1. Trang chủ
  2. » Tất cả

tiểu luận xử lý tình huống giải quyết tranh chấp đất đai giữa 02 hộ có đất liền kề

16 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 38,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản thân là một lãnh đạo quản lý, bên cạnh đó là việc vận dụng những kiến thức đã tiếp thu từ lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên tại Trường Chính trị Tôn Đức Thắng khóa 60

Trang 1

MỞ ĐẦU

Đất đai là một loại tài nguyên quý giá đối với con người và sự phát triển của

xã hội Đặc biệt hơn, đối với mỗi con người thì quyền sở hữu đất là một tài sản mang ý nghĩa to lớn Có những người trong xã hội phải cố gắng phấn đấu nhiều năm thậm chí gần như cả cuộc đời mình cũng chỉ để mong có một mảnh đất an

cư lạc nghiệp Như vậy có thể thấy đất đai có một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống Giá trị của đất đai càng lớn kéo theo đó là một hệ quả tất yếu của các hành vi vi phạm quy định về đất đai, tranh chấp đất đai ngày càng phổ biến

và mức độ phức tạp ngày càng tăng cao

Nhà nước ta đã rất cố gắng trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai nhằm giữ ổn định tình hình chính trị, xã hội Chính vì thế hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn Chính sách, pháp luật về đất đai của Đảng và Nhà nước ta có nhiều thay đổi tương ứng với từng giai đoạn phát triển của cách mạng Tuy nhiên tình hình quản lý và sử dụng đất đai hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, tồn tại dẫn đến tình trạng tranh chấp đất, khiếu nại, tố cáo về việc quản lý và sử dụng đất đai có

xu hướng gia tăng Việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa công dân với công dân và công dân với cơ quan nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền còn thiếu hiệu quả, còn thiếu thống nhất, đồng bộ trong cách giải quyết

Có thể khẳng định rằng, việc giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay là một công việc phức tạp, khó khăn và là khâu yếu nhất trong công tác giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung Bản thân là một lãnh đạo quản lý, bên cạnh đó là việc vận dụng những kiến thức đã tiếp thu từ lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên tại Trường Chính trị Tôn Đức Thắng khóa 60 niên khóa 2018,

học viên xin lựa chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai hộ gia đình

có đất liền kề tại xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang” để phản ánh một

góc nhìn chân thực trong công tác quản lý và sử dụng đất tại tại địa phương Những yêu cầu của tiểu luận tình huống quản lý Nhà nước không đơn giản

Trang 2

phân tích cơ sở lý luận, các quy định; đánh giá ưu, khuyết điểm của từng vấn đề… làm cơ sở cho việc đề xuất những kiến nghị theo từng nội dung Do đó, mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng do thời gian ngắn, kinh nghiệm bản thân có hạn, nên bài viết này chắc chắn còn những hạn chế nhất định, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô để bài viết được hoàn chỉnh hơn

I MÔ TẢ TÌNH HUỐNG:

Vào năm 2017, ông Trương Tấn Tài nguyên quán tại Ấp Phước Thọ, xã Đa Phước, huyện An Phú có xảy ra tranh chấp đất đai với hộ liền kề là bà Lê Thị Phước với nội dung như sau:

Ông Tài được nhận thừa kế một mảnh đất từ cha mẹ (đã mất) có vị trí tại tổ

5, Ấp Phước Thọ, xã Đa Phước, huyện An Phú Mảnh đất được bố mẹ ông Tài

sử dụng ổn định từ năm 1964 Từ năm 1982 ông Tài và gia đình chuyển đi nơi khác sinh sống và làm ăn nên mảnh đất được thừa kế bỏ không

Năm 1985 hộ bà Lê Thị Phước (hộ liền kề nhà ông Tài) tiến hành xây dựng lại nhà ở trên mảnh đất của gia đình mình, do có nhu cầu sử dụng phần diện tích đất phía trước nhà vào mục đích chăn nuôi nên bà Phước đã xin sử dụng nhờ 1 phần diện tích đất công (là đường giao thông nông thôn) phía trước mảnh đất nhà ông Tài để xây dựng tạm chuồng trại chăn nuôi Tại thời điểm đó do chưa có nhu cầu sử dụng đến nên ông Tài đồng ý cho bà Phước sử dụng phần diện tích phía trước thửa đất nhà ông Tài Bà Phước hứa sau này khi nhà ông Tài có nhu cầu sử dụng đến sẽ trả lại mặt bằng Việc trao đổi giữa ông Tài và bà Phước chỉ được thực hiện bằng lời nói Trong quá trình sử dụng nhờ phần diện tích đất của ông Tài, bà Phước đã tiến hành xây dựng công trình phụ và trụ cổng vào phần diện tích đất phía trước mảnh đất nhà ông Tài và còn lấn sang phần móng đất nhà ông Tài

Đến năm 2017, gia đình ông Tài trở về quê hương và xây dựng lại nhà ở trên mảnh đất của mình để sinh sống lâu dài, khi tiến hành đào móng xây dựng thì ông Tài có phát hiện ra phần trụ cổng của nhà bà Phước đã xây đè lên 1 phần

Trang 3

móng đất cũ của nhà ông Tài Khi phát hiện ra điều này ông Tài có yêu cầu bà Phước phá bỏ trụ cổng để trả lại phần diện tích lấn chiếm cho nhà ông Tài và có yêu cầu nhà bà Phước tháo dỡ phần công trình xây dựng bao gồm công trình phụ

và trụ cổng án ngữ trước mặt tiền của thửa đất nhà mình để ông Tài xây dựng phần cổng nhà và tường rào thì gia đình bà Phước không đồng ý tháo dỡ với lý

do phần diện tích đất gia đình bà Phước đang sử dụng bà Phước đã thực hiện nghĩa vụ tài chính đầy đủ với nhà nước và phần diện tích đất đang sử dụng đó đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Phước

Do nhiều lần nói chuyện tình cảm với bà Phước nhưng không có kết quả nên vào tháng 08 năm 2017 ông Tài làm đơn gửi UBND xã Đa Phước đề nghị giải quyết vụ việc bà Phước hộ liền kề xây dựng trụ cổng lấn đất và công trình phụ án ngữ trước trước mặt tiền phần đất nhà ông Tài

UBND xã Đa Phước đã tiến hành làm việc với 2 bên liên quan đến vụ tranh chấp và đưa ra phương án hòa giải

Sau khi hòa giải không thành công tại cấp xã, vụ việc tiếp tục được chuyển lên cơ quan cấp trên là Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Phú để thụ lý giải quyết vụ việc

Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Phú tiến hành làm việc với các bên liên quan Ông Trương Tấn Tài trình bày các nội dung như sau:

Nguồn gốc thửa đất do ông cha để lại (bố là Trương Thanh Tâm và mẹ là Nguyễn Thanh Thảo), thửa đất được gia đình ông Tài sử dụng liên tục từ năm

1964, diện tích bao nhiêu ông Tài không biết rõ Bố mẹ ông Tài sinh được 7 người con bao gồm:

- Trương Tấn Lợi (Con bà Cả)

- Trương Tấn Lộc (Con bà Cả)

- Trương Tấn Thọ (Con bà Cả)

- Trương Thị Thanh Thúy (Con bà Cả)

Trang 4

- Trương Thị Hồng (Con bà Cả)

- Trương Thị Hoa (Con bà Hai)

- Trương Thị Thủy (Con bà Hai)

Năm 2015, các anh em trong gia đình ông Tài tiến hành chia đất cho ba người con là Trương Tấn Lợi, Trương Tấn Lộc và Trương Tấn Thọ (lúc đó bố

mẹ đã chết) Việc chia đất chỉ nói miệng chứ không thể hiện trên giấy tờ

Thời gian xảy ra tranh chấp đất giữa gia đình ông Tài và gia đình bà Phước

từ năm 1985, tại thời điểm đó nhà bà Phước xây dựng công trình phụ có chiều dài 3m, chiều rộng 1,4m nằm trên đất công (đường giao thông nông thôn) trước thửa đất nhà ông Tài, tường xây công trình phụ nhà bà Phước xây lấn lên phần móng nhà ông Tài khoảng 30cm Lúc đó gia đình ông Tài có phản đối việc xây dựng thì bà Phước nói rằng xin làm nhờ để sử dụng tạm nếu sau này gia đình ông Tài có nhu cầu sử dụng thì sẽ trả lại mặt bằng Năm 2015 gia đình bà Phước tiếp tục xây dựng trụ cổng (kích thước khoảng 60 x 60cm) án ngữ trước mặt tiền thửa đất nhà ông Tài Năm 2017 gia đình ông Tài tiến hành xây nhà và có yêu cầu bà Phước tháo dỡ công trình thì gia đình bà Phước không tháo dỡ và có nói rằng phần diện tích nhà bà Phước đang sử dụng đã thực hiện nghĩa vụ tài chính cho xã

và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên em trai của ông Tài là ông Trương Tấn Thọ khẳng định mình không hề ký tên vào biên bản xác định ranh giới, mốc giới Vì vậy nếu gia đình nhà bà Phước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Tài yêu cầu xác minh chữ ký trong biên bản xác định ranh giới, mốc giới kích thước thửa đất của gia đình bà Lê Thị Phước

Bà Lê Thị Phước trình bày như sau:

Nguồn gốc thửa đất do ông cha để lại (Bố là ông Lê Văn Hài, mẹ là bà Nguyễn Thị Thoa; Ông Nội và bà Thoa đã chết) Thửa đất được bố mẹ cho bà Phước sử dụng liên tục từ năm 1980, (việc cho quyền sử dụng đất chỉ nói miệng

chứ không lập di chúc), diện tích là 144,0 m2 Năm 1981, gia đình bà Phước xây

Trang 5

dựng công trình phụ (chiều dài theo đường nông thôn là 2,6m, rộng khoảng 1,5m) Tại thời điểm xây dựng gia đình bà Phước xây dựng trụ công trình phụ có chèn lên móng của nhà ông Tài với kích thước khoảng 20cm x 20cm, trụ cao khoảng 2m Năm 2007, gia đình bà Phước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thửa số 112, tờ bản đồ số 5, diện tích là 152,4m2 mang tên hộ bà Lê Thị Phước Năm 2016, gia đình bà Phước được UBND huyện An Phú cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 191, tờ bản đồ số 57, diện tích 151,3 m2 mang tên hộ bà Lê Thị Phước

Ông Trương Tấn Thọ (em trai ông Tài) trình bày như sau:

Năm 2005, đơn vị đo đạc bản đồ và UBND xã tiến hành đo đất của các hộ

Ấp Phước Thọ để lập bản đồ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đo thửa đất của gia đình ông Thọ và thửa đất của gia đình bà Phước, trong đó có nội dung ký biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất (theo hiện trạng sử dụng đất) đối với thửa đất của gia đình bà Phước Lý do ông Thọ không nhất trí với kích thước các cạnh nằm trước mặt thửa đất của gia đình ông Thọ cạnh đường nông thôn và tranh chấp giữa hai gia đình đã xảy ra từ năm 1982 nên không ký biên bản Nhưng trong biên bản đã có người mạo danh chữ ký của ông Thọ (ký tên không ghi rõ họ và tên) Việc gia đình bà Phước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007 ông Thọ không biết Năm 2016 thực hiện dự án “Xây dựng khu đô thị loại 5” đơn vị đo đạc và địa chính xã, ban Ấp Phước Thọ tiến hành kẽ vạch sơn xác định ranh giới, mốc giới thửa đất giữa gia đình ông Thọ và gia đình bà Phước nhưng gia đình ông Thọ không nhất trí và không biết đơn vị đo đạc có đo kích thước thửa đất của hai gia đình, ông Thọ không ký vào biên bản ranh giới, mốc giới kích thước thửa đất của gia đình bà

Lê Thị Phước lập ngày 11/3/2015, còn ai đó giả mạo chữ ký của ông Thọ thì ông Thọ không biết

Căn cứ hồ sơ địa chính, theo bản đồ đo đạc lưu trữ tại UBND xã Đa Phước thể hiện:

Trang 6

+ Bản đồ đo đạc năm 1964 tu chỉnh năm 1977, thửa đất của gia đình ông Trương Tấn Tài là thửa số 91, tờ bản đồ số 4, thửa đất của gia đình bà Lê Thị Phước là thửa số 92, tờ bản đồ số 4, không thể hiện diện tích, ranh giới thửa đất, không có sổ mục kê Phần diện tích đất gia đình bà Lê Thị Phước xây dựng trước cửa nhà ông Tài là đất công (đường liên ấp) UBND xã quản lý

- Theo bản đồ đo đạc và sổ mục kê năm 1985:

+ Thửa đất số 445, tờ bản đồ số 9, diện tích 132,0 m2 mang tên ông Lê Văn Hài (là bố đẻ bà Lê Thị Phước)

+ Thửa đất số 446, tờ bản đồ số 9, diện tích 148,0 m2 mang tên ông Trương Tấn Tài

+ Thửa đất số 447, tờ bản đồ số 9, diện tích 96,0 m2 mang tên bà Nguyễn Thanh Thảo (là mẹ ông Trương Tấn Tài)

+Thửa đất số 448, tờ bản đồ số 9, diện tích 144,0 m2 mang tên bà Nguyễn Thanh Thảo (là mẹ ông Trương Tấn Tài)

Phần diện tích đất gia đình bà Lê Thị Phước trước cửa nhà ông Tài kích thước các cạnh là (phía bắc dài 2,0m, phía nam giáp đất đường liên ấp chiều dài

là 2,0m, phía Đông giáp đường liên ấp chiều rộng là 1,0 m, phía Tây giáp thửa đất của bà Nguyễn Thanh Thảo chiều rộng là 1,3m; diện tích là 2,3 m2)

- Theo bản đồ đo đạc và sổ mục kê năm 2006:

+ Thửa đất số 37, tờ bản đồ số 5, diện tích 152,4 m2 mang tên bà Lê Thị Phước

+ Thửa đất số 56, tờ bản đồ số 5, diện tích 364,7 m2 mang tên ông Trương Tấn Thọ (là em trai ông Trương Tấn Tài)

Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Phú đã phối hợp cùng UBND

xã Đa Phước tiến hành kiểm tra, đo đạc hiện trạng thửa đất của gia đình ông Trương Tấn Tài, bà Lê Thị Phước kết quả cụ thể như sau:

- Tổng diện tích thửa đất gia đình bà Lê Thị Phước là 154,3 m2

Trang 7

+ Phía Bắc giáp Sông Hậu chiều dài là 14,51m.

+ Phía Nam giáp hộ ông Trương Tấn Tài chiều dài là 12,65m và giáp đường liên ấp chiều dài là 1,5m + 0,7m

+ Phía Tây giáp hộ ông Nguyễn Thanh Tuấn chiều rộng là 10,71m và giáp

hộ ông Trương Tấn Tài chiều rộng là 2,95m

+ Phía Đông giáp đường liên ấp chiều rộng là 2,32m + 3,15m + 6,85m

- Tổng diện tích thửa đất gia đình ông Trương Tấn Tài là 184,98 m2

+ Phía Bắc giáp hộ bà Lê Thị Phước chiều dài là 12,65m; giáp hộ ông Nguyễn Thanh Tuấn chiều dài là 5,72m

+ Phía Nam giáp hộ ông Trương Tấn Thọ chiều dài là 19,0m;

+ Phía Đông giáp đường liên ấp chiều rộng là 9,9m

+ Phía Tây giáp hộ ông Trương Thanh Hà và ông Trương Thanh Trí chiều rộng là 9,9m;

- Phần diện tích đất gia đình bà Phước nằm trước thửa đất của gia đình ông Tài kích thước các cạnh giáp thửa đất gia đình ông Tài là 2,95m; nằm trong thửa đất gia đình bà Phước là 2,05m, giáp đường liên ấp là 1,5m + 0,7m và 2,32m diện tích là 5,7 m2

II MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG:

Vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải sớm giải quyết dứt điểm vụ việc này và đưa ra được hướng giải quyết tối ưu nhất nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết, đáp ứng tình hiện quản lý đất đai hiện nay của địa phương Xét thấy đây là một vụ khiếu nại nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của các bên liên quan, không những thế có thể gây lan truyền thông tin lệch lạc trong nhân dân làm mất lòng tin của nhân dân đối với chính quyền địa phương Vì vậy vụ việc cần được

xử lý với những mục tiêu sau đây:

Trang 8

- Xử lý dứt điểm vụ khiếu nại kéo dài lên các cấp, các cơ quan có thẩm quyền, đúng điểm dừng theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và Luật Đất đai hiện hành

- Việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Trương Tấn Tài phải đảm bảo đúng pháp luật, đúng trình tự thủ tục, hợp tình, hợp lý, bảo vệ được quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ông Trương Tấn Tài là người sử dụng đất có khiếu nại trực tiếp

- Xử lý nghiêm minh đúng pháp luật đối với những hành vi vi phạm pháp luật về Đất đai, khiếu nại, tố cáo của cá nhân, tổ chức, chính quyền có liên quan

đế vụ khiếu nại tranh chấp đất đai này nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, bảo vệ uy tín, củng cố lòng tin của công dân đối với chính quyền địa phương;

- Thông qua việc giải quyết dứt điểm vụ tranh chấp đất đai giữa ông Trương Tấn Tài và bà Lê Thị Phước tại Ấp Phước Thọ, huyện An Phú, tỉnh An Giang để góp phần tuyên truyền phổ biến giáo dục ý thức của người dân trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật về đất đai;

- Đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan đến vụ tranh chấp;

- Căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, các loại bản đồ hiện có tại địa phương làm căn cứ để giải quyết vụ việc theo đúng trình tự thủ tục của nhà nước;

- Giảm tối đa mức thiệt hại kinh tế đối với các bên liên quan đến vụ tranh chấp, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chính đáng của công dân;

- Giải quyết hài hòa giữa các lợi ích trước mắt và lâu dài, các lợi ích kinh tế

- xã hội và tính pháp lý

III NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ:

1 Nguyên nhân:

Trang 9

1.1 Nguyên nhân khách quan:

- Đất đai là một loại tài nguyên có giá trị, chính vì vậy đã tác động đến tính chất của vụ tranh chấp không thể tự thương lượng giữa hai bên;

- Trong một thời gian dài, công tác quản lý đất đai bị buông lỏng, quy trình quản lý thiếu chặt chẽ, thiếu khoa học Hồ sơ địa chính, tài liệu lịch sử làm căn

cứ giải quyết không đầy đủ;

- Các chính sách, văn bản pháp luật của Nhà nước về quản lý đất đai có nhiều thay đổi, có những vấn đề chưa thật cụ thể Mặt khác, công tác cập nhật văn bản pháp luật của cán bộ còn yếu, vì vậy việc vận dụng, thực thi trên thực tế gặp nhiều khó khăn;

- Do trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật về đất đai của người dân không cao nên dẫn đến tình trạng vi phạm các quy định của nhà nước trong sử dụng và quản lý đất đai;

- Do xu hướng ích kỷ và lòng tham của con người nên một số bộ phận người dân đã lợi dụng việc quản lý thiếu chặt chẽ của nhà nước để thực hiện các hành vi vi phạm đất đai nhằm mục đích đem lại lợi ích cho bản thân

1.2 Nguyên nhân chủ quan:

- Trình độ quản lý hành chính nhà nước nói chung về đất đai của các cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở còn nhiều bất cập, đặc biệt với huyện An Phú là một huyện có trình độ phát triển kinh tế và dân trí còn ở mức thấp Công tác quản

lý đất đai ở địa phương còn bị buông lỏng, chưa được chú trọng, hồ sơ địa chính không đầy đủ, không cập nhật, thiếu chặt trẽ, thủ tục hành chính không đảm bảo;

- Đối với Uỷ ban nhân dân xã Đa Phước đội ngũ cán bộ phụ trách công việc quản lý đất đai qua các thời kỳ còn thể hiện nhiều yếu kém, hạn chế về mặt trình

độ chuyên môn, hiểu biết về quy định pháp luật Mặt khác do đội ngũ cán bộ quản lý chưa phát huy được hết vai trò trong việc quản lý, kiểm soát các hành vi

Trang 10

vi phạm về đất đai trên địa bàn xã nên không kịp thời ngăn chặn được hành vi vi phạm ngay từ ban đầu;

- Trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân

xã Đa Phước và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Phú đã không quản

lý chặt chẽ, không thẩm định cẩn thận, không thực hiện đúng quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Lê Thị Phước;

- Về phía bà Lê Thị Phước đã lợi dụng lòng tin của hàng xóm cũng như sự quản lý thiếu chặt chẽ của chính quyền địa phương xã Đa Phước để cố ý thực hiện những hành vi vi phạm trong việc sử dụng đất đai

2 Hậu quả:

- Vụ việc tranh chấp làm ảnh hưởng đến cuộc sống chung của những bên liên quan đến vụ việc, đồng thời gây mất tình làng nghĩ xóm giữa hai gia đình xảy ra tranh chấp, gây ảnh hưởng chung đến tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong xóm, ấp;

- Gây ra thiệt hại về kinh tế: Vụ tranh chấp khiến cho gia đình ông Tài không thể hoàn thiện việc xây dựng nhà ở trên phần diện tích đất của gia đình nhà mình do phần phía trước cổng nhà bị chắn bởi phần công trình phụ và trụ cổng nhà bà Phước;

- Vụ tranh chấp xảy ra cho thấy những bất cập, hạn chế, quản lý lỏng lẻo của địa phương trong công tác quản lý đất đai gây mất lòng tin của nhân dân đối với các cấp chính quyền

IV PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT:

1 Các phương án giải quyết:

1.1 Phương án 1: Hòa giải ở cấp xã.

- UBND xã Đa Phước tiến hành hòa giải vụ tranh chấp đất đai giữa ông Trương Tấn Tài và bà Lê Thị Phước với nội dung như sau:

Ngày đăng: 26/06/2019, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w