Dù có nhiều quan điểm hạn chế, không còn phù hợp nhưng Nho giáo vẫn cứ tồn tại trong xã hội ngày nay. Sự tồn tại đó chứng tỏ Nho giáo vẫn có những yếu tố hợp lý, với những nội dung tiêu biểu như là đức “Nhân” của Khổng Tử đã có tác dụng giáo dục đạo đức luân lý và trật tự kỷ cương, phép tắc lễ giáo trong mối quan hệ giữa người với người, trong gia đình và ngoài xã hội. Trong lĩnh vực báo chí, một lĩnh vực đòi hỏi người làm nghề phải quán triệt và tuân thủ sâu sắc các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, cũng có thể dùng chữ “Nhân” của Khổng Tử để soi sáng và căn cứ vào đó để nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức của các nhà báo trong tác nghiệp. Những đức tính cần có là: có lập trường chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng với Nhân dân; phải luôn gắn bó với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân; phải trung thực, khách quan, tôn trọng sự thật; phải nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình và phải chịu khó rèn luyện, trau dồi kiến thức và học tập suốt đời.
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA TRIẾT HỌC
TƯ TƯỞNG “NHÂN” CỦA KHỔNG TỬ
VÀ VẬN DỤNG TRONG NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC NGHỀ BÁO HIỆN NAY
Tiểu luận môn học
TRIẾT HỌC
Hà Nội, tháng 8/2015
Trang 21
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
1 TƯ TƯỞNG “NHÂN” CỦA KHỔNG TỬ 3
1.1 Khổng Tử - Người sáng lập Nho giáo 3
1.1.1 Sơ lược về Triết học Nho giáo 3
1.1.2 Thân thế và sự nghiệp của Khổng Tử 4
1.2 Quan niệm về “Nhân” trong “Luận ngữ” của Khổng Tử 5
1.2.1 Quan điểm về chữ “Nhân” trước Khổng Tử 5
1.2.2 Tư tưởng của Khổng Tử về đức “Nhân” 6
2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG “NHÂN” CỦA KHỔNG TỬ TRONG NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC NGHỀ BÁO HIỆN NAY 13
2.1 Đạo đức nghề nghiệp - yếu tố sống còn của người làm báo 13
2.2 Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của nhà báo hiện nay 15
2.3 Vận dụng tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử trong nâng cao đạo đức nghề báo hiện nay 17
2.3.1 Gắn bó với công chúng và hết lòng phục vụ công chúng 18
2.3.2 Có tinh thần đấu tranh loại bỏ cái sai, cái xấu, bảo vệ cái đúng, cái tốt 18
2.3.3 Khai thác và xử lý nguồn tin: Cần có tâm và có tầm 19
2.3.4 Đối xử nhân văn với nhân vật trong tác phẩm 20
2.3.5 Giữ chữ tín và bảo vệ nguồn tin 21
2.3.6 Khi viết sai phải cải chính 22
KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 32
MỞ ĐẦU
Có thể nói, mỗi dân tộc ở phương Đông đều có những tư tưởng đạo đức độc đáo riêng, được hình thành qua bao thế hệ trong suốt chiều dài lịch sử và chính những tư tưởng đó đã tác động đến toàn bộ đời sống tinh thần của cả dân tộc Ảnh hưởng lớn hơn cả là những tư tưởng đạo đức của Trung Quốc và Ấn
Độ, những tư tưởng đã vượt biên giới của nước mình, cắm rễ sâu vào đời sống tinh thần và phong tục tập quán của nhiều quốc gia lân cận Trong số đó không thể không nhắc tới tư tưởng Nho giáo Đây cũng là một nội dung cốt lõi của triết học Nho gia nói riêng và triết học phương Đông nói chung, là sự kết hợp nhuần nhuyễn các quan điểm cả về thế giới quan và nhân sinh quan
Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên do Khổng Tử là người sáng lập, tồn tại đến nay đã hơn 2.500 năm Chính tại quê hương của Nho giáo đã từng có lúc rộ lên “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, nhưng thực tế đã chứng minh, cuối cùng thì Nho giáo vẫn là học thuyết có sức sống lâu bền nhất Và trong suốt thời gian đó, Nho giáo đã có ảnh hưởng ở nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam Sự ảnh hưởng này, được thể hiện trên nhiều phương diện, đặc biệt là trong lĩnh vực đạo đức trước đây cũng như hiện nay
Lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo với nội dung, tính chất và vai trò lịch sử của nó luôn là đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu lý luận Dường như mỗi một bước tiến mới của lịch sử thì từng vấn đề trong nội dung của Nho giáo lại được đề cập, xem xét lại và được đánh giá một cách đầy đủ hơn, đúng đắn hơn Có thể nói, một học thuyết ra đời cách đây hơn 2.500 năm đã được sự kiểm chứng của thời gian thì giá trị của nó về mặt lý luận và thực tiễn là điều chúng ta không dễ bỏ qua
Tuy nhiên, trong khuôn khổ tiểu luận này người viết chỉ muốn góp thêm tiếng nói về một khía cạnh được cho là mang tính tích cực và có ý nghĩa đối với lĩnh vực mà bản thân đang theo đuổi và cũng đang được xã hội quan tâm Đó là
tư tưởng “Nhân” trong học thuyết của Khổng Tử, từ đó nêu ra những gợi ý về việc vận dụng tư tưởng của ông trong thực hành và nâng cao đạo đức nghề nghiệp của những người làm báo hiện nay
Trang 43
1 TƯ TƯỞNG “NHÂN” CỦA KHỔNG TỬ
1.1 Khổng Tử - Người sáng lập Nho giáo
1.1.1 Sơ lược về Triết học Nho giáo
Theo Hán tự, chữ “Nho” (儒) gồm do chữ “nhân” (人) là người đứng cạnh chữ “nhu” (需ù) có nghĩa là cần, chờ đợi Nho gia là những người hiểu rõ sách thánh hiền, được người đời cần đến để chỉ dạy cách ăn ở cho hợp luân thường, đạo lý Trước thời Xuân Thu, nhà nho được gọi là “sỹ” chuyên lo văn chương và lục nghệ, góp phần vào việc trị nước Đến lượt mình, Khổng Tử san định, hệ thống hoá thành học thuyết gọi là học thuyết Nho gia hay cũng gọi là Khổng học chỉ tên người sáng lập ra nó
Cơ sở để xây dựng học thuyết Nho gia là Lục Kinh: “Kinh Dịch”, “Kinh Thi”, “Kinh Thư”, “Kinh Lễ”, “Kinh Nhạc”, “Kinh Xuân Thu” Trong đó “Kinh Xuân Thu” do chính Khổng Tử biên soạn, còn năm kinh kia ông chỉ là người san định lại Ngoài ra còn có Tứ Thư (“Trung Dung”, “Đại Học”, “Mạnh Tử”,
“Luận Ngữ”), trong đó, các học giả thường đánh giá cao bộ “Luận Ngữ”, cho đó
là trung tâm của tư tưởng Khổng Tử và triết học Nho gia
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý
và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị Việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử rất khó khăn sau thời kỳ “đốt sách, chôn Nho” của nhà Tần, 200 năm sau khi Khổng Tử qua đời Tuy nhiên, cũng cái tên Nho giáo đó nhưng nội dung khác đã được đề cao Đó là hầu hết các đặc điểm trọng văn của văn hóa nông nghiệp trong Nho giáo nguyên thủy (tính “hài hòa”, tính
“dân chủ”, tính coi trọng văn hóa tinh thần) bị loại bỏ và bị thay thể bằng các đặc điểm trọng võ của văn hóa du mục (Tính “quốc tế”, tư tưởng “bá quyền”, Tính “trọng sức mạnh” được thể hiện ở chữ “Dũng”, Tính “nguyên tắc” được thể hiện ở học thuyết “chính danh”)
Đến đời Hán, Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ
tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt 2.000
Trang 54
năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử
là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”
Đến đời Tống, Nho giáo được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu
Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo)
và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị
Như vậy, Khổng giáo nguyên bản có thể bị coi là thất bại Trước khi chết, Khổng Tử rất u buồn bởi lẽ ông hiểu rằng, hút nhụy một phần từ văn minh nông nghiệp, Nho giáo mang tính nhân bản của ông chỉ thích hợp trong phạm vi làng
xã Còn để phục vụ trong phạm vi quốc gia thì cần phải có một triết lý có tính pháp luật cao hơn, và Hán nho đã hoàn thành xuất sắc điều này
1.1.2 Thân thế và sự nghiệp của Khổng Tử
Nói đến nền văn hóa truyền thống và triết học Trung Quốc không thể không nói đến một nhân vật đó là Khổng Tử Khổng Tử nghĩa là vị thầy họ Khổng; còn gọi là Khổng Phu Tử, tước hiệu mà nho sinh dùng để tôn xưng vị thầy họ Khổng Trong thập niên 70 của thế kỷ trước, một học giả Mỹ đã xế p Khổng Tử ở ngôi vị thứ 5, chỉ sau chúa Giê su, Thín ca mâu ni trong số 100 nhân vật có ảnh hưởng trong lịch sử Đối với người Trung Quốc mà nói sự ảnh hưởng của Khổng Tử có thể phải xếp thứ nhất Mỗi con người ít nhiều đều chịu
sự ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử
Thời đại của Khổng Tử là thời đại “vương đạo” suy vi, “bá đạo” nổi lên, chế độ tông pháp nhà Chu đảo lộn, đạo lý suy đồi Vì thế, Khổng Tử muốn đem tài sức của mình ra giúp vua lập lại trật tự xã hội, nhưng không được vua nước
Lỗ trọng dụng Sau đó, ông đem đạo của mình chu du qua gần 20 nước, nhưng cũng không được ông vua nào nghe theo Về sau, ông trở về nước Lỗ mở trường dạy học và viết sách Trải qua bốn mươi năm “dạy người không mỏi”, Khổng
Tử thu nhận trên dưới 3.000 môn đệ Trong đó, có 72 người được liệt vào hạng tài giỏi, nên gọi là “Thất thập nhị Hiền”
Trang 65
Trong gần 2.000 năm ông được cho là người san định hoặc tác giả của Ngũ Kinh, gồm: “Kinh Thư”, “Kinh Thi”, “Kinh Lễ”, “Kinh Dịch” và “Kinh Xuân Thu” Sau này, môn đệ của ông chép lại lời thầy dạy thành các bộ “Luận ngữ”, “Trung dung”, “Đại học”
Khổng Tử là người sáng lập ra đạo Nho mà giới nghiên cứu tư tưởng phương Tây gọi là phái Khổng học Ông là danh sư có ảnh hưởng rất lớn, và đặc biệt, là nhà giáo lập trường tư đầu tiên trong lịch sử trung Quốc Bình sinh, Khổng tử luôn nêu cao tư tưởng Nhân nghĩa, đặc biệt là đức Nhân Đó là hạt nhân nòng cốt, là con đường đưa ông trở về với nhân bản, với tinh thần nhân văn sâu sắc của văn hoá Trung Hoa, một đặc điểm xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng và đó cũng là một yếu tố khẳng định sự trường cửu của tư tưởng Khổng
tử qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển
Các bài giảng và triết lý của ông, đặc biệt là đạo làm người và tu dưỡng đạo đức cá nhân, đã ảnh hưởng sâu rộng đến tư tưởng và đời sống của nhiều nước Đông Á suốt hai mươi thế kỷ qua Chính phủ Trung Quốc hiện nay, trong
nỗ lực truyền bá văn hóa Trung Hoa ra thế giới, đã thành lập hàng trăm Học viện Khổng Tử khắp toàn cầu
Để tìm hiểu tư tưởng Nho gia phải tìm hiểu tư tưởng Khổng Tử và tìm hiểu qua ba mặt: Tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức và tư tưởng giáo dục
Về tư tưởng chính trị, cống hiến lớn của Khổng là học thuyết “Chính Danh”, ngoài ra còn phải kể đến tư tưởng thế giới đại đồng, một tư tưởng rất tiến bộ của ông Còn nói đến tư tưởng đạo đức của Khổng Tử thì phải nói đến “Nhân”
Về giáo dục, Khổng Tử là người đầu tiên ở Trung Quốc mở trương dạy học Vì thế ông được tôn là “Vạn thế sư biểu” (Bậc thầy của muôn đời)
1.2 Quan niệm về “Nhân” trong “Luận ngữ” của Khổng Tử
1.2.1 Quan điểm về chữ “Nhân” trước Khổng Tử
Theo học giả Trần Trọng Kim, theo Hán tự, chữ “Nhân” (仁) gồm có bộ nhân (人) và bộ nhị (二) hợp lại thành một chữ hội ý, nghĩa là nói “cái thể và cái
Trang 76
đức chung của mọi người đều có với nhau như một” Tương tự, học giả Phùng Hữu Lan cũng cho rằng chữ “Nhân” (仁) gồm bộ thủ nhân đứng (亻là biến thể của chữ 人), nghĩa là nhân ghép với chữ nhị (二) Nó ngụ ý “những phẩm chất đạo đức trong quan hệ giữa người với người” Ngoài ra, cũng dựa vào mặt từ ngữ này, người ta còn diễn tả chữ “nhân” này như sau: từ “nhân” có hai bộ, bộ nhân (人) và bộ nhị ( 二), nghĩa là có ít nhất hai người trong thế giới này, và
“nhân” là cách sống với nhau hay cách đối xử với nhau Khi đó, sự khiêm nhường, vị tha đã thể hiện rõ khi họ không còn đứng dạng 2 chân như khi đứng một mình (人), mà đã khép 1 chân lại, nhường chỗ cho người khác (亻) Nói tóm lại, có thể hiểu “Nhân” là cách thức giúp người ta sống với nhau, là cách hành xử bình đẳng trong quan hệ giữa ta và người, là đức tính nối kết ta với người thành một
Các học giả nghiên cứu về triết học và lịch sử Trung Quốc có quan điểm khác nhau về phạm trù “nhân” trước thời Khổng Tử Một quan điểm cho rằng chữ “nhân” chưa hề được đề cập đến trong các tác phẩm trước thời Khổng Tử Trong khi đó, một quan điểm khác lại nghĩ rằng, thực ra, người ta đã từng nói
về chữ “nhân” trong một vài tác phẩm trước đó, chẳng hạn như trong hai thiên
“Thục vu điền” và “Lư linh” của “Kinh Thi”, hay trong thiên „Kim Đằng” của
“Thượng Thư” đều đã đề cập tới chữ “Nhân” Tuy vậy, chữ “Nhân” ở đây chỉ
có ý nghĩa chính là “tình thương” Hơn thế nữa, quan niệm này còn cho rằng chữ “nhân” đã phát triển thành triết lý, được coi như tiêu chuẩn tối cao trong hành vi của con người lại là sáng kiến của Khổng Tử
Từ đây chúng ta có thể phần nào biết rằng, nếu chữ “nhân” đã được sử dụng trong các tác phẩm cổ điển trước thời Khổng Tử thì nó cũng chỉ mang ý nghĩa rất sơ sài và hạn hẹp Chỉ đến thời Khổng Tử, chữ “Nhân” ấy mới được ông bổ sung và mặc cho nó nó những ý nghĩa mới, biến nó trở thành tâm điểm, thành cái bản chất nhất trong bản tính con người
1.2.2 Tư tưởng của Khổng Tử về đức “Nhân”
Trang 87
Khái niệm “Nhân” trong học thuyết của Khổng Tử được đề cập ở rất nhiều tác phẩm, nhưng tập trung và sâu sắc nhất phải là “Luận ngữ” Đây là tác phẩm ghi lại lời bàn luận giữa Khổng Tử và các học trò của ông Trong Luận ngữ có những khái niệm được lặp lại nhiều lần, trong đó, riêng “Nhân” được nhắc tới tổng cộng 109 lần, khái niệm “Người quân tử” 107 lần, khái niệm “Lễ”
74 lần, khái niệm “Đạo” 60 lần
Trong “Luận ngữ”, khái niệm “Nhân” được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần
và tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà “Nhân” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo nghĩa sâu rộng nhất, “Nhân” là một nguyên tắc đạo đức trong triết học Khổng Tử “Nhân” được ông coi là cái quy định bản tính con người thông qua “lễ”, “nghĩa”, quy định quan hệ giữa người và người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội “Nhân” có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ
và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì “Nhân” là tâm điểm, bởi nó đã chỉ
ra cái bản chất nhất trong bản tính con người
- “Nhân” là “yêu người” (ái nhân)
Theo Khổng tử “Nhân” là “yêu người” Bởi có “Nhân” mới có “ái”, có
“ái” mới có lòng thương người, yêu vật, muốn cho vạn vật, con người bao giờ cũng có cái khoái lạc mà sống ở đời Vì lòng “Nhân” nên con người mới quần hợp với nhau, mới có lòng bác ái, mới coi nhau như là anh em, xem đoàn thể như một người, cả vũ trụ như nhất thể, đã là một thì hễ chỗ nào đau là cả người thấy khó chịu Người bất “Nhân” thì ai đau khổ thế nào cũng không có cảm xúc đồng cảm
Yêu người theo quan điểm của Khổng Tử có hai điều Thứ nhất, yêu người là yêu tất cả mọi người Ông quan tâm đến sự phát triển của một xã hội từ gốc rễ của nó là lòng yêu thương giữa con người với nhau Yêu người bắt đầu từ yêu mình, yêu người thân của mình, rồi mới yêu ra thiên hạ Yêu người là đồng cảm với người khác, đặt mình vào vị trí của người khác, thấy được nỗi đau của
Trang 98
người khác, luôn mang lòng trắc ẩn Thứ hai, yêu người là yêu nhân dân, nhưng phải biết ghét người vô đạo Chỉ có những người tốt, người ngay mới xứng đáng được yêu Như vậy, “yêu người” theo tư tưởng Khổng Tử là yêu thương tất cả mọi người, không phân biệt xuất thân, hoàn cảnh Nhưng không có nghĩa là yêu thương cả người xấu, kẻ bất nhân, mà phải yêu ghét một cách đúng mực mới xứng với “Nhân”
Coi “Nhân” là “yêu người”, trong “Luận ngữ”, Khổng Tử đã dành không
ít lời để nói về đạo làm người Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về “Nhân”, Khổng Tử đã nói: “Sửa mình theo lễ là nhân Ngày nào cũng khắc kỷ phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hoá mà theo về đức nhân Vậy nhân là do mình, chớ há do người sao?"
Người “Nhân” trong quan niệm của Khổng Tử còn là người phải làm cho năm điều đức hạnh được phổ cập trong thiên hạ Năm điều đức hạnh đó là: cung, khoan, tín, mẫn, huệ Ông nói: “Nếu mình nghiêm trang cung kính thì chẳng ai dám khinh mình Nếu mình có lòng rộng lượng thì thu phục được lòng người Nếu mình có đức tín thật thì người ta tin cậy mình Nếu mình cần mẫn, siêng năng thì làm được công việc hữu ích Nếu mình thi ân, bố đức, gia huệ thì mình sai khiến được người” Không chỉ thế, người “Nhân”, theo Khổng Tử, còn
là người mà “trước hết phải làm điều khéo, rồi sau mới đến thu hoạch kết quả”,
và “người cứng cỏi, can đảm, kiên tâm, quyết chí, chất phác, thật thà, ít nói thì gần với nhân” Với Khổng Tử, chỉ có người “Nhân” mới có thể có được cuộc sống an vui lâu dài với lòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên ổn, thanh thản Do vậy, theo ông, bậc quân tử không bao giờ lìa
bỏ điều “Nhân”, dẫu chỉ trong một bữa ăn Người quân tử không bao giờ ở sai điều “Nhân”, dẫu trong lúc vội vàng, khi ngả nghiêng cũng vẫn theo điều
“Nhân”
Trong “Luận ngữ”, có chỗ Khổng Tử không dùng khái niệm “Nhân” (yêu người), nhưng nội dung thể hiện ở đó lại thấm đượm tình yêu thương cao cả Qua những trường hợp sau có thể thấy rõ Có lần một học trò của Khổng Tử là
Trang 109
Tử Du hỏi về “hiếu”, Khổng Tử trả lời: “Điều hiếu ngày nay chỉ có nghĩa là có thể nuôi cha mẹ Nhưng đến loài chó ngựa cũng đều được nuôi, nếu không có lòng kính thì làm thế nào phân biệt được” “Hiếu” ở đây vừa có ý nghĩa là nuôi nấng, chăm sóc cha mẹ, vừa phải có lòng kính yêu cha mẹ, yêu thương rất mực đối với cha mẹ Lại một lần khác, Khổng Tử xong việc ở triều đình về, nghe nói chuồng ngựa cháy, câu đầu tiên ông hỏi là: có ai bị thương không và không nói
gì tới ngựa cả Điều đó cho thấy, ông quan tâm đến sinh mệnh con người (dù đó
là những người hầu hạ) hơn là sự sống còn của ngựa (tức là của cải) Tư tưởng
“Nhân” là “yêu người” của ông thực sự đã được thể hiện ra mọi nơi, mọi lúc
- “Nhân” là “trung dung”
Theo Khổng Tử, “Trung dung” là một nguyên tắc đạo đức tối cao mà lâu nay mọi người thiếu nó Vì vậy, phải xây dựng được các cá thể hài hòa cho quan hệ con người và quốc gia trở nên hài hòa Người quân tử vì thế phải Trung dung
“Trung dung” là tuyệt đỉnh của “đức” “Trung dung” là không làm cái gì quá, không bất cập, đừng quá về nội tâm, cũng đừng thái quá về ngoại hình, đừng thái quá về mình, cũng đừng thái quá về người “Trung dung” là chí đức, kiên trì nghĩa, giải quyết mọi việc cho phù hợp với hoàn cảnh “Trung” là cái gốc lớn của thiên hạ Trung có “thể” và “dụng” “Thể” là một thái độ ngay thẳng, không nghiêng lệch mà lại có cái có cái sáng suốt, biết rõ sự thật “Dụng”
là dung dị, đừng cầu kỳ quá, xem đó là việc tự nhiên, không quá coi thường nó Vậy nên phải giữ cho cái tâm của mình có tinh thần và chuyên nhất thì mới theo được
- “Nhân” là “trung” và “thứ”
“Nhân” cũng có thể hiểu là “trung” và “thứ”, tức là đạo đối với người, nhưng cũng là đạo đối với mình nữa Trong một cuộc nói chuyện với các học trò Khổng Tử đã nói: Đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt cả Về điều này, Tăng Tử (một học trò của Khổng Tử) cho rằng, Đạo của Khổng Tử là “trung thứ” “Trung” ở đây là làm hết sức mình, còn “thứ” là suy từ lòng mình ra mà
Trang 1110
biết lòng người, mình không muốn điều gì thì người cũng không muốn điều đó
“Trung thứ” là sống đúng với mình và mang cái đó ứng xử tốt với người
Về chữ “trung”, Khổng Tử giải thích, người “Nhân” là người mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt (Phù nhân giả, kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân.) Về chữ “thứ”, ông viết: Điều gì mình không muốn, chớ thi hành cho người khác (Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân) Như vậy, “trung thứ” tức là từ lòng mình suy ra lòng người, phải giúp người
- Gốc của “Nhân” là “hiếu đễ”
Phạm trù “Nhân” tuy bao chứa nhiều nội hàm khác nhau, song cái gốc và cốt lõi của nhân là “hiếu đễ” Theo Khổng Tử, tình cảm giữa cha mẹ và con cái, giữa chồng và vợ, giữa anh em với nhau (quan hệ gia đình) là những tình cảm tự nhiên, vốn có thuộc về bản tính con người
Người có “Nhân” theo Khổng Tử trước hết phải làm tròn phận vị người làm con, làm em trong gia đình Phải biết thương yêu và tôn kính cha mẹ, anh
em ruột thịt Sau đó mới yêu kính người khác Đó là một khuôn mẫu để trở thành người “Nhân”
Trong mối quan hệ anh em, Khổng Tử đòi hỏi phải có đức đễ Là anh thì phải biết bao bọc, che chở cho em, phải biết nhường nhịn em Là em thì phải biết kính trọng, nghe lời anh Về thực chất, quan hệ anh em cũng như quan hệ cha con Bên cạnh đó, hiếu đễ còn thể hiện rộng ra trong tông tộc, rộng hơn nữa
là ở ngoài xã hội với các địa vị khác nhau Hiếu đễ vì vậy mang ý nghĩa tích cực
Coi trọng vai trò gia đình trong việc hình thành và tu dưỡng đạo đức của con người ở Nho giáo là một khía cạnh hợp lý và vẫn còn có ý nghĩa nhất định đối với ngày nay, bỡi lẽ, gia đình là một tế bào của xã hội, xã hội không thể ổn định, thịnh trị nếu các gia đình lục đục và vô đạo Vì vậy, người cầm quyền nếu không “tề gia” (cai quản gia đình) của mình thì cũng không thể “trị quốc” (cai trị đất nước) được
Trang 1211
- “Lễ” là hình của “Nhân”
Theo Nho giáo, “lễ” là quy định về mặt đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa người với người Con cái phải có hiếu với cha mẹ, bề tôi phải trung với vua, chồng vợ có nghĩa với nhau, anh em phải trên kính dưới nhường, bạn bè phải giữ được lòng tin Những quy tắc này là bất di bất dịch mà ai cũng phải tuân theo “Lễ” là sợi dây buộc chặt con người với chế độ phong kiến tập quyền Khổng Tử yêu cầu, từ vua cho đến dân phải rèn luyện và thực hiện theo “lễ” Đến Đổng Trọng Thư, “lễ” đã được đẩy lên đến cực điểm của sự khắt khe Chỉ
vì giữ “lễ” mà dẫn đến những hành vi ngu trung, ngu hiếu một cách mù quáng ở không ít người trong xã hội trước đây
Tư tưởng “lễ” của Nho giáo có tính hai mặt Về ý nghĩa tích cực, tư tưởng
“lễ” đã đạt tới mức độ sâu sắc, trở thành thước đo, đánh giá phẩm hạnh con người Sự giáo dục con người theo “lễ” đã tạo thành một dư luận xã hội rộng lớn, biết quý trọng người có lễ và khinh ghét người vô lễ Còn ề mặt hạn chế,
“lễ” là sợi dây ràng buộc con người làm cho suy nghĩ và hành động của con người trở nên cứng nhắc theo một khuôn phép cũ; lễ đã kìm hãn sự phát triển của xã hội, làm cho xã hội trì trệ Điều này nói lên rằng, tư tưởng Nho giáo mang tính bảo thủ, tiêu cực, phản lịch sử
Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Khổng Tử, “Nhân” không chỉ
là “yêu người”, “thương người”, mà còn là đức hoàn thiện của con người, và do vậy, “Nhân” chính là đạo làm người - sống với mình và sống với người, đức nhân là cái bền vững như núi sông Tuy nhiên, trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều học thuyết phê phán chữ “Nhân” của Khổng Tử Có người cho đó là giả dối, có người cho đó là nói suông, có người lại cho đó là nguồn gốc của bất nhân, bất nghĩa Thế nhưng, không phải vì thế mà tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử không đi vào lòng của nhiều người đương thời, gây cho họ biết bao sự xúc động và làm cơ sở cho hành động nhân đạo của họ Thực tế cho chúng ta thấy, từ đời Hán trở đi, suốt trên 2.000 đạo Khổng được độc tôn, vua chúa đời nào cũng ra sức áp dụng nó, mặc dầu không đúng Nó thực tế hơn đạo