, các đoàn thể nhân dân ở cơ sở

Trang 19

Như vậy, giáo hội cơ sở Công giáo với nhiều cách thức khác nhau đã tácđộng khá mạnh đến giáo dân, đến chính chính quyền và các đoàn thể chính trị

xã hội địa phương và vì thế các hoạt hoạt động tuyên truyền, vận động vềchính sách DS - KHHGĐ trong giáo dân gặp không ít khó khăn

Tuy vậy, ở không ít nơi chính quyền và các đoàn thể nhân dân do kiêntrì vận động, thuyết phục, tuyên truyền nên dần dần đã làm chuyển biến nhậnthức của tín đồ và chức sắc tôn giáo Thực tế cho thấy, các chức sắc Cônggiáo ở không ít nơi trên cả nước cũng tích cực tham gia vào kênh truyềnthông về dân số và kế hoạch hóa gia đình do chính quyền và các cơ quan đoànthể nhân dân tiến hành Họ nói với giáo dân ở nhiều nơi, nhưng nhiều nhất làtrong các buổi giảng đạo ở nhà thờ và trong các buổi lễ xưng tội Điều này đã

có tác động tích cực, làm tăng hiệu quả của công tác truyền thông, vì nhà thờ

là nơi linh thiêng, lời của linh mục được người dân coi như lời của Chúa,giáo dân chỉ biết vâng phục

Qua xưng tội của giáo dân, linh mục biết khá rõ tình hình tránh thai củagiáo dân (kể cả biện pháp tự nhiên hoặc nhân tạo) Như vậy vai trò kiểm soátcủa tổ chức giáo hội cơ sở Công giáo đối với việc sử dụng các biện pháp tránhthai của giáo dân được thể hiện khá rõ Điều này, tất yếu ảnh hưởng đến hành

vi lựa chọn của giáo dân khi quyết định sử dụng biện pháp tránh thai nào đó.Như vậy, ở các giáo hội Công giáo cơ sở, giáo lý, giáo luật và tổ chứcCông giáo đã có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhận thức của giáo dântrong thực hiện kế hoạch sinh đẻ, trong việc lựa chọn, chấp nhận sử dụng cácbiện pháp tránh thai và hàng loạt các yếu tố khác của hành vi sinh sản, qua đótác động vào mức sinh của cộng đồng Đây là nguyên nhân lý giải tại sao tốc

độ mức sinh của cộng đồng giáo dân thường cao hơn tốc độ của nhưng nơikhông có đồng bào Công giáo hoặc tỷ lệ đồng bào Công giáo ít hơn

1.2.2 Tác động của yếu tố tâm lý dân tộc, phong tục, tập quán, văn hóa tộc người

Nếu như việc gia tăng dân số trong tín đồ Công giáo chịu tác động lớnbởi giáo lý, giáo luật, thì trong tín đồ Tin lành lại chịu ảnh hưởng nhiều bởiyếu tố tâm lý dân tộc, phong tục, tập quán, văn hóa tộc người Trong số ngườitheo đạo Tin lành hiện nay chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Theo số liệuthống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2011, cả nước có khoảng 500.000người dân tộc thiểu số là tín đồ đạo Tin lành, chiếm khoảng 70% trong tổng

Trang 20

số trên 700.000 người theo đạo Tin lành trên cả nước Trong đó có các dântộc Mông, Dao, Cơ ho, Chăm, Hrê, Bru, Chơ-ro, Ê-đê, Gia-rai, Mnông, Pa-cô,Kơ-tu, Ba-na và sinh sống chủ yếu ở các khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên,Tây Nam Bộ của nước ta Nhìn chung, đồng bào các dân tộc thiểu số theo đạoTin lành, Công giáo đời sống vật chất, tinh thần còn rất nhiều khó khăn, trình

độ dân trí thấp, phong tục, tập quán ở không ít vùng lạc hậu, mỗi gia đìnhthường sinh nhiều con, hơn thế nữa khi giáo lý, giáo luật Công giáo, Tin lànhthâm nhập vào những vùng như vậy sẽ là yếu tố cộng hưởng gây khó khăncho các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể trong công tác tuyên truyền, vậnđộng tín đồ thực hiện công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình

Để minh chứng cho những nhận định trên, xin được lấy dân tộc Mônglàm ví dụ Tín đồ người Mông theo đạo Tin lành có khoảng 200.000 người(chiếm gần 30% số người theo Tin lành cả nước ở thời điểm 2011) Trongquan niệm của người Mông mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ Đa sốngười Mông đều cho rằng, trong một gia đình nhất thiết phải sinh con trai.Người phụ nữ không sinh đẻ được bị coi là mắc tội với tổ tiên nhà chồng Nếusinh con toàn gái thì người phụ nữ coi như chưa làm tròn bổn phận của mìnhđối với gia đình nhà chồng Trong trường hợp người vợ không sinh được contrai, người chồng có thể lấy vợ khác để có người “nối dõi tông đường” Vìvậy, phụ nữ người Mông thường tìm mọi cách để sinh bằng được con trai Do

đó, mặc dù các cấp ủy đảng, chính quyền đoàn thể ở nhiều địa phương tíchcực tuyên truyền, vận động tín đồ Tin lành người Mông về chính sách dân số

kế hoạch hóa gia đình, song kết quả đạt được không nhiều Số con trong giađình người Mông vẫn cao hơn hẳn so với gia đình của các tộc người khác

Người Mông cũng ít dùng các biện pháp tránh thai như đặt vòng haydùng bao cao su Khi mang thai, kể cả ngoài ý muốn, thì họ cũng ít khi đi nạophá thai Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chính sách dânsố-kế hoạch hóa gia đình của nhà nước thu được hiệu quả rất thấp Nếu chỉvận động phụ nữ không thôi là chưa đủ, bởi đặc điểm văn hóa của ngườiMông theo chế độ phụ quyền Tiếng nói của người phụ nữ không mấy quantrọng Vì vậy, trong công tác truyền thông dân số cần phải chú ý đến yếu tốnày Khi thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình ở vùng dântộc nói chung và người Mông nói riêng, phải rất chú trọng đến yếu tố tâm lý

Trang 21

dân tộc, phong tục, tập quán, văn hóa tộc người Đây là nút thắt của mọi vấn

đề Đối tượng đang thực hiện chương trình dân số-kế hoạch hóa gia đình hiệnnay chủ yếu là phụ nữ Trong khi đó vị thế của phụ nữ Mông lại thấp tronggia đình và dòng họ Mọi quyết định đều từ phía đàn ông Vì vậy ngoài tuyêntruyền trong giới nữ cần phải chú ý vận động nam giới và những các nhữngngười cao niên có vị thế trong gia đình, để chính họ khuyên bảo con cháuthực hiện tốt chính sách dân số-kế hoạch hóa gia đình

Tiểu kết chương 1

Tóm lại, với Công giáo, giáo lý, giáo luật và sự vâng phục của tín đồ

có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai Giáo lý Cônggiáo cho rằng, tránh thai là đi ngược lại luật luân lý tự nhiên đối với sự hưởngdùng tình dục Nó gây hỗn loạn nghiêm trọng đạo đức và khách quan dẫn đếncấu thành một trọng tội Bởi thế, hành vi này bị kiên quyết lên án bởi GiáoHội Tránh thai là hành vi phi đạo đức cho mọi người nam và nữ vì sốngngược với luật tự nhiên , Đối với đồng bào dân tộc thiểu số theo Tin lànhcủa tín đồ thì các tín đồ là người dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành, yếu tốtâm lý dân tộc, phong tục, tập quán, văn hóa tộc người chi phối đáng kể đếnvấn đề gia tăng dân số, nhất là trong đồng bào Mông Việc đánh giá khôngđúng mức những tác nhân này là một trong những căn nguyên chính khiếncông tác dân số-kế hoạch hóa gia đình ở vùng này trong nhiều thập niên quakém hiệu quả Vì vậy,, các cấp, các ngành của hệ thống chính trị cần hiểu vànắm chắc những đặc thù này để làm tốt công tác tuyên truyền trong công tácdân số-kế hoạch hóa gia đình Trong quá trình thực hiện chính sách dân số-kếhoạch hóa gia đình trong đồng bào Công giáo và Tin lành trên cả nước, cáccấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể cần hiểu rõ các văn bản chỉ đạo của Đảng,Nhà nước về công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình; tính đặc thù của từng tôngiáo, cụ thể là giáo lý, giáo luật, tâm lý dân tộc, phong tục, tập quán, văn hóa

tộc người đồng thời xác định rõ, công tác DS-KHHGĐ là một hoạt động

mang tính xã hội hóa rất cao, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trịnhằm tạo sự đồng thuận, ủng hộ của các chức sắc, chức việc, tín đồ, đặc biệt

là những người có uy tín trong cộng đồng để từ đó phát huy được sức mạnhtổng hợp góp phần hoàn thành các mục tiêu về dân số - KHHGĐ

Trang 22

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TRONG ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

2.1 Sơ lược về Công giáo và Tin lành ở Việt Nam

2.1.1 Công giáo

Công giáo truyền vào Việt Nam từ năm 1533, trải qua gần 500 năm tồntại và phát triển, đến nay đã trở thành một trong số các tôn giáo lớn ở ViệtNam, với 26 giáo phận thuộc 3 giáo tỉnh là: giáo tỉnh Hà Nội gồm: Tổng Giáophận Hà Nội và các giáo phận: Lạng Sơn, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Hóa,Bùi Chu, Thái Bình, Phát Diệm, Thanh Hóa và Vinh; giáo tỉnh Huế gồmTổng Giáo phận Huế và các giáo phận: Đà Nẵng, Quy Nhơn, Kon Tum, NhaTrang và Ban Mê Thuột; giáo tỉnh TP Hồ Chí Minh gồm: Tổng Giáo phận

TP Hồ Chí Minh và các giáo phận: Vĩnh Long, Cần Thơ, Mỹ Tho, Đà Lạt,Long Xuyên, Phú Cường, Xuân Lộc, Phan Thiết và Bà Rịa Công giáo ViệtNam hiện có hơn 3.000 giáo xứ; 47 giám mục, hơn 5.000 linh mục; gần 150dòng tu, tu hội, tu đoàn với hơn 23.000 nam nữ tu sĩ, trên 7 triệu tín đồ

Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) được thành lập năm 1980,trụ sở Tòa Giám mục Hà Nội, số 40 Hà Nội Theo quy chế HĐGMVN 3 năm

tổ chức đại hội 1 lần và hằng năm tổ chức hội nghị thường niên (từ năm 2008,hội nghị thường niên được tổ chức 1 năm 2 lần) Đại hội lần thứ nhất vào năm

1980 ra Thư Chung với đường hướng: “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc đểphục vụ hạnh phúc của đồng bào” Đại hội lần thứ 13 Hội đồng Giám mụcViệt Nam diễn ra từ ngày 03 đến ngày 07-10-2016, tại Trung tâm Mục vụTổng Giáo phận TP Hồ Chí Minh Về cơ sở đào tạo, hiện nay, Giáo hội Cônggiáo Việt Nam có 09 cơ sở đào tạo tôn giáo gồm: 01 học viện, 08 đại chủngviện

2.1.2 Đạo Tin lành

Đạo Tin lành ra đời ở châu Âu thế kỷ XVI trong phong trào cải cáchKi-tô giáo Đạo Tin lành do Hội Truyền giáo phúc âm Liên hiệp Hoa Kỳtruyền vào Việt Nam và đặt cơ sở đầu tiên tại thành phố Đà Nẵng vào năm

1911 Đến năm 1975, đạo Tin lành ở Việt Nam có khoảng 200.000 tín đồ, hơn

500 chức sắc, 20 tổ chức, hệ phái, hoạt động chủ yếu ở các tỉnh phía Nam

Trang 23

Sau năm 1975, nhiều tổ chức Tin lành tự tan rã và phục hồi trở lại vào nhưngnăm 1980 Đến cuối năm 2004, cả nước có trên 670.000 tín đồ và hiện nay cótrên 1 triệu tín đồ, có mặt ở 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vớikhoảng 80 tổ chức, hệ phái và nhóm khác nhau, trong đó có 9 tổ chức đã đượcnhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo.

Đạo Tin lành lấy Kinh thánh (Tân ước và Cựu ước) làm nền tảng đứctin nhưng ít hơn so với Công giáo 7 quyển Đạo Tin lành theo thuyết “ThiênChúa ba ngôi”, tin vào thuyết sáng thế (vũ trụ, muôn vật đều do Thiên Chúatạo dựng và điều khiển), tin con người do Thiên Chúa tạo dựng theo cáchriêng gồm linh hồn và thể xác; tin con người bị sa ngã và tội lỗi nhưng đượccứu rỗi nhờ đức tin và ân sủng; tin có ngôi hai Thiên Chúa là Giê-su xuốngthế làm người, chịu chết để chuộc tội cho loài người; tin có thiên thần và maquỷ; tin có Thiên đường và địa ngục; tin có ngày tận thế, phục sinh và phánxét cuối cùng… So với Công giáo, đạo Tin lành không có giáo hội chung toàncầu mà hình thành nhiều tổ chức giáo hội khác nhau; chức sắc không có Thầnquyền; không thờ hình tượng; nhà thờ Tin lành được xây dựng và trang trí vớikiến trúc đơn giản và không thống nhất

2.2 Thực trạng công tác tuyên truyền dân số-kế hoạch hóa gia đình trong đồng bào Công giáo, Tin lành ở nước ta

2.2.1 Những thành tựu đạt được trong công tác dân số kế hoạch hóa gia đình

Xác định công tác DS- KHHGĐ là một trong những nhiệm vụ quantrọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, những năm qua, các cấp ủyđảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từ Trung ươngđến các địa phương trong cả nước thường xuyên quan tâm đến công tác DS-KHHGĐ trong nhân dân nói chung, đồng bào Công giáo và Tin lành nóiriêng Sự quan tâm đó được thể hiện rõ ở chỗ, sau khi Ban Chấp hành Trungương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế…

ra các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo về thực hiện kế hoạch hóa ra đình, các tỉnh,thành, huyện thị đã nhanh chóng tuyên truyền, triển khai các văn bản nàyxuống cơ sở

Trang 24

Qua nghiên cứu, khảo sát công tác tuyên truyền về dân số-kế hoạch hóagia đình ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước thấy rằng, mỗi nơi có cách làm sángtạo, tương đối phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương mình

2.2.1.1 Những thành tựu đạt được trong công tác dân số kế hoạch hóa gia đình ở vùng Công giáo, Tin lành đồng bằng Bắc Bộ

Ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định,Hưng Yên, Thái Bình… Đặc điểm của địa bàn này kinh tế-xã hội của các hộdân tương đối phát triển, trình độ dân trí của cán bộ và người dân khá cao sovới mặt bằng chung trong cả nước, trong đó có tín đồ Công giáo và Tin lành,

vì vậy, công tác tuyên truyền về dân số-kế hoạch hóa gia đình cũng có nhữngthuận lợi nhất định Có một điểm khá giống nhau ở các tỉnh đồng bằng Bắc

Bộ là, sau khi có các văn bản của Đảng, Nhà nước về dân số-kế hoạch hóa giađình thì Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đều tổ chức triển khai kịp thời, đồngthời ra các văn bản để chỉ đạo thực hiện các văn bản của Trung ương Thí dụ:ngày 22/3/2005, Bộ Chính trị khóa IX đã ra Nghị quyết số 47-NQ/TW Về tiếptục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - Kế hoạch hóa gia đình thì ngaysau đó các Tỉnh ủy đã xây dựng Chương trình hành động của Tỉnh ủy để thựchiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị; nhiều Tỉnh ủy, UBND tỉnhcũng ra nghị quyết chuyên đề hoặc phê duyệt về Chiến lược dân số - kế hoạchhóa gia đình giai đoạn 2001- 2010…

Phải nói rằng, các cấp ủy đảng, chính quyền ở các tỉnh nêu trên đã luônbám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chínhphủ để ra Nghị quyết và các văn bản của Tỉnh ủy, HĐND, UBND xây dựngchiến lược về dân số kế hoạch hóa gia đình cho giai đoạn 5 năm, 10 năm, xâydựng quy định về thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình Thựchiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh các cơ quan chức năng củatỉnh cũng tích cực thực hiện nhiệm vụ được giao Các Chi Cục dân số kếhoạch hóa gia đình của các tỉnh đã phối, kết hợp với tổ chức Mặt trận Tổ quốctỉnh, Ban Dân vận Tỉnh ủy, các tổ chức đoàn thể như Hội liên hiệp Phụ nữ;Hội Nông dân; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh trong việc tổchức các Hội nghị tuyên truyền công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đối vớicác đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ Nhiều văn bản có liên quan đến vấn đềnày được quán triệt rộng rãi trong các cuộc họp, nhất là cuộc họp của Hội liên

Trang 25

hiệp phụ nữ và Đoàn thanh niên Mỗi tỉnh có cách làm sáng tạo phù hợp vớitình hình thực tế của địa phương mình, cụ thể như sau:

Ở tỉnh Hải Dương hàng năm, các cấp các cấp ủy đảng, chính quyền củatỉnh đều ra các văn bản hướng dẫn hoạt động công tác dân tuyên truyền, vậnđộng tín đồ, các vị chức sắc tôn giáo thực hiện tốt chính sách DS- KHHGĐcho hệ thống chính trị các cấp để có sự phối hợp thực hiện công tác DS-KHHGĐ, gắn việc tổ chức truyền thông DS- KHHGĐ với cuộc vận động

"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" Mặt trận Tổ quốc

tỉnh còn phối hợp với các cơ quan chức năng tích cực tuyên truyền về chínhsách DS- KHHGĐ bằng nhiều hình thức như tuyên truyền miệng, qua hệthống loa truyền thanh, tài liệu, sách báo kết hợp với việc thuyết giảng giáo lýkinh sách của các vị chức sắc gắn với công tác xã hội Từ năm 2002 đến nayMTTQ tỉnh đã phối hợp với Uỷ ban Dân số kế hoạch hoá gia đình về truyềnthông dân số cho các cơ sở khu dân cư xã Minh Hoà, huyện Kinh Môn; xãThống Kênh, huyện Gia Lộc; xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tổ chức tuyêntruyền lồng ghép Hội nghị tập huấn công tác Mặt trận cho các Trưởng bancông tác Mặt trận tại trường chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị cáchuyện, thành phố, bồi dưỡng cho chủ nhiệm các câu lạc bộ người cao tuổi ởhuyện Kinh Môn, huyện Chí Linh, đặc biệt là các cơ sở tôn giáo như: tổ chứctruyền thông dân số trong Ban chấp sự chi Hội thánh Tin Lành, họ giáo MứcCầu, xã Thái Tân, xứ Mạn Nhuế huyện Nam Sách; họ giáo An Thuỷ, xã HiếnThành, huyện Kinh Môn; xứ đạo Tráng Liệt, huyện Bình Giang; xứ Phú Tảo,

xã Thạch Khôi, huyện Gia Lộc MTTQ các xã đã vận động các vị chức sắc tôngiáo tích cực tham gia và đóng góp tích cực vào các phong trào, các cuộc vậnđộng do MTTQ phát động, các cơ sở thờ tự, các xứ, họ đạo đều đăng ký 6 nộidung của cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khudân cư" Hàng năm MTTQ tổ chức ngày Hội Đại đoàn kết toàn dân ở khu dân

cư gắn với việc tặng quà, biểu dương các điển hình tiên tiến về công tác dân số

ở các vùng có đông đồng bào theo đạo, tiêu biểu như họ đạo Lương Gián, xãQuốc Tuấn huyện Nam Sách, họ đạo Đỗ Thượng xã Phạm Kha, họ đạo Từ Xá

xã Đoàn Kết huyện Thanh Miện Các cộng tác viên về dân số các cấp cònthường xuyên tổ chức họp Hàng tháng, tổ chức giao ban đánh giá kết quảhoạt động chuyên môn: thu nhập thông tin biến động về kết hôn, tình hình sửdụng biện pháp tránh thai… Qua đó, xác định hiệu quả hoạt động công tác

Trang 26

dân số địa phương nhằm xây dựng kế hoạch, cùng các ban ngành đoàn thểđịa phương duy trì ổn định các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản vùngkhó, xây dựng mô hình “Không sinh con thứ 3”, các câu lạc bộ nam nôngdân với KHHGĐ, triển khai đề án kiểm soát dân số vùng Công giáo, Tinlành , góp phần quan trọng làm thay đổi hành vi về DS/KHHGĐ Từ năm

2011 đến nay, tỷ suất sinh và sinh con thứ 3 ở xã Hải Dương giảm dần Đây

là động lực lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương

Ở tỉnh Nam Định, có nhiều cách làm sáng tạo Ban Chỉ đạo Dân số,AIDS và các vấn đề xã hội thường xuyên tổ chức chương trình biểu diễn nghệthuật với các hình thức như diễn kịch ngắn, ca, múa, nhạc, tấu, hài để tuyêntruyền DS- KHHGĐ tại các điểm công cộng nhằm tuyên truyền đường lối,chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với công tác DS- KHHGĐ, làm chuyểnbiến sâu sắc về nhận thức, tâm lý, tập quán sinh đẻ trong toàn dân, đặc biệt làđồng bào Công giáo, Tin lành Ban Chỉ đạo cũng giới thiệu các biện phápthực hiện kế hoạch hóa gia đình có hiệu quả và hướng đến làm thay đổi vềnhận thức, những tập tục lạc hậu về sinh đẻ của người dân đặc biệt là đồngbào có đạo Thông qua các tác phẩm giúp người dân thấy được những hậu quảcủa việc không thực hiện tốt các chính sách về DS- KHHGĐ sẽ dẫn đến đóinghèo và các tệ nạn xã hội Một trong những “kênh” truyền thông về DS-KHHGĐ phát huy hiệu quả cao là hoạt động “đi từng ngõ, gõ từng nhà, ràtừng đối tượng” của lực lượng CTV dân số ở khắp các thôn, khu phố Bằng sựnhiệt tình, các CTV đã làm tốt khâu tuyên truyền, chuyển đổi hành vi về dânsố-KHHGĐ và cả tư vấn, chăm sóc sức khỏe vị thành niên, thanh niên Trên

cơ sở cung cấp thông tin với nội dung, cách làm phù hợp với đặc điểm, tìnhhình từng vùng, từng đối tượng, nhiều mô hình truyền thông, nhóm lồng ghépmang tính cộng đồng ra đời Cùng với mạng lưới dân số các cấp thì các Hội,đoàn thể trong tỉnh cũng đã vào cuộc một cách mạnh mẽ Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh đã ký kết với Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên phốihợp thực hiện công tác dân số bằng cách tuyên truyền, vận động hội viêntham gia các câu lạc bộ truyền thông như Câu lạc bộ “Phụ nữ không sinh conthứ 3”, “Vận động nam giới tham gia thực hiện KHHGĐ”, Câu lạc bộ “Tiềnhôn nhân” và mô hình tư vấn sức khỏe vị thành niên-thanh niên… Qua đó,hội viên gương mẫu thực hiện và tham gia tuyên truyền, vận động lại ngườithân và cộng đồng Nhờ đẩy mạnh truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi

Trang 27

dưới nhiều hình thức nên nhận thức của xã hội về dân số-KHHGĐ ngày càngđược nâng lên

Một điểm đáng ghi nhận ở Nam Định là, người dân của huyện GiaoThủy tỉnh Nam Định là vùng ven biển, trong đó có không ít giáo dân Cônggiáo sinh hoạt, định cư không cố định, nên người dân không được cung cấpđầy đủ, kịp thời kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa giađình, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên cao Trước thực trạng đó, chính quyền, đoànthể ở huyện Giao Thủy (Nam Định) có cách làm sáng tạo, phối hợp với ĐồnBiên phòng Ba Lạt (nằm trên địa phận các xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc)tuyên truyền, vận động người dân về các biện pháp tránh thai… Chi cục Dân

số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nam Định cũng phối hợp cùng với Bộ Chỉhuy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đìnhhuyện Giao Thủy và Đồn biên phòng Ba Lạt và các đơn vị liên quan triểnkhai và tổ chức Chương trình “Cung cấp thông tin, tuyên truyền về dân số -

kế hoạch hóa gia đình cho người dân khu vực Đồn Biên phòng Ba Lạt, vùngcồn Lu, cồn Ngạn (huyện Giao Thủy)” Trong đó, tập trung chủ yếu vào cácđối tượng trong độ tuổi sinh sản

UBMTTQ tỉnh Nam Định còn phát huy vai trò của các chức sắc, chứcviệc, tín đồ các tôn giáo trên địa bàn tỉnh để cùng trao đổi kinh nghiệm vềthực hiện mô hình về DS- KHHGĐ Là tỉnh trọng điểm về Công giáo, do đótỉnh luôn quan tâm xây dựng, nhân rộng mô hình tuyên truyền về DS-KHHGĐ vùng có đông đồng bào Công giáo, Tin lành Trong mỗi giáo xứ,ngoài linh mục còn có các chức việc đều tham gia vào công tác truyền thôngdân số Tại một số buổi lễ ngày chủ nhật, các linh mục đã đọc Thư chung củaChủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam gửi các thánh thần dân chúa ỏ ViệtNam Trong thư có đoạn: trong tình hình dân số hiện nay của thế giới nóichung và của nước ta nói riêng, đối chiếu với tình hình phát triển kinh tế,không thể làm theo phương châm của người xưa “Trời sinh voi, trời sinh cỏ”.Phương châm ấy có giá trị trong thời kỳ nông nghiệp “đất rộng, người thưa”,ngày nay loài người đã đông mặt đất, cần phải tính đến việc nuôi sống conngười Đàng khác mệnh lệnh sinh sản cho đầy mặt đất gắn liền với mệnh lệnhlàm chủ mặt đất Muốn thế thì đứa con sinh ra phải được nuôi nấng giáo dụccho nên người Điều này đưa chúng ta vào những vấn đề cấp bách và nghiêm

Trang 28

trọng hiện nay là vấn đề sinh sản có trách nhiệm và vấn đề giáo dục con cái.

"Các nam nữ thanh niên sắp kết hôn phải theo các lớp giáo lý hôn nhân Tại đây, linh mục hướng dẫn họ học bí tích hôn nhân, đồng thời nhắc nhở giáo dân sinh đẻ có kế hoạch và sinh sản phải có trách nhiệm" Tại lớp giáo lý, yêu cầu giáo dân dùng biện pháp tránh thai không ảnh hưởng đến sức khoẻ Đối với các biện pháp tránh thai hiện đại, không khuyến khích, nhưng nếu cần giáo dân vẫn có thể được sử dụng, nhưng không được để ảnh hưởng đến sức khoẻ, yêu cầu giáo dân đảm bảo cho con cái được học hành do đó không nên

đẻ nhiều Nên đẻ thưa để có thời gian hoạt động, kể cả hoạt động tôn giáo".

Các chức sắc tôn giáo cùng với chính quyền, các ban ngành và Mặt trận Tổquốc địa phương đã tích cực tham gia vào các chiến dịch truyền thông dân số.Khi phát động chiến dịch truyền thông dân số lồng ghép với dịch vụKHHGĐ, cán bộ làm công tác dân số và tuyên truyền viên đã mời chánhtrương, trùm trưởng quán triệt tinh thần của công tác DS-KHHGĐ Họ trở vềphổ biến trong cộng đồng giáo dân Ở những xóm đông giáo dân, thì sử dụngđội ngũ tuyên truyền viên là giáo dân

Chia sẻ kinh nghiệm Linh mục Nguyễn Đức Giang, Linh mục chínhgiáo phận Bùi Chu (Xuân Trường) cho biết, giáo phận hiện có gần 200 linhmục với trên 41 vạn giáo dân Riêng xứ Bùi Chu (xã Xuân Ngọc-XuânTrường, nơi có Tòa Giám mục) có 5 giáo họ Hưởng ứng tuyên truyền về dân

số - kế hoạch hóa gia đình , thời gian qua, cộng đoàn giáo phận Bùi Chu đãphối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền, đoàn thể ở địa phương tích cựctuyên truyền, vận động các chức sắc, giáo dân tích cực tham gia công táctuyên truyền về dân số - kế hoạch hóa gia đình và giáo dân tham gia kế hoạchhóa gia đình Vì vậy, nhận thức của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻtrên địa bàn tỉnh Nam Định đã chuyển biến ngày càng tích cực, theo hướngkết hôn muộn, đẻ ít, đẻ thưa hơn

Tại tỉnh Bắc Ninh, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã được triểnkhai rộng rãi không chỉ ở cấp tỉnh mà còn xuống cấp cơ sở và mỗi nơi đều cócách làm sáng tạo phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của địa phương mình

Vì vậy đã đem lại hiệu quả khá tốt Ví dụ, tổ chức Mặt trận phối hợp thốngnhất trong hoạt động với các tổ chức thành viên và tranh thủ sự ủng hộ của

Trang 29

các chức sắc tôn giáo, người cao tuổi có uy tín trong dòng họ, cộng đồng đểtuyên truyền, vận động tín đồ đang trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện tốt LuậtHôn nhân gia đình; xây dựng cam kết hưởng ứng phong trào khu dân cư, họgiáo không có người sinh con thứ 3… Cũng từ đó, nhận thức của bà con tín

đồ ngày càng được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ sinh con thứ 3 tại những vùng giáo códấu hiệu giảm đáng kể, các gia đình đã có điều kiện đầu tư thời gian, công sứcphát triển kinh tế và nuôi dạy con cái Hoặc khi có kinh phí được cấp, ChiCục dân số-kế hoạch hóa gia đình tỉnh phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tỉnhchọn một số xã để làm điểm về công tác tuyên truyền Sau đó rút kinh nghiệmrồi nhân ra các xã khác Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh tích cực phối hợp với các

cơ quan, ban ngành đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh triển khaihoạt động các đề án, dự án theo kế hoạch đạt kết quả và chất lượng; thườngxuyên chỉ đạo các Trung tâm Dân số - KHHGĐ cấp huyện triển khai nâng caonăng lực, kỹ năng truyền thông cho đội ngũ cán bộ cộng tác viên dân số vàmột số ban ngành đoàn thể liên quan thông qua tổ chức các lớp tập huấn theophương pháp học tập tích cực và sinh hoạt các chuyên đề bảo đảm chất lượng.Cách làm này đem lại hiệu quả rõ rệt

Đi đôi với những biện pháp trên, Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh còntăng cường phối hợp với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể các tổ chức chínhtrị - xã hội, đặc biệt là hệ thống chính trị vùng đồng bào Công giáo để triểnkhai nhiều hoạt động trong đó ưu tiên nâng cao chất lượng hoạt động truyềnthông giáo dục, coi đây là giải pháp quan trọng hàng đầu góp phần tích cựcnâng cao chất lượng dân số, giảm sinh và giảm thiểu tình trạng mất cân bằnggiới tính khi sinh (MCBGTKS) Hoạt động truyền thông gián tiếp thông quacác phương tiện thông tin đại chúng là kênh thông tin bề rộng tạo dư luận đểmọi người quan tâm theo dõi và tham gia thực hiện là hết sức cần thiết Chicục Dân số - KHHGĐ phối hợp với Báo Bắc Ninh, Đài phát thanh - Truyềnhình tỉnh củng cố, duy trì và từng bước nâng cao chất lượng chuyên mục

“Dân số và phát triển” trên Báo và sóng phát thanh – truyền hình tỉnh.Chuyên mục cung cấp các kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản - Kếhoạch hóa gia đình (CSSKSS - KHHGĐ), các hoạt động can thiệp giảm thiểuMCBGTKS, biểu dương những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trongviệc thực hiện công tác Dân số - KHHGĐ, nhất là những tập thể, cá nhân

Trang 30

vùng đồng bào Công giáo, các hoạt động triển khai đề án, dự án…Các báo in,Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh cũng thường xuyên có các bài viết, cácphóng sự để tuyên truyền về dân số-kế hoạch hóa gia đình Do đó, đã có tácđộng rộng rãi trong nhân dân Công tác Dân số - KHHGĐ tỉnh Bắc Ninhnhững năm gần đây đã khởi sắc, 4 chỉ số quan trọng đều giảm đó là: tỷ suấtsinh; tỷ suất tăng dân số tự nhiên; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên; tỷ số giới tínhkhi sinh Đài phát thanh các huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường, thịtrấn duy trì tốt chuyên mục “Dân số và phát triển”, mở 184 chuyên mục pháttrên 3.000 phút/năm Chất lượng các chuyên mục ngày càng được đổi mới,hấp dẫn thu hút được người nghe.

Trong những buổi sinh hoạt CLB không sinh con thứ ba, CLB gia đìnhtrẻ, CLB vị thành niên và thanh niên, cán bộ DS-KHHGĐ các cấp của tỉnhthường xuyên tuyên truyền về các biện pháp tránh thai hợp lý, trang bị nhữngkiến thức về sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, trong đó chú trọngvùng có đông đồng bào Công giáo Qua thực tế công tác tuyên truyền đã đemlại hiệu quả thiết thực trong công tác DS-KHHGĐ Bằng các buổi tuyêntruyền trực tiếp, chị em phụ nữ ở các thôn, xóm Công giáo đã nắm được kiếnthức trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản để phòng tránh bệnh tật; thực hiệnviệc không sinh con thứ ba; không sử dụng các biện pháp can thiệp sớm đểsinh con trai theo ý muốn gây nên tình trạng mất cân bằng giới trong tươnglai… Ngoài tuyên truyền trực tiếp tới chị em phụ nữ, Trung tâm DS-KHHGĐtại các huyện, thị xã, thành phố còn phối hợp với Hội Cựu chiến binh các xã,thị trấn tổ chức truyền đạt kiến thức về dân số và các chính sách, pháp luậtcủa Đảng, Nhà nước trong công tác DS-KHHGĐ Đồng thời qua hệ thốngtruyền thanh thôn, xã cũng được các Trung tâm DS-KHHGĐ thực hiện bằngnhiều hình thức sinh động Hàng năm, Trung tâm DS-KHHGĐ huyện ThuậnThành (Bắc Ninh) đã tổ chức khoảng hơn 50 buổi truyền thông trực tiếp tạicác hội nghị, đã giúp nhân dân, đặc biệt là người dân vùng Công giáo nângcao được hiểu biết về việc thực hiện chính sách dân số, làm thay đổi đượcnhận thức của người dân nhất là những người mang nặng tư tưởng phong kiến

“trọng nam khinh nữ”, tư tưởng muốn sinh con trai để “nối dõi” Qua tuyêntruyền, nhiều thôn, xã đã có chuyển biến tích cực, chị em trong độ tuổi sinh

Trang 31

sản thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ, các chị em phụ nữ có kiến thức vềchăm sóc sức khỏe sinh sản

Tại các huyện, thị, thành, công tác vận động đồng bào Công giáo thựchiện chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình đã được lồng ghép với cácchương trình phổ biến kinh nghiệm sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuậtvào chăn nuôi, sản xuất, sử dụng vốn vay có hiệu quả Nắm bắt được tầmquan trọng của công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, MTTQ các cấp luônchú trọng đến sự phối hợp thống nhất trong hoạt động với các tổ chức thànhviên và tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc tôn giáo, người cao tuổi có uytín trong dòng họ, cộng đồng để tuyên truyền tới các cặp vợ chồng đangtrong độ tuổi sinh đẻ; xây dựng cam kết hưởng ứng phong trào khu dân cư,làng, thôn, họ giáo không có người sinh con thứ 3 Từ đó, góp phần nângcao nhận thức của đồng bào về mô hình gia đình ít con, tiến bộ, bình đẳng,hạnh phúc, tiến tới giảm nghèo, nâng dần mức sống của đồng bào Cônggiáo Các nội dung tuyên truyền về dân số - kế hoạch hoá gia đình cũngthường xuyên được lồng ghép trong các hội nghị tập huấn cho cán bộ Mặttrận từ tỉnh đến cơ sở; các trưởng thôn, xóm, chức sắc tôn giáo, tạo ra bướcchuyển biến mới trong nhận thức của người dân ở từng địa phương, cơ sở.MTTQ các huyện, thành, thị tích cực phối hợp với đoàn thanh niên, hội phụ

nữ và các cộng tác viên dân số đẩy mạnh tuyên truyền các chính sách, phápluật của nhà nước về dân số - gia đình – trẻ em Đến nay, đã có hàng trămbuổi tuyên truyền về Pháp lệnh Dân số, các biện pháp tránh thai, hướng dẫncách chế biến bữa ăn giàu dinh dưỡng cho các bà mẹ được tổ chức, thu húthàng ngàn người tham dự

Tại thôn Tử Nê một thôn Công giáo toàn tòng của xã Tân Lãng, huyệnLương Tài (Bắc Ninh), ông Trần Bìy, Chủ tịch Mặt trận thôn cho biết, thôngqua các tổ chức đoàn thể của thôn nhiều văn bản về dân số kế hoạch hóa giađình đã đến được những phụ nữ trong độ tuổi sinh để từ đó giúp họ ý thứcđược vấn đề sinh con có trách nhiệm và những năm gần đây tỷ người sinh conthứ ba trở lên giảm đi rõ rệt Năm 2014, cả thôn Tử Nê chỉ có 5 phụ nữ sinhcon thứ ba Ở một thôn Công giáo thuộc xã Tri Phương (huyện Tiên Du) lầnđầu tiên trong nhiều năm liền, không có người sinh con thứ 3 trở lên Tại đây,các cộng tác viên về dân số luôn nhiệt huyết, tận tâm với công tác dân số -

Trang 32

KHHGĐ Vượt lên trên những khó khăn, trở ngại đặc thù ở vùng Công giáo,nhiều cộng tác viên là nữ vẫn kiên trì phương châm “đi từng ngõ, gõ từngnhà, rà từng đối tượng” với mong muốn thay đổi nhận thức, hành vi củangười dân trong thực hiện chính sách Dân số Mặc dù là thôn nhỏ với hơn 180gia đình giáo dân sinh sống, song số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở thôn Cônggiáo lại khá cao với hơn 120 người Đặc điểm này cùng với phong tục, tậpquán, quan điểm về sinh con đẻ cái của người dân nơi đây là trở ngại, khókhăn không nhỏ đối với công tác Dân số - KHHGĐ Hiểu được điều đó cáccộng tác viên luôn tích cực, hết lòng với nhiệm vụ được giao, luôn tìmphương pháp, cách thức tuyên truyền hiệu quả hơn Xác định không biệnpháp nào có hiệu quả như truyền thông trực tiếp, nhất là với đồng bào Cônggiáo còn nặng tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, đồng thời chưa cởi mở về việc

sử dụng các biện pháp tránh thai, có cộng tác viên thường xuyên vận động, tưvấn về Dân số - KHHGĐ và cung cấp bao cao su, thuốc uống tránh thai tớitừng đối tượng Có cộng tác viên về dân số chia sẻ: lúc mới nhận bàn giaocông việc, mọi việc khó khăn lắm Công tác nắm tình hình và tuyên truyền lànhiệm vụ quan trọng nhất Đối với địa bàn nhỏ như thôn Công giáo thì việcnắm tình hình không khó, tuyên truyền thế nào để đạt được hiệu quả thì hoàntoàn không hề dễ dàng Là thôn Công giáo toàn tòng, phong tục tập quán cònlạc hậu, nhất là nhận thức về KHHGĐ còn hạn chế, nhiều người còn chưađược thông suốt, việc tuyên truyền càng khó hơn nhiều lần

Với lòng nhiệt tình và kỹ năng truyền thông mềm mỏng, cộng với việctham gia đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ do cấptrên tổ chức, kỹ năng và kiến thức tuyên truyền không ít cộng tác viên mỗingày một dày lên Có chị Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn đã khéo léo đưacác nội dung tuyên truyền về Dân số - KHHGĐ trong các buổi sinh hoạt củachị em Như “mưa dầm thấm sâu”, nhận thức của người dân trong thôn vềKHHGĐ cũng dần thay đổi Đơn giản như vấn đề tuyên truyền về sự cần thiếtcủa sàng lọc trước sinh trên địa bàn thôn Công giáo, một cộng tác viên chobiết: chỉ cách đây 2 năm thôi, việc này cũng rất khó khăn bởi các chị em cứ cóbầu là đẻ mà ít khi khám sức khỏe cho cả mẹ và con Trong trường hợp siêu

âm mà phát hiện thai dị tật có chỉ định đình chỉ cũng vẫn quyết định sinh bởi

họ cho rằng, nếu đình chỉ thai là có tội Nhờ sự tích cực tuyên truyền của cộngtác viên dân số, hầu hết mọi người trong thôn đều đã hiểu được ý nghĩa của

Trang 33

sàng lọc trước sinh nhằm giảm gánh nặng cho gia đình, xã hội… Để kiểmsoát và thực hiện công tác dân số, cán bộ xã phải theo sát, nắm bắt từng hộ giađình, thường xuyên tuyên truyền, vận động người dân

Công tác tuyên truyền về dân số kế hoạch hóa gia đình thường gặp rấtnhiều khó khăn Một cán bộ DS-KHHGĐ xã cho biết: “Nếu như một ngườiphụ nữ theo đạo mà có thai ngoài ý muốn thì họ sẽ không bao giờ phá thai.Bởi theo Công giáo, làm như thế là không có phúc Đặc biệt, với những ngườiphụ nữ mà có mẹ chồng rất sùng đạo thì việc tuyên truyền, vận động là điều

vô cùng khó khăn, nhiều lúc sợ mẹ chồng, con dâu còn giấu cán bộ dân số kếhoạch hóa gia đình chuyện mang thai Khi phát hiện thì đã quá muộn vì cáithai đã lớn” Một chị cộng tác viên dân số cho biết về câu chuyện một trườnghợp khiến chị cứ băn khoăn mãi Chuyện xảy ra cách đây mấy năm, đó làngười phụ nữ gầy yếu, già nua bởi sinh tới 7 người con Khi chị đến gia đìnhnày tuyên truyền, người chồng không tiếp đón mà còn nặng lời chửi bới, văngtục và khăng khăng nói rằng phải cố đẻ bằng được con trai mới thôi Thêmnhiều trường hợp, tình huống tuyên truyền khác đã giúp chị hiểu rằng, bằngnhiều cách khác nhau, gia đình nhà chồng và người chồng thường gây áp lựccho các chị em để họ phải tiếp tục mang thai Trong khi đó, hầu hết các chị

em đều thấm thía việc đông con thì vất vả, cực nhọc như thế nào và con cái

họ thiệt thòi ra sao Chị cũng cho biết thêm, khi mới làm truyền thông, chịthấy việc tiếp cận các đối tượng không khó song hiệu quả thường rất khiêmtốn bởi họ nghe xong rồi bỏ đấy Sau này, khi có nhiều kinh nghiệm hơn, chịdùng cách mang tấm gương những gia đình sinh ít con, dừng lại ở 2 con dùtrai hay gái để vận động… Bản thân gia đình chị sinh 2 con để có điều kiệnnuôi dạy ăn học nên người cũng khiến nhiều người dần thay đổi suy nghĩ.Những nỗ lực của chị đã được đáp lại bằng kết quả đáng khích lệ Nếu nhưnăm 2013, trên địa bàn có 8 cặp vợ chồng sinh con lần 3 trở lên, đến năm

2014, thôn không có cặp nào sinh con lần 3 Đây là lần đầu tiên sau nhiềunăm liên tục, thôn Công giáo không có người sinh con thứ 3

Phải khẳng định, qua công tác triển khai công tác dân số kế hoạch hóagia đình trên địa bàn tỉnh đã có 100% số cơ sở tôn giáo đăng ký xây dựng

xứ, họ đạo 4 gương mẫu, trong đó nhấn mạnh đến vấn đề hạn chế thấp nhấtngười sinh con thứ 3 Tuyên truyền nâng cao nhận thức về việc sinh con cótrách nhiệm và bình đẳng giới tính khi sinh Trong tuyên truyền, vận động

Trang 34

các cộng tác viên thường chú ý đến 2 nhóm đối tượng, đó là: cặp vợ chồngtrẻ mới lập gia đình và nhóm phụ nữ nghèo, đông con nhưng lại chưa thựchiện KHHGĐ “Mỗi gia đình chỉ nên sinh 2 con, trai gái đều quí như nhau.KHHGĐ không chỉ tạo điều kiện để gia đình phát triển kinh tế, con cái đượchọc hành tử tế, mà còn mang lại sức khoẻ tốt cho chị em phụ nữ” là nội dungvận động được chị nhắc lại nhiều lần mỗi khi có dịp tiếp xúc, tâm tình vớichị em trong các xứ, họ đạo Sự lồng ghép linh hoạt vào các phong trào thiđua đã có tác động hỗ trợ lẫn nhau, tăng cường hiệu quả trong việc tác độngtới nhận thức của nhân dân nói chung và nhóm đồng bào theo đạo nói riêng.Một điểm sáng tạo mới tại Bắc Ninh đó là lồng ghép vào cuộc vận động thiđua xây dựng xứ, họ đạo 4 gương mẫu trong phong trào thi đua Dân VậnKhéo của tỉnh, nội dung thi đua có nêu các tiêu chí cụ thể để góp phần làmgiảm tỉ lệ sinh và tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh tại địa phương, việclồng ghép có sự linh hoạt và đạt được hiệu quả tương đối tốt

Tất cả những biện pháp trên đã tạo được sự chuyển biến đáng ghi nhậntrong công tác dân số kế hoạch hóa gia đình ở tỉnh Bắc Ninh Kết quả thựchiện năm 2014 đều đạt, vượt chỉ tiêu được giao: tỷ suất sinh là 16,46‰, giảm2,23‰ so với năm 2013; tỷ suất tăng dân số tự nhiên là 12,3‰, giảm 1,8‰ sovới năm 2013; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 14,49%, giảm 0,3% so với năm2013; tỷ số giới tính khi sinh 117,5 trẻ trai/100 trẻ gái, giảm 1,1 điểm % sovới năm 2013 Đối với vùng đồng bào Công giáo cũng có kết quả tương tự(tuy chưa đạt được mức bình quân chung) Tính trong 5 năm thực hiện, đếnnay, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trên địa bàn tỉnh giảm xuống còn 1,25%; tỷxuất sinh ước giảm còn 16,96%o; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm còn 13,3%;

tỷ số giới tính khi sinh của toàn tỉnh liên tục giảm từ 125 trẻ trai/100 trẻ gái(năm 2011) giảm còn 115 trẻ trai/100 trẻ gái (năm 2015)…Phấn đấu đến năm

2020, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 1,1%; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảmcòn 10 – 11%, tỷ số giới tính khi sinh ở mức dưới 110 trẻ nam/100 trẻ gái…

Ở tỉnh Hưng Yên, ngay sau khi Pháp lệnh Dân số có hiệu lực thi hànhvào ngày 01-5-2003, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành các văn bảnquan trọng, chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, đơn vị liên quan phối hợp tổchức chiến dịch truyền thông tuyên truyền Pháp lệnh và các chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước về chính sách DS-KHHGĐ trên các phương tiện

Trang 35

truyền thông đại chúng đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân Đồng thờichỉ đạo xây dựng, củng cố và mở rộng các mô hình truyền thông có hiệu quảnhư: thôn, xóm không có người sinh con thứ 3 trở lên; mô hình đưa chínhsách dân số vào hương ước, quy ước làng văn hóa; mô hình CLB phụ nữkhông sinh con thứ 3 trở lên; CLB tiền hôn nhân; mô hình chiến dịch truyềnthông lồng ghép với dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ

Tỉnh thực hiện ưu tiên các xã trọng điểm để triển khai các hình thứctruyền thông, bằng nhiêu hình thức khác nhau như: tư vấn nhóm nhỏ, thăm hộgia đình, nói chuyện chuyên đề; xây dựng các đội tuyên truyền, văn hóa vănnghệ lưu động; truyền thông trực tiếp tại các xã vùng xa trung tâm, vùng khókhăn, vùng có nhiều đồng bào theo Công giáo Đi đôi với công tác tuyêntruyền, Ban Chỉ đạo dân số các cấp còn huy động tập trung các nguồn lực từngân sách cũng như xã hội hóa nhằm tăng cường cung cấp dịch vụ KHHGĐ;quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực chocông tác dân số ở các đơn vị y tế từ tỉnh đến cơ sở Đến nay, hầu hết các đơn

vị y tế tuyến tỉnh, huyện bảo đảm đủ điều kiện để thực hiện các dịch vụKHHGĐ… Hàng năm, cán bộ y tế, dân số được đào tạo, tập huấn nâng caotrình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, bổ sung kiến thức, kỹ năng truyền thông,

tư vấn về các biện pháp tránh thai

Trong quá trình chỉ đạo thực hiện các mô hình, Ban Thường trực, Banchỉ đạo đã có những cách làm sáng tạo Thông qua hoạt động mô hình thì vaitrò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình, xã hội đã được nhìn nhận một cáchđúng đắn hơn Tư tưởng trọng nam, khinh nữ trong bộ phận không nhỏ ngườidân đã dần thay đổi và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực Những buổi thuyếtgiảng không chỉ được lồng ghép tại các buổi sinh hoạt của UBMTTQ mà còn

tổ chức ở các buổi thuyết giảng do linh mục chủ trì trong lễ hôn phối chonhững cặp vợ chồng trẻ khi xây dựng gia đình Ở các buổi lễ trọng như vậythu hút đông đảo người dân tham gia Vai trò của linh mục rất quan trọngtrong việc tham gia cùng đồng bào Công giáo thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ Bằng những lời lẽ thuyết phục các linh mục nhắc nhở các tín đồsinh con có trách nhiệm: sinh ít con, các cặp vợ chồng sẽ có điều kiện tốt hơn

để nuôi dạy con trở thành người công dân tốt, những tín đồ thánh thiện Mặt

Trang 36

khác, sẽ giúp tín đồ vừa chủ động được số lần sinh con, vừa có được sự bình

an trong tâm hồn

MTTQ phối hợp với Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh tổ chức nhièu hội nghịbiểu dương các xứ, họ đạo tiêu biểu thực hiện tốt công tác dân số, chăm sócsức khỏe cộng đồng Cùng với công tác tuyên truyền, MTTQ tỉnh còn phốihợp với ngành dân số xây dựng các mô hình về sinh đẻ có kế hoạch, chăm sócsức khỏe người dân, vận động nhân dân và các tín đồ thực hiện tốt các phongtrào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xóa bỏ tưtưởng trọng nam khinh nữ

Do thực hiện tốt các chương trình, mục tiêu về dân số, kế hoạch hóa giađình, nên tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên ở Hưng Yên năm 2014 chỉ còn0,91%; tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên giảm xuống còn 13,6% Tỷ lệ sinh sinhcon thứ ba trong đồng bào Công giáo cũng có chuyển biến tốt Số cặp vợchồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt71,5% Nhiều chỉ tiêu thực hiện kế hoạch hóa gia đình đạt và vượt kế hoạchnăm Có được những kết quả này trước hết là sự quan tâm chỉ đạo sát sao củacấp ủy, chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, đoàn thể trong côngtác DS-KHHGĐ, đặc biệt là vai trò của các chức sắc tôn giáo trong việc vậnđộng bà con giáo dân gương mẫu thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xãhội, văn hóa của địa phương, trong đó có công tác dân số-KHHGĐ

Thái Bình là tỉnh đất chật người đông, quy mô dân số lớn gần 2 triệungười, mật độ dân số cao 1.152 người/km2, thuộc nhóm cao nhất cả nước Sựgia tăng nhanh chóng về quy mô dân số luôn là sức ép đối với nền kinh tếnông nghiệp Hơn nửa thế kỷ qua, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hànhnhiều văn bản quan trọng nhằm thực hiện tốt công tác dân số - KHHGĐ Cụthể là: Quyết định số 84/QĐ-UB ngày 20/3/1991 của UBND tỉnh về việc cụthể hóa Quyết định số 162-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về một số chế độ,chính sách dân số - KHHGĐ, Nghị quyết số 03-NQ/TU của Ban Thường vụTỉnh ủy ban hành ngày 8/8/2001 về công tác dân số giai đoạn 2001 - 2010,Nghị quyết số 26/QĐ-HĐND ngày 9/7/2009, Quyết định số 1719/QĐ-UBNDngày 31/7/2009 về phê duyệt đề án tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số -KHHGĐ đến năm 2010, định hướng đến năm 2015, Quyết định số

Trang 37

07/2010/QĐ-UBND ngày 23/8/2010 về quy định một số chế độ khen thưởng,khuyến khích và xử lý vi phạm chính sách dân số - KHHGĐ, Nghị quyết số04-NQ/TU về công tác dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 - 2020được Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành ngày 4/7/2011 Đây là những văn bảnquan trọng giúp cho công tác dân số - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Thái Bìnhgặt hái được những thành tích đáng ghi nhận Nhận thức của cộng đồng, đặcbiệt là các cặp vợ chồng trẻ về quy mô gia đình ít con, trong đó có tín đồCông giáo, Tin lành đã có chuyển biến rõ rệt Số sinh và số người sinh conthứ ba trở lên hàng năm giảm Số xã, phường, thị trấn, số thôn, làng, tổ dânphố không có người sinh con thứ ba trở lên ngày càng nhiều.

Hằng năm vào dịp ngày Dân số Thế giới 11/7, Thái Bình đã đẩy mạnhcác hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người dân về côngtác DS-KHHGĐ Theo đó, Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh phối hợp với các cơquan thông tin đại chúng như Đài Phát thanh truyền hình Thái Bình, Báo TháiBình, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sáchcủa Đảng, Nhà nước, những định hướng công tác DS-KHHGĐ thời gian tới,phản ánh kịp thời các hoạt động truyền thông hưởng ứng ngày Dân số Thếgiới Chi cục đã biên tập, in ấn và cấp phát hàng vạn cuốn Bản tin Dân sốThái Bình, tuyên truyền thông điệp về DS/SKSS/KHHGĐ qua băng rôn, khẩu

hiệu tại các trục đường chính hưởng ứng; Phối hợp với Trường Chính trị tỉnh

xây dựng kế hoạch tiếp tục đưa nội dung công tác DS-KHHGĐ vào chươngtrình giảng dạy của trường; phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục duytrì mô hình sinh hoạt ngoại khóa tại các trường phổ thông trung học, giáo dụcdân số, giới tính, SKSS/KHHGĐ cho vị thành niên Bên cạnh đó, Trung tâmDS-KHHGĐ các huyện, thành phố, Ban DS-KHHGĐ 286 xã, phường, thịtrấn tổ chức hàng trăm buổi nói chuyện chuyên đề, hàng trăm buổi sinh hoạtcâu lạc bộ dân số, hàng ngàn buổi tư vấn nhóm và thăm hộ gia đình, cấp pháthàng ngàn tờ rơi, viết hàng trăm tin bài phát trên hệ thống loa truyền thanh xã.Trên địa bàn tỉnh cũng treo hàng ngàn băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền vềviệc thực hiện tốt công tác CSSKSS/KHHGĐ để nâng cao chất lượng cuộcsống, kiểm soát mức sinh, duy trì mức sinh thay thế và mức sinh thấp hợp lý,lợi ích khám sức khỏe tiền hôn nhân; lợi ích sàng lọc trước sinh và sơ sinh,chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và giống nòi, giảm thiểu mất cân bằng giớitính khi sinh, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng…

Trang 38

Với vùng đồng bào Công giáo, tỉnh Thái Bình đạt được kết quả nổi bật

về thực hiện mô hình “Gia đình đồng bào Công giáo tham gia khắc phục tìnhtrạng mất cân bằng giới tính khi sinh” Hai xã: Đông Cường (huyện ĐôngHưng) và xã Nam Hải (huyện Tiền Hải) được tỉnh chọn làm điểm Xã NamHải có 11.021 dân, trong đồng bào theo Công giáo chiếm 25% dân số toàn xã

Xã có 2 nhà thờ xứ, 3 nhà thờ họ lẻ, 1 linh mục quản 2 xứ Xã Đông Cường

có gần 7.000 người, trong đó đồng bào theo Công giáo là 2029 người, chiếm28% dân số xã Xã có 1 giáo xứ, 6 nhà họ lẻ, 1 nhà thờ xứ Khi được chọnlàm điểm cả 2 xã đều chọn hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên đề với chủ đề

“Thực trạng vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam, ở địa phương, hậu quả củaviệc mất bình đẳng giới và những lời khuyên của giáo hội Công giáo với bàcon giáo dân (cùng với quy định của Luật Bình đẳng giới) để xây dựng giađình hạnh phúc”

Vào lễ Chúa nhật, tại nhà thờ giáo xứ Đông Thành, Thục Thiện (xãNam Hải); nhà thờ xứ Đông Khê, nhà thờ họ Tào Xá (xã Đông Cường) cóhàng ngàn người đi lễ nhà thờ Tại các buổi lễ này, Linh Mục thuyết giảng vềvấn đề sinh sản có trách nhiệm; tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh ởViệt Nam và một số nước, nguyên nhân, hậu quả của nó và cách khắc phục;ảnh hưởng xấu của bạo lực gia đình; những quy định của pháp luật, Giáo luật

về phòng chống bạo lực gia đình cũng như trách nhiệm của mỗi người trongviệc thực hiện xây dựng gia đình không có bạo lực Trong làm điểm, hai xãthực hiện lồng ghép vấn đề dân số-kế hoạch hóa gia đình vào cuộc vận động

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phong trào thiđua yêu nước xây dựng xứ họ đạo 4 gương mẫu của đồng bào Công giáo Quacác buổi sinh hoạt ở khu dân cư, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã vậnđộng nhân dân tham gia thực hiện chính sách kế hoạch hóa dân số, gia đình,trong đó có việc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng mất cân bằnggiới tính tại khu dân cư, xứ và họ giáo Những việc làm này không chỉ gây tácđộng tốt trong dư luận quần chúng trong công tác dân số-kế hoạch hóa giađình

Với nam nữ thanh niên bên Công giáo thì Giáo lý quy định trước khikết hôn phải tham gia lớp học về Giáo lý hôn nhân, sau khi kiểm tra, đánh giá

và được xét cấp chứng chỉ thì mới được phép kết hôn Các lớp về giáo lý hôn

Trang 39

nhân được tiến hành thường xuyên, linh mục phụ trách chuẩn bị tài liệu, cậpnhật thông tin phục vụ cho quá trình học Sau những lớp học về giáo lý hônnhân Ban Thường trực Ủy Ban MTTQ hai xã đã trực tiếp trao đổi, mời các vịlinh mục đảm nhiệm nhiệm vụ mục vụ ở xứ để thuyết giảng tại các nhómđồng bào Công giáo về vấn đề hôn nhân gia đình Mặt khác, hợp đồng vớigiảng viên cán bộ Hội phụ nữ, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình vàMTTQ tỉnh thuyết trình về vấn đề này Trong quá trình thực hiện có sử dụngtài liệu do các giảng viên biên soạn, in, phô tô gửi cho hội viên theo kỳ sinhhoạt cùng với tài liệu của Trung ương Tuyên truyền nâng cao nhận thức vềviệc sinh con có trách nhiệm và bình đẳng giới tính khi sinh Sự lồng ghéplinh hoạt vào các phong trào thi đua đã có tác động hỗ trợ lẫn nhau, tăngcường hiệu quả trong việc tác động tới nhận thức của nhân dân nói chung vànhóm đồng bào theo đạo nói riêng về dân số-kế hoạch hóa gia đình, góp phầnlàm hạn chế thấp nhất người sinh con thứ 3 ở hai xã nói trên.

Sau những đợt làm điểm có kết quả, Thái Bình tiến hành nhân rộngđiển hình trên địa bàn toàn tỉnh Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể xácđịnh để đạt được mục tiêu về phát triển dân số trên đại bàn tỉnh cần phải đẩymạnh công tác truyền thông, giáo dục, vận động về dân số và phát triển theohướng chú trọng nâng cao chất lượng dân số và phát triển, phù hợp với 6nhóm đối tượng đích của truyền thông chuyển đổi hành vi gồm: nhóm các cặp

vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nhóm vị thành niên, thanh niên, nhóm ngườicung cấp dịch vụ, nhóm người giữ cương vị lãnh đạo, nhóm người cao tuổi,nhóm người khó tiếp cận: dân di cư, vạn chài… bảo đảm phù hợp với đặcđiểm văn hóa vùng miền Tăng cường giáo dục kiến thức và kỹ năng sống chothanh niên, vị thành niên về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục,hôn nhân và gia đình bằng những hình thức phù hợp Đa dạng hóa các kênh

và nguồn truyền thông, chú ý sử dụng công nghệ thông tin trong truyền thông

để tiếp cận gần hơn với nhóm đối tượng trẻ Tăng cường đào tạo, bồi dưỡngnâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ công chức, viên chức làm công tácdân số - KHHGĐ Đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút và sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực đầu tư cho dân số và phát triển

Do thực hiện đồng bộ những biện pháp trên nên công tác dân số trênđịa bàn tỉnh đã đạt được kết quả khả quan Nếu năm 1961, năm mở đầu cuộc

Trang 40

vận động sinh đẻ có kế hoạch trong cả nước, tỷ lệ sinh của Thái Bình là 4,7%,

số con của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 6 con thì đến năm 2015, tỷ lệsinh đã giảm xuống còn 1,39%, tổng tỷ suất sinh là 1,9 con/bà mẹ, duy trìmức sinh thay thế trong 15 năm liền Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng biệnpháp tránh thai đạt 78% Chất lượng dân số được cải thiện: tuổi thọ bình quâncủa người dân đạt 75 tuổi; chỉ số phát triển con người HDI nằm trong nhóm

14 tỉnh dẫn đầu cả nước; thu nhập bình quân đầu người là 29 triệuđồng/người/năm Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 29,8% năm

2001 xuống còn 14,1% năm 2015; tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân dưới 2.500g là4,1%; trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ được phát hiện sớm vàchăm sóc ngày càng tốt hơn Tỷ lệ tử vong mẹ là 12,8/100.000 ca đẻ sống.Thái Bình là 1 trong 9 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS(năm 2002), tỷ lệ huy động trẻ đủ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,9%

2.2.1.2 Những thành tựu đạt được trong công tác dân số kế hoạch hóa gia đình ở vùng Công giáo, Tin lành miền núi Tây Bắc và Đông Bắc Việt Nam

Tại tỉnh Sơn La, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy đảng,chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể nhân dân cùng sự hưởng ứng tích cực của đồng bào các dân tộctrên địa bàn tỉnh Sơn La, Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số- Kế hoạchhóa gia đình (DS-KHHGĐ) giai đoạn 2011-2015 triển khai trên địa bàn tỉnh

đã thực sự đi vào cuộc sống Công tác DS-KHHGĐ được triển khai đồng bộ,trong đó ưu tiên giải quyết giảm nhanh mức sinh, giảm tỷ lệ các cặp vợ chồngtrong độ tuổi sinh đẻ không sinh con thứ 3 Để đạt được mục tiêu này cần tạo

sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, thay đổi hành vi sinh sản UBND tỉnhSơn La đã chỉ đạo Trung tâm DS-KHHGĐ tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện

Chương trình mục tiêu DS-KHHGĐ với nội dung : "Thực hiện gia đình ít con,

mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con nhằm ổn định quy mô dân số; quan tâm nâng cao chất lượng dân số, đảm bảo tính hợp lý cơ cấu dân số và cơ cấu dân cư trên địa bàn".

Những năm qua, Sơn La đã tạo dựng được các phong trào thi đua vềcông tác DS – KHHGĐ giữa các địa phương trong tỉnh như phong trào đơn vịkhông có cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sinh con thứ 3 trở lên, không tảohôn, không kết hôn cận huyết thống; phong trào thi đua giữa các địa phương

Ngày đăng: 27/06/2019, 14:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Hội đồng Giám mục Việt Nam. Giáo lý hôn nhân và gia đình. NXB Tôn giáo, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo lý hôn nhân và gia đình
Nhà XB: NXBTôn giáo
5. Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, Linh mục Xuân Bích. Hôn nhân Kitô giáo. NXB Thuận Hóa, Huế 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân Kitôgiáo
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
6. Hội đồng Giám mục Việt Nam. Tóm lược học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo. NXB Tôn giáo, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm lược học thuyết xã hội của Giáohội Công giáo
Nhà XB: NXB Tôn giáo
7. Trích theo: Đỗ Quang Hưng. Thái độ của Vatican với vấn đề dân số, kế hoạch hóa gia đình. Trong cuốn: Đồng bào Công giáo với chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình. NXB KHXH, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái độ của Vatican với vấn đề dân số,kế hoạch hóa gia đình". Trong cuốn": Đồng bào Công giáo với chính sách dânsố, kế hoạch hóa gia đình
Nhà XB: NXB KHXH
8. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói về phá thai: “Chúng ta đang đối đầu với họa sát nhân…” .Truy cập ngày 6/ 12/ 2015:http://www.vietcatholic.org/News/Html/166107.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng ta đangđối đầu với họa sát nhân…
10. Quyết định của Đức Thánh Cha: Mọi linh mục đều có năng quyền tha tội phá thai trong Năm Thánh Lòng Thương Xót . Truy cập ngày 6/12/2015: http://www.vietcatholic.org/News/Html/143035.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mọi linh mục đều có năng quyềntha tội phá thai trong Năm Thánh Lòng Thương Xót
11. Từ điển Công giáo 500 mục từ. NXB Tôn giáo,Tp Hồ Chí Minh 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Công giáo 500 mục từ
Nhà XB: NXB Tôn giáo
12. Xem: Phạm Quyết. Ảnh hưởng của giáo lí, giáo luật và tổ chức giáo hội cơ sở của Công giáo đến hành vi sinh sản của giáo dân. Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 3 – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của giáo lí, giáo luật và tổ chứcgiáo hội cơ sở của Công giáo đến hành vi sinh sản của giáo dân". Tạpchí "Nghiên cứu tôn giáo
14. Xem: Hà Thị Lãm. Chất lượng công tác kế hoạch hóa gia đình tại vùng đồng bào Công giáo tỉnh Thái Bình. 123doc.org/document/1124290- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng công tác kế hoạch hóa gia đình tạivùng đồng bào Công giáo tỉnh Thái Bình
1. Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh và Linh mục Xuân Bích. Hôn nhân Kitô giáo. NXB Thuận Hóa. Huế, 1995 Khác
2.) Nguyễn Hồng Dương. Hoạt động tôn giáo và chính trị của Thiên Chúa giáo miền Nam thời Mỹ-Ngụy 1954-1975. Trường Cao đẳng An ninh nhân dân 2, 1988 Khác
3. Đỗ Quang Hưng. Một số vấn đè lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam.Tủ sách Đại học Tổng hợp. Hà nội, 1991 Khác
9. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II... Bài và Website đã dẫn Khác
13. Những trích dẫn trong mục này đều dẫn theo bài đã dẫn của tác giả Phạm Quyết Khác
15. Tôn giáo trong đời sống công chúng, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2015 Khác
16. Một số vấn đề dân số Việt Nam, Gs. Ts. Đặng Thu. Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Khác
17. Tài liệu báo cáo tổng kết của tỉnh Bình Phước tuyên truyền về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình Khác
18. Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa, Lê Ngọc Văn, Nhà Xuất bản giáo dục Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w