Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đã có khá nhiều các bài viết trên các sách báo chuyên ngành cũng như cáccông trình khoa học ở nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau nghiên c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ KIỀU NGÂN
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM: KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ KIỀU NGÂN
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM: KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHÍA CẠNH XÃ HỘI VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm và cơ sở các quy định pháp luật của hình phạt tử
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng số 2.1 Thống kê số lượng bị cáo bị tuyên án tử hình trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến 2013 40
Bảng số 2.2 Thống kê số lượng bị cáo bị tuyên án tử hình trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh do Tòa cấp cao xét xử từ năm 2014 đến 2018 40
Bảng số 2.3 Thống kê số lượng bị cáo bị tuyên án tử hình trên địa bàn tỉnh Bình
Dương do Tòa cấp cao xét xử từ năm 2014 đến 2018 42
Bảng số 2.4 Thống kê số lượng bị cáo bị tuyên án tử hình trên địa bàn tỉnh Đồng
Nai do Tòa cấp cao xét xử từ năm 2014 đến 2018 42
Bảng số 2.5 Thống kê số lượng bị cáo bị tuyên án tử hình do Tòa cấp cao tại thành
phố Hồ Chí Minh xét xử từ năm 2014 đến 2018 47
Hình 2.1 Các quốc gia thi hành nhiều án tử hình trong giai đoạn 1997-2016 45
Trang 5Hình phạt tử hình là loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hìnhphạt của pháp luật nước ta, thể hiện ở chỗ hình phạt này khi được áp dụng sẽ tước điquyền quan trọng nhất chính là quyền sống của người phạm tội Chính vì hệ quả củaviệc áp dụng hình phạt tử hình rất lớn như vậy nên việc nghiên cứu các vấn đề liênquan đến hình phạt này là rất cần thiết, là một vấn đề vừa mang tính pháp lý, vừamang tính nhân văn Bởi nếu hình phạt này áp dụng không chính xác thì không còn
cơ hội khắc phục sai lầm, và liệu khi được áp dụng thì có đem lại hiệu quả và đạtđược đúng mục đích mong muốn hay không
Tình hình tội phạm thời gian qua lại có nhiều diễn biến phức tạp, nổi lên rấtnhiều vụ án nghiêm trọng giết người hàng loạt được dư luận rất quan tâm mà các bịcáo hầu như đều phải chịu hình phạt tử hình Vấn đề đặt ra là: tại sao vẫn còn những
vụ án như vậy vẫn xảy ra? Liệu hình phạt tử hình có đủ sức răn đe những tội phạmtương tự trong tương lai? Làm thế nào để việc giảm số lượng tội danh áp dụng hìnhphạt tử hình nhưng vẫn có hiệu quả cao trong việc phòng ngừa, răn đe tội phạm? Vìvậy cần phải có những nghiên cứu sâu về hình phạt tử hình trong tình hình hiện tại
Ngoài ra, vì hiện nay hình phạt tử hình vẫn còn áp dụng, trong khi tình trạngoan sai thì vẫn còn tồn tại, nhưng không phải người tiến hành tố tụng nào cũng nhậnthức rõ được những hệ lụy khi quyết định áp dụng hình phạt tử hình Do đó việcphân tích các chiều cạnh khác nhau liên quan đến hình phạt tử hình cũng góp phầngiúp người tiến hành tố tụng có được nhìn nhận toàn diện trước khi quyết định áp
Trang 6dụng hình phạt tử hình, tránh được những hậu quả đáng tiếc do oan sai đồng thờicũng giảm phần nào oan sai.
Qua việc nghiên cứu nội dung các quy định của pháp luật về hình phạt tửhình cũng như những ảnh hưởng về mặt xã hội mà hình phạt này đem lại tác giảnhận thấy các quy định của pháp luật đã có nhiều điểm mới tiến bộ hướng đến việcbảo đảm tốt hơn các quyền con người Cụ thể, theo Pháp luật hình sự Việt Nam hiệnnay hình phạt tử hình có giảm so với trước đây nhưng vẫn còn được áp dụng tại 18tội danh trên tổng số 314 tội danh được quy định tại Bộ luật hình sự Việc nghiêncứu các khía cạnh về hình phạt tử hình nhằm tiến đến việc tiếp tục giảm số lượngcác tội danh áp dụng hình phạt tử hình để phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp củanước ta theo đúng tinh thần của Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là: “Đề cao hiệu quả phòngngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mởrộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loạitội phạm Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số
ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”
Trên thế giới, vấn đề quyền con người đang được hết sức đề cao và nhậnđược sự quan tâm của hầu như tất cả các quốc gia và vấn đề này đang được thể hiện
rõ nhất là thông qua pháp luật Và xu hướng của pháp luật thế giới hiện nay là tiếntới loại bỏ hình phạt tử hình Trong xu thế hội nhập, pháp luật nước ta cũng đã cónhiều quy định mới thể hiện sự phù hợp với pháp luật thế giới Một trong nhữngquy định mới đáng chú, ý liên quan đến một khía cạnh của quyền con người đóchính là quy định về quyền sống, tại Điều 19 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người cóquyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạttính mạng trái luật” Từ quy định trong Hiến pháp đã được cụ thể hóa ra thành cácquy định trong các văn bản pháp luật và quy định về hình phạt tử hình chính là sựthể hiện rõ nét nhất Việc nghiên cứu về hình phạt tử hình để theo kịp xu hướngchung của pháp luật quốc tế là cần thiết, đó cũng là những bước tiến giúp pháp luậtnước ta có thể tiến đến gần hơn với những chuẩn mực của pháp luật quốc tế
Trang 7Đây là lý do tác giả chọn đề tài luận văn "Hình phạt tử hình theo pháp luật hình sự Việt Nam: khía cạnh pháp luật và xã hội"
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có khá nhiều các bài viết trên các sách báo chuyên ngành cũng như cáccông trình khoa học ở nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau nghiên cứu về
hình phạt tử hình, khi chọn đề tài luận văn"Hình phạt tử hình theo pháp luật hình
sự Việt Nam: khía cạnh pháp luật và xã hội " tác giả có tham khảo một số công
trình nghiên cứu liên quan đến hình phạt tử hình như sau:
- Vũ Thị Thúy (2010), Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam, sách
chuyên khảo, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh;
Nội dung của cuốn sách tập trung vào việc nghiên cứu khái niệm, đặc điểm,bản chất, mục đích của hình phạt tử hình; cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quyđịnh và áp dụng hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam và luật hình sự một
số nước trên thế giới, các quy định và hướng hoàn thiện một số quy định trongBLHS năm 1999 về hình phạt tử hình và thực tiễn áp dụng;
- Nguyễn Văn Beo (2007), Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam,
Luận án tiến sĩ;
Luận án đã phân tích các đặc điểm của hình phạt tử hình đồng thời đưa ramột số kiến nghị mở rộng hơn nữa phạm vi đối tượng được miễn hình phạt tử hìnhnhư người từ 70 tuổi trở lên, người mắc bệnh thiểu năng trí tuệ hạn chế khả năngnhận thức, đồng thời đưa ra những yêu cầu quy định chặt chẽ điều kiện miễn ápdụng hình phạt tử hình để việc áp dụng chế định này có hiệu quả cao hơn và tránhviệc lợi dụng việc miễn hình phạt tử hình không có căn cứ
- Lê Văn Cảm, Nguyễn Thị Lan (2014), Hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam: Giữ nguyên hay cần giảm và tiến tới loại bỏ (?) Tạp chí Khoa
học, Đại học Quốc gia Hà Nội số 3;
Nội dung bài viết đã đề cập đến các quan điểm khác nhau về hình phạt tửhình trong luật hình sự Việt Nam; các luận chứng cho sự cần thiết phải giảm và tiếntới loại bỏ hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam; vấn đề hoàn thiện các quy
Trang 8phạm có liên quan đến việc giảm và tiến tới loại bỏ hình phạt tử hình trong luật hình
sự Việt Nam
Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành và các công
trình nghiên cứu khác như: Vũ Công Giao (2017), “Quyền sống và hình phạt tử hình trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam”; Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng, Trường Đại học Vinh; Đoàn Thị Ngọc Hải (2015)“Hình phạt tử hình- một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn và hướng đề xuất hoàn thiện”; Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên (2012) "Hình phạt tử hình theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh", Luận văn thạc sĩ; Nguyễn Văn Thái (2014), Vấn đề loại bỏ hình phạt tử hình trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về chức vụ, Luận văn thạc sĩ; Nguyễn Ngọc Chí (2012), Một số suy nghĩ về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 3, tập 30, tr.42-48; Phan Thị Bích Hiền (2018), Tư tưởng nhân đạo sâu sắc – Giá trị cốt lõi của BLHS năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Tạp chí Khoa học giáo dục CSND số 99
Các công trình nêu trên mặc dù có nghiên cứu về hình phạt tử hình ở nhiềukhía cạnh khác nhau nhưng mới chỉ dừng lại ở từng lĩnh vực, hoặc chỉ đề cập đếnvấn đề tính nhân đạo của hình phạt tử hình và xoay quanh việc phân tích quan điểmnên duy trì hay xóa bỏ hình phạt tử hình, cũng có công trình nghiên cứu song song
về quy định pháp luật cũng như những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến việc áp dụnghình phạt tử hình theo pháp luật hiện nay Tuy nhiên chỉ đề cập sơ lược một vài yếu
tố xã hội liên quan đến hình phạt này
Ngoài ra phần lớn các công trình trên đều được nghiên cứu trước khi Bộ luậthình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực thi hành, chưa cập nhậtđến tình hình của việc áp dụng hình phạt tử hình trong giai đoạn mới và theo quyđịnh về hình phạt tử hình trong BLHS năm 2015, đồng thời cũng chưa có sự nghiêncứu sâu về khía cạnh tính quyết định xã hội của hình phạt tử hình
Từ việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về hìnhphạt tử hình cùng với những yếu tố thuộc khía cạnh xã hội sẽ giúp hiểu rõ hơn về
Trang 9các quy định của pháp luật đối với hình phạt tử hình cũng như tăng cường hiệu quảkhi áp dụng hình phạt này Từ đó tạo cơ sở cho việc tiếp tục giảm tội danh có quyđịnh hình phạt tử hình theo đúng tinh thần cải cách tư pháp nhưng khi được áp dụnghình phạt tử hình vẫn sẽ đạt được tính trừng trị, răn đe và phòng ngừa tội phạm hiệuquả
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và những quy định về hình phạt
tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam, thực tiễn áp dụng và tác động xã hội củahình phạt này, luận văn hướng vào việc tìm hiểu những nội dung các quy định củapháp luật có những điểm nào hợp lý và chưa hợp lý và hiệu quả thực tế khi áp dụngcác quy định đó cũng như xu hướng xã hội của áp dụng hình phạt tử hình hiện naynhư thế nào Từ đó góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về hệ thốnghình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng để hình phạt luôn đạt được mụcđích là phòng ngừa người phạm tội tiếp tục phạm tội, ngăn ngừa người khác phạmtội; trừng trị người có hành vi phạm tội và giáo dục ý thức pháp luật cũng nhưkhuyến khích sự tham gia đấu tranh, phòng ngừa tội phạm của người dân
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu đã nêu trên, đề tài hướng tới các nhiệm vụ sau:
Một là, trình bày phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hình phạt
tử hình như khái niệm, đặc điểm vị trí của hình phạt này trong hệ thống hình phạttheo pháp luật hình sự nước ta
Hai là, phân tích các quy định của pháp luật về hình phạt tử hình trong các
Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật hình sự năm 2009 được Quốc hội khóa XII số 37/2009/QH12 thông quangày 19/6/2009 và Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017)
Ba là, đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình này từ năm 2014 đến
2018, trong đó bao gồm những kết quả đạt được trong việc áp dụng hình phạt tử
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm những vấn đề về lý luận, sự điềuchỉnh của pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng hình phạt tửhình tại Việt Nam trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2018 (theo số liệu thống kêcủa Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh về áp dụng hình phạt tửhình tại một số tỉnh phía Nam)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện chủ yếu trên cơ sở phép duy vật biện chứng và duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh; những quan điểm,đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về hình phạt và áp dụnghình phạt
Ngoài ra luận văn còn được thực hiện dựa trên việc sử dụng các phươngpháp nghiên cứu có tính truyền thống sau đây: phân tích, tổng hợp, thống kê, sosánh, quy nạp…Trên cơ sở những phương pháp chung và phương pháp cụ thể nêutrên chuyên đề thực hiện được nhiệm vụ và đạt được mục đích nghiên cứu đề ra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Luận văn nghiên cứu các quy định về hình phạt tử hình một cách có hệ thống
và toàn diện nhằm làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về hình phạt tử hình vàthực trạng áp dụng hình phạt tử hình hiện nay Từ đó tạo cơ sở lý luận cho việcnghiên cứu các quy định có cần thiết áp dụng hay không áp dụng hình phạt tử hình,cũng như những quy định về việc áp dụng các hình phạt khác
Trang 116.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Từ những đánh giá về các quy định pháp luật cũng như thực trạng của việc
áp dụng hình phạt tử hình của luận văn sẽ là cơ sở để các cơ quan xây dựng phápluật hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự,các quy định cụ thể về áp dụng hình phạt tử hình Ngoài ra kết quả nghiên cứu củaluận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm nghiên cứu cũng nhưnhững người làm công tác thực tiễn có liên quan đến đề tài của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Không tính phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thìLuận văn có tất cả ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và khía cạnh xã hội về hình phạt tử hình Chương 2: Thực trạng khía cạnh pháp luật và xã hội của hình phạt tử hình
tại Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tử hình.
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHÍA CẠNH XÃ HỘI
VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 1.1 Khái niệm, đặc điểm và cơ sở các quy định pháp luật của hình phạt
tử hình
1.1.1 Khái niệm của hình phạt tử hình
Hình phạt tử hình cũng giống như tội phạm, đều là một hiện tượng xã hộimang tính khách quan Tuy nhiên, nếu tội phạm là một hiện tượng xã hội trái vớicác chuẩn mực chung của xã hội, của xã hội để chống lại sự vi phạm điều kiện tồntại của mình Hình phạt tử hình là một loại hình phạt truyền thống có từ lâu đời tồntại ở các quốc gia Trong các đạo luật từ thời cổ xưa như Bộ luật Hammurabi, ĐạoLuật Manu, Đạo luật 12 bảng thời La Mã… đã ghi nhận sự tồn tại của hình phạt tửhình
Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì, hình phạt là biện pháp cưỡng chếnghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa ánquyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước
bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó Tử hình là mộttrong những hình phạt thuộc hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật hìnhsự
Hiện nay có rất nhiều các khái niệm khác nhau về hình phạt tử hình Xét vềmặt ngôn ngữ, hình phạt tử hình là thuật ngữ có tên tiếng Anh là “death penalty”hay là “capital punishment” Capital có nguồn gốc từ tiếng Latin là “capitalis”,trong đó có gốc của từ “kaput” có nghĩa là cái đầu, hình phạt làm mất đầu nghĩa là
đã tước bỏ mạng sống của một người Theo gốc từ Hán Việt nghĩa của chữ “tửhình” có nghĩa là hình phạt chết Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông thì “tử hình” làhình phạt phải chịu tội chết [54, tr.1053] Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam thì
“Tử” nghĩa là “chết”, “hình” là hình thức trừng trị người phạm tội [tr.1964] Nhưvậy, có thể hiểu, tử hình là hình thức trừng trị kẻ phạm tội bằng cái chết Theo từ
Trang 13điển giải thích thuật ngữ Luật học “Tử hình là hình phạt tước bỏ quyền sống củangười bị kết án Tử hình được coi là hình phạt đặc biệt trong hệ thống hình phạt củaLuật hình sự Việt Nam Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, tử hình chỉ được ápdụng đối với các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và được thi hành theomột thủ tục tố tụng chặt chẽ” [21, tr.129] Tử hình là hình phạt chính, tước bỏ quyềnsống của người bị kết án, là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt[44, tr.276]
Các khái niệm về hình phạt tử hình nêu trên đều có điểm chung sau: tử hình
là tước bỏ mạng sống của người phạm tội; tử hình là hình phạt nghiêm khác nhấttrong hệ thống hình phạt; tử hình chỉ áp dụng đối với các trường hợp phạm tội đặcbiệt nghiêm trọng
Theo nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế, hình phạt tử hình chỉ được ápdụng đối với những loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Tuy nhiên tùy vào mỗi
quốc gia mà khái niệm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng lại được hiểu theo cách khác
nhau
Trong Luật Hình sự Việt Nam, tử hình là loại hình phạt đặc biệt và nghiêmkhắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án và chỉđược áp dụng đối với người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xãhội Hình phạt tử hình phải được quy định trong Bộ luật Hình sự và chỉ do Tòa ánquyết định Hình phạt tử hình là một hiện tượng xã hội mang tính khách quan Đóchính là phương tiện của xã hội để tự bảo vệ mình và chống lại sự vi phạm các điềukiện tồn tại của nó Tội phạm đe dọa sự tồn tại của xã hội nên xã hội phải phản ứngmột cách tự nhiên là trừng trị người phạm tội [22]
Tại điều 40 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quyđịnh: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệtnghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạmtính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định” Như vậy, theo định nghĩa nêu trên
đã khẳng định hình phạt tử hình là một loại hình phạt đặc biệt vì nó tước đi tính
Trang 14mạng của người bị kết án Và hình phạt này chỉ áp dụng với người phạm tội đặc biệtnghiêm trọng đối với một số nhóm tội nhất định, tùy vào mỗi giai đoạn khác nhaumỗi quốc gia khác nhau thì khái niệm về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cũng sẽkhác nhau
Trên cơ sở những phân tích trên, có thể hiểu: Hình phạt tử hình theo pháp luật hình sự Việt Nam là biện pháp cưỡng chế hình sự đặc biệt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án và chỉ được áp dụng đối với người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội.
1.1.2 Đặc điểm của hình phạt tử hình
Hình phạt tử hình là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt do đó cũngmang những đặc điểm chung của hệ thống hình phạt: là công cụ đấu tranh phòngngừa tội phạm của nhà nước; là biện pháp cưỡng chế, trừng trị nghiêm khắc của nhànước, được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng quyền lực của mình; mang đến nhữnghậu quả bất lợi cho người phạm tội; phải được quy định trong pháp luật hình sự, đặcđiểm này là yêu cầu của nguyên tắc pháp chế; phải do Tòa án quyết định áp dụngtheo một trình tự thủ tục tố tụng do luật định và được quyết định bằng một bản án.Như vậy nội dung, điều kiện và phạm vi áp dụng của hình phạt phải được pháp luậtquy định từ đó tránh được sự tùy tiện của các cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng.Tuy nhiên, vì là một loại hình phạt đặc biệt nên hình phạt tử hình cũng mang nhữngđiểm khác biệt với các loại hình phạt khác
Thứ nhất, hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất - tước đoạt mạng
sống của người phạm tội, đây là hình phạt duy nhất trong hệ thống hình phạt có quyđịnh này
Thứ hai, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng mà nhà nước thấy cần phải loại bỏ hoàn toàn sự tồn tại của ngườiphạm tội để bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng Chỉ khi hành vi phạm tộigây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, và hành vi này phải được quy định trong luật,
vì ở mỗi thời điểm khi chính sách hình sự thay đổi thì việc áp dụng hình phạt tửhình cũng sẽ thay đổi theo đối với mỗi loại tội Đây là biểu hiện của nguyên tắc
Trang 15pháp chế xã hội chủ nghĩa, phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật trong việc phòng ngừa tội phạm chung
Thứ ba, hình phạt tử hình chỉ áp dụng khi có một bản án của Tòa án có thẩm
quyền quyết định và là kết quả của một phiên tòa xét xử nghiêm minh đúng quyđịnh pháp luật Việc áp dụng phải tuân theo một quy trình tố tụng hết sức chặt chẽ,như vậy mới bảo đảm được sự thận trọng, khách quan, toàn diện, tránh oan sai vìnếu sai lầm trong việc áp dụng hình phạt tử hình thì hậu quả là không thể khắc phụcđược
Thứ tư, hình phạt tử hình không đặt ra mục đích giáo dục, cải tạo người bị
kết án vì đã loại bỏ hoàn toàn cơ hội thay đổi và tái hòa nhập cộng đồng của người
bị kết án Tuy vậy, hình phạt tử hình vẫn đạt được mục đích phòng ngừa riêng làloại bỏ khả năng phạm tội mới của người bị kết án và mục đích phòng ngừa chung
là răn đe mạnh mẽ, ngăn ngừa những người khác đi vào con đường phạm tội
Thứ năm, mặc dù tước đi quyền sống của người phạm tội nhưng quy định về
hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự vẫn phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, vìviệc áp dụng hình phạt này để bảo vệ lợi ích của cả cộng đồng, loại trừ nguy cơ đedọa cộng đồng Bên cạnh đó, việc áp dụng hình phạt tử hình chỉ được áp dụng vớimột số loại tội danh, và loại trừ đối tượng bị tử hình là người chưa thành niên, phụ
nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lênkhi phạm tội hoặc khi bị xét xử
1.1.3 Cơ sở các quy định pháp luật của hình phạt tử hình
Về cơ sở pháp lý, hình phạt tử hình được quy định xuất phát từ việc thực hiện
nhiệm vụ của bộ luật hình sự, được quy định rõ ràng ngay tại Điều 1 Bộ luật hình sự
2015 “Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đấtnước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệquyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức,bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thứctuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” Qua đó ta thấy rõcác quan hệ xã hội quan trọng mà Bộ luật hình sự cần phải bảo vệ bằng hình phạt
Trang 16nói chung và hình phạt tử hình nói riêng, ngoài ra còn có nhiệm vụ giáo dục ý thứcthức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm cho mọi ngườitrong xã hội
Các quy định pháp luật về hình phạt tử hình còn được xây dựng xuất phát từcác nguyên tắc chung khi xây dựng pháp luật hình sự, trong đó quan trọng nhất làcác nguyên tắc: Nguyên tắc pháp chế, theo đó những hành vi phạm tội bị áp dụnghình phạt tử hình phải được quy định trong Luật hình sự, việc đánh giá, xét xử và ápdụng hình phạt tử hình phải chính xác, đúng người, đúng tội; Nguyên tắc dân chủyêu cầu Luật hình sự bảo vệ và tôn trọng các tự do dân chủ của nhân dân và xử lýnghiêm khắc hành vi phạm tội xâm phạm đến các quyền này, bảo đảm sự bình đẳngcủa người phạm tội trước pháp luật và đảm bảo quyền tham gia của người dân vàocác quá trình của hình phạt tử hình và trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm;Nguyên tắc nhân đạo là một nguyên tắc ảnh hưởng lớn nhất đến việc xây dựng và
áp dụng hình phạt tử hình, trên cơ sở đó các quy định pháp luật về hình phạt tử hình
đã được thể theo hướng thu hẹp phạm vi và đối tượng áp dụng cũng như mở rộngphạm vi đối không bị áp dụng hình phạt tử hình Các quy định về tạm giam đối với
tử tù hay phương thức thi hành hình phạt tử hình cũng theo hướng đảm bảo cácquyền lợi và giảm đau đớn hơn cho người phạm tội; Nguyên tắc cá thể hóa tráchnhiệm hình sự đòi hỏi hình phạt áp dụng cho chủ thể phạm tội phải tương xứng vớimức độ gây nguyên hiểm cho xã hội của tội phạm gây ra và phải phù hợp với nhânthân cũng như hoàn cảnh của chủ thể phạm tội Tại khoản 1 điều 3 Bộ luật hình sự
2015 cũng đã quy định rõ các nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội, đó chính là
sự cụ thể hóa một phần của các nguyên tắc đã nêu trên
Về cơ sở thực tế của các quy định pháp luật về hình phạt tử hình xuất phát từ
dư luận xã hội hay từ nguyện vọng của người dân đối với việc áp dụng hình phạtnày và xuất phát từ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của nhà nước đối vớitình hình xã hội thực tế
Trang 17Khi quy định về hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng cần phảinghiên cứu về các cơ sở nêu trên mới có thể xây dựng các quy định pháp luật đúngđắn và hiệu quả
1.2 Mục đích, vai trò và ý nghĩa của hình phạt tử hình
1.2.1 Mục đích của hình phạt tử hình
Mục đích của hình phạt tử hình là sự phản ánh rõ nét bản chất xã hội, bảnchất giai cấp của hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng Trước đây, nếucác nhà làm luật quan niệm người phạm tội là kẻ đã gây ra tội ác và ác giả ác báo,phải trừng trị thích đáng thì sẽ dẫn đến việc lạm dụng hình phạt tử hình Các hìnhthức thi hành hình phạt tử hình trong trường hợp đó cũng dã man, tàn khốc hơn, thểhiện mục đích “trả thù” người phạm tội Dần dần các quan điểm tiến bộ, nhân đạo
về hình phạt tử hình đã thay thế nên tuy vẫn duy trì ở đa số các nước nhưng hìnhphạt tử hình chỉ được áp dụng đối với người phạm tội như là biện pháp cuối cùng vànghiêm khắc nhất để “trừng trị” họ [40] Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhànước nên khi quy định và áp dụng hình phạt, Nhà nước cũng đặt ra những mục đíchnhất định Mục đích của hình phạt là kết quả thực tế cuối cùng mà Nhà nước đặt ra
và mong muốn đạt được khi quy định hình phạt đối với tội phạm và áp dụng hìnhphạt đối với cá nhân người phạm tội đó Hiện nay, trong khoa học pháp lý hình sự,vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau đối với mục đích của hình phạt tử hình Cácquan điểm này thường xoay quanh vấn đề: mục đích của hình phạt tử hình là trừngtrị, hay cải tạo giáo dục người phạm tội, hay thiết lập lại công bằng xã hội?
Theo Pháp luật hình sự Việt Nam thì, hình phạt không chỉ nhằm trừng trịngười, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo phápluật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người,pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tộiphạm” Như vậy mục đích chính của hình phạt nói chung bao gồm hai mục đích:
Thứ nhất, mục đích phòng ngừa riêng đó là ngăn ngừa người phạm tội tiếp
tục phạm tội mới Trừng trị có thể xem là nội dung quan trọng để đạt được mục đíchphòng ngừa tội phạm, là tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hình phạt tử hình Đối với
Trang 18người bị kết án tử hình được xem là những người không còn khả năng cải tạo, giáodục được nữa và việc loại bỏ hoàn toàn khả năng tái phạm hay phạm tội mới vớimức độ nguy hiểm cao là cần thiết Sự nghiêm khắc và triệt để của hình phạt tử hìnhcho thấy mục đích phòng ngừa riêng, ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới Việcloại bỏ hoàn toàn khả năng tái phạm với mức độ nguy hiểm cao là cần thiết hơn cả.Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, hình phạt tử hình không có mục đích
trừng trị người phạm tội Trừng trị người phạm tội “là bản chất, là nội dung, là thuộc tính tất yếu”, là phương thức để thực hiện hình phạt Trừng trị thể hiện tính
nghiêm khắc của loại hình phạt tử hình và cũng là phương tiện để đạt được các mụcđích phòng ngừa của hình phạt Với ý nghĩa đó, “trừng trị” nên được hiểu ở khíacạnh chỉ tước đoạt tính mạng của cá nhân người bị kết án tử hình Khi thi hành hìnhphạt tử hình, nhà nước không nhằm tra tấn, nhục hình, bắt người phạm tội gánh chịunhững đau đớn giống như họ đã gây ra cho nạn nhân; mà luôn cố gắng tìm kiếm và
áp dụng các hình thức thi hành hình phạt tử hình sao cho giảm thiểu những đau đớn
về thể xác và tinh thần cho người phạm tội Điều đó chứng tỏ khi áp dụng hình phạt
tử hình nhà nước không có mục đích trừng trị người phạm tội Hình phạt tử hìnhcũng không có mục đích “cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có íchcho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống” Bởi vì,hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với người phạm tội mà nhà nước cho rằng họkhông thể cải tạo, giáo dục được Vì vậy, chúng ta không thể đặt ra mục đích “cảitạo, giáo dục” một con người mà ta đã khẳng định rằng họ không có khả năng phụcthiện Hơn nữa, tử hình là một loại hình phạt đặc biệt, loại trừ vĩnh viễn người phạmtội ra khỏi đời sống xã hội, nên nhà nước không thể đặt ra mục tiêu “cải tạo, giáodục” một người đã chết Trong các mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt, tử
hình chỉ có mục đích ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới, loại bỏ hoàn toàn
khả năng phạm tội mới của người bị kết án Có thể nói, trong tất cả các loại hìnhphạt được áp dụng, chỉ hình phạt tử hình có hiệu quả ngăn ngừa người bị kết ánphạm tội mới cao nhất, mang tính tuyệt đối Bởi vì một người đã không còn tồn tạithì không thể tiếp tục thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội Hình phạt tử
Trang 19hình chỉ được áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội đặc biệt nghiêmtrọng, thể hiện bản chất hung hãn cao độ, coi thường tính mạng, sức khoẻ của ngườikhác và không còn khả năng cải tạo, giáo dục, nếu để họ sống thì họ sẽ tiếp tục gâynguy hiểm cao cho xã hội…Vì vậy, áp dụng hình phạt tử hình là sự lựa chọn cuốicùng và duy nhất để triệt tiêu khả năng phạm tội mới của họ, bảo vệ ổn định, trật tự
và vì sự phát triển chung của xã hội [40]
Thứ hai, mục đích phòng ngừa chung là giáo dục người, pháp nhân thương
mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm Nghĩa làthông qua việc áp hình phạt với người phạm tội sẽ tác động đến các thành viên kháctrong xã hội để họ không phạm tội Hình phạt tử hình là hình phạt đặc biệt, chủ yếumang tính giáo dục phòng ngừa chung, không đặt ra mục đích cải tạo, giáo dụcngười bị kết án vì người phạm tội không còn cơ hội để sửa chữa, khắc phục nhữnghậu quả do hành vi của mình gây ra Mục đích phòng ngừa chung của hình phạt tửhình là ở chỗ có tác dụng răn đe mạnh mẽ, ngăn ngừa những cá nhân không vữngvàng khác trong xã hội đi vào con đường phạm tội và giải quyết công bằng trong xãhội, cảnh báo cho những người đang hoặc đã có ý định phạm tội về hậu quả pháp lý
mà họ phải gánh chịu nếu thực hiện tội phạm, từ đó họ cần từ bỏ ý định phạm tộihoặc phải thận trọng hơn trong xử sự để tránh sự trừng phạt của nhà nước; buộc họphải đứng trước sự lựa chọn: hoặc là tôn trọng và tuân thủ pháp luật; hoặc là phạmtội và có nhiều khả năng phải trả giá đắt bằng chính mạng sống của mình Ngoài ra,hình phạt tử hình cũng có mục đích giáo dục các thành viên khác trong xã hội (chưa
có ý định phạm tội) ý thức tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tộiphạm [40]
Tóm lại, hình phạt tử hình có hai mục đích: ngăn ngừa người bị kết án phạmtội mới (phòng ngừa riêng); ngăn ngừa người khác phạm tội (phòng ngừa chung)
1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của hình phạt tử hình
Hình phạt tử hình đóng một một vai trò quan trọng thể hiện thái độ kiênquyết của Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là đối vớinhững người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Nó là công cụ, phương tiện bảo đảm
Trang 20cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi Việc quy định hình phạt tử hình trong luậthình sự góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn, vữngmạnh của nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản củacông dân; nâng cao nhận thức của người dân về tội phạm từ đó căn chỉnh lại hành vicủa mình
Ý nghĩa lớn nhất của hình phạt tử hình là răn đe những người không vữngvàng trong xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời động viên, khuyến khíchquần chúng nhân dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm; phát hiệnnhanh chóng, xử lý kịp thời, chính xác mọi hành vi phạm tội, không để lọt kẻ phạmtội, không làm oan người vô tội, ngăn chặn không cho người phạm tội tiếp tụcphạm tội hoặc phạm tội mới; đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân
Ý nghĩa tiếp theo là phục vụ việc nâng cao nhận thức của nhân dân nóichung, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng về sự cần thiết phải áp dụnghình phạt nghiêm khắc nhất trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử những vụ ánphạm tội đặc biệt nghiêm trọng Việc nắm vững nội dung, bản chất pháp lý của hìnhphạt tử hình, cũng như những thủ tục, điều kiện áp dụng hình phạt này, sẽ giúp chocác cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng đúng pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quảđấu tranh phòng, chống tội phạm; giúp công dân có cơ sở pháp lý tham gia tích cựcvào cuộc đấu tranh chống tội phạm; đồng thời tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp của mình
Bên cạnh đó, việc quy định hình phạt tử hình trong luật hình sự còn có ýnghĩa đặt ra nhu cầu hoàn thiện chế định các hình phạt nói chung và hoàn thiện cácquy phạm pháp luật hình sự quy định loại hình phạt này nói riêng
1.3 Hình phạt tử hình theo Pháp luật hình sự Việt Nam: khía cạnh xã hội
1.3.1 Tính quyết định xã hội của hình phạt tử hình
Trang 21Hình phạt là công cụ để nhà nước bảo vệ xã hội như C.Mác nói “Hình phạtkhông phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội,chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó” Khi xã hội phát sinh tội phạm thìnhà nước sẽ dùng thông qua pháp luật dùng hình phạt tương ứng để chống lại tộiphạm Như vậy, xét về mặt xã hội bản chất của hình phạt là một hiện tượng pháp lý-
xã hội, có nguồn gốc từ xã hội, chứa đựng và truyền tải các thông tin pháp lý – xãhội, phản ánh các chuẩn mực xã hội
Hình phạt tử hình cũng vậy, vì có nguồn gốc từ xã hội nên có mối liên hệchặt chẽ với các hiện tượng, các biến đổi xã hội Việc quy định hình phạt tử hìnhnhư thế nào không phải do ý chí chủ quan của nhà nước hay nhà làm luật quyết định
mà được quyết định bởi những quan hệ phát sinh trong đời sống xã hội cần đến sựbảo vệ của nhà nước bằng hình phạt tử hình Những sự thay đổi của các quan hệ xãhội sẽ dẫn đến sự phát sinh và thay đổi các loại tội phạm, thay đổi tính chất nguyhiểm của tội phạm và sẽ dẫn đến sự thay đổi biện pháp giải quyết đối với tội phạmcủa Nhà nước Như vậy, trên cơ sở của những biến chuyển trong xã hội nhà làm luật
sẽ tư duy, ghi nhận và phản ánh bằng hình thức pháp lý đó chính là các quy địnhpháp luật về hình phạt tử hình Nói cách khác hiện thực xã có tác động rất lớn,mang tính quyết định quan trọng đến nội dung pháp lý của hình phạt tử hình Chonên chúng ta cần xem xét nghiên cứu đến tính quyết định xã hội của hình phạt tửhình
Theo như quan điểm của Giáo sư Võ Khánh Vinh thì “Tính quyết định xãhội của hình phạt là một trong những đặc trưng, thuộc tính cơ bản, mang tính quyluật của hình phạt Hình phạt có những quá trình của nó, mỗi quá trình của hìnhphạt luôn được đặt trong mối liên hệ mật thiết với các quan hệ xã hội đặc thù, hìnhthành nên một chỉnh thể tương tác có tính hệ thống giữa hiện thực xã hội và hìnhphạt Tính quyết định xã hội của hình phạt là đặc trưng, thuộc tính cơ bản phản ánh
xu hướng hình thành, phát triển, các quá trình của hình phạt trên nền tảng các điềukiện, nhân tố và cơ sở xã hội, phản ánh mối quan hệ tương tác giữa hiện thực xã hội
Trang 22và hình phạt.” Vì hình phạt tử hình cũng là một hiện tượng pháp lý – xã hội có tínhquá trình nên các điều kiện xã hội tác động đến từng quá trình đó bao gồm:
- Các điều kiện xã hội tác động đến quá trình xây dựng hình phạt tử hình;
- Các điều kiện xã hội tác động đến quá trình áp dụng hình phạt tử hình;
- Các điều kiện xã hội tác động đến quá trình thi hành hình phạt tử hình;
1.3.2 Cơ chế quyết định xã hội của hình phạt tử hình
Toàn bộ các quá trình của hình phạt tử hình từ xây dựng, áp dụng, thi hànhhình phạt tử hình đều chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện xã hội Trước hết dựatrên các điều kiện xã hội để xác định các quan hệ xã hội trọng yếu cần bảo vệ, tìnhhình tội phạm, nhu cầu đấu tranh với tội phạm đặc biệt nguy hiểm, từ đó xây dựngnên nội dung các quy định về hình phạt tử hình Trong quá trình áp dụng và thi hànhcác quy định pháp luật về hình phạt tử hình, các quy định này sẽ tác động đến hiệnthực xã hội, đến các quan hệ xã hội cụ thể phát sinh và từ những chủ thể có liênquan đến các quá trình trên (như chủ thể quyết định áp dụng hình phạt, người bị kết
án tử hình, thân nhân người bị kết án, thân nhân người bị hại, người thi hành hìnhphạt) để xác định mức độ đạt được mục đích mong muốn của hình phạt tử hình.Ngược lại, các quy định về hình phạt tử hình của pháp luật cũng sẽ chịu tác độngcủa những điều kiện xã hội thực tế, sự tác động này sẽ góp phần kiểm chứng tínhhiệu quả của những quy định pháp luật đã ban hành, để tiếp tục hoàn thiện các quyđịnh pháp luật về hình phạt tử hình để phù hợp với các quan hệ xã hội thuộc phạm
vi điều chỉnh đang tồn tại hoặc dự tính sẽ phát sinh trong tương lai Sự tác động qualại giữa hình phạt tử hình với hiện thực xã hội, các quan hệ xã hội cụ thể và conngười theo một cách thức vận hành có tính hệ thống và quy luật như trên chính là cơchế quyết định xã hội của hình phạt tử hình [50]
1.3.3 Hiệu quả của hình phạt tử hình
Đối với bất kỳ quy định pháp luật nào được ban hành thì việc đánh giá hiệuquả thực hiện thực tế của quy định ấy rất quan trọng, vì nó quyết định sự tồn tại củacác quy định pháp luật Đó không chỉ là việc nghiên cứu các vấn đề cụ thể liên quantrong các quy định của pháp luật mà còn phải nghiên cứu cả các vấn đề về xã hội,
Trang 23như vậy mới có thể đánh giá tổng thể và chính xác hiệu quả của quy định pháp luật.Nghiên cứu hiệu quả của pháp luật chính là sự đánh giá mức độ kết quả tác động xãhội của pháp luật trong thực tiễn đời sống, thông qua mối quan hệ giữa kết quả đóvới mục đích mong muốn mà pháp luật đặt ra
Nghiên cứu về hiệu quả của hình phạt tử hình cũng vậy Có thể nói, hiệu quảcủa hình phạt tử hình chính là kết quả đạt được của hình phạt tử hình khi áp dụngvào đời sống thực tế so với mục đích mong muốn mà pháp luật đã đặt ra Hiệu quảcủa hình phạt tử hình không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của quy định pháp luật
mà còn phụ thuộc vào khả năng tổ chức thực hiện hình phạt này trong đời sống.Hình phạt tử hình là một quá trình chịu nhiều tác động của các điều kiện xã hội, do
đó tính hiệu quả của hình phạt này phải được bảo đảm xuyên suốt các quá trình xãhội của hình phạt, bắt đầu từ quá trình xây dựng, áp dụng cho đến thi hành hình phạttrong thực tế, và có mối quan hệ mật thiết với các chi phí xã hội được sử dụng chocác quá trình trên Để đánh giá chính xác hiệu quả của hình phạt tử hình cần sửdụng phương pháp xã hội học định tính và định lượng, cần có các tiêu chí đánh giá
và các yếu tố bảo đảm hiệu quả của hình phạt để làm cơ sở cho việc đánh giá
1.3.3.1 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hình phạt tử hình
Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hình phạt tử hình là hệ thống các căn cứnằm trong quá trình hoạt động xã hội của hình phạt này nhằm đánh giá mức độ hiệnthực hóa và kết quả xã hội thực tế đạt được so với mục đích đã đề ra và những đòihỏi xã hội Bao gồm các tiêu chí cơ bản sau:
- Tần suất áp dụng hình phạt tử hình:
Thông thường các chỉ số đánh giá tần suất áp dụng củ một loại hình phạt sẽ
có ý nghĩa đánh giá hiệu quả của hình phạt đó Chưa có số liệu thống kê chính thức
về tần suất áp dụng của các loại hình phạt cụ thể nhưng qua các báo cáo tổng kếtcủa ngành tòa án có thể thấy tần suất áp dụng của hình phạt tử hình thường thấp hơncác loại hình phạt khác Cụ thể là số lượng bị cáo bị áp dụng hình phạt tử hìnhthường chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng số bị cáo, và thấp hơn số lượng bị cáo bị ápdụng các hình phạt khác đặc biệt là hình phạt tù, số lượng này cũng ít có sự biến
Trang 24động đột xuất qua các năm Có một số tội danh có quy định về hình phạt tử hìnhnhưng hầu như không áp dụng Tuy nhiên không thể dựa hoàn toàn vào tần suất ápdụng này mà đánh giá hiệu quả của hình phạt tử hình là thấp hơn các loại hình phạtkhác Hình phạt tử hình là loại hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất vì nó tước đimạng sống của người bị áp dụng nên khi áp dụng cũng phải cân nhắc kỹ lưỡngnhiều yếu tố và trình tự thủ tục phức tạp hơn các loại hình phạt khác, đó là cũng lànhững lý do khiến cho tần suất áp dụng của hình phạt tử hình không cao Do vậy tầnsuất này cũng không thể hoàn toàn nói lên hiệu quả của hình phạt tử hình mà còncần phải xem xét khả năng hiện thực hóa vai trò, mục đích, chức năng xã hội củahình phạt để đánh giá, riêng đối với hình phạt tử hình thì hiện nay các yếu tố nàyđang còn là vấn đề có nhiều ý kiến tranh luận và chưa có kết quả thống nhất Xéttheo mục đích của hình phạt được quy định trong pháp luật hình sự, nếu đạt đượcnhững mục đích này thì dù tần suất áp dụng thấp thì hiệu quả của hình phạt tử hìnhvẫn được bảo đảm
- Mức độ tự giáo dục và tự cải tạo của người phạm tội
Đối với hình phạt tử hình không áp dụng tiêu chí này để đánh giá hiệu quả vìngười phạm tội đã bị loại bỏ hoàn toàn ra khỏi xã hội sau khi áp dụng hình phạt do
đó không thể thực hiện được sự đánh giá về mức độ tự giáo dục hay tự cải tạo củangười phạm tội Chỉ có thể đánh giá mức độ tự ý thức, tự giáo dục của các cá nhânkhác trong xã hội thông qua tác động của hình phạt tử hình, thể hiện ở: mức độ tự ýthức hậu quả bất lợi mà hình phạt tử hình mang lại bằng chính sự hiểu biết và kinhnghiệm xã hội của chính cá nhân đó; mức độ tuân thủ và không vi phạm các điềucấm của pháp luật hình sự trong hành vi thường ngày
- Mức độ tái phạm
Khi xem xét mức độ tái phạm như là một tiêu chí đánh giá hiệu quả của hìnhphạt thì nếu tỷ lệ tái phạm của người phạm tội sau khi chấp hành hình phạt thấpnghĩa là hình phạt đạt hiệu quả cao và ngược lại Đối với hình phạt tử hình sau khi
áp dụng đã triệt tiêu hoàn toàn khả năng phạm tội mới của người phạm tội nhưngnhư vậy không có nghĩa là hiệu quả của hình phạt tử hình cao hơn các loại hình phạt
Trang 25khác Sự đánh giá tiêu chí mức độ tái phạm chính là đánh giá mức độ đạt được mụcđích cải tạo, giáo dục người phạm tội tự ý thức không phạm tội mới, mức độ đạtđược mục đích này cũng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như hoàn cảnh kinh
tế - xã hội, môi trường xã hội, diễn biến tình hình tội phạm… Việc loại bỏ hoàntoàn khả năng phạm tội mới của hình phạt tử hình chính là khẳng định người phạmtội không còn khả năng cải tạo, giáo dục nữa trong trường hợp này mục đích khôngthể xem xét là đạt được hay không
- Mức độ tái hòa nhập cộng đồng
Hình phạt tử hình không đặt ra cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho ngườiphạm tội, vì vậy không thể đánh giá được trong quá trình thi hành hình phạt đã tácđộng như thế nào đến thái độ chấp hành của người phạm tội, đến các biện pháp giáodục cải tạo được sử dụng trong khi thi hành, đến thái độ của người thân và xã hộikhi tiếp nhận phạm nhân đã thi hành án xong như đối với hình phạt khác như hìnhphạt tù có thời hạn
- Xu hướng phát triển của tình hình tội phạm
Hiệu quả của từng hình phạt và của hệ thống hình phạt được đánh giá ở tiêuchí này thông qua các chỉ số về tình hình tội phạm Sự tăng lên hay giảm xuống hay
ổn định của tình hình tội phạm cho thấy mức độ hiệu quả của hình phạt và hệ thốnghình phạt trong đấu tranh với tội phạm Đây có thể coi là tiêu chí rõ nhất để đánhgiá hiệu quả của hình phạt vì tác động của hình phạt lên thực tại xã hội biểu hiệnkhá rõ ràng Có nhiều loại tội phạm như tội phạm giết người, tội phạm ma túy cóchế tài nặng là hình phạt tử hình nhưng tình hình diễn biến của những loại tội phạmnày lại diễn biến rất phức tạp, không có xu hướng giảm nhiều trong khi số lượng tộiphạm bị áp dụng hình phạt tử hình lại tăng Tuy nhiên xu hướng này cũng khônghoàn toàn nói lên hiệu quả của hình phạt tử hình là thấp, vì còn chịu sự tác động củanhiều yếu tố xã hội khác chứ không chỉ đơn thuần là kết quả tất yếu từ nguyên nhân
là sự tác động của hình phạt tử hình trong thực tiễn
Tóm lại có nhiều tiêu chí được xem là căn cứ để đánh giá hiệu quả của hìnhphạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng Tuy nhiên không thể dựa vào từng
Trang 26tiêu chí riêng lẻ để đánh giá mà phải xem xét tiêu chí nào phù hợp với loại hình phạtnào, đồng thời phải kết hợp các tiêu chí một cách có hệ thống và phải đặt các tiêuchí đánh giá trong điều kiện xã hội cụ thể để đánh tổng thể các tác động của điềukiện xã hội cụ thể đó, như vậy mới có thể đánh giá một cách chính xác hiệu quả củahình phạt
1.3.3.2 Các yếu tố bảo đảm hiệu quả của hình phạt tử hình
Các quá trình của hình phạt tử hình từ xây dựng, áp dụng đến thi hành đềuchịu tác động của các điều kiện xã hội cụ thể, sự tác động này sẽ ảnh hưởng đếnhiệu quả thực tế của hình phạt, muốn hình phạt tử hình đạt hiệu quả thì cần chútrọng các yếu tố tác động đến các quá trình của hình phạt Có thể nói các yếu tố bảođảm hiệu quả của hình phạt tử hình là hệ thống các điều kiện cụ thể trong các quátrình của hình phạt bảo đảm sự tác động xã hội tích cực của hình phạt nhằm bảođảm và phát huy mức độ hiệu quả của hình phạt Các yếu tố này xuất hiện trongkhắp các quá trình của hình phạt tử hình nhưng có thể chia thành các nhóm sau: cácyếu tố bảo đảm về mặt chính sách của hình phạt; các yếu tố bảo đảm về mặt pháplý; các yếu tố bảo đảm về thiết chế; các yếu tố bảo đảm về tổ chức thực hiện; cácyếu tố bảo đảm về con người [49]
Thứ nhất, các yếu tố bảo đảm trong quá trình xây dựng hình phạt tử hình.Các yếu tố này rất quan trọng vì nó góp phần bảo đảm cho việc hình thành nên cácquy định về hình phạt phù hợp với nhu cầu thực tế của xã hội, bao gồm: Trước hếtphải là sự ổn định về mọi mặt của đời sống xã hội, nếu kinh tế - xã hội có sự ổnđịnh tình hình tội phạm giảm và sẽ không có sự diễn biến phức tạp, khi đó nhà nước
sẽ xác định được chính xác những quan hệ xã hội trọng yếu cần được bảo vệ bằnghình phạt tử hình, có đường lối chính sách hình sự đúng đắn phù hợp với tình hình
xã hội; Tiếp theo là trình độ dân trí, thái độ và ý thức pháp luật của người dân, nếutrình độ dân trí cao người dân sẽ nhận thức được mức độ nghiêm khắc của hình phạtnày, ý thức pháp luật của người dân tốt thì sẽ tuân thủ quy định của pháp luật và hạnchế hành vi vi phạm thì hình phạt sẽ phát huy tốt tác dụng giáo dục phòng ngừa,thái độ của người dân đối với hình phạt này là ủng hộ cho sự cần thiết có mặt của
Trang 27hình phạt trong xã hội; Trình độ của các nhà làm luật cũng rất quan trọng, làm thếnào để nắm bắt được đúng mức độ nguy hiểm của tội phạm cần thiết phải áp dụnghình phạt tử hình đang diễn ra thực tế trong xã hội, căn cứ vào chính sách chung củanhà nước và thái độ của người dân để truyền tải đúng và đủ thành nội dung các quyđịnh pháp luật; Cuối cùng là quy trình thông qua đạo luật hình sự phải khoa học vàchặt chẽ để hạn chế sai sót trong quá trình soạn thảo và ban hành luật
Thứ hai, các yếu tố bảo đảm trong quá trình áp dụng hình phạt gồm: Chấtlượng các quy định pháp luật có liên quan đến hình phạt tử hình phải rõ ràng, minhbạch, cụ thể về: nội dung, điều kiện, phạm vi, đối tượng, căn cứ áp dụng, quyềnkháng cáo, xin ân giảm, thủ tục và thẩm quyền áp dụng, thủ tục thi hành ….; Chấtlượng của đội ngũ cán bộ cán bộ, đặc biệt là của các thẩm phán phải được đảm bảo
Để ra được một quyết định áp dụng hình phạt tử hình đúng đắn thì người ra quyếtđịnh trước hết đòi hỏi phải có hiểu biết chuyên môn, kỹ năng và năng lực pháp luậtcao, hiểu biết xã hội rộng lớn, có trách nhiệm với công việc, thận trọng, khách quan,
có trí nhớ tốt, có đạo đức nghề nghiệp, đạo đức cá nhân Những đòi hỏi này đối vớingười ra quyết định áp dụng hình phạt tử hình sẽ phải cao hơn, khắc khe hơn cácloại hình phạt khác vì một khi hình phạt tử hình đã được áp dụng và thực hiện làliên quan đến sinh mạng con người thì sẽ không còn cơ hội khắc phục sữa chữa nếu
có sai lầm Những phẩm chất nêu trên ngoài sự tự rèn luyện của mỗi cá nhân còn là
sự bảo đảm những điều kiện hoạt động từ phía nhà nước như: chế độ lương bổng,chế độ công tác; chính sách tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ, cơ sở vật chất hỗtrợ hoạt động xét xử, điều kiện kinh tế chính trị xã hội, đây là các yếu tố ở tầm vĩ
mô nhằm đảm bảo các điều xã hội cụ thể có sự ảnh hưởng quá trình áp dụng hìnhphạt tử hình và thực tiễn hoạt động áp dụng hình phạt tử hình
Thứ ba, các yếu tố bảo đảm trong quá trình thi hành hình phạt Trong thờigian tạm giam chờ thi hành án cần bảo đảm chế độ quản lý giam giữ, ăn, ở, mặc,sinh hoạt, gửi và nhận thư, nhận đồ vật, tiền mặt, gặp nhân thân, chăm sóc y tế cho
tử tù tránh tình trạng tâm lý tiêu cực vì phải chờ đợi lâu Bảo đảm về cơ sở vật chấtnhư xây dựng các nhà thi hành án tử hình phù hợp với số lượng án cần thi hành,
Trang 28đảm bảo về phương thức thi hành ít gây đau đớn cho người phạm tội và có đủ sốlượng thuốc độc cần thiết Bảo đảm trình độ cũng như tâm lý cho người thi hành.Bảo đảm giải quyết việc xin nhận tử thi, hài cốt của người bị thi hành án tử hình chothân nhân của họ
Kết luận chương 1
Các hình phạt trong hệ thống hình phạt rất đa dạng, bao gồm hình phạt chính
và hình phạt bổ sung, hình phạt tước tự do, hình phạt không tước tự do, hình phạttước quyền sống của người bị kết án Mỗi loại hình phạt đều có mục đích, vai trò, ýnghĩa riêng tạo nên sự đa dạng các hình phạt trong hệ thống hình phạt là điều kiệnbảo đảm cho sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật và cá thể hóa trách nhiệmhình sự và hình phạt trong thực tiễn xét xử, trong đó hình phạt tử hình chiếm vai trò
vị trí quan trọng nhất vì đây là loại hình phạt đặc biệt và chỉ áp dụng cho những loạitội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Hình phạt tử hình cũng là loại hình phạt mang tính trừng trị nghiêm khắcnhất vì nó tước đi quyền quan trọng nhất là quyền sống của con người và mục đíchcủa hình phạt này chủ yếu nhằm trừng trị và ngăn ngừa phạm tội mới Việc nhà làmluật xây dựng một hệ thống hình phạt với nội dung mang tính cưỡng chế, giáo dụckhác nhau là cần thiết, phù hợp với sự đa dạng về tính chất, mức độ của các loại tộiphạm trên thực tế và phù hợp với chính sách hình sự nhân đạo, tiến bộ của Đảng vàNhà nước ta
Hình phạt tử hình cũng như các loại hình phạt khác có nguồn gốc từ xã hộinên có mối liên hệ chặt chẽ với các hiện tượng, các biến đổi xã hội Trên cơ sở củanhững biến chuyển trong xã hội nhà làm luật sẽ tư duy, ghi nhận và phản ánh bằnghình thức pháp lý đó chính là các quy định pháp luật về hình phạt tử hình Nói cáchkhác hiện thực xã có tác động rất lớn, mang tính quyết định quan trọng đến nộidung pháp lý của hình phạt tử hình
Trang 29Chương 2THỰC TRẠNG KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI CỦA HÌNH
PHẠT TỬ HÌNH TẠI VIỆT NAM2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình
2.1.1 Hình phạt tử hình trước khi ban hành Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017)
2.1.1.1 Hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1985
Trong Bộ luật Hình sự này, điều kiện, phạm vi, đối tượng áp dụng hình phạt
tử hình được quy định rõ tại Điều 27:
“Tử hình là hình phạt đặc biệt được áp dụng đối với người phạm tội trongtrường hợp đặc biệt nghiêm trọng
Không áp dụng tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ
nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử Tử hình được hoãn thi hành đối với phụ
nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới mười hai tháng
Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm thì tử hình chuyểnthành tù chung thân
Chỉ trong trường hợp đặc biệt có luật quy định riêng thì tử hình mới được thihành ngay sau khi xét xử”
Trong Phần các tội phạm, Bộ luật Hình sự năm 1985, hình phạt tử hình đượcquy định trong 29 điều luật, chiếm 14,89% trên tổng số 195 điều luật về tội phạm.Bao gồm các tội: Tội phản bội tổ quốc (Điều 72); Tội hoạt động nhằm lật đổ chínhquyền nhân dân (Điều 73); Tội gián điệp (Điều 74); Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ(Điều 75), Tội bạo loại (Điều 76); Tội hoạt động phỉ (Điều 77); Tội khủng bố (Điều78); Tội phá hoại cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (Điều 79); Tội chốngphá trại giam (Điều 84); Tội chiếm đoạt máy bay, tàu thủy (Điều 87); Tội phá hủycông trình quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 94); Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng,mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự(Điều 95); Tội làm tiền giả, tàng trữ, lưu hành tiền giả, phá hủy tiền tệ (Điều 98);Tội giết người (Điều 101); Tội hiếp dâm (Điều 112); Tội cướp tài sản xã hội chủ
Trang 30nghĩa (Điều 129); Tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 132); Tội tham ô tàisản xã hội chủ nghĩa (Điều 133); Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hộichủ nghĩa (Điều 138); Tội cướp tài sản của công dân (Điều 151); Tội làm hàng giả,tội buôn bán hàng giả (Điều 167); Tội chống mệnh lệnh (Điều 250); Tội đầu hàngđịnh (Điều 256); Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 258); Tội hủy hoại vũ khí, phươngtiện kỹ thuật quân sự (Điều 269); Tội phá hoại hòa bình gây chiến tranh xâm lược(Điều 277); Tội chống loài người (Điều 278); Tội phạm chiến tranh (Điều 279); Tộituyển mộ lính đánh thuê; làm lính đánh thuê (Điều 280)
Ngày 28/12/1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự
năm 1985 đã quy định thêm 4 hành vi phạm tội về ma túy trong Điều 96a gồm: sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy có mức hình phạt cao
nhất là tử hình
Ngày 12/8/1991, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm
1985 đã quy định hình phạt tử hình đối với các tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
xã hội chủ nghĩa (Điều 134); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều157); Tội nhận hối lộ (Điều 226)
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày22/12/1992 đã quy định hình phạt tử hình đối với Tội buôn lậu hoặc vận chuyển tráiphép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 97)
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày10/5/1997 đã bổ sung thêm 06 điều luật quy định các tội: Tội lợi dụng chức vụ,quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134a); Tội lạm dụngchức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 185e); Tộicưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185m) vào danhmục các tội phải chịu hình phạt cao nhất là tử hình Đồng thời, nhà làm luật cũngtách Điều 96a ra thành 4 điều luật mới (các điều 185b, 185c, 185d, 185đ) và giữnguyên hình phạt tử hình đối với các tội này Điều 112 quy định tội hiếp dâm cũngđược tách ra thành hai tội: Tội hiếp dâm và Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112a) vàcũng vẫn giữ nguyên hình phạt tử hình đối với các tội này
Trang 312.1.1.2 Hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999
Nếu như trong những lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1985, đườnglối xử lý nghiêm khắc hơn đã được thể hiện bằng việc tăng cường hình phạt tử hìnhtrong thực tiễn pháp luật, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có sự thay đổi, bằng việcquy định thu hẹp và xác định rõ ràng phạm vi và điều kiện áp dụng hình phạt này.Thể hiện cụ thể như sau:
a Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999
Theo Điều 35: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với ngườiphạm tội đặc biệt nghiêm trọng
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội,đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tộihoặc khi bị xét xử
Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới
36 tháng tuổi Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân
Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hìnhchuyển thành tù chung thân”
Như vậy quy định về hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự năm 1999 cónhững nội dung mới như sau:
Thứ nhất, tại Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định áp dụng hình phạtnày đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì tại Điều 35
Trang 32Thứ ba, trong khi Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định đối với phụ nữ có thai,phụ nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi chỉ được hoãn thi hành phạt tử hình, thì
Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định không thi hành hình phạt tử hình đối với phụ
nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và hình phạt tử hình đượcchuyển thành tù chung thân
Thứ tư, tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định không áp dụng hìnhphạt đối với người phạm tội trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội Đối với người phạmtội chưa đạt, chỉ có thể áp dụng hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêmtrọng, Bộ luật Hình sự năm 1985 không có quy định này
Thứ năm, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mới là trong trường hợp người
bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân
Thứ sáu, Bộ luật Hình sự năm 1999 bỏ quy định “chỉ trong trường hợp đặcbiệt có luật quy định riêng hình phạt tử hình được thi hành ngay sau khi tuyên”
b Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự năm 1999
Theo Bộ luật Hình sự năm 1999, hình phạt tử hình không còn được áp dụngđối với các tội phạm sau: Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81), Tội chống phátrại giam (Điều 90), Tội trộm cắp tài sản (Điều 138), Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hưhỏng tài sản (Điều 143), Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới(Điều 154), Tội buôn bán hàng giả không phải là lương thực, thực phẩm, thuốcchữa bệnh, phòng bệnh (Điều 156 và 158), Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sửdụng trái phép chất ma túy (Điều 200), Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán tráiphép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230),
Trang 33Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 280), Tội
bỏ vị trí chiến đấu (Điều 324)
2.1.1.3 Hình phạt tử hình theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luậtHình sự năm 2009 được Quốc hội khóa XII số 37/2009/QH12 thông qua ngày19/6/2009
Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều quyđịnh về hình phạt tử hình, cụ thể như sau: Bỏ hình phạt tử hình đối với các tộiphạm: Hiếp dâm (Điều 111), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), Tội buônlậu (Điều 153), Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,công trái giả (Điều 180), Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), Tộichiếm đoạt máy bay, tầu thủy (Điều 221), Tội đưa hối lộ (Điều 289), Tội hủy hoại
vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334) Đối với các tội phạmnày hình phạt nghiêm khắc nhất được áp dụng là hình phạt tù chung thân
Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa Điều 84
"Tội khủng bố" thành "Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" và bổsung thêm tội khủng bố (Điều 230a) quy định hình phạt nặng nhất áp dụng với tộinày là tử hình
Như vậy, hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổinăm 2009) chỉ còn quy định ở 22/272 điều luật về tội phạm, chiếm tỷ lệ khoảng 8%điều luật về tội phạm Việc giảm số lượng hình phạt tử hình cho thấy chính sáchnhân đạo của nhà nước ta đối với việc áp dụng hình phạt nhằm phù hợp với tìnhhình đất nước đang bước vào giai đoạn xây dựng kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và bước đầu trong xu thế hội nhập quốc tế
2.1.2 Hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017)
a Phần chung của Bộ luật hình sự
Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định vềhình phạt tử hình có những thay đổi như sau:
Trang 34“1 Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệtnghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạmtính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định
2 Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội,phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trởlên khi phạm tội hoặc khi xét xử
3 Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong cáctrường hợp sau đây:
a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
b) Người đủ 75 tuổi trở lên;
c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bịkết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp táctích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặclập công lớn
4 Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bịkết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chungthân”
Thứ nhất, Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) đã sửa đổi,
bổ sung điều kiện áp dụng hình phạt tử hình theo hướng thu hẹp phạm vi áp dụng;các điều kiện áp dụng được quy định chặt chẽ hơn; mở rộng đối tượng không ápdụng, không thi hành đối với hình phạt này
- Về loại tội: Chỉ áp dụng đối với một số tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc mộttrong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người;các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác
do Bộ luật hình sự quy định
- Về đối tượng: Chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội đặcbiệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệtlớn theo nguyên tắc: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống
Trang 35đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; Nghiêmtrị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp,
cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” (Điều 3 Bộ luật hình sự 2015)
Thứ hai, Bộ luật hình sự đã mở rộng diện đối tượng không bị áp dụng hìnhphạt tử hình và chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nhằm góp phần hạnchế hình phạt tử hình trên thực tế (Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2015) theo hướngngoài những đối tượng như quy định hiện hành (người chưa thành niên và phụ nữ
có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi), bổ sung thêm đối tượng không bị
áp dụng hình phạt gồm:
- Người từ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử Việc bổ sung đốitượng này vào diện không bị áp dụng hình phạt tử hình thể hiện chính sách hình sựnhân đạo đối với một đối tượng được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong sốnhững người cao tuổi, đó là những người đã đến tuổi thượng thọ mà theo LuậtNgười cao tuổi được hưởng chế độ chúc thọ, mừng thọ của Nhà nước; được đặccách hưởng chính sách bảo trợ xã hội
- Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản hoặc tội nhận hối lộ mà saukhi bị kết án đã chủ động khắc phục cơ bản hậu quả của tội phạm do mình gây ra,hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tộiphạm hoặc lập công lớn Quy định này nhằm khuyến khích người phạm tội thamnhũng khắc phục hậu quả, nộp lại tiền cho Nhà nước
Thứ ba, đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội Bộ luật hình sự 2015 đã quyđịnh “hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy địnhtrong các điều luật cụ thể” thay vì quy định chuyển hình phạt tử hình thành hìnhphạt tù có thời hạn; đối với trường hợp phạm tội chưa đạt mà điều luật được áp dụng
có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình đã quy định thànhchuyển sang áp dụng hình phạt tù có thời hạn (Điều 57) thay vì quy định “chỉ có thể
áp dụng hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng”
b Phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự
Trang 36Trên tinh thần quán triệt tư tưởng cải cách tư pháp, bám sát các tiêu chí cũngnhư điều kiện áp dụng hình phạt tử hình nêu trên, bảo đảm sự kết hợp hài hòa, cânđối giữa yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền sốngtheo tinh thần Hiến pháp mới năm 2013 và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tộiphạm, đồng thời, thể hiện sự thận trọng cần thiết trong việc bỏ hình phạt tử hình đốivới từng tội danh cụ thể, Bộ luật hình sự 2015 bỏ hình phạt tử hình đối với 07 trong
số 22 tội danh có quy định hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự 1999 Đó là cáctội: 1) cướp tài sản; 2) sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm;3) tàng trữ trái phép chất ma túy; 4) chiếm đoạt chất ma túy; 5) phá huỷ công trình,phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; 6) chống mệnh lệnh; 7) đầu hàng địch
- Đối với tội cướp tài sản (Điều 133 Bộ luật hình sự 1999)
Cướp tài sản là một trong ba tội phạm nghiêm trọng nhất trong số các tộixâm phạm sở hữu Bản chất của tội này là tước đoạt quyền sở hữu của người khácbằng vũ lực hoặc bằng các hành động khác tấn công nạn nhân làm cho họ không thểchống cự được Vì vậy, trong khi thực hiện hành vi cướp tài sản, người phạm tội cóthể gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của nạn nhân Tuy nhiên, cần phải thấyrằng, đây là tội xâm phạm quyền sở hữu của người khác, đối tượng chính bị xâm hại
ở đây là tài sản Mục đích của người phạm tội này là chiếm đoạt tài sản của ngườikhác chứ không phải là xâm phạm tính mạng, sức khỏe Việc gây thương tích hoặclàm chết người khi thực hiện hành vi cướp không nằm trong ý định chủ quan củangười phạm tội cướp Hơn nữa, không phải mọi trường hợp phạm tội cướp tài sảnđều gây chết người, do vậy, việc áp dụng hình phạt tù chung thân đối với tội phạmnày là đủ nghiêm khắc cũng tương tự như trường hợp cố ý gây thương tích dẫn đếnchết nhiều người quy định tại khoản 4 Điều 104 của Bộ luật hình sự Nếu chứngminh được người phạm tội có ý định tước đoạt sinh mạng của nạn nhân thì có thể
xử lý về tội giết người mà hình phạt cao nhất là tử hình Trong thực tế, Tòa án xét
xử các vụ án giết người, cướp tài sản thì thường tuyên tử hình đối với tội giết người
và tổng hợp hình phạt chung là tử hình
- Đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm
Trang 37Khi kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì hành vi phạm tội trong lĩnhvực kinh tế sẽ ngày càng tăng tuy nhiên có thể dù tăng về số lượng nhưng mức độnguy hiểm của hành vi phạm tội này không quá cao và cũng là tạo điều kiện chomôi trường kinh tế phát triển hơn thì hình phạt tử hình được bỏ đối với tội sản xuất,buôn bán hàng giả là thực phẩm, phụ gia thực phẩm
- Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội chiếm đoạt chất ma túyThực tiễn cho thấy số án tử hình mà các Tòa án đã tuyên trong thời gian vừaqua chủ yếu tập trung vào tội giết người và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán tráiphép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý Do vậy, để góp phần giảm án tử hình trên thực
tế, bên cạnh việc bỏ 07 tội danh như đã nêu trên, Bộ luật hình sự đã sửa đổi quyđịnh của Bộ luật hình sự 1999 về hai tội danh này theo hướng hạn chế các trườnghợp áp dụng hình phạt tử hình
Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi Điều 194 của Bộ luật hình sự 1999 về tộitàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý theo hướngtách riêng thành 04 tội danh khác nhau (các điều 249, 250, 251, 252) trong đó chỉgiữ lại hình phạt tử hình đối với tội mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy(Điều 250; 251), còn đối với các tội danh khác (tàng trữ trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý) thì mức phạt cao nhất là tù chung thân
- Đối với tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia(Điều 231 Bộ luật hình sự 1999):
Theo Bộ luật hình sự năm 1985 thì đây là một trong các tội xâm phạm anninh quốc gia Đến Bộ luật hình sự năm 1999, tội phạm này được chuyển vềChương các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Như vậy, đã có sựchuyển đổi về khách thể xâm hại từ an ninh quốc gia sang trật tự, an toàn xã hội và
do vậy, tầm quan trọng và yêu cầu bảo vệ khách thể đối với tội này cũng đã có sựthay đổi không còn ở mức cao như trước đây Hơn nữa, đối tượng xâm hại của tộinày là tài sản dưới dạng các công trình, phương tiện có tầm quan trọng về an ninhquốc gia, trước đây đều thuộc sở hữu Nhà nước nên có chính sách xử lý nghiêmkhắc hơn, nhưng nay thuộc nhiều sở hữu của các thành phần kinh tế khác nhau mà
Trang 38về nguyên tắc, phải được bảo vệ như nhau Do vậy, hình phạt tù chung thân đối vớitội phạm này là đủ nghiêm khắc Ngoài ra, thực tiễn cũng cho thấy, trong khoảnggần 10 năm trở lại đây, các Tòa án không áp dụng hình phạt tử hình đối với nhữngngười phạm tội này
Việc bỏ tử hình đối với tội danh này không khó khăn cho chúng ta trong việc
xử lý tội phạm, bởi lẽ, trong một số trường hợp nhất định, người thực hiện hành viphá hủy công trình, phương tiện có tầm quan trọng về an ninh quốc gia có thể bị xử
lý về các tội phạm tương ứng trong Bộ luật hình sự, ví dụ: tội phá hoại cơ sở vậtchất - kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam (Điều 85); tội khủng bố nhằm chốngchính quyền nhân dân (Điều 84) hoặc tội khủng bố (Điều 230a) là những tội có quyđịnh hình phạt tử hình
- Đối với tội chống mệnh lệnh (Điều 316 Bộ luật hình sự 1999) và tội đầuhàng địch (Điều 322 Bộ luật hình sự 1999):
Đây là các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nhưng hậu quả mà hành vi phạmtội này gây ra sau đó có thể không nằm trong ý muốn chủ quan của người phạm tội,thậm chí có trường hợp khi thực hiện các hành vi này, bản thân người phạm tộichưa hình dung được hết những hậu quả mà hành vi phạm tội của mình có thể gây
ra Trong trường hợp chứng minh được rằng, các hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đónằm trong ý muốn chủ quan của người phạm tội thì có thể hành vi phạm tội của họ
đã vượt ra ngoài phạm vi tội chống mệnh lệnh hoặc đầu hàng địch Khi đó sẽ kếthợp xử lý về các tội phạm khác có liên quan Mặt khác, xét về khía cạnh tâm lý,trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh, cận kề giữa cái sống, cái chết, con ngườirất có thể có những giây phút hèn nhát (ví dụ: vì sợ chết mà chống mệnh lệnh khôngthực hiện nhiệm vụ chiến đấu được giao hoặc vì sợ chết mà đầu hàng địch), nếuđược mở thêm một con đường sống (không tử hình) thì bản thân người phạm tội có
cơ hội để sám hối lỗi lầm của mình, vì đồng đội mà không làm liều, góp phần hạnchế được hậu quả lớn hơn có thể xảy ra Hơn nữa, tội chống mệnh lệnh và tội đầuhàng địch chủ yếu xảy ra trong thời chiến và khi đó hậu quả của nó sẽ cực kỳnghiêm trọng, còn trong điều kiện thời bình như hiện nay thì hậu quả của hành vi
Trang 39phạm tội này cũng có mức độ, không giống như thời chiến Do vậy, hình phạt tùchung thân đối với các tội phạm này là đủ nghiêm khắc mà không cần thiết phảitước đi sinh mạng của người phạm tội Hơn nữa, theo Báo cáo số 3870/BQP-VPCngày 07 tháng 12 năm 2012 của Bộ Quốc phòng về Tổng kết 11 năm thi hành Bộluật hình sự thì trong những năm qua các Tòa án quân sự chỉ áp dụng hình phạt tửhình đối với hai tội là: tội gián điệp và tội giết người Còn đối với các tội phạm khácmặc dù có quy định hình phạt tử hình nhưng các Tòa án quân sự không áp dụng
Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đã bỏ tội danh hoạt động phỉ trước đây cóquy định hình phạt tử hình
Những tội danh còn duy trì hình phạt tử hình theo Bộ luật hình sự 2015 (sửađổi bổ sung năm 2017) cụ thể như sau:
+ Nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia
An ninh quốc gia là một loại khách thể của tội phạm được Luật hình sự đặtnhiệm vụ bảo vệ lên hàng đầu, điều này đã được xác định ngay tại Điều 1 của Bộluật hình sự 2015 Đây là khách thể quan trọng cần được bảo vệ vì "an ninh quốcgia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nướccộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc" (Điều 3 Luật an ninh quốc gia năm2004) Khi an ninh quốc gia bị tội phạm xâm hại thì sẽ gây nguy hại thậm chí dẫnđến nguy cơ xóa bỏ quan hệ xã hội đang thống trị của đất nước Chính vì vậy, cáctội xâm phạm an ninh quốc gia là các tội phạm đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, chođất nước cần phải trừng trị bằng hình phạt nghiêm khắc nhất là tử hình Bộ luật hình
sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), các tội xâm phạm an ninh quốc gia đượcquy định tại Chương XIII, với 15 điều luật trong đó có 14 điều luật về tội danh (từĐiều 108 đến Điều 121) và 01 điều quy định hình phạt bổ sung (Điều 112), chiếm43% hành vi phạm tội trong chương này có mức hình phạt cao nhất là tử hình(06/14 Điều luật) Tỷ lệ này thấp hơn so với Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sungnăm 2009) chiếm 50% hành vi phạm tội trong chương có mức hình phạt cao nhất là
tử hình (06/14 Điều luật) Bao gồm:
Trang 40- Tội phản bội tổ quốc (Điều 108)
- Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109)
- Tội gián điệp (Điều 110)
- Tội bạo loạn (Điều 112)
- Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113)
- Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam (Điều 114)
+ Nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của conngười
Con người là chủ thể của nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau nên bất cứhành vi nào xâm phạm đến quan hệ xã hội làm biến đổi tình trạng bình thường củacon người như quan hệ nhân thân bao gồm: tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm của con người đều bị Nhà nước xử lý nghiêm khắc tùy vào mức độ của hành
vi, vì đây cũng là đối tượng được Nhà nước quan tâm bảo vệ
Trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) các tội xâmphạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người được quy định tạiChương XIV với 34 điều luật (từ Điều 123 đến Điều 156), trong đó có 02 điều luật
có mức hình phạt cao nhất là tử hình chiếm tỷ lệ 6% trên tổng số tội danh củachương Bao gồm:
- Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142)
- Tội giết người (Điều 123)
+ Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Để khuyến khích phát triển kinh tế, pháp luật hình sự nước ta đã có phần bớtnghiêm khắc đối với các tội phạm kinh tế, tuy nhiên có một số hành vi phạm tộitrong lĩnh vực kinh tế mà hậu quá của nó liên quan sức khỏe của con người- nhữngnhân tố để phát triển xã hội thì buộc nhà nước vẫn phải duy trì mức hình phạt caonhất
Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), các tội xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế được quy định tại Chương XVIII với 46 điều luật (từ Điều 188