1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Lãnh đạo Quản lý báo chí (Xã hội hóa truyền hình nhìn từ góc độ quản lý nhà nước)

25 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 825,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vài năm trở lại đây, hệ thống các đài truyền hình, đài phát thanh truyền hình từ cơ chế bao cấp hoàn toàn đang từng bước chuyền dần sang cơ chế tự cân đối thu chi, tự chủ một phần về tài chính. Điều này cho phép các đài phát huy cao độ nội lực và tính chủ động trong thông qua hoạt động liên kết, xã hội hóa trong lĩnh vực sản xuất chương trình, nhằm tăng thêm nguồn thu và huy động các nguồn lực xã hội để làm phong phú và nâng cao thời lượng các chương trình do Việt Nam sản xuất. Hiện, hoạt động xã hội hóa đang ngày càng phát triển mạnh và hình thành xu thế mới trong hoạt động của các đài phát thanh truyền hình, góp phần

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 2

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 6 2 XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 7

2.1 Tổ chức hệ thống sản xuất và phát sóng truyền hình tại Việt Nam 7

2.2 Các phương thức hợp tác sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam 8

2.2.1 Hợp tác một phần 9

2.2.2 Hợp tác toàn phần 9

2.2.3 Đóng góp kinh phí tài chính 10

2.3 Thực trạng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam 11

2.4 Những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội hóa truyền hình 12

2.4.1 Tác động tích cực của xã hội hóa truyền hình 14

2.4.2 Tác động tiêu cực của xã hội hóa truyền hình 14

2.4.3 Những bấp cập của hệ thống văn bản quản lý 16

3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA TRUYỀN HÌNH 18

3.1 Quan điểm chung về xây dựng chính sách quản lý hoạt động xã hội hóa truyền hình 18

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội hóa truyền hình 19

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xã hội hóa truyền hình 19

3.2.2 Nâng cao năng lực quản lý của các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình đối với hoạt động xã hội hóa truyền hình 21

3.2.3 Xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực sản xuất chương trình cho đối tác xã hội hóa 21

3.2.4 Xây dựng chính sách tài chính rõ ràng, minh bạch và linh hoạt đối với hoạt động xã hội hóa truyền hình 21

3.2.5 Kiểm soát số liệu điều tra xã hội học về truyền hình 22

KẾT LUẬN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

2

MỞ ĐẦU

Theo đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm

2025 được Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) công bố tháng 9/2015, bên cạnh việc sẽ giảm bớt số lượng cơ quan báo chí (báo in), thì một trong những nội dung quan trọng là đến năm 2020 - 2025, các cơ quan báo chí, trong đó có các đài truyền hình sẽ phải tự chủ về tài chính, Nhà nước chỉ hỗ trợ, đặt hàng đối với các kênh, chuyên mục, chương trình, phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền Cũng theo đề án, hệ thống phát thanh - truyền hình sẽ đổi mới theo hướng tập trung sản xuất chương trình, bảo đảm các chương trình sản xuất trong nước đạt tối thiểu 70% tổng thời lượng phát sóng Sự thay đổi này mở ra cơ hội phát triển mới cho các đài phát thanh - truyền hình, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong bối cảnh từ trước đến nay, các đài gần như hoạt động theo cơ chế bao cấp và ít đài tự sản xuất được trên 40% trở lên thời lượng phát sóng1

Trước đó, trong vài năm trở lại đây, hệ thống các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình từ cơ chế bao cấp hoàn toàn đang từng bước chuyền dần sang cơ chế tự cân đối thu chi, tự chủ một phần về tài chính Điều này cho phép các đài phát huy cao độ nội lực và tính chủ động trong thông qua hoạt động liên kết, xã hội hóa trong lĩnh vực sản xuất chương trình, nhằm tăng thêm nguồn thu

và huy động các nguồn lực xã hội để làm phong phú và nâng cao thời lượng các chương trình do Việt Nam sản xuất Hiện, hoạt động xã hội hóa đang ngày càng phát triển mạnh và hình thành xu thế mới trong hoạt động của các đài phát thanh

- truyền hình, góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của công chúng

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, hoạt động xã hội hóa trong sản xuất chương trình truyền hình thời gian qua đã bộc lộ nhiều hạn chế Trong không ít chương trình, quảng cáo lấn át cả nội dung tuyên truyền, đặc biệt trên các kênh

1

Số liệu Bộ Thông tin và Truyền thông công bố tại “Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2015 và tổng kết

phong trào thi đua lĩnh vực phát thanh - truyền hình năm 2014, một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2015”, ngày

16/3/2015

Trang 4

3

thời sự, chính trị gây phản ứng trong dư luận xã hội Bên cạnh đó, sự phát triển nóng về số lượng các chương trình, kênh chương trình liên kết nhưng thiếu sự quản lý phù hợp đã dẫn tới việc xuất hiện không ít chương trình truyền hình có chất lượng thấp chạy theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng, mang nặng tính thương mại vẫn được phát sóng Hoạt động xã hội hóa, trên một khía cạnh khác còn tạo ra sự mất cân đối trong liều lượng thông tin và trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của khán giả, vì nhiều đài có xu hướng ưu tiên tập trung vào những lĩnh vực có đầu tư tài trợ hoặc bảo trợ về thông tin Thực tế trên còn đang làm nảy sinh lo ngại các nhà tài trợ thông qua hoạt động xã hội hóa có thể tác động, chi phối nội dung một số chương trình của các đài phát thanh - truyền hình, vốn là các cơ quan báo chí của quốc gia hoặc địa phương

Nhưng hiện nay chưa có một khung pháp lý đủ mạnh quy định cụ thể, rõ ràng về vấn đề xã hội hóa trong hoạt động sản xuất chương trình truyền hình Điều này đang gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý Nhà nước cũng như các đài phát thanh - truyền hình và các đối tác liên kết

Thực tế trên đòi hỏi cần có một đánh giá tổng quan về hoạt động xã hội hóa sản xuất các kênh, chương trình truyền hình trong thời gian vừa qua từ góc

độ quản lý Nhà nước về báo chí - truyền thông, để từ đó đề xuất những chính sách và giải pháp có giá trị pháp lý cao hơn, kịp thời điều chỉnh các mối quan hệ

và vấn đề phát sinh từ hoạt động này, phù hợp với thực tiễn phát triển của ngành truyền hình ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới

Từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Xã hội hóa hoạt động sản xuất chương

trình truyền hình nhìn từ góc độ quản lý Nhà nước” làm đề tài cho tiểu luận môn

học Lãnh đạo, quản lý báo chí - truyền thông của mình

Trang 5

Ở đây có hai khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đó là “xã hội

hoá” và “liên kết” Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Trung tâm từ điển học

Vietlex (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2010) “xã hội hoá” là “làm cho trở thành của

chung của xã hội”, còn “liên kết” là “kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc

Trước đây, mọi công đoạn trong sản xuất, phát sóng các chương trình truyền hình đều do các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình thực hiện Song cùng với nhu cầu phát triển rất nhanh của công chúng đối với chất lượng, thời lượng các chương trình truyền hình, sự phát triển của công nghệ sản xuất

Trang 6

5

chương trình truyền hình, công nghệ truyền dẫn phát sóng, sức ép tạo nguồn thu

và sự lớn mạnh về nguồn lực của các thành phần xã hội khác đã dẫn tới nhu cầu phải mở rộng sự tham gia của các thành phần khác vào các công đoạn sản xuất

và phát sóng các chương trình truyền hình Đến tại thời điểm này, sự độc quyền trong truyền dẫn, phát sóng các chương trình truyền hình của các đài phát thanh, truyền hình không còn Việc tham gia của nhiều đơn vị ngoài hệ thống các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình trong việc truyền dẫn phát sóng truyền hình đã được xác lập một cách hết sức vững chắc và rõ ràng bởi hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ Tuy nhiên, đối với hoạt động sản xuất chương trình truyền hình, cơ sở pháp lý để bảo đảm sự tham gia của các thành phần xã hội chưa rõ ràng mà vẫn chỉ là “sự kết lại với nhau” của các thành phần

xã hội với các đơn vị được cấp phép hoạt động truyền hình để cùng tham gia sản xuất chương trình truyền hình Trong đó, các đơn vị được cấp phép hoạt động truyền hình vẫn là chủ thể chính, chủ thể quyết định việc “xã hội hoá” sản xuất chương trình truyền hình

Nếu xét hoạt động xã hội hoá sản xuất chương trình theo nghĩa rộng, nghĩa là các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình không trực tiếp thực hiện việc sản xuất tất cả các chương trình truyền hình trên mọi công đoạn mà huy động các nguồn lực khác ngoài hệ thống tham gia như mua bán, trao đổi chương trình hoàn chỉnh; khai thác tư liệu từ các chương trình khác; thuê, hợp tác làm một số công đoạn trong quá trình sản xuất chương trình (làm hậu kỳ, viết kịch bản…) thì hầu hết các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình ở Việt Nam hiện nay đều đã và đang thực hiện rất nhiều hoạt động liên kết - xã hội hóa trong sản xuất chương trình

Tuy nhiên, phổ biến nhất hiện nay và nhận được sự quan tâm nhất của toàn xã hội, đặc biệt là của cơ quan quản lý Nhà nước đó là những hoạt động xã hội hoá trao đổi bằng quyền lợi quảng cáo hoặc tài trợ tài chính Bởi đây là những hoạt động có khả năng tác động nhiều nhất đến nội dung chương trình theo hướng thương mại, thị trường để tối đa hóa nguồn thu quảng cáo, tài trợ

Trang 7

6

Đây cũng là hình thức xã hội hoá sản xuất chương trình trình truyền hình phổ biến nhất hiện nay và góp phần quyết định trong việc hình thành nên một thị trường truyền thông với hàng trăm doanh nghiệp tham gia hết sức sôi động

1.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Văn bản đầu tiên làm cơ sở pháp lý để hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình có thể triển khai thực hiện đó là Quyết định số 767/QĐ-TTg ngày 08 tháng 8 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2010 Quyết định này cho phép “Tăng cường xã hội hóa việc sản xuất các chương trình truyền hình, phim truyền hình theo đúng định hướng của Đảng và các quy định của Nhà nước; đẩy mạnh phát triển kênh truyền hình quảng bá song song với phát triển nhanh chóng các loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền” (Điểm 6, mục I, Điều 1) Tuy nhiên, đây mới chỉ là quan điểm phát triển theo hướng “tăng cường xã hội hoá”, song “tăng cường” thế nào, thực hiện ra sao thì Quyết định số 767/QĐ-TTg chưa chỉ ra cụ thể

Có thể nói, trước tháng 5/2009 gần như không có văn bản pháp luật nào điều chỉnh các hoạt động hợp tác đầu tư trong lĩnh vực truyền hình Thậm chí, nếu nghiên cứu kỹ tinh thần của các văn bản quy định về chính sách khuyến khích xã hội hóa, từ Nghị quyết số 90-CP ngày 21/8/1997 đến các Nghị định 73/1999/NĐ-CP, 53/2006/NĐ-CP hay Nghị định 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ đều thấy rằng truyền hình không thuộc diện được Nhà nước khuyến khích

xã hội hóa Tuy nhiên, phong trào hợp tác đầu tư vốn trong lĩnh vực truyền hình

từ đầu những năm 2000 đã bắt đầu rộ lên rất mạnh, điều đó cho thấy nhu cầu đầu tư vào lĩnh vực truyền hình rất cao trong khi khả năng của các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hinh đã không đáp ứng kịp

Phong trào xã hội hóa lĩnh vực truyền hình đã được “cứu nguy” bằng Thông tư 09/2009/TT-BTTTT ngày 28/5/2009 của Bộ TT&TT Có thể nói, đây

là văn bản đầu tiên tạo cơ sở pháp lý, đồng thời chấm dứt một thời kỳ hợp tác

Trang 8

Mới đây nhất, ngày 24 tháng 3 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã có

Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg ban hành Quy chế quản lý hoạt động truyền

hình trả tiền Theo đó, hoạt động truyền hình trả tiền nói chung, hoạt động sản

xuất chương trình nói riêng sẽ được rà soát, cấp phép lại nhằm quản lý ngày càng chặt chẽ hoạt động truyền hình trả tiền theo hướng phân định rõ các lĩnh vực về nội dung, về dịch vụ và về hạ tầng phát thanh truyền hình Qua đó sẽ góp phần phát hiện, xử lý để hạn chế tác động tiêu cực, phát huy những hiệu quả tích cực của hoạt động liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình

2 XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH NHÌN

TỪ GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

2.1 Tổ chức hệ thống sản xuất và phát sóng truyền hình tại Việt Nam

Theo số liệu của Bộ TT&TT, tính ngày 25/12/2014, cả nước có 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương; trong đó có 02 đài quốc gia,

01 đài truyền hình kỹ thuật số, 64 đài phát thanh, truyền hình địa phương với

105 kênh truyền hình quảng bá (Từ ngày 27/6/2015, theo Quyết định số 752/QĐ-TTg ngày 02/6/2015của Thủ tướng Chính phủ, Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC chuyển từ Bộ TT&TT sang trực thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam)

Ngoài ra, tính đến tháng 10/2015, cả nước còn có 05 đơn vị hoạt động truyền hình không có hạ tầng phát sóng truyền hình riêng, bao gồm:

- Đài Tiếng nói Việt Nam với Kênh Truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam (VOVTV) và Kênh Truyền hình Quốc hội;

Trang 9

8

- Trung tâm Điện ảnh, Phát thanh, Truyền hình Công an nhân dân (Bộ Công an) với Kênh Truyền hình Công an nhân dân (ANTV);

- Thông tấn xã Việt Nam với Kênh Truyền hình Thông tấn (VNews);

- Trung tâm Phát thanh, Truyền hình Quân đội (Bộ Quốc phòng) với Kênh Truyền hình Quốc phòng (QPVN);

- Báo Nhân dân với Kênh Truyền hình Nhân dân

Trong những năm qua, các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình đã cho ra đời nhiều kênh chương trình mới, đưa số lượng các kênh chương trình truyền hình quảng bá tại Việt Nam lên 105 kênh, cùng với 73 kênh truyền hình trả tiền Trong đó, Đài Truyền hình Việt Nam có số kênh chương trình truyền hình nhiều nhất với 50 kênh, trong đó có 11 kênh truyền hình quảng bá và 39 kênh chương trình truyền hình trả tiền Tiếp theo sau là Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC với 18 kênh chương trình truyền hình, trong đó có 15 kênh truyền hình quảng bá và 3 kênh truyền hình trả tiền Vị trí thứ 3 thuộc về Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh với 17 kênh chương trình truyền hình, trong đó có

7 kênh chương trình truyền hình quảng bá, 10 kênh chương trình truyền hình trả tiền Cùng đứng vị trí thứ tư, với 9 kênh chương trình truyền hình của mỗi đài là Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội và Đài Phát thanh - Truyền hình Bình Dương Các đơn vị còn lại thường có từ 01 đến 02 kênh chương trình

Với số lượng kênh chương trình truyền hình tới 178 kênh có tổng số giờ phát sóng trong ngày trên 4.200 giờ, nhu cầu về chương trình phát sóng của các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình là cực kỳ lớn, trong khi đó năng lực sản xuất của tự thân các đài không thể đáp ứng Vì vậy, để bảo đảm yêu cầu phát sóng các đài phải thực hiện việc khai thác, mua bản quyền các chương trình từ nước ngoài và thực hiện xã hội hóa, liên kết sản xuất với các đối tác ngoài đài

2.2 Các phương thức hợp tác sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam

Hiện, đối tác có thể tham gia hợp tác thực hiện rất nhiều chương trình, trong đó có sản xuất phim truyền hình, tổ chức sự kiện… nhưng lĩnh vực gameshow (trò chơi truyền hình) được đặc biệt chú ý bởi những chương trình này thường có số lượng người xem đông nhất Nhìn chung, có 3 phương thức cơ bản trong hợp tác sản xuất chương trình truyền hình hiện nay

Trang 10

9

2.2.1 Hợp tác một phần

Với phương thức hợp tác một phần, nguồn lực bên ngoài đóng góp một phần nào đó trong quy trình sản xuất chương trình truyền hình như: xây dựng ý tưởng và chủ đề chương trình; biên tập và viết kịch bản; tổ chức sản xuất chương trình; phối hợp với các đài truyền hình để phát sóng… với các chương trình như: gameshow, talkshow, phim quảng cáo, phim phóng sự, phim tài liệu…

Ví dụ, BHD là công ty dàn dựng sân khấu cho gameshow Ở nhà chủ nhật

và Ai là ai Công ty này còn tham gia thực hiện một phần Trò chơi âm nhạc,

Hãy chọn giá đúng, Những chuyện lạ Việt Nam Hay quizshow Đối mặt được

nhượng bản quyền tại Việt Nam cho Công ty Giải trí và Truyền thông Việt Nam

VEC từ gameshow nổi tiếng Face off của một trong sáu hãng truyền thông đa

phương tiện lớn nhất của Mỹ và thế giới - Twentieth Century Fox VEC và Đài Truyền hình Việt Nam cùng phối hợp sản xuất và phát sóng 52 số

Các đơn vị sản xuất kể trên và nhiều đơn vị khác có chức năng chuyên môn hóa cao Có công ty chỉ làm hậu kỳ, kỹ xảo Có công ty thiết kế sân khấu, ánh sáng Có công ty xây dựng kịch bản Thậm chí, có công ty chỉ sản xuất ý tưởng Như vậy là cả xã hội làm tham gia truyền hình

2.2.2 Hợp tác toàn phần

Hợp tác toàn phần trong sản xuất chương trình truyền hình là một xu hướng đúng đắn và tất yếu, vì qua đó, các chương trình truyền hình tận dụng được nguồn lực của toàn xã hội Những công ty, doanh nghiệp hợp tác với nhà đài lúc này có chức năng như những tổ chức độc lập sản xuất chương trình truyền hình Số lượng đài có thể không nhiều nhưng với cách làm như vậy sẽ có hàng trăm, hàng nghìn đơn vị sản xuất truyền hình

Trước kia, Công ty BHD là một trong những công ty truyền thông tư nhân lớn nhất Việt Nam và cũng là một trong những công ty đầu tiên chuyên sản xuất

các chương trình truyền hình như: MTV, Hãy chọn giá đúng, Đuổi hình bắt chữ,

Nốt nhạc vui, Phụ nữ thế kỷ 21, Hành trình âm nhạc, Đấu trí…

Trang 11

10

Đến nay, nổi bật trong lĩnh vực xã hội hóa truyền hình là các thương hiệu BHD, Cát Tiên Sa, Điền Quân, Sóng Vàng, Đông Tây Promotion với hàng loạt chương trình truyền hình và gameshow đang ăn khách, có format trong và ngoài nước được phát sóng trong các khung giờ vàng của những kênh truyền

hình ăn khách nhất cả nước như: Cát Tiên Sa với Bước nhảy hoàn vũ, Bước

nhảy hoàn vũ nhí, Cặp đôi hoàn hảo, Nhân tố bí ẩn, Giọng hát Việt, Giọng hát Việt nhí, Ðiệp vụ tuyệt mật trên VTV3; Đông Tây Promotion với Người bí ẩn, Thử thách cùng bước nhảy và Hội ngộ danh hài trên HTV; BHD với Thần tượng Việt Nam, Tìm kiếm tài năng Việt Nam, Tìm kiếm tài năng châu Á, Vua đầu bếp, Cuộc đua kỳ thú trên VTV3; Công ty Multimedia JSC với Người mẫu Việt Nam, Nhà thiết kế thời trang Việt Nam trên VTV3; Motion Media với Giai điệu tự hào, S-Vietnam trên VTV1…

2.2.3 Đóng góp kinh phí tài chính

Một hình thức hợp tác khác đang diễn ra không kém phần sôi động là các đơn vị đứng ra tài trợ cho chương trình, nhất là những chương trình ăn khách Nhìn chung, tất cả các gameshow đều có những doanh nghiệp đứng sau Ví dụ,

chương trình Ai là triệu phú? được E-Media hậu thuẫn bằng việc mua bản quyền của Celador (Anh) Khán giả yêu thích Đường lên đỉnh Olympia đều đã quen

thuộc với logo của tập đoàn LG (Hàn Quốc)…

Tài trợ cho các chương trình của nhà đài, các doanh nghiệp được quảng bá thương hiệu thông qua quảng cáo Theo Kantar Media, tổng chi phí quảng cáo trên truyền hình Việt Nam năm 2012 có trị giá gần 900 triệu USD, với mức tăng trưởng 30% so với 20112

Số liệu quảng cáo mà đơn vị này ghi nhận được trên

82 kênh truyền hình, 34 đầu tạp chí, 27 đầu báo in và 1 kênh radio cho tới hết quý III/2014 đã cho thấy, quảng cáo trên truyền hình và radio tăng hơn 40% và 75% so với cùng kỳ năm trước Những hãng lớn như Unilever mỗi năm chi tới 20-30 triệu USD cho quảng cáo trên báo chí và truyền hình Và bất chấp giá quảng cáo trên truyền hình ngày càng đội lên cao ngất trời, hàng loạt nhãn hàng

2

Xem: Phương Quyên, Đặng Quý Yên: Sản xuất chương trình truyền hình: Cuộc đua kỳ thú, Báo Doanh nhân

Sài Gòn online, ngày 22/5/2015

Trang 12

11

từ lớn đến bé đua nhau tài trợ (thực chất là tiền để được quảng cáo) cho những chương trình gameshow Thậm chí, nhiều doanh nghiệp muốn được tài trợ cho gameshow hiện nay còn phải đấu thầu mới mong chiếm được một chỗ

2.3 Thực trạng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, từ năm 2013 đến tháng 3/2015, chỉ với riêng Đài Truyền hình Việt Nam, Bộ này đã cấp 113 giấy chứng nhận đăng ký chương trình liên kết với các đối tác liên kết Trong đó, năm 2013,

Bộ cấp 36 giấy chứng nhận đăng ký chương trình liên kết (trong đó có 27 chương trình mới so với năm 2012), sang năm 2014 số chương trình liên kết đã

là 76, tức là tăng 40 chương trình so với năm trước Còn 3 tháng đầu năm 2015 mới chỉ duy nhất một chương trình được cấp phép3

Hiện nay, các đài truyền hình không chỉ xã hội hóa một số chương trình

mà còn xã hội hóa cả kênh Ví dụ, Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực hiện xã hội hóa cả kênh trên 4 kênh chương trình: Kênh HTVC - Mua sắm, tiêu dùng với Công ty Truyền thông tầm nhìn hai mươi mốt; Kênh FNBC - Thông tin Tài chính - Ngân hàng với Công ty Cổ phần Truyền thông và ứng dụng Công nghệ thông tin FNBC; Kênh HTVC - Coop - Mua sắm qua truyền hình với Liên hiệp hợp tác xã thương mại thành phố Hồ Chí Minh; Kênh HTVC+ - Thông tin Tổng hợp với Công ty Cổ phần Yêu âm nhạc - YAN Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Dương thực hiện liên kết cả kênh trên 4 kênh chương trình truyền hình BTV6 - Giải trí dành cho giới trẻ, BTV9 - Văn hóa Phương Đông, BTV10 - Thể thao NCM và BTV11 - Giải trí dành cho thiếu nhi với cùng một đối tác là Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu AVG Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC thực hiện liên kết cả kênh chương trình trên kênh VTC10 - Netviet với Công ty

Cổ phần Truyền thông VTCI Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Tháp thực hiện liên kết cả kênh chương trình đối với kênh truyền hình THĐT2 - Khoa giáo

và giải trí Miền Tây với Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu AVG Như vậy, tính đến thời điểm này, theo số liệu Giấy chứng nhận đăng ký liên kết hoạt động

3

Xem: Bình Minh: Vì sao các chương trình liên kết của Cát Tiên Sa, BHD không được cấp phép?, Báo điện

tử Infonet, ngày 24/3/2015

Ngày đăng: 27/06/2019, 11:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w