1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh

252 312 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 252
Dung lượng 743,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về QP-AN, có những kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết, đồng thời giáo dục lòngyêu nước, truyền thống cách mạng, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân,nâng cao tinh thần cảnh giác t

Trang 1

TRẦN HOÀNG TINH

QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT

CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC

QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

TRẦN HOÀNG TINH

QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT

CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC

QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

Ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 9140114

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Viết Vượng

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kếtquả nêu trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kìcông trình nào khác

Thái Nguyên, ngày… tháng 5 năm 2019

Tác giả

Trần Hoàng Tinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận án xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo KhoaTâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, đặc biệt tới

PGS.TS Phạm Viết Vượngngười đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, động viên khích

lệ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận án này

Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ nhiệttình của cán bộ, giảng viên Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Đại họcThái Nguyên, cùngcác trung tâm bạn đã cung cấp các tư liệu, để tác giả hoàn thànhluận án Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồngnghiệp đã động viên, giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2019

Tác giả

Trần Hoàng Tinh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 3

3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4.Phạm vi nghiên cứu 3

5.Giả thuyết khoa học 3

6.Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

8 Luận điểm bảo vệ 6

9 Câu hỏi nghiên cứu: 6

10 Kết quả mới của luận án 7

11 Kết cấu của luận án 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH 8

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên 8

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 8

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.2 Những vấn đề lý luận về kỷ luật và tính kỷ luật 17

Trang 6

1.2.1 Kỷ luật 17

1.2.2 Tính kỷ luật 19

1.3 Những vấn đề lý luận về giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên 22

1.3.1 Giáo dục 22

1.3.2 Giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên 24

1.3.3 Giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 25

1.4 Những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên 27

1.4.1 Quản lý 27

1.4.2 Quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 28

1.4.3 Những đặc điểm trong quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 30

1.4.4.Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên ở trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 33

1.4.5 Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 35

Kết luận chương 1 37

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH 39

2.1 Giới thiệu về trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 39

2.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 39

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 40

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 41

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 42

2.2.1 Mục đích khảo sát 42

2.2.2 Đối tượng khảo sát và số lượng 42

Trang 7

2.2.3 Nội dung khảo sát 43

2.2.4 Bộ công cụ và mẫu khảo sát 44

2.2.5 Phương pháp khảo sát 45

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 45

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 46

2.3.1 Tính kỷ luật của sinh tại các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 46

2.3.2 Giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 53

2.3.3 Quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 65

2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 72

2.3.5 Hiệu quả quản lý và những nguyên nhân 71

Kết luận chương 2 82

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH 83

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 83

3.1.1 Nguyên tắc tính hệ thống và tính đa dạng trong các biện pháp tác động 83

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo mục đích và tính khả thi 84

3.1.3 Nguyên tắc tính kế thừa 84

3.2.Các biện pháp quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 85

3.2.1.Chỉ đạo giáo dục ý thức kỷ luật cho sinh viên ngay từ ngày đầu nhập học 85

3.2.2 Tổ chức, duy trì chế độ sinh hoạt trong ngày theo nếp sống quân sự tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 87

Trang 8

3.2.3 Chỉ đạo việc phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, các lực lượng giáo dục

trong trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 91

3.2.4 Xây dựng mô hình trung đội tự quản trong trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 97

3.2.5 Chỉ đạo thực hiện đa dạng các hình thức hoạt động ngoại khóa 103

3.2.6 Chỉ đạo đổi mới phương pháp kiểm t tra, đánh giá tính kỷ luật của sinh viên 112

Kết luận chương 3 118

Chương 4: KHẢO NGHIỆM VÀ THỬ NGHIỆM 120

4.1 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 120

4.1.1 Mục đích khảo nghiệm 120

4.1.2 Quy mô khảo nghiệm 120

4.1.3 Nội dung khảo nghiệm 120

4.1.4 Phương pháp khảo nghiệm 120

4.1.5 Phương pháp xử lý số liệu 121

4.1.6 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết, tính khả thi của các biện pháp 122

4.2 Thử nghiệm các biện pháp quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viêntại Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh Đại học Thái Nguyên 125

4.2.1 Khái quát chung về quá trình thử nghiệm 125

4.2.2 Tiến hành thử nghiệm 128

4.3 Kết luận sau khảo nghiệm và thử nghiệm 140

Kết luận chương 4 142

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 143

I.Kết luận 143

II.Khuyến nghị 144

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 146

TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

Trang 9

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 CBQL SV Cán bộ quản lý sinh viên

3 ĐT, QLNH Đào tạo, quản lý người học

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

B ng 1.1 Ch đ h c t p, sinh ho t và rèn luy n k lu t trong ngàyả ế ộ ọ ậ ạ ệ ỷ ậ c aủ

sinh viên t i trung tâm giáo d c qu c phòng và an ninhạ ụ ố 32

B ng 2.4 Đánh giá m c đ c n thi t c a ho t đ ng qu n lý giáo d c tínhả ứ ộ ầ ế ủ ạ ộ ả ụ

k lu t cho sinh viênỷ ậ 65

B ng 2.5 Đánh giá công tác ch đ o l p k ho ch giáo d c tính k lu t choả ỉ ạ ậ ế ạ ụ ỷ ậ

sinh viên t i các trung tâm hi n nayạ ệ 66

B ng 2.6 Hi u qu công tác qu n lý giáo d c tính k lu tả ệ ả ả ụ ỷ ậ cho sinh viên hi nệ

nay 74

B ng 2.7 T ng h p k t qu h c t p môn h c giáo d c qu c phòng và anả ổ ợ ế ả ọ ậ ọ ụ ố

ninh c a 05 trung tâmủ 75

B ng 2.8 T ng h p k t qu rèn luy n c a sinh viên khi h c t i 05 trungả ổ ợ ế ả ệ ủ ọ ạ

B ng 4.3 T ng h p k t qu h c t p môn h c GDQPAN c a SV hai l p thả ổ ợ ế ả ọ ậ ọ ủ ớ ử

nghi m và đ i ch ng, sau l n th nghi m 1ệ ố ứ ầ ử ệ 134

B ng 4.4 T ng h p k t qu rèn luy n KL c a SV hai l p th nghi m vàả ổ ợ ế ả ệ ủ ớ ử ệ

đ i ch ng sau l n th nghi m 1ố ứ ầ ử ệ 135

B ng 4.5 So sánh trung bình chung k t qu đánh giá l p th nghi m 2ả ế ả ớ ử ệ

vàđ i ch ng 2 v TKL c a SV t i Trung tâm GDQPANố ứ ề ủ ạ 136

Trang 12

B ng 4.6 T ng h p k t qu h c t p môn h c GDQPAN c a SV hai l p thả ổ ợ ế ả ọ ậ ọ ủ ớ ử

nghi m và đ i ch ng sau l n th nghi m 2ệ ố ứ ầ ử ệ 139

B ng 4.7 T ng h p k t qu rèn luy n KL c a SV hai l p th nghi m vàả ổ ợ ế ả ệ ủ ớ ử ệ

đ i ch ng sau l n th nghi m 2ố ứ ầ ử ệ 139

Trang 13

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

Biểu đồ:

Biểu đồ 2.1: So sánh điểm trung bình đánh giá mức độ hiểu biết của sinh

viên về các yêu cầu của kỷ luật 49

Bi u đ 2.2: So sánh đi m trung bình đánh giá hành vi k lu t c a sinhể ồ ể ỷ ậ ủ

viên trong các ho t đ ng h c t p, rèn luy nạ ộ ọ ậ ệ 51Biểu đồ 2.3: So sánh điểm trung bình mức độ cần thiết của các nội dung giáo

dục tính kỷ luật 54Biểu đồ 2.4: So sánh điểm trung bình kết quả đạt được ở các nội dung giáo dục

tính kỷ luật cho sinh viên 57Biểu đồ 2.5: So sánh điểm trung bình tần suất thực hiện các phương pháp và

hình thức giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên 63Biểu đồ 2.6: So sánh điểm trung bình công tác chỉ triển khai thực hiện giáo dục

tính kỷ luật cho sinh viên 68Biểu đồ 2.7: So sánh điểm trung bình mức độ phù hợp của các nội dung quản lý

giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên 69Biểu đồ 2.8: So sánh điểm trung bình mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ

quan đến hoạt động quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên 71Biểu đồ 2.9: So sánh điểm trung bình mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách

quan đến hoạt động quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên 72Biểu đồ 2.10: Trung bình kết quả học tập 3 năm học của sinh viên 5 trung tâm 76

Bi u đ 2.11: Trung bình kể ồ ết quả rèn luyện 3 năm học của sinh viên 5 trung tâm 76Biểu đồ 4.1: So sánh kết quả đánh giá mức độ cần thiết và tính khả thicủa các

biện pháp 123

Sơ đồ:

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninhtrên toàn quốc

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức của các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninhthuộc

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Sơ đồ 3.1: Tổ chức hệ thống Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tính kỷ luật là một phẩm chất quan trọng của nhân cách, là nét đẹp văn hóacủa người lao động trongxã hội hiện đại, nó góp phầntạo nêntrật tự, kỷ cương

trongcộng đồng xã hội Đúng nhưNhà triết học Erich Fromm đã nói:  "Không có tính

kỷ luật, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên chao đảo và thiếu tập trung Nếu hành động của chúng ta tùy theo tâm trạng và sở thích thì tất cả những điều đó không có gì hơn là một trò tiêu khiển" Ông còn nói thêm rằng “Chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở nên xuất sắc nếu ta không thực hiện những điều chúng ta đặt ra, những mục tiêu mà chúng ta hướng tới với tinh thần kỷ luật tự giác cao”. 

Giáo dục tính kỷ luật (TKL) cho sinh viên (SV) trong các trường đại học cầnđược nhận thức như là một nội dung quan trọng, đồng thời là một biện pháp hữuhiệu để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhằm đáp ứng các yêu cầu củathời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong xã hội hiện nay, do tác động của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế,giới thanh niên, SV bên cạnh những mặt tích cực như tính năng động, sáng tạo, ýthứclập nghiệp…, mặt trái của nó lại làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, trật tự,

kỷ cương nhiều nơi, nhiều lúc bị vi phạm

Nghị quyết 25-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ươngĐảng khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên

thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa” đã nhận định có “một bộ phận

thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm tới tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc” Điều này nói lên tính cấp thiết của việc giáo dục lý tưởng, đạo đức,

lối sống văn hóa, trật tự, kỷ cương cho thanh niên, SV trong giai đoạn hiện nay.Trong những năm gần đâyở nước ta đã thành lập các trung tâm giáo dục quốcphòng và an ninh (GDQPAN) trên phạm vi cả nước, để GDQPAN cho SVcáctrường đại học và cao đẳng

Mục đích của GDQPAN là giúp SV có những hiểu biết về quốc phòng và anninh (QP-AN), có kiến thức cơ bản về đường lối QP-AN, công tác quản lý nhà nước

Trang 15

về QP-AN, có những kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết, đồng thời giáo dục lòngyêu nước, truyền thống cách mạng, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân,nâng cao tinh thần cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sẵnsàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Hàng năm, SV của các trường đại học được đưa vào các trung tâm GDQPANhọc tập, rèn luyện trong khoảng thời gian từ 4 đến 5 tuần, các em được ăn, ở, tậpluyện, được sinh hoạt trong một môi trường có nội quy sinh hoạt chặt chẽ như trongcác nhà trường quân đội, tuy nhiên, còn nhiều SV do chưa có thói quen và kỹ năngsống nề nếp, trật tựnên gặp những khó khăn trong sinh hoạt, thậm chí còn vi phạmnội quy, kỷ luật (KL) của trung tâm Do đó, cần phải giáo dục TKL cho SV trongcác trung tâm trước hết để nâng cao chất lượng các đợt tập huấn, sau đó là để hìnhthành ý thức và hành vi sống và lao động có KL sau này

Giáo dục TKL cho SV là một biện pháp đảm bảo cho sự thành công củacáckhóa học, cho chất lượng đào tạo của các trường đại học, nhưng sâu xa hơn làđểhình thành một phẩm chất quan trọng của người lao động chuyên nghiệp trong xãhội công nghiệp mà chúng ta đang hướng tới

Về mặt lý luận, cho đến nay ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu vềgiáo dục TKL cho học sinhở các trường phổ thông, SV ở các trường đại học và họcviên ở các nhà trường quân đội Đặc biệt từ khi Luật GDQPAN được ban hành, đã

có một số công trình nghiên cứu về GDQPAN cho SV, nhưng chưa có công trìnhnào nghiên cứu về quản lý giáo dục TKL cho SV trong các trung tâm GDQPAN Trong những năm qua, công tác giáo dục, rèn luyện TKL cho SV tại các trungtâm đã được các cấp lãnh đạo quan tâm và đã thực hiện thành công các mục tiêu,yêu cầu của cáckhóa học Tuy nhiên, công tác quản lý giáo dục, rèn luyện TKL cho

SV tại các trung tâm vẫn còn có những hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân chủquan,khách quan khác nhau, vì vậy việc quản lý giáo dục TKL cho SV cần đượcnghiên cứu một cách có hệ thống, để tìm ra những biện pháp quản lý cho phù hợp.Xuất phát từ những lý do trên, là cán bộ đang công tác tại một trung tâm GDQPAN

chúng tôi chọn đề tài: "Quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo

dục quốc phòng và an ninh" làm luận án tiến sĩ của mình.

Trang 16

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạnggiáo dục TKL cho SV tạicáctrung tâm GDQPAN, luận án đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục nhằm hìnhthành TKL cho SV, góp phần nâng cao chất lượng các khóa học tại trung tâm vàchất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở các trường cao đẳng, đại học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục TKL cho SV tại cáctrung tâm GDQPAN

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục TKL cho SV tại trung tâm GDQPAN

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Quản lý giáo dục TKL cho SV tại hệ thống

cáctrung tâm GDQPAN

- Về địa bàn nghiên cứu: Hiện nay trên phạm vi cả nước có hai hệ thống trung

tâm GDQPAN: một là của các trường đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, hai

là của các trường quân đội do Bộ Quốc phòng quản lý Luận án khảo sát tại 5 trungtâm do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý Luận án nghiên cứu khảo sáttại 5 trung tâm:Trung tâm GDQPAN Đại học Huế, Trung tâm GDQPAN Đại học Sư Phạm Hà Nội

2, Trung tâm GDQPAN Đại học Quốc gia Hà Nội,Trung tâm GDQPAN Đại họcQuốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,Trung tâm GDQPAN Đại học Thái Nguyên vàtiến hành thực nghiệm tại Trung tâm GDQPAN Đại học Thái Nguyên

- Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2014 đến năm 2018

5 Giả thuyết khoa học

Tính kỷ luật là một phẩm chất quan trọng của nhân cách, có cấu trúc tâm lýphức tạp, sự hình thành tính kỷ luật cho SV là một quá trình dưới sự tác động củanhiều yếu tố, trong đó giáo dục và trải nghiệm là hai yếu tố cốt lõi Quản lý giáo dụcTKL cho SV ở các trung tâm GDQPAN là một vấn đề khoa học và thực tiễn, nếu ta

có những biện pháp quản lý phù hợp với tâm lý lứa tuổi SV,phát huy được tính chủđộng, tích cực, sáng tạo và tự giác của SV và phù hợp với môi trường giáo dục quân

Trang 17

sự ở các trung tâm GDQPAN thì chất lượng giáo dục sẽ được cải thiện, góp phầnthực hiện tốt mục tiêu GDQPAN theo Luật GDQPAN

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục TKL cho SV tại cáctrung tâmGDQPAN

- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục TKL cho SV tại các trung tâmGDQPAN

- Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục TKL cho SV tại các trung tâmGDQPAN

- Tiến hành khảo nghiệm và thử nghiệm, đánh giá hiệu quả áp dụng các biệnpháp đề xuất

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu dựatrên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục và quản lý giáo dục

- Đề tài nghiên cứu dựa trên các quan điểm hệ thống - cấu trúc, quan điểmlịch sử - logic, quan điểm hoạt động – nhân cách, quan điểm kiến tạo, quan điểmthực tiễn về giáo dục, quản lý giáo dục

7.2 Phương pháp nghiên cứu:

7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại, hệthống hóa, khái quát hóa lý thuyết từ các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu,các văn bản pháp quy để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp quan sát

Mục đích: Tìm hiểu thực trạng việc chấp hành KL và những biện pháp quản lý

giáo dục TKL cho SV trong học tập và sinh hoạt tại các trung tâm GDQPAN

Nội dung quan sát:

+ Thái độ và hành vi chấp hành KL trong học tập và sinh hoạt của SV trongthời gian học tại các trung tâm

Trang 18

+ Các phương pháp quản lý giáo dục TKL cho SV trong học tập, rèn luyện củagiảng viên (GV) và cán bộ quản lý sinh viên (CBQL SV).

Hình thức quan sát: Thông qua dự giờ và theo dõi các hoạt động ngoài giờ lên lớp.

7.2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích của điều tra: Nhằm tìm hiểu nhận thức của các nhà quản lý, GV và SV

về việc giáo dục TKL và quản lý, giáo dục TKL cho SV tại các trung tâm GDQPAN

Nội dung điều tra:

+ Đối với cán bộ quản lý (CBQL) trung tâm và GV: khảo sát trình độ nhậnthức, thái độ và thực trạng công tác quản lý giáo dục TKL cho SV tại các trung tâm.+ Đối với CBQL SV: Đánh giá việc chấp hành KL của SV trong thời gian họctập tại trung tâm GDQPAN

+ Đối với SV: Nhận thức của SV về các mục đích, yêu cầu và sự cần thiết phảichấp hành KL, thái độ và thực trạng hành vi chấp hành KL, đánh giá công tác quản

lý, phương pháp giáo dục TKL tại các trung tâm

7.2.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tổng kết, đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhânđể rút ra những bài học kinhnghiệm trong công tác quản lý giáo dục TKL cho SV tại các trung tâm GDQPAN

7.2.2.4 Phương pháp phỏng vấn

Sử dụng phương pháp phỏng vấn để có thêm thông tin của các đối tượngnghiên cứu, nhằm làm sáng tỏ hơn kết quả khảo sát về thực trạng các nội dung cóliên quan đến TKL, công tác giáo dục TKL và quản lý giáo dục TKL cho SV tạitrung tâm GDQPAN

7.2.2.5 Phương pháp khảo nghiệm

Mục đích khảo nghiệm: Xác định mức độ tin cậy của các biện pháp quản lý

giáo dục TKL cho SV tại các trung tâm GDQPAN được đề xuất trong đề tài

Nội dung khảo nghiệm: Xác định mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện

pháp quản lý giáo dục TKL cho SV tại trung tâm GDQPAN trong thời gian học tậpmôn học GDQPAN

Đối tượng khảo nghiệm: SV của các Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại

học Kỹ thuật, Công nghiệp thuộc Đại học Thái Nguyên khi vào học tập tại Trungtâm GDQPAN Đại học Thái Nguyên

Trang 19

7.2.2.6.Phương pháp thử nghiệm:

Mục đích thử nghiệm: Nhằm xác định hiệu quả và cách thức tổ chức của các

biện pháp quản lý giáo dục TKL cho SV tại các trung tâm GDQPAN

Nội dung thử nghiệm: Áp dụng một số biện pháp quản lý giáo dục TKL cho

SV tại trung tâm GDQPAN được đề xuất trong đề tài

Đối tượng thử nghiệm: SV của các Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại

học Kỹ thuật, Công nghiệp thuộc Đại học Thái Nguyên khi vào học tập tại Trungtâm GDQPAN Đại học Thái Nguyên, để đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả củabiện pháp được đề xuất, từ đó chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết khoahọc

7.2.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ

Sử dụng công thức thống kê, chương trình Excel để xử lý các số liệu khảo sátthực trạng, kết quả thử nghiệm

8 Luận điểm bảo vệ

- Tính kỷ luật của SV tạicáctrung tâm GDQPAN là sản phẩm của giáo dục vàtrải nghiệm, được thể hiện qua nhận thức, thái độ, hành vi của SV trong việctuânthủ mọi quy địnhcủa trung tâm,để góp phần hoàn thành mọi nhiệm vụ học tậpvàthành công củakhóa học

- Môi trường giáo dục TKL cho SV tại trung tâm GDQPAN có hiệu quả vượttrội hơn so với các môi trường khác trong quá trình đào tạo ở các trường đại học

- Quản lý giáo dục TKL cho SV tại trung tâm GDQPAN là một tổ hợp cácbiện pháp,phù hợp vớiđặc điểm tâm lý lứa tuổi SV,vớimôi trườngquân sự góp phầntích cực vào việc thực hiện mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ GDQPAN và mục tiêu đàotạo của các trường đại học

9 Câu hỏi nghiên cứu:

- Bản chất của tính kỷ luật là gì ? quá trình hình thành TKL của SV tại cáctrung tâm GDQPAN diễn ra như thế nào ?

- Giáo dục TKL cho SV tại các trung tâm GDQPAN có những đặc điểm gì ?

có những yếu tố tác động nào ?

- Thực trạng TKL, giáo dục TKL và quản lý giáo dục TKL cho SV ở các trungtâm GDPAN hiện nay ra sao ?

Trang 20

- Quản lý giáo dục TKL cho SV ở các trung tâm GDQPAN cần sử dụng cácbiện pháp nào để đạt được hiệu quả cao nhất ?

10 Kết quả mới của luận án

Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận vềKL, TKL, giáo dục TKL và

quản lý giáo dục TKL cho SV tại trung tâm GDQPAN

Về mặt thực tiễn:

-Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng TKL, giáo dục TKL, quản lý giáodục TKL và những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý giáo dục TKL cho SVtại trung tâm

- Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục TKL cho SV phù hợp với đặc điểmtâm lý lứa tuổi và môi trường thực tiễn tại trung tâm GDQPAN

11 Kết cấu của luận án

Luận án ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo vàPhụ lục, nội dung (ND) chính của luận án được trình bày trong 4 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tạitrung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh

Chương 2 Thực trạng quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâmgiáo dục quốc phòng và an ninh

Chương 3 Biện pháp quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâmgiáo dục quốc phòng và an ninh

Chương 4 Khảo nghiệm và thử nghiệm

Trang 21

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNGVÀ AN NINH 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1.1 Những nghiên cứu về kỷ luật và tính kỷ luật

Kỷ luật và tính kỷ luật là những vấn đề quan trọng củađời sống xã hội, vì vậy

đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu trêncác bình diện khác nhau

Ở góc độ Triết học, C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng: Kỷ luật là một hiện tượng

xã hội đặc biệt, là điều kiện đảm bảo cho mọi hoạt động của bất kỳ cộng đồng, tổ chức nào diễn ra thành công.[48, tr.350-351]

V.I Lênin cũng khẳng định: “ Sự sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sự sản

xuất vật chất, những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng là những tư tưởng của giai cấp thống trị Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị sử dụng kỷ luật như một thứ vũ khí, một công cụ, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình” [39, tr.235].

“Tổ chức lao động xã hội của chế độ phong kiến dựa vào kỷ luật roi vọt, vào tình

trạng ngu muội và khiếp nhược đến cùng cực của người lao động Tổ chức lao động

xã hội của chủ nghĩa tư bản dựa vào kỷ luật đói khát Tổ chức lao động xã hội của chủ nghĩa cộng sản mà bước đầu là chủ nghĩa xã hội thì dựa vào sự tự giác, tự nguyện của những người lao động”.[39, tr.16]

Trong lĩnh vực Xã hội học Erich Fromm cho rằng: “Không có kỷ luật, cuộc

sống của chúng ta sẽ trở nên chao đảo và thiếu tập trung Nếu hành động của chúng ta tùy theo tâm trạng và ý thích của mỗi người thì tất cả những điều đó không hơn gì một trò tiêu khiển và chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở nên xuất sắc nếu ta không thực hiện những điều chúng ta đặt ra, những mục tiêu mà chúng ta hướng tới với tinh thần kỷ luật tự giác cao Là một người lãnh đạo, để có thể “lãnh đạo” được người khác, hiển nhiên là chúng ta phải “lãnh đạo bản thân”, điều này chỉ thực hiện được khi chúng ta có TKL tự giác” [79]

Trong lĩnh vực giáo dục A.X Macarenko cho rằng: “Kỷ luật là tập hợp những

quy tắc hành vi, những thói quen đã được hình thành ở con người thông qua quá trình giáo dục, nó là sản phẩm của toàn bộ quá trình giáo dục, bao gồm cả quá trình giảng dạy, giáo dục chính trị, quá trình hình thành tính cách, cọ xát và giải quyết xung đột trong tập thể” [47, tr.49].Theo ông điều quan trọng nhất của KL

chính là sự chấp hành những qui định, luật lệ cụ thể, từ đó dẫn tới hình thành một

Trang 22

phẩm chất rất quan trọng đó là năng lực chấp hành các yêu cầu của tổ chức, đây lànhân tố quyết định làm cho các chuẩn mực, qui tắc của mọi tổ chức được hiện thựchóa, đảm bảo cho hoạt động của tổ chức, của tập thể và cá nhân diễn ra theo mộttrật tự nhất định.

Ở khía cạnh Tâm lý học V.Đ.Culacôp cho rằng“TKL là một phẩm chất gắn

chặt với những phẩm chất khác của nhân cách Bản chất của nó là khả năng điều chỉnh hành vi theo đúng yêu cầu của các điều lệ, các qui định…”[12, tr.29].

A.I.Êvenmenco coi “TKL là sự thống nhất giữa sự hiểu biết, niềm tin và hành

vi, có chứa đựng động cơ tích cực, được thực hiện nghiêm ngặt, chính xác Nếu thiếu đi sự thống nhất của ba yếu tố này sẽ không thể có TKL”.[20]

Cũng như A.I.Evenmenco, I.Gordin [80] cho rằng: “Tính kỷ luật là phẩm chất

tự điều khiển, điều chỉnh của nhân cách Nhờ phẩm chất này mà con người có được hành vi chấp hành nghiêm túc các quy định của tổ chức”.

I.S.Dolinskaya đã đưa ra “cấu trúc của TKL như là hợp kim của kiến thức, thái

độ, niềm tin, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen” [81].Ông cho rằng KL là thước đo giá trị và

chất lượng cuộc sống và công cụ đảm bảo quyền lợi chính đáng của con người

Nhiều tác giả đã đề cập đến TKL có những khác biệt ở mỗi chế độ chính trị,trong chế độ xã hội chủ nghĩa KL là tự giác, nghiêm minh, dựa trên nguyên tắc dânchủ, bình đẳng, bảo vệ lợi ích người lao động Nhờ có TKL người lao động đoànkết thống nhất thành một khối, chấp hành mọi nội qui, quy chế, tạo động lực thúcđẩy hoàn thành các công việc được giao

A.X.Macarenko kết luận: “Chỉ có quyền được gọi là người có TKL với những

ai trong bất kỳ điều kiện nào cũng chọn hành vi đúng đắn có lợi nhất cho xã hội, mặc dù có gặp những khó khăn, trở ngại như thế nào đi nữa cũng khẳng định tiếp tục hành động đó đến cùng”[46] Theo quan niệm này thì TKL là hành vi cá nhân

mang lại lợi ích cộng đồng, thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể

1.1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục tính kỷ luật.

Về giáo dục TKL C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng: “Nhiệm vụ của chúng ta

không chỉ là giáo dục cho con người có một thái độ đúng, mà còn giáo dục những thói quen hành vi đúng, đó là TKL”.[48, tr.350]

V.Đ.Culacop khi nghiên cứu về vai trò của giáo dục TKL cho thanh niên, đã

viết: “Phải làm cho các đối tượng giáo dục biến những yêu cầu, quy định có tính

chất bắt buộc của cộng đồng xã hội thành yêu cầu của chính bản thân mình và việc thực hiện yêu cầu đó trở thành những điều cần thiết đối với mỗi cá nhân.” Tác giả

viết tiếp: “Giáo dục một hành vi đẹp, một thói quen tốt cho thanh niên theo đúng

yêu cầu, điều lệ, mệnh lệnh của tổ chức, chỉ có thể làm được điều này trên cơ

Trang 23

sở sự giác ngộ, sự tin tưởng sâu sắc của họ vào sự đúng đắn của những điều lệ, mệnh lệnh …” [13, tr.31]

Nhấn mạnh vai trò của giáo dục TKL cho học sinh A.X.Macarenko cho rằng:

“Sự rèn luyện TKL là một quá trình phức tạp, là kết quả chung của toàn bộ quá

trình giáo dục” [47,tr.37] và KL tạo ra “Vẻ đẹp cho bộ mặt văn hóa của nhà trường”,“Trường học mà thiếu KL thì giống như cái cối xay nước mà không có nước” và nhiệm vụ của trường học là phải tìm ra những biện pháp giáo dục TKL

cho học sinh, bởi vì “Kỷ luật làm cho quá trình giáo dục tiến hành có kết quả và

ngược lại kỷ luật là kết quả nỗ lực của cả tập thể học sinh trong các hoạt động hàng ngày…” Trong xã hội của chúng ta, kỷ luật là đạo đức Tính vô KL hay sống không có kỷ luật là đi ngược lại với lợi ích của cộng đồng xã hội Trẻ em cần được giáo dục để chúng hiểu rằng muốn học tập tu dưỡng tốt thì cần phải có TKL tốt.[46]

I.A.Cairop cho rằng giáo dục TKL trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn

đến kết quả học tập của học sinh Do đó,muốn nâng cao hiệu quả dạy học phải chú

ý đến việc rèn luyện TKL học tập cho học sinh.[10]

Thomas Gordon trong tác phẩm “Giáo dục không trừng phạt” đã trích dẫn lời của

Glasser: “Những nhà quản lý hiện đại là những người sẵn sàng chia sẻ quyền lực, ông

đưa ra mô hình quản lý ủng hộ sự tham gia của học sinh, việc nhà quản lý, giáo viên

và học sinh cùng ra quyết định và cùng giải quyết những vấn đề phát sinh là yếu tố chính hình thành và phát triển KL, trật tự, thông hiểu lẫn nhau”.[21, tr.137]

Ân Thực Trước trong tác phẩm Bàn về KL tự giác đã có những đánh giá cao

về vai trò của yết tố môi trường trong quá trình hình thành TKL cho học sinh Theo

Ông: "Lớp học là môi trường chính yếu để giáo dục KL học tập cho học sinh Việc

xây dựng một chính sách, một nội quy lớp học thống nhất với sự tham gia của học sinh, trong đó phản ánh yêu cầu của việc giáo dục KL học tập cho học sinh, sẽ giúp hình thành KL tự giác, tích cực cho học sinh trong sinh hoạt và trong học tập" [67, tr.24]

Duke và Perry cho rằng: “Học sinh sẽ tuân thủ KL tích cực hơn, tự giác hơn

nhờ vào mối quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa thầy và trò, nhờ việc khuyến khích học sinh cùng tham gia vào việc điều hành nhà trường và nhờ vào hệ thống nội quy dân chủ Tất cả đều do nhà quản lý”.[78, tr.42]

A.I.Êvenmenko, tác giả tác phẩm “Hãy trở thành người chiến sĩ có KL”, đề

cập tới những kinh nghiệm trong giáo dục, rèn luyện KL cho các chiến sĩ Xô viết,một trong những yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội cách mạng.Theo tác giả, không có KL thì không thể trở thành quân đội, trong quá trình thực

Trang 24

hiện nhiệm vụ, mỗi quân nhân cần hiểu rõ mình đang làm gì, cái gì đang thúc đẩymình thực hiện theo yêu cầu nhiệm vụ đặt ra và công việc muốn thực hiện thắng lợicũng phải nhờ vào việc chấp hành nghiêm KL.[20]

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.2.1 Những nghiên cứu về giáo dục tính kỷ luật cho học sinh, sinh viên

Ở nước ta các công trình nghiên cứu về giáo dục TKL lúc đầu tập trung vàocác đối tượng học sinh phổ thông, sau là các đối tượng SV và học viên các trườngquân sự

Năm 1991 trên tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục” có bài viết của tác giả Nghiêm

Thị Phiến: “Hình thành TKL trong hoạt động học tập của học sinh lớp1[50] và năm

1996 có bài: “Hình thành TKL trong hoạt động học tập cho học sinh cấp 2”.

[51]Trong hai bài viết này, tác giả đã nêu lên đặc điểm và những biểu hiện của TKLcủa học sinh và từ đó đã đề xuất các biện pháp giáo dục TKL cho học sinh ở các lứatuổi này

Năm 1994 Phạm Minh Hùng [31] có công trình nghiên cứu về “Các biện pháp

giáo dục TKL trong hoạt động học tập trên lớp cho học sinh đầu bậc tiểu học”, tác

giả cho rằng TKL học tập như là một phẩm chất nhân cách, một giá trị của học sinhtiểu học Tác giả đã nêu ra các thành phần cơ bản của TKL học tập, xác định cấutrúc của TKL, các yếu tố tạo thành TKL học tập và con đường hình thành phẩmchất này

Năm 2013 Vũ Thị Hương Lý [38], nghiên cứu về “Giáo dục TKL học tập cho

SV Cao đẳng Sư phạm trong đào tạo học chế tín chỉ”, theo tác giả: trong điều kiện

học tập theo tín chỉ thì TKL học tập là một tất yếu.Khi SV hiểu được yêu cầu đốivới học tập theo tín chỉ thì họ sẽ tự giác, tích cực, chủ động tìm kiếm phương pháphọc tập phù hợp, duy trì hứng thú, tạo nên sức mạnh ý chí vượt qua khó khăn, cácyêu cầu nghiêm ngặt để đạt được kết quả học tập tốt Việc lựa chọn ND, phươngpháp, hình thức giáo dục TKL học tập cho SV cao đẳng sư phạm một cách phù hợpvới mục tiêu đào tạo theo học chế tín chỉ, tuân theo logic của ND giáo dục, trình độnhận thức, đặc điểm đối tượng giáo dục trong từng năm học và toàn khóa học sẽmang lại hiệu quả cao

1.1.2.2 Những nghiên cứu về giáo dục tính kỷ luật của học viên ở các trường quân sự

Đối với quân đội, việc giáo dục TKL cho quân nhân là một tất yếu, vì đó làyếu tố cơ bản tạo thành sức mạnh của quân đội

Trang 25

Trải qua hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành, Quân đội Nhân dân Việt Nam

đã thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục nhân cách cho người quânnhân cách mạng Người yêu cầu phải giáo dục toàn diện về chính trị, đạo đức, KL

và tinh đoàn kết quân dân cho mọi quân nhân Người khẳng định: “Quân đội mạnh

là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và KL nghiêm”.[41, tr.310]

Về giáo dục TKL cho học viên các trường quân sự đã được nhiều tác giảnghiên cứu, có thể kể đến những các công trình sau đây:

Đinh Hùng Tuấn [73]: “Cơ sở tâm lý học của củng cố và nâng cao TKL của

các tập thể quân sự bộ đội Đặc công”, đã khẳng định TKL của tập thể quân nhân sẽ

làm cho tập thể đó trở thành tập thể có KL TKL cao của mỗi quân nhân là mộtnhân tố quan trọng tạo nên TKL của cả tập thể quân nhân, còn động cơ, hành vi KLquyết định đến tính chất có KL của các hành vi đó và là hạt nhân của mỗi hành vi

KL của quân nhân

Nguyễn Ngọc Phú [53]: Một số vấn đề tâm lý học quân sự trong xây dưng

quân đội.Tác giả khẳng định: Động cơ hành vi KL chiếm giữ vị trí quan trọng hàng

đầu là các động lực thúc đẩy bên trong hướng quân nhân vào việc tuân thủ các đòihỏi của pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ quân đội, mệnh lệnh chỉ thị của cấptrên Động cơ hành vi KL là cơ sở trực tiếp của hành vi có KL của quân nhân và làmột thành phần quan trọng nhất trong cấu trúc tâm lý của TKL

Phạm Minh Thụ [60], khi bàn về sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo dụcthói quen hành vi KL cho học viên sĩ quan ở các trường đại học quân sự, tác giảcũng đã nhấn mạnh vai trò vô cùng quan trọng của KL và khẳng định sự cần thiếtphải sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo dục hành vi KL cho học viên sĩ quan ởcác trường đại học quân sự Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửdụng các phương pháp giáo dục vào giáo dục KL, qua đó đưa ra cách thức sử dụngtổng hợp các phương pháp giáo dục nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện thóiquen hành vi KL cho học viên sĩ quan ở các trường đại học quân sự, đồng thời tácgiả cũng đã đề cập đến hoạt động quản lý quá trình giáo dục KL cho học viên

Phạm Đình Hòe [30]:“Hệ thống biện pháp giáo dục KL cho học viên văn hóa

nghệ thuật quân đội” Theo tác giả, thông qua những đặc điểm tâm lý quân nhân, sự

tác động của học tập và rèn luyện để hình thành nhân cách quân nhân là một việc làmhết sức cần mẫn, tỉ mỉ và lâu dài của cán bộ, chỉ huy, đòi hỏi ở mỗi cán bộ chỉ huy(mà trực tiếp là những cán bộ, chỉ huy trực tiếp) cần phát huy tính năng động, sángtạo, khoa học trong phương pháp giáo dục, để kích thích mỗi quân nhân tự giác trongchấp hành KL

Vũ Quang Hải [24]: “Nghiên cứu quy trình tổ chức giáo dục KL cho học viên

trong nhà trường quân đội” cho rằng, vai trò đặc biệt quan trọng của KL trong hoạt

động vũ trang và nhấn mạnh: Việc luyện tập thói quen hành vi KL của học viên

Trang 26

luôn luôn gắn liền với rèn luyện KL, rèn luyện bản lĩnh, ý chí và ý thức KL củangười sĩ quan trong tương lai.

Các tác giả, Trần Bá Thanh [56]: “Giữ nghiêm KL ở tổ chức cơ sở đảng các

đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay”;Nguyễn Văn Thanh [57]: “Mối quan hệ giữa phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và tăng cường KL trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”; Lê Văn Làm [34]: “Bồi dưỡng, rèn luyện ý thức KL quân sự của học viên đào tạo sĩ quan ở các nhà trường quân đội hiện nay”, đã phân tích bản chất

của quá trình giáo dục TKL cho bộ đội, ND, phương pháp giáo dục và chỉ ra tính đadạng của các hình thức giáo dục TKL cho học viên.Các tác giả chỉ ra những yếu tốthành công và chưa thành công, những nguyên nhân chủ quan, khách quan và cácbài học kinh nghiệm trong giáo dục ý thức KL cho học viên nói riêng và cho chiến

sĩ và sĩ quan trong điều kiện sẵn sàng chiến đấu trong điều kiện thế giới hiện đại.Những năm gần đây Tổng cục Chính trị đã nghiệm thu nhiều đề tài khoa học

và đưa vào ứng dụng như: “Xây dựng phẩm chất cách mạng cho học viên các

trường đại học và cao đẳng kỹ thuật quân sự trong tình hình hiện nay”[64]; “Mối quan hệ giữa dân chủ và KL”[29] Các công trình nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý

luận và thực tiễn của việc sử dụng các phương pháp giáo dục TKL, qua đó đưa racách thức sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo dục nhằm hình thành, phát triển

và hoàn thiện thói quen hành vi KL cho học viên sĩ quan

Mặc dù có nhiềucách tiếp cận khác nhau, song các tác giả đã phân tích làm rõvai trò, bản chất của KL, TKL; cơ sở lý luận, thực tiễn và tính cấp thiết của việcgiáo dục TKL quân sự cho quân nhân và xây dựng quân đội cách mạng, chính quy,tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáodục, quản lý giáo dục TKL cho quân nhân

Trong những nghiên cứu về giáo dục TKLcác tác giả đã bàn đến những biệnpháp nâng cao chất lượng giáo dục TKL cho người quân nhân trong môi trườngquân sự, đã làm rõ tác dụng, hiệu quả của cácphương pháp giáo dục như nêu gương,thuyết phục, khen thưởng, trách phạt

1.1.2.3 Những công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên

Vấn đề quản lý giáo dục TKL cho SVcác trường đại học cũng được nhiều tácgiả đề cập tới

Trước hết có một số nhà khoa học đã nghiên cứu những lý thuyết về quản lý

và quản lý giáo dục, tiêu biểu là các tác phẩm “Đại cương khoa học quản lý” của

Trang 27

tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã tập trung làm rõ về khái niệmquản lý, hoạt động quản lý, chức năng, quy trình và vai trò trong quản lý

“Những cơ sở của lý luận quản lý giáo dục” của Nguyễn Trọng Hậu, đã đề

cập một cách hệ thống về lịch sử phát triển của lý luận quản lý giáo dục, về quan hệgiữa lý luận quản lý giáo dục và lý luận quản lý nói chung; về xây dựng các môhình quản lý giáo dục và những vấn đề chung về lý luận quản lý giáo dục

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc nghiên cứu quản lý dưới góc độ tâm lý học, theotiếp cận hành vi, trong đó bàn rất kỹ về hành vi cá nhân trong tổ chức, nhóm và quátrình xã hội, các quá trình của tổ chức

Trong lĩnh vực quân sự, tác giả Lâm Văn Khuy có đề tài: Quản lý giáo dục TKL cho học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Trường Đại học Chính trị hiện nay Đã tiến hành nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục TKL cho

học viên ở các trường quân đội, đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục TKL chohọc viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Trường Đại học Chính trị hiện nay

Tác giả Bùi Văn Việt với đề tài: Quản lý quá trình rèn luyện KL của SV tại

trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội 1 [76], xác địnhcác chủ thể quản lý phải

nắm vững các nguyên tắc, sử dụng tổng hợp, linh hoạt các phương pháp, cách thức

“nghệ thuật” quản lý; phải phát huy tối đa tinh thần trách nhiệm của mọi lực lượngtrong nhà trường, có vậy mới đạt được mục tiêu đề ra

Tác giả Hoàng Văn Tòng có đề tài: Quản lí giáo dục quốc phòng - an ninh cho

SVcác trường đại học Việt Nam trong bối cảnh mới Đã có những khái quát chung

về lịch sử, sự hình thành và những bước phát triển của công tác GDQPAN cho họcsinh, SV Trong đó nhấn mạnh sự đổi mới về công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh

vực này, đặc biệt khi đề xuất việc cải tiến phương pháp học, tác giả đã nêu “Đặc

điểm chung của SV là ít tiếp xúc với lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh Bước vào học tập GDQPAN thường mang theo thói quen của phương pháp học tập các môn học khác trong trường đại học Vì vây phải làm cho SV ý thức được tính nghiêm túc của KL quân sự, tính nghiêm khắc của phương pháp học tập GDQPAN.”.[62]

Tác giả Trịnh Tấn Hoài, trong đề tài nghiên cứu về “Quản lý giáo dục quốc

phòng và an ninh cho SV các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, khi đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động dạy và học môn

GDQPAN theo hướng bảo đảm chất lượng đã nêu “Ban hành nội quy, quy định, quy

chế của Trung tâm; tổ chức quản lý học tập, rèn luyện, sinh hoạt ngoại khoá, sinh hoạt tập trung tại Trung tâm theo nếp sống quân sự cho SV, nhằm rèn luyện tác

Trang 28

phong, nếp sống KL, góp phần thực hiện giáo dục toàn diện trong nhà trường, xử lý nghiêm đúng quy định những SV vi phạm KL học tập.”[27]

Trong bài viết “Kết hợp giảng dạy lịch sử với giáo dục quốc phòng - an ninh

cho thế hệ trẻ”, tác giả Phan Ngọc Liên cho rằng “Ý thức quốc phòng trong thanh

thiếu niên, học sinh thấp, mờ nhạt do không hiểu đầy đủ, sâu sắc về lịch sử, truyềnthống dân tộc… dẫn đến tình trạng không xác định trách nhiệm của mình đối vớinhiệm vụ bảo vệ và sự phát triển của Tổ quốc” [35, tr.15] Chính vì vậy, ND giáodục quốc phòng “không chỉ là giáo dục tinh thần chiến đấu bảo vệ Tổ quốc khi xảy

ra chiến tranh màquan trọng hơn là giáo dục ý thức thường trực gìn giữ, phát triểnmọi tinh hoa văn hóa, tinh thần và vật chất của ông cha”.[35, tr.14]

Năm 2016, khi nghiên cứu về các giải pháp nâng cao chất lượng GDQPAN

cho học sinh, SV hiện nay, tác giả Nguyễn Thiện Minh có bài viết “Tăng cường

GDQPAN cho học sinh, SV trong tình hình hiện nay” [44] Trong bài viết này, tác

giả tiếp tục đi vào phân tích vị trí, vai trò của GDQPAN đối với học sinh, SV; chỉ rõnhững hạn chế, bất cập trong GDQPAN cho học sinh, SV hiện nay Trong đó tácgiả đề xuất việc nâng cao chất lượng GDQPAN cần chú ý rèn luyện bản lĩnh, ý chícho học sinh, SV

Năm 2016, tác giả Trần Danh Lực có bài viết “Giải pháp nâng cao chất lượng

GDQPAN cho SV ở Đại học Quốc gia Hà Nội” [37] Theo tác giả, để hình thành tác

phong quân sự cho SV, cùng với việc giảng dạy, trung tâm làm tốt công tác giáodục, quản lý, rèn luyện SV Theo đó, Trung tâm xây dựng, ban hành các quy chếquản lý, rèn luyện và tổ chức tuyên truyền, phổ biến cho SV ngay sau khi về trungtâm Trong thời gian học tập, trung tâm biên chế SV thành các đại đội, trung đội vàduy trì nghiêm nền nếp chế độ trong ngày, trong tuần, giúp SV được trải nghiệm,rèn luyện, trưởng thành trong môi trường quân sự Đồng thời, duy trì các hoạt độngthi đua, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần và các hoạt động ngoại khóa(HĐNK) cho SV, như: giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao; biểu dương,khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích trong học tập, rèn luyện,tạo không khí dân chủ, thân thiện, khơi dậy tính tích cực, tự giác của SV trong quátrình học tập

Tác giả Phạm Hồng Kỳ, trong bài viết “Một số giải pháp nâng cao chất lượng

giáo dục QP-AN cho học sinh, SV.” đã đề xuất: Về hình thức tổ chức học tập, nên

biên chế học sinh, SV thành các phân đội (đại đội, trung đội, tiểu đội); như vậy, vừathuận lợi cho công tác quản lý, rèn luyện và nắm chắc kết quả học tập của từngngười, vừa giúp tuổi trẻ tiếp cận với môi trường quân sự [33]

Trang 29

Khi đề xuất, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục QP-AN ở Trung tâm

Giáo dục quốc phòng Thái Nguyên, tác giả Lưu Văn Bền cho rằng, cần rèn luyện tư

thế, tác phong, làm quen với nếp sống KL của Quân đội Từ đó, góp phần quantrọng vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo toàn diện của trung tâm, giúp SV xâydựng bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức cảnh giáccách mạng, nhận rõ trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [3]

Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, trong những năm gần đây, còn có

nhiều bài viết liên quan đến lĩnh vực GDQPAN, như: “Bồi dưỡng kiến thức QP-AN

cho cán bộ các cấp của Đảng, Nhà nước và đoàn thể Trung ương” của tác giả

Nguyễn Thế Trị [65]; “Giáo dục quốc phòng trong các trường cao đẳng và đại học

- bốn vấn đề bức xúc cần tháo gỡ từ cơ sở” của tác giả Lê Doãn Thuật [61]; “Nâng cao chất lượng giáo dục QP-AN ở Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I” của

tác giả Nguyễn Ngọc Hiệp [25]; “Một số vấn đề về đổi mới, nâng cao chất lượng

công tác giáo dục QP-AN hiện nay” của tác giả Nguyễn Thành Đô [18]; “Công tác GDQPAN cho SV ở các trung tâm hiện nay” của tác giả Lê Thanh Trì [66]; “Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nâng cao chất lượng GDQPAN cho SV” của

tác giả Trịnh Tấn Hoài [26, 90-93]… Các bài viết trên đề cập đa chiều, trên nhiềugóc độ, ở nhiều phạm vi, đối tượng khác nhau liên quan đến công tác GDQPAN,nhưng nhìn chung các bài viết này đều khẳng định GDQPAN thuộc ND của nềngiáo dục quốc gia, là ND cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninhnhân dân, có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược đào tạo con người mới xã hội chủnghĩa Một số bài viết đã khái quát được thực trạng và chất lượng GDQPAN hiệnnay, trên cơ sở đó, chỉ ra được những phương hướng, giải pháp, yêu cầu để nângcao chất lượng GDQPAN cho từng đối tượng, ở từng phạm vi nhất định Đặc biệt,các bài viết trên đều có chung quan điểm, trong công tác GDQPAN nhất thiết phảikết hợp với rèn luyện KL trong môi trường quân sự, có như vậy chất lượngGDQPAN mới được nâng cao và toàn diện.Cáctác giả đã đánh giá thực trạng nềnGDQP, AN hiện nay, bên cạnh đó các tác giả cũng đề cập đến giáo dục TKL, quản

lý các hoạt động đó tại các trung tâm và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quảquản lý GDQPAN trên cả nước

Tóm lại, qua tổng quan các công trình nghiên cứu kể trên cho thấy giáo dục

TKL và quản lý giáo dục TKL cho học sinh, SV đã được nhiều tác giả trong nước

và nước ngoài quan tâm, các kết quả nghiên cứu đã tạo cơ sở lý luận cho việc tìm ra

Trang 30

các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý giáo dục TKL trong các nhàtrường Tuy nhiên, việc quản lý giáo dục TKL cho SV tại trung tâm GDQPAN, chođến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống Đây là một vấn đề

có tính cấp thiết cần được nghiên cứu cả ở hai phương diện lý luận và thực tiễn

1.2 Những vấn đề lý luận về kỷ luật và tính kỷ luật

1.2.1 Kỷ luật

1.2.1.1 Khái niệm chung

Ngay từ khi xã hộimới hình thành, cuộc sống của mỗi cá nhân luôn bị chi phốibởi các hoạt động chungcủa cộng đồng, mặc dù lúc đó trình độ tổ chức còn sơ khai,nhưng để tồn tại và phát triển, con người đã đặt ra những qui ước về cách ứng xửvới nhau trong cuộc sống và trong lao động, buộc mỗi thành viên phải tuân theo, đóchính làKL KL được con người chấp nhận như là một công cụ duy trì trật tự củacộng đồngvà đảm bảo quyền bình đẳng chomọi người

Trong xã hội hiện đại ngày nay mọi tổ chứccũng đều được xây dựng từ nhữngnguyên tắc chung, những yêu cầu chung, những giá trị cốt lõi, đó chính là KL Nếukhông cóKL mỗi người tùy tiện làm bất cứ điều gì họ muốn, mọi tổ chức và xã hội

sẽ không còn trật tự, kỷ cương

"Kỷ luật là tự do"? Có những người không đồng ý với câu nói này, theo họ KLđồng nghĩa với sự ràng buộc Nhưng theo Stephen R Covey thì “những ngườikhông có KL là những người nô lệ cho cảm xúc, dục vọng, và đam mê“.[11]

“Người ta không có tự do khi không làm chủ được mình” Kỷ luật phải dựa trên ýthức tự giác

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “KL là quy tắc, quy định bắt buộc mọi người

trong tổ chức phải tuân theo; là hình phạt đối với người vi phạm KL”.[72, tr.933]

Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “KL là trật tự nhất định trong hành

vi của con người theo những chuẩn mực do luật pháp, đạo đức quy định trong từng thời kỳ lịch sử, vì lợi ích của toàn xã hội hay của giai cấp, của tập đoàn xã hội riêng rẽ hay của một cộng đồng KL là phương tiện để thống nhất hành động trong cộng đồng”.[69, tr.78]

Theo Đại Từ điển tiếng Việt KL là: “Qui tắc, phép tắc do tổ chức đề ra đòi hỏi

thành viên của tổ chức phải thực hiện để tổ chức ổn định và phát triển” [15, tr.132].

Như vậy,KL lànhữngquy địnhcủa mọi tổ chức,được đặt ra để quản lý hoạtđộng của con người,ngăn ngừa sự phóng túng có thể làm hại cho bản thân hay cho

xã hội, KL đặt ra để đảm bảo lợi ích cho tập thể và cá nhân

Trang 31

Dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, songcác tác giả đều cho rằngKL lànhững quy tắc, chuẩn mực, được xây dựng trên cơ sở nhận thức chung, phản ánh lợiích của tập thể, cộng đồng, trở thành những yêu cầu bắt buộc mọi người phải tuântheo.

Kỷ luật tồn tại trongmọi tổ chức xã hội, trongcác hoạt động nghề nghiệp,chúng ta vẫn thường nói đến KL học tập, KL lao động, KL đoàn thể, KL quân đội

Ở mỗi lĩnh vực hoạt động,KLcó những nét đặc trưng riêng, KL duy trì tính tích cựctrong hoạt động, làm cho năng lực của cá nhân và tập thể được huy động tối đanhằm đạt được các mục tiêu đã xác định

Từ những phân tích trên chúng tôi cho rằng, “Kỷ luật là những qui định, những

chế tài đượcđặt ra để duy trì sự ổn định và phát triểncủacáctổ chức và để điều chỉnh hành vi củamọi thành viên nhằm đạt được các mục tiêu chung”.

1.2.1.2.Kỷ luật quân sự

Đối với quân đội - lực lượng vũ trang,với hoạt động đặc thù là huấnluyệnchính trị, quân sự,sẵn sàng chiến đấu, đòi hỏi mọi quân nhân phải phụctùng nghiêm điều lệnh, điều lệ của quân đội, chế độ, nề nếp sinh hoạt Trongthời chiếncũng như trongthời bình, mọi quân nhân phải tập trung cao độvề trílực và thể lực để kịp thời, nhanh chóng thực hiện mọi mệnh lệnh của cấp trênmột cách có hiệu quả

Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam định nghĩa: “KL quân sự là những điều

quy định buộc mọi quân nhân phải triệt để chấp hành nhằm tạo sự thống nhất cao trong hành động, đảm bảo cho quân đội phát huy được sức mạnh, hoàn thành chức năng và nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh, tình huống”

Từ  điển Bách khoa quân sự cũng chỉ rõ: “KL của quân đội cách mạng là KL

tự giác nghiêm minh, được xây dựng và duy trì trên cơ sở giác ngộ về lý tưởng và mục tiêu chiến đấu, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự nghiệp cách mạng, bản lĩnh

và năng lực hoàn thành nhiệm vụ của mỗi quân nhân, cùng với sự giáo dục, tổ chức quản lý chặt chẽ và thưởng phạt nghiêm minh”.[68, tr.231]

Để nhấn mạnh tính tổ chức trong hành động, có định nghĩa: “KL quân đội là

sự tuân thủ nghiêm ngặt và chính xác mọi qui định của luật pháp nhà nước, điều lệnh, điều lệ quân đội nhằm bảo đảm mọi hoạt động của quân đội trên mọi lĩnh vực

Trang 32

được chỉ huy và tập trung thống nhất, phát huy trí tuệ và tài năng của các quân nhân thành trí tuệ và sức mạnh của quân đội”.[54, tr.145]

Để nhấn mạnh cơ sở pháp lý của hành động, có định nghĩa: “KL quân đội bao

gồm một hệ thống các tiêu chuẩn pháp luật và đạo đức mà mọi quân nhân phải tuân theo trong quá trình hoạt động hàng ngày và trong tình huống chiến đấu ”

[54, tr.137].KL tự giáctạo nên sức mạnh của quân đội, là điều kiện để giành chiếnthắng trước mọi kẻ thù

Như vậy:Kỷ luật quân sự là những điều lệnh, điều lệ, chỉ thị, mệnh lệnh được quy

định chặt chẽ, nghiêm minh đòi hỏi mọi quân nhân phải tự giácthực hiện kịp thời và chính xác.

1.2.1.3 Kỷ luật của sinh viên trong các trung tâm giáo dục quốc phòng vàan ninh

Trung tâm GDQPAN là nơi SVcác trường đại học, cao đẳngtập trung học tập

về QP-AN trong thời gian từ 4 đến 5 tuần.Do tính đặc thùtrong học tập QP-AN,nênmọihoạt động tại trung tâm được quy định như trong một nhà trường quân đội (môitrường quân sự),mọisinh hoạtđều có thời gian biểu chặt chẽ,SV phải tự giác chấphành, ngoài ra còn phảichấp hành nghiêmcác mệnh lệnh, chỉ thị của lãnh đạo, chỉhuy trung tâm

Do vậy: KL của SV trongcáctrung tâm GDQPAN là nội quy,chế độ sinh

hoạt,nhiệm vụ huấn luyện được quy định chặt chẽ, mọi SV phải tự giác tuân thủ,nhằm bảo đảm sự thống nhấttrong hoạt động của trung tâm và đạt đượccácmục tiêu của khóa học.

1.2.2 Tính kỷ luật

1.2.2.1 Khái niệm chung

Theo Từ điển Bách khoa Tâm lý - Giáo dục học “KL là những quy định chung

của tập thể, nhưng thực hiện nó như thế nào lại phụ thuộc vào phẩm chất của mỗi

cá nhân - đó là TKL”.[70]

V.Đ.Culacop cho rằng “TKL là một phẩm chất gắn liền với những phẩm chất

kháccủa nhân cách Bản chất của nó là khả năng điều chỉnh hành vi theo đúng yêu cầu của các điều lệ, các qui định của cộng đồng xã hội…”.[12]

I Gordin cũng đồng tình: “TKL là một phẩm chất tự điều khiển, điều chỉnh

của nhân cách.Nhờ phẩm chất này mà con người có được hành vi chấp hành nghiêm túc các quy định của tổ chức”.[80]

A.I.Êvemencoquan niệm “TKL là sự thống nhất giữa sự hiểu biết, niềm tin và hành

vi, có chứa đựng động cơ tích cực, được thực hiện nghiêm ngặt, chính xác”.[20]

Trang 33

Theo I.S Dolinskaya, thì “cấu trúc của TKL như là hợp kim của kiến thức,

thái độ, niềm tin, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen”.[81]

A.X.Macarenco kết luận: “Chỉ có quyền được gọi là người có TKL với những

ai trong bất kỳ điều kiện nào cũng chọn hành vi đúng đắn có lợi nhất cho xã hội, mặc dù có gặp những khó khăn, trở ngại như thế nào đi nữa cũng khẳng định tiếp tục hành động đó đến cùng”.[45]

Từ những quan niệm trên, ta thấyTKL là mộtphẩm chất quan trọng của cánhân, là sự tự giácchấp hành các quy tắc, luật lệ, nhằmđáp ứng các yêu cầu chungcủa cộng đồng, TKL thống nhất giữa lợi ích tập thể và lợi ích của cá nhân

Khi bàn vềTKL, nhiều người cho rằng TKLlàm cho con người trở nên cứngnhắc, thiếu linh hoạt Trên thực tế, TKL là một trong những phẩm chất tích cực nhấtcủa con người, nó mềm dẻo (trong khuôn mẫu), bởi vì nó phụ thuộc vào khả năng linhhoạt, sáng tạo, ý thức và mục tiêu của từng cá nhân trong hành động

Khi tự giác thực hiệncác quy định, con người nhận ra rằng mình đang kiểmsoátbản thân,tự mình quyết định phải làm gì, làm như thế nào để đạt được cácmục tiêu

đã xác định đó

TKLtạo nên sức mạnh ý chí, giúp con người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ

để đạt được mục đích hoạt động Những người thành công nhất trong cuộc sống,trong sự nghiệp, thường là những người có TKL cao

TKL hướng dẫn con người biết tự chịu trách nhiệm vềmình và biết tôn trọngngười khác, tạo nên một thế giới tốt đẹp Trong thực tế cuộc sống có vô vàn nhữngtình huống phải giải quyết, có những biện pháp giúp con người tiến xa, nhưng cũng

có những quyết định mang đến hậu quả khôn lường

TKL phụ thuộc vào từnglứa tuổi, tính chất của nghề nghiệp và đặc điểm của tổchức.Trong nền sản xuất hiện đại,TKL chính là tác phong công nghiệp, làm việckhẩn trương, theo đúng các quy trình, các yêu cầu kỹ thuật, giữ được chữ tín Đốivới người lính TKLlà ý thức tự giác trong hoạt động tạo nên sức mạnh chiến đấu.Một SVkhông có ý thứcKL,sẽkhông bao giờ đạt được kết quả tốt tronghọc tập vàtu dưỡng bản thân Một người lao động lười biếng, không bao giờ trởthành người thành đạt Một vận động viên không tôn trọng luật chơi, sẽ bị loạikhỏi cuộc chơi

TKL giúp mỗi người thoát khỏi mọi sự cám dỗ, yếu đuối, lười biếng, sợ giannan, khó nhọc TKL tạo nên ý chí,kiên trì, bền bỉ trong lao động, là cơ sở để phát

Trang 34

triển tài năng, sáng tạo TKL có mối quan hệ chặt chẽ với ý thức đạo đức và phápluật của từng cá nhân trong cuộc sống xã hội.

Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm:TKL là một phẩm chất nhân

cách, nó bao gồm ý thức, niềm tin, đạo đức, ý chí, động cơ,kỹ năng, thói quen…, được thể hiện bằng sự tự giác chấp hành nghiêm túc, có trách nhiệmcác yêu cầu, các qui định củacác tổ chức,của các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp xã hội

1.2.2.2 Tính kỷ luật quân sự

Do đặc trưng của hoạt động trong quân đội, nênTKL quân sự liên quan đến ýthức chính trị,lập trường tư tưởng, pháp luật, đạo đức, ý chí và kỹ năngsẵn sàngchiến đấu của quân nhân trong mọi tình huống

TKL quân sựgiúp cho quân nhân có khả năng tựđiều khiển trongsuy nghĩ vàhành động,có ý thức về chức trách, nhiệm vụvà những yêu cầu của điều lệnh quânđội.TKL quân sự dựa trên sự tự giác,tuyệt đối không dựa trên cơ sở cưỡng bức haytrừng phạt, như các học giả phương Tây thường nhấn mạnh

Tác giả Phạm Đình Hòe coi “TKL quân sự là sự tự giác chấp hành nghiêm

những quy định, điều lệnh cụ thể, từ đó dẫn hình thành phẩm chất nhân cách quân nhân” [30].Tác giả cho rằngTKLcủa người chiến sỹ phát triển từ thấp đến cao, ban

đầu là sự chấp hành các quy định, nội quy có tính chất bắt buộc, dần dần được nânglên thành năng lực tự chủ, đó là một trong những phẩm chất quan trọng của ngườiquân nhân.TKLcủa quân nhân luôn được thúc đẩy bởi các động cơ mang ý nghĩa xãhội, đó là lòng yêu nước, sự sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ Tổ quốc

Khi nghiên cứu về TKL của học viên trongcác nhà trường quân đội, tác giảLâm Văn Khuy cho rằng TKLlà phẩm chất, là thái độ, trình độ nhận thức của họcviên đối với những điều lệnh, điều lệ đã được thiết lập trong quân đội và nhàtrường, hành vi của học viên phải phù hợp với mục tiêu, yêu cầu giáo dục, đào tạo

của nhà trường.

Hình thành TKL quân sự là cơ chế chuyển hóa các yêu cầu của quân đội (điềulệnh, điều lệ của quân đội, của đơn vị và mệnh lệnh của người chỉ huy) thành hành

vi tự giác của từng quân nhân Hình thànhTKL cho quân nhân nằm trong mối quan

hệ với việc xây dựng các phẩm chất khác của nhân cách

Như vậy, TKL quân sự làphẩm chất của người quân nhân, là sự hiện thực hóa

các quan điểm chính trị, lập trường tư tưởng, ý thức sẵn sàng chiến đấu, được thể hiện bằng việc chấp hành vô điều kiện mọi mệnh lệnh của cấp trên và điều lệnh của quân đội.

Trang 35

1.2.2.3.Tính kỷ luật của sinh viên trong các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh

Sinh viênhọctại trung tâm GDQPANtrước hết họ là SVcủa các trường đạihọcphải tuân thủ quy chế đào tạo, sau đó họ là học viên phải chấp hành nội quy,điều lệnh, điều lệ và mệnh lệnh chỉ huy của trung tâm, như người chiến sĩtạicáchọcviện, nhàtrườngtrong quân đội

Sự giác ngộ chính trị,ý thức về trách nhiệm,nghĩa vụ công dân, sự nhận thức

về văn hóa tổ chức, về các quy tắc ứng xử trong tập thể, giúp mỗi SV hình thànhnên những thói quen trong ý thức và hành vi KL

TKL của SV tại trung tâm GDQPAN được thể hiện trong việc tự giác thựchiện nội quy, chế độ,giờ giấc sinh hoạt hàng ngày, trang phục, lễ tiết, tác phong,ngôn ngữ giao tiếp với cấp trên và đồng đội, trong việc thực hiện nội quy học trênlớp và luyện tập tại thao trường, trong giờ nghỉ,giờ chơi, trong lao động tự phục vụ,trong việc thực hiện mọi mệnh lệnh của cấp trên…

TKLlà cơ sở để SV rèn luyện các phẩm chất khác nhưý chí, quyết tâm, lòngdũng cảm,sẵn sàng chịu đựng gian khổ, vượt khó, nỗ lực phấn đấu để hoàn thành tốtcác mục tiêu, yêu cầu của khoáhọc và trở thành người SV tốt, người lao động có ýthức

Khi nói về giáo dục TKL của SV tại trung tâm GDQPAN cầnđược đề cập đến

bốn mặt: Một là, phải hoàn thiện hệ thống nội quy, quy định trong học tập,sinh hoạt

tại trung tâm, hai là, phải yêu cầu mọi thành viên chấp hànhKL nghiêm minh, balà,phải có sự quản lýgiám sát chặt chẽ của cán bộ quản lý giáo dục, bốn là, SV phải có

ý thức tự giác chấp hành các quy định

Như vậy:TKL của SV tạitrung tâm GDQPAN là ý thức tự giác chấp hành nội

quy quy định, điều lệnh, điều lệ quân đội, pháp luật của nhà nước, dựa trên sự giác ngộ về chính trị và sự nhận thức về nghĩa vụ và trách nhiệm người học trong việc thực hiệncác mục tiêu, yêu cầu của khóa học

1.3.Những vấn đề lý luận về giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên

1.3.1 Giáo dục

Giáo dục theo nghĩa chung nhấtlà những tác động có mục đích, có kếhoạchcủacác nhà giáo dục đếnhọc sinh,SV, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạtđộng và giao lưu,nhằm giúp các emhình thànhnhữngphẩm chất và năng lựcđáp ứngcác yêu cầu của xã hội và thời đại

Trang 36

Giáo dục với nghĩa là một quá trình xã hội diễn ra trong môi trườngđầy biếnđộng, với những nhân tố chủ quan, khách quan, những nhân tố kiểm soát được vàkhông kiểm soát được, có ảnh hưởng tới sự phát triển con người Quá trình giáo dụcdiễn ra trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội,gắn liền với quá trình tự giáo dục.Ýthức tự giáo dục là kết quả của quá trình giáo dục và là điều kiện để quá trình giáodục thành công.

Giáo dục trong nhà trường làquá trình sư phạm tổng thể, dưới sự tác động cómục đích, có kế hoạch của các nhà giáođến với học sinh, SV để hình thành cho họnhững phẩm chất tốt đẹp của nhân cách và năng lực hoạt động Quá trình này diễn

ra theo ba khâu giáo dụcnhận thức,giáo dụcthái độ và giáo dụchành vi cho các đốitượng giáo dục:

Giáo dục nhận thức là quá trình tác động giúp chohọc sinh,SV có những hiểubiết vềvăn hóa cuộc sống,chân lý, lẽ phải, phân biệt được cái đúng, cái sai, cái nênlàm và cái không được làm

Giáo dục thái độ là quá trình tác động vào ý thức và tình cảm của SV giúp họ

có ý chí vượt quanhững mâu thuẫn nội tại, những thói quen chưa tốt, để làmviệc tốt,

bỏ qua những cám dỗ nhất thời để trở thành người làm chủ bản thân

Giáo dục hành vi là giáo dục, rèn luyện hình thành thói quen văn minh trongcuộc sống, trong học tập, lao động và trong giao tiếp xã hội Thói quen văn minh làkết quả của quá trình giáo dục vàtự giáo dục,là điều kiện để giáo dục thành công.Quá trình giáo dục chỉcó hiệu quả khi các đối tượng giáo dục tự giáctiếp nhậnnhững tác độngcủa nhà trường, của các nhà giáo dục để tự giáo dục, tự biến đổi mình.Giáo dục với tư cách là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố tham gia, đó là nhàgiáo dục, người học, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và môi trường giáodục…, mỗi thành tố có một vai trò cụ thể, nhưng đồng thờitham gia vào kết quả chungcủa quá trình giáo dục, do vậy muốn nâng cao chất lượng giáo dục phải nâng cao chấtlượng của các thành tố tham gia

Để quá trình giáo dục trong nhà trường thành công cần có:

- Các nhà sư phạm giỏi về chuyên môn vnghiệp vụ sư phạm, tâm huyết với côngviệc, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ

- Người học phải có ý thức tự giác, tích cực học tập và tu dưỡng

- Nội dung giáo dục chuẩn mực, tiên tiến, đáp ứng các yêu cầu của xã hội

Trang 37

- Phương pháp giáo dục hiện đại, phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ độngsáng tạo của người học.

- Môi trường giáo dục phải thuận lợi, đó là nhà trường thân thiện, đảm bảo mọiđiều kiện tốt nhất cho học sinh, SV học tập, tu dưỡng và phấn đấu

Tóm lại: Giáo dục là quá trình sư phạm tổng thể, với những tác động có hệ

thống củacác nhà giáo dục đến học sinh,SV, giúp họnâng caoý thức tự giác rèn luyện, tu dưỡng đểhình thành những phẩm chấtvà năng lực hoạt độngtheo yêu cầu củaxã hội và thời đại.

1.3.2 Giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên

Giáo dục TKLcho SVlà một nhiệm vụ quan trọng của các trường đại học.Công việc này được tiến hành thông qua quá trình dạy học, thông qua các hoạt độngtrải nghiệm, sinh hoạt tập thể và giao lưu xã hội

Mục đích của giáo dục TKL là giúp cho SVhình thành ý thức tổ chức, ý thứctập thể,thói quen tự giác, nghiêm túc chấp hành nội quy, quy chế đào tạo của nhàtrường, điều lệ của các tổ chức xã hội, pháp luật của nhà nước

Giáo dục TKL cho SV có hiệu quả khimôi trường giáo dụclành mạnh có nềnếp, nội quy, quy chế được duy trì, mọi thành viên đều có ý thức, tự giác, chủ động,tích cực tham gia vào các hoạt động chung, các nhà giáo dục gương mẫu,việc khenthưởng,đánh giákhách quan

Phương pháp giáo dục TKL đa dạng, linh hoạt, phù hợp với tâm lý lứa tuổi SV,với đặc trưng của các tổ chức, nhà trường, với nội dung các hoạt động hấp dẫn và đồngthời có sự phối hợp của tất cả các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường

Phương pháp giáo dục TKL cho SV càng đa dạng bao gồm cácphươngphápthuyết phục, tổ chức rèn luyện, trải nghiệm, thi đua,nêu gương,động viên, khenthưởng đúng mức và khách quan

Phương pháp giáo dục TKLhướng vào việc phát huy tính tự giác, tự rèn luyện,

tu dưỡng của SV Đúng như Sybil Stamton đã viết: Kỷ luật đúng nghĩa không phải

thúc ép sau lưng bạn, nó ở bên cạnh khích lệ bạn, kỷ luật là tự chăm sóc mình chứ không phải tự trừng phạt mình, bạn sẽ không e dè khi nhắc đến nó mà ngược lại sẽ vun đắp cho nó

Trang 38

Kết quả của giáo dục TKL cho SV là sự chuyển hóa từcác yêu cầu của nhàtrường, của tổ chức xã hội, của pháp luật Nhà nước thành ý thức, thái độ và hành viKLtự giáccủa mỗi cá nhân

1.3.3 Giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng và

Mục đích giáo dục TKL cho SV tại trung tâm GDQPANlà để đảm bảo an toàncho SV trong thời gian học tập, rèn luyện, đảm bảo cho sự thành công của khóa học,sâu xa hơnlà hình hành ý thứcKL trong cuộc sống, học tập và lao động sau này.Xuất phát từ mục tiêu GDQPAN cho SV, được thể hiện trong Luật GDQPAN[36] đã đặt ra những yêu cầu về TKL đối với SVtại các trung tâm GDQPAN:

+ Chấp hành nghiêm đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước

+ Chấp hành nghiêm các qui chế, qui định của trung tâm, mệnh lệnh củaCBQL các cấp và yêu cầu của GV quá trình học tập và rèn luyện

+ Thực hiện đúng, đầy đủ các chế độ qui định trong ngày, trong tuần

+ Tác phong, đi đứng, mang mặc, giao tiếp ứng xử theo đúng nội qui củatrung tâm

+ Thực hiện đúng kế hoạch, thời gian học tập, nghiên cứu

+ Chấp hành chế độ nội vụ, vệ sinh cá nhân và vệ sinh công cộng

+ Sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống

và đúng thời gian qui định

Nhằm đạt được các yêu cầu của TKL nêu trên, cần phải thực hiện tốt các nội dunggiáo dụctrong các hoạt động cho SV ở các trung tâm GDQPAN, cụ thể như sau:

- Trong hoạt động học tập trên giảng đường và ngoài thao trường:

+ Đảm bảo lễ tiết, tác phong và tính chuyên cần trong giờ học

+ Tập trung theo dõi bài giảng và hướng dẫn kỹ năng thực hành của GV.+ Tích cực phát biểu tham gia thảo luận nhóm, nghiêm túc trong hoạtđộng tự quản

Trang 39

+ Chấp hành những quy định về KL thao trường đã được phổ biến.

+ Đảm bảo đội hình trong suốt quá trình học tập và chuẩn bị đầy đủ vũ khí,trang bị của cá nhân

+ Bảo quản, giữ gìn vũ khí, trang bị kỹ thuật, thiết bị dạy học, giáo trình, tàiliệu, trang phục dùng chung và cơ sở vật chất được giao

- Trong hoạt động tự học, tự luyện tập:

+ Lập kế hoạch tự học (tự luyện tập) đầy đủ theo đề cương môn học mà GV giao.+ Tự giác thực hiện kế hoạch tự học, tự luyện tập và tích cực trong luyện tậpcác động tác kỹ năng thực hành

+ Tích cực nghiên cứu giáo trình, tài liệu tham khảo

+ Tự kiểm tra, đánh giá kết quả tự học (tự luyện tập) của bản thân

+ Thực hiện tốt các qui định về chế độ tự học, tự luyện tập của GV vàCBQL SV

- Trong việc thực hiện các chế độ rèn luyện:

+ Tự giác, chủ động chấp hành các chế độ trong ngày, trong tuần

+ Chấp hành qui định về xưng hô, chào hỏi, lễ tiết, tác phong

+ Chấp hành qui định ra, vào trung tâm và báo cáo

+ Xây dựng nếp sống văn hóa, cảnh quan, môi trường và tham gia tích cực, tựgiác vào các hoạt động phong trào và ngoại khóa

- Trong kiểm tra, thi cử kết thúc các học phần:

Chấp hành nghiêm quy chế thi cử và các quy định riêng do tính đặc thù củatừng môn học

Giáo dục TKL cho SV được tiến hành ngay từ đầu khóa học đến khi kết thúckhóa học, theo phương thức nâng dần từ thấp đến cao

Giáo dục TKL cho SV được thực hiện trong quá trình dạy học, trong các chủ

đề sinh hoạt chính trị, trong việc duy trì chế độ nề nếp sinh hoạt hàng ngày có tínhchất quân sự (quy định của điều lệnh, điều lệ quân đội), qui chế quản lý SV của BộGiáo dục và Đào tạo, nội quy của trung tâm, qua đó giúp cho SV nhận thức và tựgiác chấp hành, đểhình thành thói quen hành vi KL

Như vậy, giáo dục TKL cho SV tại trung tâm GDQPAN là quá trình tác động

có hệ thống của các nhà sư phạm (đồng thời cũng là nhà quân sự) trong môi trường quân sự tới SV thông qua các hình thức tổ chức hoạt động đa dạng, nhằm nâng cao

Trang 40

nhận thức, hình thành thái độ, hành vi KL cho SV trong học tập và rèn luyện tại trung tâm, đồng thời duy trì, phát triển nó trong học tập và lao động sau khóa học.

1.4 Những vấn đề lý luận về quản lýgiáo dục tính kỷ luật cho sinh viên

1.4.1 Quản lý

Quản lý là một hiện tượng xuất hiện từ khixã hội có sự phân công lao động,

Các Mác viết: "Một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển mình, nhưng trong

một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng", nhạc trưởng chính là người quản lý, chỉ

huy dàn nhạc

Ngày nay quản lý đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật và đang diễn ratrong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Khi bàn về quản lý có nhiều quanniệm khác nhau, mỗi quan niệm đều có những lý lẽ, lập luận riêng đáng được ghinhận, như sau:

- Quản lý là sự điều hành, phối hợp các hoạt động trong một tổ chức

- Quản lý là sự khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của một tổ chức

- Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường làm việc thuận lợi để mọi thànhviên hoàn thành các mục tiêu đã xác định

- Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát hoạt độngcủa các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực nhằm đạt đượcmục tiêu đã đề ra. 

- Quản lý là định hướng và kiểm soát chất lượng hoạt động của một tổ chức

- Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến kháchthể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung

Như vậy qua các quan niệm trên cho thấy, quản lý chính là sựđiều hành hoạtđộng của một tổ chức, quản lý gồm các thành tố: chủ thể, đối tượng, mục tiêu,phương pháp, môi trường, nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định

Ngày đăng: 25/06/2019, 16:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w