Với số lượng tôn giáo đông có 804.604 tín đồ các tôn giáo trên toàn tỉnhTây Ninh, đặc biệt là đạo Cao Đài hiện nay có trên 2,5 triệu tín đồ trên toàn quốc [8,tr.1], để giải quyết nhu cầu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN PHÖC LỘC
VẤN ĐỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI
ĐẠO CAO ĐÀI Ở TÂY NINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN PHÖC LỘC
VẤN ĐỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI
ĐẠO CAO ĐÀI Ở TÂY NINH HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Phan Phúc Lộc, người thực hiện Luận văn này
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, kết quả nghiên cứunêu trong Luận văn là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nàokhác Những trích dẫn cần thiết trong Luận văn được tôi chú thích rõ ràng và trungthực
Tác giả Luận văn
Phan Phúc Lộc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của học viên Caohọc tại Khoa Triết học, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hộitại Việt Nam
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến học Viện khoa học Xã hội, đãtạo những điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giáo, những người phụtrách Khoa Triết học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báotrong suốt thời gian tôi học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Chu Văn Tuấn, thầy đã tận tình chỉ dạy,truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm có giá trị, giúp tôi hoàn thành Luậnvăn này
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn tập thể, Chi bộ Ban Tôn giáo tỉnh Tây Ninh
đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi được học tập, tiếp cận và nghiên cứu các tài liệuchuyên môn trong quá trình học tập Xin cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3 năm 2019
Học viên
Phan Phúc Lộc
Trang 5MỤC LỤC
1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠO CAO ĐÀI VÀ CÔNG TÁC QUẢN
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI
37
2.1 Khái quát chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Việt Nam hiện nay 37
2.2 Thành tựu và hạn chế của việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao
Trang 62.3.1 Yếu tố chính sách, pháp luật do Đảng và Nhà nước đề ra 51
2.3.2 Yếu tố tuyên truyền và chấp hành pháp luật
Trang 73.1.1 Những yếu tố tích cực tác động đến sự phát triển của đạo Cao Đài ở Tây Ninh
tới……….55
3.1.2 Những yếu tố tiêu cực tác động đến sự phát triển của đạo Cao Đài ở Tây
3.2.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy và đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu cho công tác quản lý nhà nước và thực hiện chính sách tôn giáo đối với hoạt động của
Ninh 60
3.2.3 Tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước
và thực hiện chính sách tôn giáo đối với hoạt động của đạo Cao Đài trên địa bàn
633.2.4 Cần phát huy nguồn lực của tôn giáo nói chung, nguồn lực của Cao Đài nóiriêng trong phát triển kinh tế, xã hội, phát triển bền vững ở Tây Ninh hiện nay 64
66
3.3.1 Thống nhất nhận thức của các ngành, các cấp về công tác quản lý nhà nước
Đài 66
3.3.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói chung, đối với đạo Cao Đài nói riêng 68 3.3.3 Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh kịp thời giải quyết những vấn
đề cấp bách về mặt tổ chức, nhân sự và cơ sở vật chất của đạo Cao Đài đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
Trang 8cho quần chúng tín đồ, nhất là ở vùng sâu vùng xa
Trang 9nghiệp vụ UBND : Ủy ban
nhân dân XHCN : Xã hội
chủ nghĩa
Trang 10“Tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo” Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xácđịnh công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trìnhxây dựng và bảo vệ đất nước, vì tôn giáo là nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phậnnhân dân không nhỏ, sẽ tồn tại lâu dài với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnước ta Với số lượng tôn giáo đông có 804.604 tín đồ các tôn giáo trên toàn tỉnhTây Ninh, đặc biệt là đạo Cao Đài hiện nay có trên 2,5 triệu tín đồ trên toàn quốc [8,tr.1], để giải quyết nhu cầu tín ngưỡng chính đáng của nhân dân, việc nghiên cứu,hoạch định chính sách và hoàn thiện thể chế pháp luật về công tác tôn giáo là mộttrong những yêu cầu cấp thiết trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa ở nước ta, khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ViệtNam về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đây là một trongnhững quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định.
Trong thời gian gần đây, bên cạnh những hoạt động tôn giáo lành mạnh, pháthuy mặt tích cực của tôn giáo, thực hiện tốt phương châm hành đạo vẫn còn có hiệntượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan Các thế lực thù
Trang 11địch và phản động đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành những hoạt độngchống
Trang 12đối, kích động tín đồ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn địnhchính trị.
Tây Ninh là tỉnh biên giới, có nhiều tôn giáo, đặc biệt có Tòa Thánh TâyNinh là trung tâm tổ đình của đạo Cao Đài Tây Ninh, đóng tại huyện Hòa Thành.Hiện nay Cao Đài Tây Ninh có khoảng 557.827 tín đồ trên toàn tỉnh [8, tr.2], tìnhhình tôn giáo trong tỉnh khá phức tạp, công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở TâyNinh đã được các cấp, các ngành quan tâm và đã đạt được những kết quả đáng khích
lệ Song, bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại, hạn chế
Từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Vấn đề thực hiện chính sách tôn giáo
đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện nay’’ để làm đề tài Luận văn cao học chuyên
ngành Chính trị học Thông qua việc phân tích thực trạng tình hình tôn giáo, công tácquản lý nhà nước về tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở tỉnh Tây Ninh, nhằm đánh giá,phân tích những thành tựu và bất cập của chính sách tôn giáo hiện nay, từ đó đề xuấtnhững giải pháp, kiến nghị, góp phần hoàn thiện lý luận, đổi mới chính sách tôngiáo, khơi dậy và phát huy các giá trị tích cực của đạo Cao Đài Tây Ninh, nhằm thựchiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, góp phần ổn định an ninh, chính trị
và phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Tây Ninh hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Các công trình về việc ban hành chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta được khẳng định trong phiên họpđầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, với tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh
"Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết" Sau đó, Hiến pháp năm 1946, Hiếnpháp sửa đổi năm 1959, Sắc lệnh 234/SL năm 1955 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đềukhẳng định, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân Các chính sách tôn giáocủa Đảng, Nhà nước ở các giai đoạn tiếp theo đã động viên và tập hợp tín đồ, chứcsắc tôn giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Đường lối đó đã chứngminh tính đúng đắn trong thực tiễn góp phần đem lại thành công cho cách mạng ViệtNam hơn 7 thập kỷ qua Trước đây các triều đại phong kiến Việt Nam đều có chínhsách đối với tôn giáo và thiết lập mối quan hệ với tôn giáo, lịch sử đã để lại nhữngbài học kinh nghiệm quý
Trang 13báu cho chúng ta ngày hôm nay Năm 1986, đất nước ta bước vào đổi mới toàn diệntrên các mặt của đời sống kinh tế, xã hội Nhưng nói đến tôn giáo, phải đến năm
1990, Đảng, Nhà nước ta mới có sự thay đổi, với nhận thức mới, quan điểm chủtrương mới và những khung pháp lý mới để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo Cụthể là các Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị, Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa VI, Nghị định số 69/HĐBT ngày 21/3/1991 của Hộiđồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đó là những dấu mốc quan trọng trong việc đổimới công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo Tại Đại hội Đảng toànquốc lần thứ XI, Nghị quyết đã chỉ rõ "Tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật vềtín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng", tinh thần này đã được Nhànước thể chế hóa thành pháp luật, tạo hành lang pháp lý quan trọng để các tôn giáohoạt động bình đẳng trước pháp luật Có thể nói việc thực hiện chính sách tôn giáođối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh trong những năm qua là vấn đề được Đảng, Nhànước và xã hội quan tâm để kiện toàn hơn nữa vấn đề an sinh xã hội cho các Chứcsắc, tín đồ theo đạo Cao Đài Tây Ninh trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếptheo Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, cần có sự phối hợp từ nhiều phía trong
đó bao gồm: Nhà nước, cộng đồng xã hội và Chức sắc, tính đồ để từ đó cùng tìm racác giải pháp tối ưu khắc phục những hạn chế, yếu kém của chính sách tôn giáonhằm có sự điều chỉnh phù hợp với thực tiễn hiện nay
2.2 Các công trình nghiên cứu về Cao Đài, chính sách tôn giáo đối với Cao
Đài ở Việt
Nam
Vấn đề tôn giáo đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiêncứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Cao Đài là một tôn giáo nội sinh, mặc dù ra đờimuộn nhưng nhanh chóng phát triển thành một tôn giáo lớn, đặc biệt là ở Nam Bộ,chính vì thế đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu với những công trình khoa học tiêubiểu có liên quan đến đạo Cao Đài Tây Ninh như sau:
+ Một số công trình nghiên cứu về Cao Đài Tây Ninh
Phan Đức Dư (1994), Hoạt động của bọn phản động lợi dụng Cao Đài Tây
Ninh, Đề tài khoa học cấp Bộ, MS: 96-20-38 Đề tài nghiên cứu những hoạt động
Trang 14của các đối tượng lợi dụng đạo Cao Đài Tây Ninh xâm phạm an ninh trật tự và từ đólàm căn cứ để đưa ra những giải pháp nhằm đấu tranh với hoạt động này.
Trang 15Phan Đức Dư (1998), Những giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo an ninh quốc
gia đối với Cao Đài Tây Ninh trong tình hình mới, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại
học an ninh nhân dân, Hà Nội Luận văn nghiên cứu những vấn đề phức tạp, có liênquan đến an ninh quốc gia của đạo Cao Đài Tây Ninh, từ đó đưa ra những giải phápnhằm đảm bảo an ninh quốc gia đối với đạo Cao Đài Tây Ninh trong tình hình mới
Trần Xuân Thanh (1998), Đạo Cao Đài Tây Ninh – Thực trạng và giải pháp
nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học an ninh nhân
dân, Hà Nội Luận văn nghiên cứu những vấn đề phức tạp của đạo Cao Đài TâyNinh như: Lịch sử chống phá cách mạng, hoạt động đòi phục hồi tổ chức Hội thánhnhư trước năm 1945, hoạt động lợi dụng đạo Cao Đài của các thế lực thù địch, vấn
đề Cao Đài ly khai…từ đó đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo an ninh quốc giatrong tình hình
mới
Nguyễn Triều Phong (2013), Xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật trong
đấu tranh chống hoạt động lợi dụng đạo Cao Đài ở địa bàn tỉnh Tây Ninh, Luận
văn thạc sĩ, Học viện an ninh nhân dân Luận văn nghiên cứu về công tác xây dựng
và sử dụng mạng lưới bí mật của lực lượng an ninh trong đấu tranh chống hoạt độnglợi dụng đạo Cao Đài Tây Ninh, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả công tác này trong tình hình mới
Tô Thành Chung (2014), Công tác quản lý nghiệp vụ hệ đối tượng Cao Đài
trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học an ninh nhân dân.
Luận văn tập trung nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả côngtác quản lý nghiệp vụ của lực lượng an ninh Công an tỉnh Tây Ninh đối với đốitượng thuộc diện quản lý nghiệp vụ trong đạo Cao Đài trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Những đề tài nêu trên chủ yếu nghiên cứu về công tác đấu tranh chống địchlợi dụng đạo Cao Đài Tây Ninh xâm phạm an ninh quốc gia, hoặc một mặt công tácnghiệp vụ của lực lượng công an đối với đạo Cao Đài như mạng lưới bí mật, quản lýnghiệp vụ Qua nghiên cứu cho thấy đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về
“Vấn đề thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện nay”.
Trang 163 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở phân tích, làm rõ thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo đối vớiđạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện nay, luận văn đề xuất các kiến nghị, giải pháp có tínhkhả thi nhằm phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế của việc thực hiệnchính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Khái quát chung về đạo cao Đài ở Tây Ninh
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạoCao Đài ở Tây Ninh hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được và những tồn tại, hạnchế, những vấn đề đặt ra cần giải quyết
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp có tính khả thi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiệnnay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tỉnh Tây Ninh
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2009 đến năm 2018
- Phạm vi nội dung: Việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ởTây Ninh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôngiáo và giải quyết vấn đề tôn giáo
Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu đa ngành, liênngành khoa học xã hội và nhất là cách tiếp cận của chính trị học, tôn giáo học vàkhoa học quản lý
Trang 175.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, Luận văn sử dụng các phương pháp như:
phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tế, thống kê, mô tả, so sánh
6 Ý nghĩa của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về chính sách tôn giáo và công tác quản
lý Nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hiện nay, do vậy, luận văn gópphần nêu lên được bức tranh tổng thể về hoạt động của đạo Cao Đài Tây Ninh, quyđịnh của pháp luật với hoạt động của các tổ chức tôn giáo như: Pháp lệnh, Luật,Nghị định và các văn bản pháp luật liên quan khác, phân tích được những thành tựu,hạn chế và bài học kinh nghiệm trong việc ban hành và thực thi chính sách tôn giáonhìn từ phía chính quyền địa phương và từ phía Giáo hội Luận văn đã đưa ra cáckhái niệm, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh Uỷ Tây Ninh về việcxây dựng và thực thi chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện nay,mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Giáo hội, quan hệ quốc tế của các tổ chức tôngiáo ở tỉnh Tây Ninh trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và thời kỳ mở cửa hiệnnay từ đó đề xuất một số giải pháp trước mắt và lâu dài cho việc xây dựng và thựcthi chính sách tôn giáo
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn phân tích và làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân đạtđược trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách tôn giáo ở Tây Ninh, nghiêncứu tổng quan về đạo Cao Đài trên địa bàn Tây Ninh và những vấn đề lý luận củacông tác quản lý Nhà nước về tôn giáo đối với hoạt động của đạo Cao Đài Dự báotình hình có liên quan đến công tác quản lý Nhà nước, qua đó đưa ra, đề xuất và luậngiải những giải pháp để hoàn thiện chính sách tôn giáo riêng cho đạo Cao Đài và cómột số kiến nghị để thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo ở Tây Ninh trong thời
gian tới Đề tài: "Vấn đề thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây
Ninh hiện nay" sẽ đóng góp phần nào những giải pháp tăng cường thực hiện chính
Trang 18sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài, giúp chính sách tôn giáo đi vào thực tiễn đạt hiệuquả.
Trang 19Luận văn là một tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, học tập, giảngdạy, công tác xây dựng chính sách, công tác quản lý Nhà nước về Cao Đài trên địabàn Tây Ninh nói riêng, cả nước nói chung.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của Luận văn được chia thành 3 chương
- Chương 1: Khái quát chung về đạo cao Đài và công tác quản lý nhà nước vềtôn giáo ở Tây Ninh hiện nay
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ởTây Ninh hiện nay
- Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chínhsách tôn giáo đối với đạo Cao Đài ở Tây Ninh
Trang 20Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠO CAO ĐÀI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO Ở TÂY NINH HIỆN
NAY 1.1 Khái quát về đạo Cao Đài trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của đạo Cao Đài
Khái quát về địa bàn tỉnh Tây Ninh
Tây Ninh là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ Dân số gần 1,2 triệu người cóđường biên giới dài 240 km giáp vương quốc Campuchia, có 02 cửa khẩu quốc tế,
04 cửa khẩu quốc gia và 07 đường tiểu ngạch; có diện tích đất tự nhiên 4.035,45km2 Về dân tộc thiểu số, toàn tỉnh có 22 dân tộc thiểu số, khoảng 17.661 người,chiếm 1,6% dân số toàn tỉnh Tỉnh Tây Ninh có địa giới hành chính gồm 09 huyện,thành phố, trong đó có 05 huyện biên giới Tỉnh Tây Ninh nằm trong khu vực ĐôngNam Bộ, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam và Đông Namgiáp Thành Phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, phía Bắc và Tây Bắc giáp 2 tỉnhSvay Riêng và Kampong Cham của Campuchia với 1 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, haicửa khẩu quốc gia là Sa Mát và Phước Tân và nhiều cửa khẩu tiểu ngạch Với vị tríđịa lý nằm giữa các trung tâm kinh tế - thương mại là Thành phố Hồ Chí Minh vàphnôm Pênh (Campuchia), giao điểm quan trọng giữa hệ thống giao thông quốc tế
và quốc gia, thông thương với các vùng kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển, là điềukiện thuận lợi để tỉnh phát triển kinh tế - xã hội
Về tôn giáo, Tây Ninh có 05 tôn giáo chính, gồm Cao Đài; Phật giáo, Cônggiáo, Tin lành, Islam giáo Hiện nay, các tôn giáo ở Tây Ninh có khoảng 804.604 tín
đồ, 8.773 chức việc, hơn 2.000 chức sắc, chiếm gần 69% dân số toàn tỉnh, các tôngiáo có khoảng gần 300 cơ sở thờ tự
Cao Đài Tây Ninh hiện nay chiếm số lượng đông nhất trong tỉnh, có trungtâm tổ đình Tòa Thánh tọa lạc tại Thị trấn Hòa Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh TâyNinh, hiện nay số lượng tín đồ chiếm đông nhất trong tỉnh với khoảng 557.827 tín
đồ, trong đó: 1.773 chức sắc, 8.420 chức việc (chiếm khoảng 48% dân số trong toàn
Trang 21tỉnh), tại Tây Ninh có 01 Ban Đại diện Hội thánh và 77 Họ đạo cơ sở với 128 cơ sởthờ tự (trong
Trang 22đó: 77 Thánh thất và 53 Điện thờ) Đạo Cao đài Tây Ninh hoạt động tại 38/63 tỉnh,thành phố trong cả nước Trong đó, Hội thánh đã thành lập được 28 Ban Đại diệnHội thánh tại các tỉnh, thành phố, với 407 Họ đạo cơ sở Riêng Cao Đài Tây Ninhtại hải ngoại có khoảng 30 cơ sở thờ tự, gần 30.000 tín đồ (đông nhất là ở Mỹ với 22
cơ sở thờ tự gần 20.000 tín đồ, còn lại là ở Canada, Autralia, Pháp và Campuchia)
Ngoài ra, tỉnh có Cao Đài Ban Chỉnh đạo với khoảng 2.323 người (trong đó:
58 chức sắc, 60 chức việc, 06 cơ sở thờ tự (Thánh thất) và Pháp môn Cao Đài Chiếuminh Tam thanh vô vi (đây là phái tu chơn) có 02 cơ sở Nhà Đàn, với khoảng 485tín đồ
Nguồn gốc ra đời, quá trình hình thành và phát triển của đạo Cao Đài trên địabàn tỉnh Tây Ninh
+ Nguồn gốc ra đời
Theo Hiến chương Đại đạo Tam kỳ phổ độ, Tòa Thánh Tây Ninh, năm Đinh
Hợi – 2007 “Đạo Cao Đài là một tôn giáo độc thần”, có tính dung hợp, được chính
thức thành lập ở Việt Nam vào năm 1926, tên đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.Danh từ "Cao Đài" theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao" Theo nghĩa bóng, được hiểu lànơi cao nhất ở đó Thượng Đế ngự trị; cũng là tên viết tắt dành cho Thượng Đế,người sáng lập ra toàn vũ trụ, có danh xưng đầy đủ là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát
Ma Ha Tát" Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng Đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và
cả vũ trụ Họ tin rằng tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được "ĐứcCao Đài" trực tiếp chỉ định Ngay cả việc xây dựng Toà Thánh Tây Ninh cũng có sựdẫn dắt của "Đấng Thiêng Liêng" [21, tr.5]
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp tăng cường khai thácthuộc địa Đông Dương để hàn gắn vết thương chiến tranh ở chính quốc bằng nhiềuchính sách kinh tế hà khắc Trong đó chính sách cướp ruộng đất để lập đồn điền vàtăng thuế đã làm cho người nông dân Nam bộ bị bần cùng hoá, đời sống lầm thankhổ cực Giới công chức, tư sản, địa chủ, thầy giáo, thầy tu bị chế độ thuộc địa chèn
ép bế tắc trong cuộc sống nên họ đã tìm đến thú chơi "xây bàn" theo kiểu thông linhhọc của người phương Tây hoặc cầu cơ chấp bút theo truyền thống của người Việt
Trang 23Trong thời gian này ở Nam bộ liên tiếp xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh chốngPháp Từ các cuộc
Trang 24khởi nghĩa vũ trang đến phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, từ các tổ chứchội kín chống Pháp như Thiên địa hội của Phan Xích Long đến các tổ chức đảngphái chính trị được thành lập công khai như Công hội năm 1921, Đảng Lập hiến năm
1923, Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội 1926 Tuy nhiên tất cả các cuộc khởinghĩa, các phong trào yêu nước của nhân dân Nam bộ đều bị thất bại và bị thực dânPháp đàn áp đẫm máu Thất bại trong đấu tranh, bế tắc trong cuộc sống, người dânNam bộ đã tìm đến tín ngưỡng và tôn giáo để mong được che chở và giải thoát.Thực dân Pháp áp dụng chế độ chính trị thuộc địa ở Nam bộ tương tự như ở chínhquốc, vì vậy chính sách đối với tôn giáo tại Nam bộ không khắt khe như ở Bắc bộ
và Trung bộ Đây là điều kiện thuận lợi để một tôn giáo mới ra đời và phát triển.Nam bộ là vùng đất mới được kiến lập (khoảng 300 năm), cư dân chủ yếu thuộc bốnnhóm người gồm: Người Việt từ Bắc Trung kỳ vào, người Hoa từ Quảng Đông,Phúc Kiến xuống, người Chăm và người Khmer, trong đó người Việt chiếm đa sốnên văn hóa, tín ngưỡng của người Việt vẫn chiếm vị trí chủ đạo Trong quá trìnhchung sống cộng cư và thâm nhập lẫn nhau của các tộc người đã làm cho đời sốngtín ngưỡng, tôn giáo ở Nam Bộ trở nên đa dạng và phong phú, tạo tiền đề để tiếpnhận một tôn giáo mới Thời kỳ này, Phật giáo, Nho giáo và các tín ngưỡng truyềnthống đang suy thoái, các tôn giáo có nguồn gốc từ châu Âu như Công giáo, Tin lànhdưới con mắt của người Nam Bộ gắn liền với sự mất nước và cuộc xâm lược củaPháp Tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật, Lão, Nho) vốn tồn tại lâu đời trongquá trình hình thành cư dân Nam Bộ nay hoà nhập cùng trào lưu “Thông linh học"của người phương Tây đã tạo thành phong trào cầu cơ chấp bút và được các nhómNgũ chi Minh đạo vốn có từ trước ở Nam bộ hưởng ứng tích cực Có thể nói, nhữngbất lực trong cuộc sống hiện tại, sự suy vi của các tôn giáo đạo lí đương thời đã tạo
ra khoảng trống về tư tưởng, tín ngưỡng, kích thích nhu cầu tâm linh tôn giáo củaquần chúng nhân dân, đó là những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời một tôn giáomới và đạo Cao Đài ra đời là sự phản ánh tất yếu của xã hội lúc ấy
+ Quá trình hình thành và phát triển
Giai đoạn từ 1926 đến năm 1975
Trang 25Đầu thế kỷ XX tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật, Lão, Nho) ở Việt Nam
có xu hướng yếu đi nhưng hoạt động của nhóm Ngũ chi Minh đạo (Minh sư, Minh
lí, Minh đường, Minh tân, Minh thiện) đã làm cho tư tưởng ấy hồi sinh Cùng lúc
đó, phong trào Thông linh học phương Tây rất phát triển tại Nam bộ với những hìnhthức “xây bàn” tương tự như tục cầu hồn của người Việt và cầu cơ của nhóm Ngũ chiMinh đạo đã tạo thành phong trào cầu cơ, chấp bút gọi tắt là “cơ bút” Trong các đàn
cơ này có hai nhóm chính hình thành đạo Cao đài
- Nhóm thứ nhất do ông Ngô Minh Chiêu cầu cơ tại các đền, chùa theotruyền thống cơ bút thuộc nhóm Ngũ chi Minh đạo Lúc đầu, nội dung các đàn cơchủ yếu là xin bài thuốc chữa bệnh và hỏi về thế sự Đến năm 1920 trong một lầncầu cơ Ngô Minh Chiêu đã gặp Đức Chí Tôn ( Ngọc Hoàng Thượng Đế), sau đóđến năm 1924, ông Chiêu về Sài Gòn kết hợp với các ông Vương Quan Kỳ, ĐoànVăn Bản, Võ Văn Sang, Nguyễn Văn Hoài, trở thành những người đầu tiên thờ ĐứcCao Đài
- Nhóm thứ hai gồm các vị Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc(nhóm Cao - Phạm) tổ chức xây bàn cầu cơ theo kiểu Thông linh học phương Tâynhằm mục đích giải trí, sau này mới sử dụng đại ngọc cơ của đàn Minh Thiện (thuộcNgũ chi Minh đạo) Theo hình thức cơ bút, ngày 19/12/1925, Đức Cao Đài đã thunhận các vị làm đệ tử
Từ 1924 đến 1926, hai nhóm cơ bút nói trên hoạt động độc lập, đến ngày 01tháng 01 năm Bính Dần (12/02/1926), trong một bài cơ Thượng Đế đã phán dạy hainhóm cơ bút thống nhất hình thành đạo Cao Đài, ông Ngô Minh Chiêu được thiênphong phẩm vị Giáo tông đầu tiên của đạo Ngày 9 tháng Giêng năm Bính Dần(20/02/1926), cơ bút đã điểm tên những đệ tử đầu tiên của đạo gồm 12 vị thông quabài cơ như sau :
Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh
Bản đạo khai Sang Quý Giảng
thành; Hậu Đức Tắc Cư Thiên địa
cảnh Huờn Minh Mân đáo thủ đài
danh
Trang 26Ngày 23/8/Bính Dần (29/9/1926), một số vị chức sắc đứng đầu các đàn cơ vàtín đồ đã họp mặt tại nhà ông Nguyễn Văn Tường (phường Cầu Kho, quận 1 SàiGòn) thống nhất kí tên vào tờ khai đạo gửi chính quyền Pháp (gồm 28 vị kí tên đạidiện cho
247 chức sắc tín đồ có mặt hôm đó) Đến ngày 15/10/1926(AL) những chức sắcthiên phong đầu tiên của đạo Cao Đài đã tổ chức lễ khai đạo tại chùa Gò Kén tỉnhTây Ninh chính thức cho ra mắt đạo Cao Đài, với sự hiện diện của một số quan chứcngười Pháp và người Việt Sau khi hợp nhất hai nhóm cơ bút Chiêu - Kỳ và Cư -Tắc - Sang vào đầu năm 1926, ông Chiêu đã từ chối nhận phẩm vị Giáo tông thiênphong mà hợp tác cùng các ông Võ Văn Sang, Nguyễn Văn Hoài và Lý Trọng Quíchủ trương hành đạo theo hướng "Nội giáo tâm truyền” Nhóm này chỉ thu nhậnnhững người có căn duyên tốt làm đệ tử, tổ chức nhiều nhà đàn, nhà tịnh và sau nàyhình thành phái Chiếu Minh
Nhóm Cư - Tắc - Sang chủ trương hành đạo theo hướng phổ độ hay gọi là
“Ngoại giáo công truyền”, nhằm truyền bá đạo đến tất cả chúng sinh Vì vậy, nhómnày đẩy mạnh các hoạt động truyền giáo thông qua việc lập các đàn cơ, tuyên truyềnphổ biến các bài cơ và thu nhận những người có vị trí xã hội như công chức, tư sản,địa chủ, quan chức, nghiệp chủ, trí thức nhằm mở rộng và phát triển lực lượng Đếngiữa năm
1926, đạo Cao đài đã thu hút được khoảng 10 ngàn người trong đó có đến 200 người
là trí thức, địa chủ, tư sản, công chức
Sau ngày khai đạo, những chức sắc lãnh đạo Giáo hội Cao Đài tiến hành xâydựng Toà thánh, phát triển các Thánh thất, điện thờ, xây dựng giáo lí, giáo luật, lễnghi và tổ chức Giáo hội Trong hai năm 1926 - 1927, thông qua cơ bút đạo Cao Đài
đã tập trung xây dựng xong hai văn bản quan trọng qui định luật lệ, lễ nghi và tổchức Giáo hội là Pháp Chánh truyền và Tân luật Vì vậy, đến năm 1930 hoạt độngtại Toà thánh dần dần được củng cố và đi vào nề nếp, những chức sắc thường trực đãthực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ, các cơ sở đạo phát triển, tổ chức Giáo hộihình thành từ Trung ương đến cơ sở theo 5 cấp hành chính đạo
Trang 27Từ 1931 đến 1934, mâu thuẫn giữa một số chức sắc Hiệp Thiên đài và CửuTrùng đài ngày càng nặng nề, tình hình nội bộ Giáo hội mất đoàn kết ngày càngtăng, một số chức sắc cao cấp bất đồng với Toà thánh đã tự hoạt động theo ý riêng,tiến hành
Trang 28lập nhiều đàn cơ để lôi kéo tín đồ vốn rất ham mê cơ bút Vì vậy, nội bộ chức sắcxuất hiện tư tưởng ly khai khỏi Toà thánh như các ông Nguyễn Văn Ca, NguyễnHữu Chính, Trần Đạo Quang, Nguyễn Ngọc Tương, Lê Bá Trang Trước tình hình
ấy, ngày
28/8/1931, Hội thánh lập Toà Tam giáo lần thứ nhất xét xử 37 chức sắc từ Lễ sanhtrở lên, trong đó có những chức sắc lớn như Ngọc Chưởng pháp Trần Đạo Quang,Phối sư Thái Ca Thanh, Bảo pháp Nguyễn Trung Hậu Thời kì này đạo Cao Đài đãtập trung xây dựng tổ chức bộ máy Giáo hội từ Trung ương đến cơ sở, hoàn thiệngiáo lí, giáo luật, xây dựng cơ sở vật chất từ Toà thánh đến Thánh thất, điện thờ Đây
là thời kỳ đạo Cao Đài hoạt động thống nhất về mặt tổ chức Giáo hội Tuy nhiên, domâu thuẫn nội bộ và những bất đồng trong Hội thánh cộng với nạn cơ bút tràn lannên nhiều chức sắc đã tách khỏi Toà thánh về các địa phương lập ra các chi phái CaoĐài mới Đây là giai đoạn đạo Cao Đài phát triển thành nhiều chi phái hoạt động độclập, đã có lúc lên đến
30 chi phái, nhưng các phái có bộ máy tổ chức Hội thánh hoàn chỉnh, đường hướnghành đạo rõ ràng và có số lượng chức sắc tín đồ đông, tồn tại đến nay chỉ còn 10Hội thánh, 01 Pháp môn tu hành và trên 20 cơ sở Cao Đài hoạt động độc lập ở cáctỉnh, thành phố
Giai đoạn từ 1975 đến nay
Về căn bản, sau giải phóng, các sinh hoạt của tín đồ đạo Cao Đài diễn rabình thường ở gia đình và các thánh thất Tuy nhiên, ở một số địa phương số tín đồgiảm xuống rõ rệt vì một bộ phận Cao Đài hình thành trong chiến tranh, một số khácsống ở các “châu vi đạo” gần các Tòa thánh, nay không còn nhu cầu nhờ dựa vàođạo đã quay lại với tín ngưỡng truyền thống hoặc trở về quê cũ làm ăn Mặt khác,thực hiện nếp sống văn hóa mới nên nhiều người bỏ đạo hoặc không nhận mình làngười theo đạo Cao Đài Ở một số nơi, lực lượng phản động lợi dụng đạo Cao Đàiluôn tìm cách chống lại chính quyền cách mạng Riêng ở Tây Ninh, những năm đầusau giải phóng có nhiều vụ án chống lại chính quyền cách mạng liên quan đến đạoCao Đài, với sự xuất hiện của những tổ chức phản động như “Mặt trận thống nhất
Trang 29toàn lực quốc gia” do Phạm Ngọc Trảng đứng đầu, “Hội đồng Hòa giải quốc tế”,
“Thiên Khai huỳnh đạo” do Đinh
Trang 30Văn Phẩm, Bạch Hùng, Hồ Thái Bạch đứng đầu đã bị chính quyền xử lý bằng phápluật.
Vì những lý do nói trên, hầu hết bộ máy hành chính đạo của các chi phái CaoĐài có lực lượng tín đồ, chức sắc đông, hoạt động trong phạm vi rộng đều tuyên bốgiải tán về tổ chức như Cao Đài Tây Ninh với Đạo lệnh 01/ĐL-CĐ, ngày 01 tháng
Mỹ tự tan rã hoặc nhập trở lại với các chi phái cũ để tồn tại
Từ năm 1995 đến 2010 Nhà nước đã công nhận về tổ chức tôn giáo đối với 10Hội thánh, một Pháp môn tu hành và 21 tổ chức Cao Đài hoạt động độc lập trongphạm vi một tỉnh, thành phố Sau khi được công nhận về tổ chức tôn giáo, các hệphái Cao Đài đã tích cực xây dựng, củng cố tổ chức giáo hội mới, theo mô hình 2cấp (cấp Trung ương là Hội thánh; cấp xã, phường là Họ đạo), xây dựng Hiếnchương và đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, kế thừa truyền thống của đạo,phù hợp với tình hình đất nước Việc thực hiện tổ chức giáo hội 2 cấp, không cơ bútđược đông đảo chức sắc, tín đồ đạo Cao Đài đồng tình ủng hộ, bộ máy hành chínhđạo gọn nhẹ, hoạt động dễ dàng và phù hợp với truyền thống của một số phái CaoĐài như Ban Chỉnh đạo, Minh Chơn đạo, Chơn lý Các hoạt động tôn giáo liên quanđến “cơ bút” được thay thế bằng những hình thức phù hợp như suy cử, bầu cử, công
cử, xây dựng Hiến chương và đường hướng hành đạo qua các kỳ Đại hội Nhữngvấn đề quan trọng của đạo được tập thể chức sắc lãnh đạo Hội thánh (Ban Thườngtrực, Hội đồng Chưởng quản, Thường trực Hội thánh) xem xét quyết định thông quahoạt động của ba hội (Thượng hội, Hội thánh, Hội nhơn sanh)
Trang 31Đến nay, hoạt động của đạo Cao Đài từng bước đi vào nề nếp và tuân thủpháp luật Đa số chức sắc các Hội thánh đã thích ứng với cơ chế hoạt độngtheo Hiến
Trang 32chương và đường hướng hành đạo mới Các lễ hội lớn trong đạo Cao Đài được duytrì tổ chức hàng năm như Hội Yến Diêu Trì Cung, Kỷ niệm ngày khai đạo Cao Đài,Ngày vía Đức Chí Tôn của Cao Đài Tây Ninh thu hút hàng trăm ngàn chức sắc, tín
đồ tham dự Các hội nghị, kỳ họp thường niên của Thượng hội, Hội thánh, HộiNhơn sanh và Đại hội nhiệm kỳ của các Hội thánh được tổ chức trang trọng, đúngpháp luật Các Hội thánh Cao Đài có quá trình hoạt động gắn bó với dân tộc đã tổchức các cuộc giao lưu hành đạo trên một số lĩnh vực tôn giáo như xuất bản Tạp chíCao Đài, tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện xã hội, mở lớp bồi dưỡng giáo lýhạnh đường và đang tiến tới mở trường đào tạo chức sắc, tổ chức các ngày lễ theotruyền thống của một số phái Cao Đài nhằm giáo dục chức sắc, tín đồ phát huy tinhthần phụng đạo, yêu nước Cơ sở thờ tự, cơ sở tôn giáo của đạo Cao Đài được xâydựng, sửa chữa ngày càng khang trang, đẹp đẽ có đủ tam đài thờ phượng Đức ChíTôn Việc xuất bản kinh sách và đồ dùng việc đạo cũng được các Hội thánh quantâm nhằm đáp ứng cơ bản nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của chức sắc, tín đồ
1.1.2 Hệ thống giáo lý, giáo luật, giáo lễ của đạo Cao Đài
Giáo lý
Thế giới quan Cao Đài cho rằng vũ trụ bao gồm cả không gian và thời gian.Không gian là vô cực trong đó có nguyên Lý thiên nhiên và nguyên Khí tự nhiên, là
Âm và Dương, dần dần ngưng kết với nhau thành một khối Đại Linh quang với đầy
đủ sự tốt đẹp gọi là Thái Cực, đây chính là Ngôi Chúa Tể của càn khôn vũ trụ Tháicực trọn lành, trọn tốt, toàn trí toàn năng, biến hoá theo một hệ thống “Âm dươngThái cực và Thái cực Âm dương” sinh hoá ra muôn loài, muôn vật (một sinh hai, haisinh ba, ba sinh vạn vật) Gọi là Nguyên lí phóng phát (tức là chia ra và ban cho).Vạn vật sinh ra phát triển và tiến hoá theo vòng tròn để trở về nguồn gốc hoàn hảo,hoàn thiện tuyệt đối Gọi là nguyên lí vận hành châu lưu vũ trụ “nhất bản tán vạnthù, vạn thù qui nhất bản” [21, tr.9 ] Một bản thể Thái cực sinh ra vạn loài rồi từ vạnloài qui về Thái cực Tóm lại vũ trụ quan Cao Đài nêu lên các nguyên lý nhấtnguyên, nhất thể và hoàn nguyên cho thấy sự vận hành của Đạo từ hư vô sinh ra vạnvật hữu hình rồi vạn vật hữu hình tiến hoá trở về hiệp cùng khối Đại linh quangtoàn trí, toàn năng, là Thái cực
Trang 33Nhân sinh quan Cao Đài quan niệm con người là tiểu vũ trụ có cùng bản thể với đại
vũ trụ được sinh thành bởi cùng một nguyên nhân đầu tiên của toàn vũ trụ Đó làThái cực [21, tr.12]
Thái cực sinh ra vạn vật và con người Mỗi người được ban cho một điểmTiểu Linh quang có cùng bản tính, bản chất với Đại Linh quang Giáo lý Cao Đàiquan niệm Trời và người có cùng bản thể, vì vậy Thượng Đế dạy: “Thầy là các con,các con là Thầy” Trong quá trình tiến hoá của vũ trụ thì vạn vật tiến hoá dần dầnđến loài người mới có đủ tam hồn là sinh hồn, giác hồn và linh hồn để tu luyện giảithoát
Như vậy, con người có phần hồn và phần xác, Thượng Đế ban cho mỗi ngườimột Điểm Linh quang (gọi là Linh hồn) mượn xác phàm để xuống thế gian rènluyện, thử thách Đạo Cao Đài quan niệm “thế gian là một trường thi công quả” và
là nơi để lập công bồi đức, để không ngừng tiến hoá theo 5 bậc: Nhân, Thần, Thánh,Tiên, Phật, để đi đến sự hoà hợp với vũ trụ
Khi con người chết đi thì linh hồn vẫn tồn tại và tiếp tục luân hồi để sống vàokiếp khác, con người tiến hoá là do linh hồn tiến hoá Vì vậy nếu tu luyện tốt, cónhiều công đức tại thế sẽ được về cõi Bạch Ngọc kinh (Thiên đàng), nếu có nhiều tộilỗi thì vướng mãi trong kiếp luân hồi sinh tử Tuy vậy, đạo Cao Đài đưa ra kháiniệm Đại ân xá Kỳ ba, nghĩa là người có tâm cầu đạo dù chưa đắc quả tại thế, sau khichết sẽ được ân xá tiếp tục tu luyện ở cõi vô hình cho đến khi đắc vị, khỏi luân hồi.Như vậy, đạo Cao Đài quan niệm Thượng Đế mở ra con đường cho nhân loại trở vềvới Thượng Đế Tôn chỉ của đạo Cao Đài là: “Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi hiệpnhất” nhằm mục đích phục hưng chân truyền, đây là đường lối căn bản cho nhơnsanh tu hành [22, tr.8] Tam giáo qui nguyên là thực hiện tôn chỉ của ba tôn giáo lớn(Phật, Nho, Lão) là Từ bi - Công bằng - Bác ái
Ngũ chi hiệp nhất là thống nhất 5 ngành đạo (Nhân đạo của Khổng Tử, Thầnđạo của Khương Tử Nha, Thánh đạo của Jesu, Tiên đạo của Lão Tử, Phật đạo củaThích Ca) thể hiện 5 trình độ chuyển hoá, tu tiến để đi đến giải thoát một cách toàndiện của người tín đồ Cao Đài
Trang 34Mục đích của đạo Cao Đài nhằm hoàn thiện con người và xây dựng xã hộibình đẳng, về tâm linh được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử nghĩa là “Thế đạođại đồng và Thiên đạo giải thoát” Đạo Cao Đài cho rằng từ khi có loài người,Thượng Đế đã ba lần cứu rỗi: Lần thứ nhất vào thời thượng cổ do các đấng Phục Hi,Moise làm Giáo chủ, kì thứ hai do các đấng Thích ca, Lão Tử, Khổng Tử, JesusChrist, Mohamet làm Giáo chủ, kì thứ ba (Tam kì phổ độ) do Thượng Đế lập ra vàtrực tiếp làm Giáo chủ trên tinh thần “tam giáo qui nguyên” và “hiệp nhất Ngũ chi”[49 ] Giáo lí của đạo Cao Đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của cơ bút,coi đó là phương tiện để Thượng Đế trực tiếp dạy đạo mà không giao cho ngườithường như hai kỳ trước.
Giáo luật
Giáo luật của đạo Cao Đài được thực hiện theo Tân luật và Pháp Chánhtruyền (một số phái còn thực hiện theo Ngọc đế Chơn truyền Tân ước Tri nguyên).Pháp Chánh truyền: Là bản Hiến pháp của đạo, bao gồm Pháp Chánh truyền CửuTrùng đài được Hội thánh lập ngày 16/10/1926(AL) và Pháp Chánh truyền HiệpThiên đài lập ngày 13/1/1927 rồi thông qua bằng hình thức cơ bút để quy định cơcấu hành đạo và thiết lập hàng giáo phẩm của Cửu Trùng đài và Hiệp Thiên đài:
Pháp chánh truyền Cửu Trùng đài gồm các nội dung:
+ Quyền hành chức sắc Cửu Trùng đài từ: Giáo tông, Chưởng pháp, Đầu sư,Phối sư, Giáo sư, Giáo hữu, Lễ sanh, Chánh Trị sự, Phó Trị sự và Thông sự
+ Đạo phục chức sắc Cửu Trùng đài: Từ phẩm Giáo tông, Chưởng pháp, Đầu
sư, Phối sư, Giáo sư gồm 2 bộ đại phục và tiểu phục Đại phục mặc vào những ngàyđại lễ, có màu sắc theo phái (Thái màu vàng - Thượng màu xanh - Ngọc màu đỏ),đầu đội mũ Bát quái tuỳ theo phẩm trật Tiểu phục cũng may như đại phục nhưngđầu đội khăn đóng có 9 lớp
Từ phẩm Giáo hữu, Lễ sanh, Chánh Trị sự, Phó Trị sự và Thông sự chỉ dùng
1 bộ áo màu trắng đội khăn đóng đen Riêng Giáo hữu và Lễ sanh đội mũ trongnhững ngày đại lễ Tín đồ mặc áo trắng, đội khăn đóng đen
+ Quyền hành chức sắc Nữ phái từ phẩm Đầu sư xuống đến Lễ sanh và chứcviệc Tuy nhiên, Nữ phái phải theo Nam phái mà hành đạo
Trang 35Về đạo phục Nữ phái mặc áo trắng và đội mũ theo phẩm trật.
Về tên gọi chức sắc, đạo Cao Đài qui định trong đời Giáo tông thứ nhấtThánh danh chức sắc Cửu trùng đài nam phái lấy chữ Thanh, nữ phái lấy chữHương
Pháp chánh truyền Hiệp Thiên đài gồm các nội dung về vị trí, chức năng,nhiệm vụ và đạo phục chức sắc Hiệp Thiên đài được quy định từ phẩm Hộ pháp,Thượng phẩm, Thượng sanh, Thập nhị Thời quân gồm 12 vị chức sắc chia thành 3chi:
- Chi Pháp có Bảo pháp, Hiến pháp, Khai pháp, Tiếp pháp;
- Chi Đạo có Bảo đạo, Hiến đạo, Khai đạo, Tiếp đạo;
- Chi Thế có Bảo thế, Hiến thế, Khai thế, Tiếp thế;
và các chức sắc Tiếp dẫn đạo nhân, Bảo văn pháp quân, Bảo sanh quân
Tân luật
Là luật của đạo Cao Đài do Hội Thánh lập ra (năm 1927) rồi thông qua bằnghình thức cơ bút Tân luật gồm có ba phần :
Phần đạo pháp qui định như sau:
- Tổ chức hàng giáo phẩm Cửu Trùng đài gồm 9 phẩm: Giáo tông, Chưởngpháp, Đầu sư, Phối sư, Giáo sư, Giáo hữu, Lễ sanh, chức việc, tín đồ và cách thăngphẩm trật từ phẩm Lễ sanh đến Chưởng pháp phải được chức sắc cùng phẩm công
cử, (gọi là luật công cử), riêng phẩm Giáo tông phải do toàn thể tín đồ công cử
- Quan hệ giữa Hội thánh và nhân sanh nêu ra những quy định về người nhậpmôn, các bậc tu hạ thừa, thượng thừa, việc lập họ đạo và sinh hoạt tại Thánh thất
- Nhiệm vụ của tín đồ thực hiện theo Ngũ giới cấm và Tứ đại điều quy
- Ngũ giới cấm: Là năm điều cấm gồm cấm sát sinh, trộm cắp, tà dâm, uốngrượu quá độ, nói năng phải giữ lời
- Tứ đại điều quy: Tuân theo lời dạy của bề trên, không kiêu ngạo, tiền bạcphân minh, trung thực
- Việc ban hành luật pháp đạo
Trang 36Phần Thế luật: Quy định phần đời, cách xử thế của người đạo Cao Đài đểxây dựng một xã hội đạo đức, an lạc bằng tình thương yêu đồng đạo theo tôn chỉ
“Từ bi - Công bình - Bác ái”
Trang 37Chức sắc, tín đồ đạo Cao Đài coi nhau như anh em, chức sắc có phẩm trậtthấp gọi chức sắc có phẩm trật cao hơn là anh lớn, chị lớn
Nghi tiết thờ phụng có ba cấp thờ tự:
Toà thánh Trung ương (theo Toà thánh Tây Ninh) cấu tạo gồm 3 phần:
+ Bát Quái đài (Bửu điện) thờ quả Càn khôn, bệ Bửu điện gồm 12 bậc, có 3bàn thờ long vị các đấng thiêng liêng (bàn 1: Thích Ca, Thái Bạch Kim Tinh, Jesus,Khương Thái Công; bàn 2 bên trái: Khổng Tử, Quan Thánh Đế Quân; bàn 3 bênphải: Thái Thượng Đạo Tổ, Quan Thế Âm Bồ Tát)
+ Cửu Trùng đài: Phía trước Bửu điện là nơi đặt ngai của Giáo tông, 3 ngàiChưởng pháp, 3 ngai Đầu sư và bàn nội nghi, tiếp theo gồm 9 bậc tượng trưng choCửu Trùng Thiên (9 tầng trời) ứng với Cửu Trùng đài, chính giữa là nơi hành lễ củachức sắc Cửu Trùng đài, xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp
- Bên trái là chức sắc, tín đồ nam hành lễ
Thánh thất
Trang 38Mô hình kiến trúc tương tự như Toà thánh nhưng đơn giản hơn, không cóngai của Giáo tông, Chưởng pháp, Đầu sư, diện tích bị thu nhỏ lại theo 4 cấp vàkhông thờ quả Càn khôn chỉ thờ hình Thiên nhãn và các đấng thiêng liêng
Trang 39Tại gia
Nơi trang trọng trong nhà, lập Thiên bàn bằng gỗ, đóng thành 2 tầng như bậcthang, ở giữa thờ hình Thiên nhãn (1), dưới Thiên nhãn là ngọn đèn Thái cực (2) Lễphẩm cúng xếp theo âm (trái) dương (phải) có, hoa (3), trái cây (4), nước trắng (5),nước trà (6) và ba ly rượu (7-8-9) tượng trưng cho Tinh, Thần và Khí là nền tảngcủa sự sống (theo Lão giáo), lư hương (10) có năm cây tượng trưng cho ngũ hành,hai cây đèn (11-12) lưỡng nghi hợp với đèn Thái cực tượng trưng "Thái cực sinhlưỡng nghi"
Mô hình như sau [24, tr.5]:
(1)(4) (2) (3)(6) (8-7-9) (5)(12) (10) (11)
Tín đồ khi dâng lễ, chân đi theo chữ "tâm" theo Nho giáo, tay lấy dấu theoCông giáo nhưng không biểu hiện cho Ba ngôi Thiên chúa, mà tượng trưng cho Tambảo của Phật giáo
Bậc tu của người tu theo đạo Cao Đài chia thành 02 bậc thực hiện việc giữgiới khác nhau: Hạ thừa, Thượng thừa, (một số phái có thêm bậc Trung thừa nhưCao Đài Ban chỉnh đạo)
+ Hạ thừa là những người (thường là tín đồ) tu tại gia, tuân thủ Ngũ giớicấm, Tứ đại điều quy, Thế luật của đạo, ăn lục trai hoặc thập trai, về thánh thất trongcác ngày lễ
+ Trung thừa (chỉ có ở một số phái Cao Đài tách ra khỏi Cao đài Tây Ninh)
là những tín đồ hoặc chức sắc phẩm Lễ sanh tuân thủ như bậc hạ thừa nhưng vừaduy trì cuộc sống sinh hoạt gia đình (tại gia) vừa xuất gia tu học tại các Thánh thấthoặc trung tâm Toà thánh, ăn chay từ 15 ngày trở lên (nửa tại gia, nửa xuất gia)
+ Thượng thừa là những người (thường là chức sắc từ phẩm Giáo hữu trởlên) thực hiện "cắt ái ly gia" hiến thân trọn đời cho đạo, ăn chay trường, luyện đạo,
tu hành tại các thánh thất và Toà thánh
Trang 40Đạo Cao Đài có một số ngày đại lễ trong năm theo Âm lịch như ngày mùng
9 tháng Giêng lễ vía Đức Chí Tôn, ngày 15/8 lễ vía Diêu Trì Kim Mẫu, ngày 15/10
lễ kỷ niệm khai đạo, từng hệ phái có ngày lễ kỷ niệm riêng Hàng ngày có 4 khoá lễvào các giờ: Tý, Ngọ, Mão, Dậu
Cơ cấu tổ chức của đạo Cao Đài
Tổ chức Giáo hội của đạo Cao Đài được xây dựng theo tư tưởng Tam quyềnphân lập và mô phỏng theo hình thức bộ máy nhà nước tư sản với hệ thống phẩmtrật chức sắc rất phức tạp Sau đây là mô hình tổ chức của Cao Đài Tây Ninh trước
1975 :
Mô hình tổ chức Giáo hội đạo Cao Đài thực hiện theo 3 đài
+ Bát Quái đài là đài vô vi thờ Đức Chí Tôn (Thiên Nhãn) và Phật, Tiên, Thánh,
Thần
+ Cửu Trùng đài là cơ quan hành pháp, hình thể của đạo, chức sắc Cửu Trùngđài chia thành cửu phẩm từ Tín đồ, Chức việc, Lễ sanh (không giới hạn), Giáohữu
3000 vị, Giáo sư 72 vị, Phối sư 36 vị, Đầu sư 3 vị, Chưởng Pháp 3 vị, Giáo tông 1
vị Chức sắc Cửu trùng đài nữ phái từ phẩm Đầu sư trở xuống, số lượng không giớihạn Tổ chức hành chính đạo Cửu Trùng đài gồm:
- Cửu viện Nam phái: Hòa viện, Lại viện, Lễ viện, Học viện, Y viện, Nôngviện, Hộ viện, Lương viện, Công viện
- Cửu viện Nữ phái tương tự như nam phái nhưng thường được Hội thánh tổchức gọn lại còn 4 hoặc 6 viện
Mỗi viện như một cơ quan chuyên môn giúp Hội thánh về nghi lễ, giáo lí,đào tạo chức sắc, lương thực, nông nghiệp, y tế
+ Hiệp Thiên đài là cơ quan bảo pháp được quyền thông công với Thượng
Đế thông qua cơ bút đồng thời giám sát các hoạt động của cơ quan Cửu Trùng đài và
ở các Họ đạo Chức sắc Hiệp Thiên đài bao gồm: Hộ pháp, Thượng phẩm, Thượngsanh, Thập nhị Thời quân gồm 12 vị chia thành 3 chi (Pháp - Đạo - Thế: Bảo, Hiến,Khai, Tiếp), Tiếp dẫn đạo nhân, Chưởng ấn, Cải trạng, Giám đạo, Thừa sử, Truyền