Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH VĂN HÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ
TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG
QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH GIA LAI
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH VĂN HÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ
TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG
QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH GIA LAI
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐÀM THANH THẾ
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện độc lập và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đàm Thanh Thế, Chánh Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo Quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (BCĐ389QG)
Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
HỌC VIÊN
Đinh Văn Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5
7 Bố cục của luận văn 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ 7
1.1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về hàng giả 7
1.2 Công tác quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả 19
1.3 Kinh nghiệm một số tỉnh về phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả 26
Kết luận Chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH GIA LAI 31
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
2.2 Thực trạng chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Gia Lai giai đoạn 2014-2018 45
2.3 Đánh giá công tác phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Cục QLTT Gia Lai 60
Kết luận Chương 2 66
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ TẠI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH GIA LAI 68
3.1 Dự báo sản xuất, buôn bán hàng giả trong những năm tới 68
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong quản lý nhà nước về phòng chống hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai 70
Kết luận Chương 3 76
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN: Association of South East Asian Nations - Hiệp hội các Quốc gia
Đông Nam Á ATTP: An toàn thực phẩm
Trang 6hàng giả cho công chức QLTT Gia Lai giai đoạn 2014-2018
48
Bảng 2.4 Kết quả xử lý vi phạm hành chính về hàng giả (2014-2018) 52 Bảng 2.5 Tỷ lệ xử lý và số tiền nộp ngân sách nhà nước về hàng giả
(2014-2018)
53 Biểu đồ
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của cách mạnh công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại nhiều nước phát triển Nó mang đến cho nhân loại cơ hội để thay đổi bộ mặt các nền kinh tế, các quốc gia có nhiều cơ hội thúc đẩy quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ, tạo thuận lợi giao thương hàng hóa ở mỗi quốc gia để phát triển đất nước và quá trình hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khôn lường, sự tồn tại mặt trái của nền kinh tế thị trường, hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả cũng có “đất sống” Nhất là từ khi nước ta đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ chế độ quản lý tập trung bao cấp sang quản lý hạch toán kinh doanh, hệ thống chính sách pháp luật còn lỏng lẻo Hàng giả đã có mặt hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội với nhiều thủ đoạn, phương thức và quy mô; hàng giả phong phú, đa dạng về chủng loại, mẫu mã đẹp với công nghệ kỹ thuật sản xuất ngày càng hiện đại; sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng phát triển, diễn biến phức tạp, tinh vi và khó kiểm soát
Vấn nạn hàng giả đã trở thành một thực trạng nhức nhối, lây lan nhanh, ngày càng tinh vi, tàn phá kinh tế xã hội, phá hoại cạnh tranh công bằng và gây ảnh hưởng rất xấu đến quyền lợi của các nhà sản xuất Nó cũng ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Chính vì vậy, công tác phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường, bảo vệ người tiêu dùng và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp
Tỉnh Gia Lai với dân số 1,37 triệu, có 34 dân tộc anh em sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 45%, diện tích 15.536,9 Km2, có 90 Km đường
Trang 8biên giới giáp với nước Campuchia, ngoài ra giáp với các tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Bình Định, Phú Yên; các tuyến Quốc lộ 14 (nay là đường Hồ Chí Minh), 14C, 19, 19D, 25 và đường Trường Sơn Đông đi qua, có Cảng hàng không Pleiku, Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh Mặt dù không phải là địa bàn tập trung các đầu mối lớn về sản xuất, buôn bán hàng giả, vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu nhưng với địa bàn có nhiều tuyến giao thông đia qua nên các đối tượng đầu nậu đã lợi dụng để vận chuyển hàng giả, hàng cấm, hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ vào tiêu thụ tại địa bàn tỉnh và trung chuyển đi qua các tỉnh khác
Lực lượng QLTT Gia Lai đã thường xuyên duy trì và đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm trong sản xuất, buôn bán hàng giả, đạt được nhiều kết quả khả quan, góp phần tích cực vào việc làm lành mạnh thị trường Tuy nhiên, tình hình buôn lậu, buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại; nhất là sản xuất, mua bán hàng giả vẫn diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, ảnh hưởng rất lớn tới người tiêu dùng, các danh nghiệp và thị trường hàng hóa Công chức QLTT còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, nhiều vụ việc xử lý về hàng giả còn lúng túng, văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều chồng chéo, bất cập
Từ thực tế nêu trên, bản thân đang công tác tại Cơ quan QLTT tôi nhận thức được vai trò to lớn của công tác đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả hiện nay Việc làm rõ bản thân khái niệm hàng giả, phân tích, đánh giá thực trạng phòng, chống hàng giả của lực lượng QLTT, giải pháp nào để phát hiện và xử lý kịp thời các hàng vi vi phạm trong sản xuất kinh doanh hàng giả; nhằm tạo dựng cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, chế tài xử lý phù hợp là một yêu cầu hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay Đây là lý do tôi chọn đề tài:
“Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai” để làm luận văn Thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, vấn đề hàng giả và công tác quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả đã được Ban chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả
Trang 9Quốc gia (BCĐ389QG) và nhiều Ban chỉ đạo 389 bộ, ngành, địa phương chỉ đạo thực hiện, bản thân đã nghiên cứu và thu thập trong nhiều báo cáo khoa học, các báo, tạp chí như:
- Luận án Tiến sĩ Luật học của nghiên cứu sinh Trần Ngọc Việt với đề tài
“Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả thực trạng và biện pháp phòng, chống”,
năm 2001 tại Viện nguyên cứu Nhà nước và Pháp luật Luận án đi vào nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm làm hàng giả, buôn bán hàng giả, chính sách hình sự của Nhà nước ta về quy định xử lý các tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả, thực tiến hướng dẫn áp dụng các quy định này
- Một số công trình nghiên cứu khoa học dưới dạng Luận văn thạc sĩ có thể
kể đến như: Đấu tranh phòng chống tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả ở Việt
Nam hiện nay (Luận văn thạc sĩ Luật học của Đỗ Thị Lan, Trường Đại học Luật Hà
Nội, 1998); Đánh giá yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của hàng giả trong
hoạt động của quản lý thị trường (Luận văn thạc sĩ Luật học của Chu Thị Thu
Hương, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006); Xử phạt vi phạm hành chính về buôn
bán hàng giả - từ thực tiễn Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ
Luật học của Nguyễn Trường Sơn, Học Viện Hành chính Quốc Gia, 2016)
- Một số nghiên cứu khoa học dưới dạng bài viết có liên quan đến đề tài của
tác giả có thể kể đến như: Hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về hàng giả
và về đấu tranh phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả của Trần Ngọc Việt
đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 08/2011; Một vài suy nghĩ về khái niệm
hàng giả trong bối cảnh cuộc chiến chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam của Nguyễn Thị Quế Anh đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc
gia Hà Nội, Luật học, tập 30, số 1 (2014) 44-53 và một số đề tài nghiên cứu khoa học các cấp của các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống hàng giả Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác phòng, chống hàng giả, hoặc đề cập đến công tác đấu tranh chống hàng giả của một lực lượng, chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện trong công tác quản lý nhà
Trang 10nước về phòng, chống hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường trên địa bàn tỉnh Gia Lai, cũng như giải pháp để phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hàng giả Vì vậy đề tài tiếp tục kế thừa từ những giá trị khoa học của các công trình đã được nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả của lực lượng QLTT tỉnh Gia Lai, đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả góp phần ổn định thị trường, thúc đẩy phát triển thương mại của địa phương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất, buôn bán hàng giả và các yếu tố tác động làm gia tăng hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả và đấu tranh phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả ở nước ta hiện nay
- Phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Gia Lai giai đoạn 2014-2018; Đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Gia Lai; giúp cho công chức và người lao động tại Cục làm tốt trách nhiệm của mình trong thời gian đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Gia Lai giai đoạn 2014-2018
Trang 114.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước trong công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý hành vi vi phạm đối với hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả của Cục QLTT tỉnh Gia Lai Từ đó đề xuất các biện pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trên địa bàn tỉnh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, doanh nghiệp, đảm bảo lợi ích chung trong xã hội
- Phạm vi thời gian: Các số liệu và thông tin nghiên cứu trong luận văn được tổng hợp trong thời gian 5 năm (2014 - 2018), giải pháp đến năm 2022
- Phạm vi không gian: Tại Cục QLTT tỉnh Gia Lai
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng làm cơ sở, phương pháp luận cho việc nghiên cứu để giải quyết những vấn đề về lý luận tình hình sản xuất, kinh doanh hàng giả; thực trạng, nguyên nhân của các hành vi vi phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Gia Lai, từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa sản xuất, bán bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Gia Lai làm cơ sở thực tiễn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống
kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp diễn giải
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ nhiều vấn đề lý luận quản
lý nhà nước về phòng, chống hàng giả; hệ thống hóa và làm rõ về hàng giả, nhấn
Trang 12mạnh về tác hại của hàng giả đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, tổn hại đến lợi ích của cộng đồng
Đánh giá và phân tích rõ thực trạng đấu tranh phòng, chống hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Gia Lai
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể giúp các cơ quan tổ chức tham khảo
để vận dụng vào việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ nhận thức và ý thức pháp luật cho nhân dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh; góp phần đổi mới tổ chức hoạt động của Cục QLTT; đề ra phương án cụ thể, trước mắt và lâu dài nhằm nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả, tăng cường quản lý nhà nước trong đấu tranh phòng, chống hàng giả trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Đề tài này góp phần xây dựng phương án cho toàn Cục QLTT tỉnh Gia Lai; đồng thời làm cơ sở để vận dụng chỉ đạo cho các Đội trong Cục QLTT về đấu tranh phòng, chống hàng giả trong tình hình mới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung trong quản lý nhà nước về phòng,
chống hàng giả
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả từ thực
tiễn hoạt động của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả trong quản lý nhà nước về phòng,
chống hàng giả tại Cục Quản lý thị trường tỉnh Gia Lai
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ 1.1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về hàng giả
1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hàng giả
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình phát triển xã hội và hành vi hoạt động của con người
để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
Hàng giả là hiện tượng kinh tế xã hội, là một thuật ngữ để phân biệt với hàng thật Ở Việt Nam theo mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường, hàng giả
là vấn đề luôn phải được quan tâm, giải quyết do nền kinh tế thị trường với mục tiêu lợi nhuận, mà hàng giả với lợi nhuận lớn tồn tại cùng với sự phát triển của nền kinh
tế hàng hóa
Trước nhu cầu tăng cường hiệu quả cuộc đấu tranh chống hàng giả và bảo vệ quyền SHTT, việc làm rõ bản thân khái niệm hàng giả nhằm tạo dựng cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc áp dụng các biện pháp chế tài xử lý phù hợp là một yêu cầu hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Trong lý luận và thực tiễn hiện tồn tại nhiều quan niệm về hàng giả Trước hết, tìm hiểu khái niệm về hàng hoá và thế nào là giả: “Hàng hoá là sản phẩm dùng
để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi” [34, tr.214], còn “Giả có nghĩa không phải là thật mà được làm với bề ngoài giống như cái thật để người khác tưởng là thật” [35, tr.405]
Theo từ điển Bách khoa toàn thư: “Hàng giả là hàng làm bắt chước theo mẫu
mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn Về hình thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi Người
Trang 14làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem nhãn của hàng thật để lừa gạt người mua” [36] Khái niệm này chỉ giải thích về mặt ngôn ngữ, mà chưa phải là khái niệm mang tính pháp lý, thể hiện bản chất của hàng giả
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm hàng giả lần đầu tiên được sử dụng kể từ khi đất nước được thống nhất là trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu lậu cơ, buôn, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 [18] Điều 5 của Pháp lệnh này quy định
về Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả, với hình phạt có thể lên đến tù chung thân Tuy nhiên, đến thời điểm ban hành văn bản này, khái niệm hàng giả vẫn chưa được làm rõ
Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất ban hành năm 1985 quy định Tội làm hàng giả, Tội buôn bán hàng giả tại Điều 176, thuộc nhóm Tội kinh tế Mặc dù có quy định chi tiết hơn, có chế tài nghiêm khắc hơn Điều 5 của Pháp lệnh năm 1982, Điều 176 của Bộ luật hình sự năm 1985 không đưa ra định nghĩa về hàng giả
Văn bản pháp luật đầu tiên định nghĩa về hàng giả là Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc kiểm tra, xử lý hoạt động
sản xuất buôn bán hàng giả Điều 3, Nghị định quy định: “Hàng giả theo Nghị định
này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị
sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”
Sau một thời gian dài chuẩn bị, đến ngày 15/11/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng [9]
đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ [10] Khái niệm về hàng giả được quy định chi tiết tại khoản 8 Điều 3
Cụ thể gồm:
Trang 15a) Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị
sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;
b) Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công
bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
c) Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất
đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
d) Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công
bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác;
e) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
g) Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005;
h) Tem, nhãn, bao bì giả gồm: đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lượng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thương nhân
Trang 16khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lưu hành,
mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thương nhân khác
Như vậy, tùy trong từng thời kỳ, từng bối cảnh của nền kinh tế, để phù hợp với nhu cầu đầu tranh chống hàng giả trong từng lĩnh vực mà khái niệm hàng giả có thể được hiểu theo nghĩa khác nhau Hơn nữa, qua các giai đoạn, khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam cũng đã có sự phát triển, hoàn thiện đáng kể
Từ sự nghiên cứu tổng hợp dưới góc độ pháp lý và khoa học hàng hóa, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả là hoạt động thực thi pháp luật của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật đối với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và hoạt động thương mại thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chất lượng, nhãn hiệu hàng hóa, quyền SHTT, sở hữu công nghiệp, về đăng ký kinh doanh, xử lý các hành vi vi phạm trong sản xuất kinh doanh hàng hóa… được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước đối với hàng hóa, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả Pháp luật quy định về trình tự, thủ tục, kinh phí cho công tác điều tra, xác minh, giám định, xử lý các vụ việc về hàng giả
1.1.2 Hàng giả trong Luật Sở hữu trí tuệ
Luật SHTT ngày 29/11/2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) có điều 4 và điều 213 quy định về quyền SHTT và hàng hóa xâm phạm quyền SHTT Trong đó Quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
Trong các loại hình hàng giả, hàng hóa giả mạo về SHTT chiếm một phần tương đối lớn và phổ biến Khái niệm về chúng được quy định tại Điều 213 Luật SHTT năm 2005 như sau:
Trang 17- Hàng hoá giả mạo về SHTT theo quy định của Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý quy định tại khoản 2 Điều này và hàng hoá sao chép lậu quy định tại khoản 3 Điều này
- Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo
hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý
- Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan
Với quy định này, Luật SHTT cũng đã xác định rõ các hành vi sản xuất, nhập khẩu, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ để bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu về SHTT theo quy định tại Điều 213 thì bị xử phạt vi phạm hành chính Nếu cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự
1.1.3 Bản chất và đặc điểm về sản xuất, buôn bán hàng giả
1.1.3.1 Bản chất của việc sản xuất, buôn bán hàng giả
Bản chất của sản xuất và buôn bán hàng giả là hành vi cướp đoạt giá trị vật chất và tinh thần của người khác, lừa dối người tiêu dùng để thu lợi bất chính, điều này được thể hiện rất rõ đối với mọi loại hàng giả
Với mục tiêu đặt lợi nhuận trên hết, bất chấp mọi quy định của pháp luật Để đạt được mục tiêu của mình, các đối tượng sản xuất và buôn bán hàng giả dùng rất nhiều thủ đoạn tinh vi để lừa dối, che mắt người tiêu dùng để thu lợi bất chính, chủ yếu dựa vào sự thiếu hiểu biết của khách hàng để lừa dối; thu hút khách hàng qua chi tiết giống hàng thật; chúng thường tập trung vào sản xuất, buôn bán một số mặt hàng có thương hiệu, sản phẩm nỗi tiếng được thị trường tín nhiệm và người tiêu dùng ưa chuộng, nhằm dễ tiêu thụ sản phẩm của mình với khối lượng lớn, bán hàng nhanh và thu lợi nhuận cao, tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất bỏ ra cho sản phẩm,
Trang 18hàng hóa Thậm chí siêu lợi nhuận thông qua việc sử dụng nguyên liệu cấp thấp, công nghệ sản xuất thủ công, trốn tránh trách nhiệm nộp thuế
Đã là hàng giả thì bao giờ chất lượng cũng kém hơn so với hàng thật, thậm chí có những loại hàng giả có độc tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, tính mạng của người tiêu dùng Bên cạnh đó có loại hàng giả sử dụng nhãn mác bao bì của hàng thật, loại hàng giả này rất nguy hiểm với người tiêu dùng vì khi sử dụng rồi mới biết là hàng thật hay giả
Tuy nhiên, trong việc sản xuất, buôn bán hàng giả cũng phải kể đến sự thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, kỹ năng nhận biết của khách hàng đối với sản phẩm và còn có cả sự chấp nhận của người tiêu dùng Do đó, số tiền mà người tiêu dùng bỏ
ra không đúng với giá trị vật chất và tinh thần thụ hưởng, ảnh hưởng đến sức khỏe, thuần phong tập quán, môi trường sống của con người và xã hội
1.1.3.2 Đặc điểm về sản xuất, buôn bán hàng giả
Cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạnh công nghiệp 4.0, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại làm cho hàng giả cũng ngày càng đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã với công nghệ sản xuất ngày càng tinh vi, hiện đại Từ những sản phẩm hàng hóa tiêu dùng thông thường đến những hàng hóa công nghệ cao rất khó phân biệt với hàng thật Tuy nhiên, ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào thì hàng giả vẫn có một số đặc điểm chủ yếu, đó là: thường có chất lượng thấp, hình thức gần giống, tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hàng thật, không đảm bảo các chỉ tiêu về vệ sinh an toàn thực phẩm
Đặc điểm của sản xuất, buôn bán hàng giả phụ thuộc rất nhiều vào loại hàng hóa bị làm giả bởi đối với mỗi loại hàng hóa khác nhau thì phương thức sản xuất, buôn bán hàng giả khác nhau, được thể hiện cụ thể qua các đặc điểm như sau: Hoạt động trái với quy định của pháp luật; thường được thực hiện lén lút, không công khai, lẩn tránh sự quan sát của cơ quan chức năng; thường hoạt động trong điều kiện thiếu thốn về không gian, không đảm bảo các điều kiện vệ sinh an toàn, kỹ thuật, môi trường; sử dụng công nghệ sản xuất thô sơ, rẻ tiền, nguyên vật liệu không
Trang 19đảm bảo yêu cầu chất lượng, kỹ thuật; tập trung nhiều ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi vì lợi dụng ở những nơi này trình độ dân trí thấp, kém hiểu biết, lại có tâm lý thích hàng ngoại, giá rẻ; hơn nữa ở đây sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng thường chưa thường xuyên, chặt chẽ
1.1.4 Đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả
Tham gia vào hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả có đủ loại đối tượng thuộc tất cả các thành phần kinh tế, nhưng phần đông và phổ biến hơn cả là các doanh nghiệp tư nhân và các hộ kinh doanh cá thể Hầu hết những người sản xuất hàng giả đều tìm hiểu các đặc điểm loại hàng hóa mình sản xuất và thị trường sẽ tiêu thụ Họ tự làm hoặc thuê người khác làm, thường tập trung vào các đối tượng như: Những người nghèo, thu nhập thấp, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, hoặc biết vi phạm pháp luật nhưng vì cuộc sống mưu sinh; những người am hiểu luật pháp, có trình độ về chuyên môn nhưng vẫn làm hàng giả; những người chủ cơ sở đăng ký sản xuất một mặt hàng nhưng lại làm giả mặt hàng đã có uy tín
Những đối tượng này có thể là:
- Doanh nghiệp trong nước: sản xuất giả mạo nhãn hoặc nhãn hiệu, xâm phạm kiểu dáng công nghiệp, tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hàng thật hoặc nhãn hiệu đã được bảo hộ tại Việt Nam; thậm chí đã có trường hợp xuất khẩu hàng
vi phạm nhãn hiệu ra nước ngoài, sản xuất giả hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam có chất lượng tốt và tìm cách nhập khẩu vào Việt Nam để tiêu thụ
- Các doanh nghiệp tại nước ngoài sản xuất hàng giả đưa vào Việt Nam tiêu thụ: Chủ yếu là hàng cao cấp, có giá trị lớn như đồng hồ đeo tay, mỹ phẩm cao cấp, thực phẩm, quần áo, thiết bị vệ sinh , giả mạo nhãn hiệu hàng hóa của các hãng nước ngoài có thương hiệu nổi tiếng như đồng hồ, máy tính Casio, Dove, Clear, A_One, Adidas, Nike, Levi’s, Blue Exchange, Tình trạng này đang xảy ra khá phổ biến, loại hàng giả này đã và đang được bán công khai trên thị trường nước ta
mà phần lớn là nhập lậu từ nước láng giềng Trung Quốc
- Hộ kinh doanh cá thể sản xuất, tiêu thụ hàng giả: đối tượng này sản xuất
Trang 20chủ yếu dựa những mặt hàng tiêu dùng thông thường cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng: xà phòng, dầu gội đầu, muối Iốt, bột ngọt, bánh kẹo
- Một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng sản xuất và tiêu thụ hàng giả Việc sản xuất hàng giả của loại đối tượng này thường ở dạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, sử dụng nhãn hiệu của người khác mà không có sự đồng
ý của chủ thể quyền Những sản phẩn hàng hóa giả, xâm phạm quyền SHTT này đi vào thị trường Việt Nam bằng các con đường như: Nhập lậu; nhập tiểu ngạch; thậm chí có cả nhập chính ngạch những hàng hóa có yếu tố vi phạm sở hữu công nghiệp
Nhiều tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán hàng giả gần như mang tính chuyên nghiệp Họ tổ chức hoạt động thành những kênh, những đường dây khép kín, khá chặt chẽ trong việc sản xuất - giao nhận - vận chuyển - buôn bán - tiêu thụ hàng giả, trong đó có những quan hệ móc nối với các đối tượng người nước ngoài
để sản xuất hàng giả và đưa vào tiêu thụ ở Việt Nam hoặc thậm chí sản xuất trong nước rồi đưa qua biên giới gắn nhãn sản xuất tại nước ngoài, sau đó tìm cách nhập trở lại Việt Nam để đánh lừa người tiêu dùng
Từ các đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả nêu trên, chúng ta có thể chia
hàng giả thành các nhóm chính sau: Hàng nội giả hàng ngoại; hàng nội giả hàng nội; hàng ngoại giả hàng ngoại và hàng ngoại giả hàng nội
1.1.5 Phương thức sản xuất, buôn bán hàng giả
1.1.5.1 Phương thức sản xuất
Hoạt động sản xuất hàng giả được tiến hành lén lút là chủ yếu, có loại quy trình đơn giản nhưng cũng có quy trình phức tạp Hàng giả do nước ngoài hoặc trong nước sản xuất đều có nhiều dạng khác nhau là:
- Sản xuất những loại hàng hóa đang khan hiếm, thị trường có nhu cầu tiêu thụ lớn, lãi suất cao
- Sản xuất hàng hóa mang tên thương mại, địa chỉ sản xuất, nhãn hiệu hoặc một trong các yếu tố trên cơ sở các thương hiệu nổi tiếng hoặc có chất lượng tốt
Trang 21hơn, thị trường tiêu thụ nhiều
- Sản xuất hàng hóa cùng loại, cùng công dụng giả nhãn hiệu hàng hóa của người khác đang được bảo hộ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, đây là tình trạng
vi phạm xảy ra khá nhiều hiện nay Việc làm giả nhãn hiệu của người khác rất tinh vi: có khi giả toàn bộ, có khi thay đổi một chi tiết nhỏ, thêm bớt một chút làm cho người tiêu dùng không để ý, dễ nhầm lẫn với hàng thật
- Sản xuất hàng hóa có nhãn hàng hóa nhưng không ghi tên thương mại, địa chỉ, chất lượng, thành phần cấu tạo hoặc có ghi nhưng không ghi đầy đủ, không rõ ràng, ghi không đúng sự thật
- Sử dụng lại bao bì, nhãn hiệu của hàng hóa chính phẩm đánh tráo ruột là hàng giả, bao bì nhãn hiệu thật (A-One, dầu gội đầu)
- Tẩy xóa, sửa lại nhãn hàng đã quá hạn sử dụng, hàng chất lượng không đảm bảo an toàn thành hàng còn trong thời hạn sử dụng để tiêu thụ Phương thức này chủ yếu tiêu thụ hàng bao gói sẵn, đồ hộp đóng gói sẵn
- Hàng giả được sản xuất với mẫu mã bên ngoài rất giống, thậm chí nhìn bên ngoài còn đẹp hơn hàng thật, nếu để 2 sản phẩm thật - giả cạnh nhau, thì người tiêu dùng không phân biệt được
1.1.5.2 Phương thức buôn bán
Lợi dụng tâm lý khách hàng luôn muốn mua hàng muốn giá rẻ mà hàng lại tốt nhất nhằm mục tiêu đạt lợi nhuận cao nhất nên các đối tượng đã áp dụng những phương thức tiêu thụ khác nhau đối với từng loại hàng hóa khác nhau, mang những đặc trưng khác nhau, cụ thể như sau:
- Hàng có giá trị lớn, quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, thị trường tiêu thụ rộng thì việc sản xuất và tiêu thụ rất tinh vi: hàng giả rất giống hàng thật, thậm chí đẹp hơn hàng thật nhưng chất lượng kém hơn hàng thật Những loại hàng hóa trên nhiều khi là hàng nhập khẩu, hàng cao cấp, người tiêu dùng không am hiểu nhiều về nhãn mác, xuất xứ, cấu tạo đó là một yếu tố dẫn đến loại hàng giả này
Trang 22nhiều khi được sản xuất và tiêu thụ công khai
- Các loại hàng giả khác, phương thức tiêu thụ phổ biến ở các dạng sau: + Sử dụng nhiều hình thức, chiêu thức khuyến mãi đánh vào tâm lý, cuốn hút người tiêu dùng để tiêu thụ hàng giả, hàng nhái như: giảm giá, mua 2 tặng 1, mua hàng kèm theo phiếu trúng thưởng
+ Giá bán nhiều loại hàng rẻ hơn hàng thật để người mua tham rẻ mà tiêu thụ
là phổ biến nhưng cũng có loại để tránh người tiêu dùng nghi ngờ thì hàng giả lại được bán ngang giá hàng thật
+ Nhiều loại hàng hóa khi bán phải kèm theo phiếu bảo hành, nhưng đối với hàng giả không phiếu bảo hành hoặc có nhưng là phiếu bảo hành giả mạo
+ Lừa dối người tiêu dùng bằng cách quảng cáo sai, quảng cáo quá sự thật về công dụng, chất lượng hàng hóa, xuất xứ hàng chất lượng thấp nhưng quảng cáo
và bán với giá như hàng có chất lượng cao
+ Lợi dụng người tiêu dùng hiểu biết còn hạn chế về mặt hàng, về chất lượng, nhãn hiệu hàng hóa ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn để đưa hàng giả đến tiêu thụ Thậm chí có loại hàng, có trường hợp đưa cả hàng có công dụng khác hàng thật nhưng giới thiệu, quảng cáo công dụng như hàng thật, tráo trộn hàng giả lẫn vào hàng thật để tiêu thụ
+ Có một số mặt hàng giả, nhìn hình thức tiêu thụ đa dạng hơn như sắt thép giả, xi măng giả đưa vào các hộ kinh doanh bán lẻ tiêu thụ, đưa vào chính đại lý của nhà sản xuất ra hàng hóa chính hiệu để tiêu thụ, các chủ thầu, chủ công trình lớn vì lợi nhuận đã lợi dụng hoặc móc ngoặc, thông đồng với cơ quan quản lý, giám sát để tiêu thụ hàng giả
1.1.6 Các nguyên nhân thúc đẩy sản xuất, buôn bán hàng giả
Hàng giả tồn tại trong mọi lĩnh vực, thực sự là một tệ nạn xã hội, gây tác hại
to lớn đến lợi ích của người tiêu dùng Song một trong những nguyên nhân chủ yếu
là từ phía người sản xuất nhằm thu lợi nhuận cao Các cơ sở này đã tìm mọi cách
Trang 23thay thế vật liệu dởm, rẻ tiền để sản xuất hàng hoá với chi phí thấp mà vẫn bán được giá cao, thu lợi nhuận nhiều
Nguyên nhân thứ hai là nền kinh tế nước ta đi vào xây dựng và phát triển trên cơ sở một nền sản xuất nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu kéo dài, trình độ dân trí nói chung còn thấp, nhất là nhận thức về pháp luật Đại bộ phận dân cư sống còn mang nặng lối suy nghĩ cá nhân hẹp hòi chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt Thêm vào
đó là cơ chế thị trường, nền kinh tế chuyển hướng dựa trên cơ sở phát triển nhiều thành phần, chấp nhận sự cạnh tranh
Nguyên nhân thứ ba là một số bộ phận người tiêu dùng có tâm lý chung là
thích dùng hàng ngoại, ham rẻ, dễ chấp nhận với hàng giả theo quan niệm “tiền nào
của ấy”, khi hàng hoá giá rẻ, phù hợp với thu nhập thì họ mua về để dùng Đó là
nhân tố tiếp tay cho hàng hàng giả có điều kiện tồn tại và lưu thông trên thị trường
Nguyên nhân thứ tư là sự phối hợp giữa nhà sản xuất và các ngành, các lực lượng chức năng chưa thường xuyên, đồng bộ; chưa làm tốt công tác tuyên truyền
và cung cấp những kiến thức cơ bản cho người tiêu dùng từ đó nhận biết được hàng thật - hàng giả đang lưu thông trên thị trường
Nguyên nhân thứ năm là hệ thống quy định pháp lý về hàng giả và thực thi quyền SHTT chưa đồng bộ, còn nhiều chồng chéo bất cập, chưa có sự thống nhất trong công tác xử lý vi phạm giữa các cơ quan chức năng; công tác giám định còn mất rất nhiều thời gian, chưa đáp ứng được nhu cầu đấu tranh trong phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả
1.1.7 Tác hại của hàng giả đối với nền kinh tế - xã hội
1.1.7.1 Tác hại đối với người sản xuất
Nạn sản xuất và buôn bán hàng giả có ảnh hưởng rất xấu đối với đời sống kinh tế và xã hội của một quốc gia Đối với người sản xuất kinh doanh, nó có ảnh hưởng vô cùng to lớn, cụ thể như sau:
Trang 24Hàng giả giúp cho các đối tượng hoạt động thương mại trái pháp luật thu được lợi nhuận cao, đồng thời hạ uy tín và làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp hoạt động đúng theo quy định của Pháp luật, làm giảm số thu của nhà nước
từ nguồn thu ngân sách
Hàng giả có gắn nhãn mác, tên thương mại của các thương hiệu nổi tiếng, các thương hiệu đã đăng ký bảo hộ sẽ làm hạ uy tín của các doanh nghiệp ấy, mất
uy tín đối với khách hàng, sản lượng bán ra không nhiều gây thất thu lớn đối với các doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải đầu tư một số lượng tiền khá lớn vào việc chống hàng giả và việc cải tạo nhãn mác sản phẩm của mình sao cho hàng giả ít có khả năng nhái theo nhãn hiệu của công ty mình
1.1.7.2 Tác hại đối với người tiêu dùng
Tác hại của hàng giả đối với người tiêu dùng đặc biệt nghiêm trọng, tác động đến không chỉ sức khỏe mà còn chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng Cụ thể:
Các doanh nghiệp sản xuất, buôn bán hàng giả chỉ quan tâm đến lợi nhuận
mà không quan tâm đến chất lượng của sản phẩm cũng như việc bảo vệ môi sinh, môi trường trong quá trình sản xuất Hành vi này của họ đã làm ô nhiễm môi trường, nguồn nước, không khí, tiếng ồn ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân
Các mặt hàng mỹ phẩm, lương thực, thực phẩm chế biến, đồ uống giả các loại thuốc, vắc xin giả có thể gây ảnh hưởng đến trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng của người tiêu dùng
Các loại vật tư nông nghiệp, cây giống, con giống giả có thể gây tác hại cho cây trồng, vật nuôi, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái và thông qua đó ảnh hường đến sức khoẻ của con người
Như vậy, có thể nói rằng hàng giả có thể gây đến thiệt hại rất lớn cho con người và của cải vật chất cho xã hội
Trang 251.1.7.3 Tác hại đối với xã hội
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nguồn lực còn hạn hẹp và nghèo nàn, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài là một yếu tố vô cùng quan trọng Hàng giả được buôn bán, lưu thông trên thị trường sẽ bóp méo giá cả hàng hoá, gây ra hỗn loạn, mất trật tự kỷ cương trên thị trường Thị trường không
ổn định, không lành mạnh thì không có bất cứ doanh nghiệp nào, tổ chức nào muốn đầu tư vào nó, gây tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư; ảnh hưởng đến chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hoạt động xuất, nhập khẩu Không có vốn đầu tư từ nước ngoài chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới để mở rộng sản xuất, tăng sản lượng trong nước Việt Nam sẽ không có cơ hội để rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới
Bên cạnh đó, tác hại của hàng giả còn ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh, chất lượng công trình… ảnh hưởng đến toàn xã hội, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, thất thu ngân sách nhà nước làm rối loạn trật tự quản lý kinh tế
Tóm lại: Nạn sản xuất và buôn bán hàng giả tạo ra rất nhiều mối nguy hại cho nền kinh tế Việt Nam muốn hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững thì phải kiên quyết đấu tranh mạnh mẽ với tệ nạn này
1.2 Công tác quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả
1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và chính sách, pháp luật về đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả
1.2.1.1 Cơ sở pháp lý
Trong những năm qua, công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả đã được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; các Bộ, ngành, địa phương, lực lượng chức năng và nhân dân tích cực thực hiện và đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần ổn định và thúc đẩy sản xuất kinh doanh,
Trang 26tăng thu ngân sách, bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ quyền lợi của người dân Đặc biệt từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 19/3/2014 thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (BCĐ389 Quốc gia), công tác này đã có chuyển biến rõ rệt và bước đầu đạt được những kết quả rất tích cực, nhận thức của các cấp, các ngành được nâng lên, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng chức năng được đề cao
Nhiệm vụ đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả được giao cho các Bộ, ngành, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, bao gồm lực lượng QLTT của ngành Công thương, các lực lượng chức năng của Công
an, Biên phòng, Hải quan cũng như chính quyền địa phương các cấp
Ngày nay, Việt Nam tích cực hội nhập để tìm kiếm cơ hội phát triển kinh tế Muốn làm được điều đó chúng ta phải mở rộng thị trường, đây chính là cơ hội để nạn sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng lậu và các hành vi gian lận thương mại từ các nước có điều kiện gia tăng Đặc biệt hơn nữa, do xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trên toàn thế giới làm cho thị trường các nước, các khu vực ngày càng ảnh hưởng lẫn nhau, đan xen vào nhau, nên vấn nạn này đã không còn giới hạn ở một quốc gia mà là vấn đề mang tính toàn cầu
Đứng trước tình hình đó, để đảm bảo cho thị trường Việt Nam phát triển ổn định, lành mạnh, tăng cường sự quản lý của Nhà nước về các hoạt động thương mại,
và để đấu tranh có hiệu quả với nạn sản xuất, buôn bán hàng giả; Đảng và Nhà nước
ta đã thể hiện rõ quan điểm, sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời đối với công tác này, và
đã được thể chế hóa qua việc thường xuyên ban hành, thay thế, cập nhật, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm quán triệt, tuyên truyền, giáo dục, xử lý nghiêm đối với các đối tượng vi phạm Cụ thể như sau: Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, quy định tại các Điều 192, 193, 194, 195, 225 và 226; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Thương mại 2005; Luật SHTT năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2010; Luật An toàn thực phẩm 2010; Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006; Luật
Trang 27Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007; Luật Dược năm 2016 và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của các văn bản nói trên
1.2.1.2 Tổ chức bộ máy
Phòng, chống hàng giả là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của tất cả các Bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp Để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả xã hội và tạo được chuyển biến căn bản về đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương, các lực lượng chức năng cần nhận thức rõ những nguy hại của sản xuất, buôn bán hàng giả đối với kinh tế - xã hội, an ninh trật tự, an toàn của cộng đồng, sức khỏe của người dân
Đến nay, cơ cấu tổ chức, phân công các lực lượng đã từng bước hợp lý hoá,
có sự phân công, phối hợp giữa các lực lượng, tạo nên được sức mạnh tổng hợp
Để tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan và lực lượng có chức năng chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại, Ngày 06/5/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 19/2016/QĐ-TTg Quy chế về trách nhiệm và quan
hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả Trong đó quy định nguyên tắc xác định, giao trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động cho từng đơn vị, Bộ, các ngành và địa phương có chức năng đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại
1.2.1.3 Triển khai thực hiện
Phòng, chống hàng giả đã được Đảng và Nhà nước rất coi trọng Công tác này được xem là nhiệm vụ của tất cả các Bộ, các ngành và UBND tỉnh, thành phó trong cả nước Ngoài ra còn có sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội như: Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Hiệp hội doanh nghiệp; Hiệp hội chống hàng giả và bảo vệ thương hiệu Việt Nam,… Từ đó khẳng định rằng phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở nước ta được huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc nhằm xây dựng một thị trường lành mạnh, phát triển ổn định
Trang 28Để triển khai công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả đạt hiệu quả, Chính phủ đã thể chế hóa văn bản quy phạm pháp luật qua việc thường xuyên ban hành, thay thế, cập nhật, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm xử
lý nghiêm đối với các đối tượng vi phạm Hiện nay trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã quy định rất rõ chế tài và các biện pháp xử lý đối với những đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả Cụ thể:
- Xử phạt vi phạm hành chính: Là việc người có thẩm quyền xử phạt áp
dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Các hình thức và biện pháp xử phạt hành chính được quy định rất rõ tại các Nghị định của Chính phủ
- Xử lý hình sự: Các đối tượng thực hiện sản xuất, buôn bán hàng giả có yếu
tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ Luật hình sự Đây là mức phạt cao nhất cho các đối tượng có các hành vi liên quan đến hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả Theo hình thức này, các đối tượng vi phạm
sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định luật pháp
1.2.1.4 Thanh tra, kiểm tra, giám sát
Để hoạt động phòng, chống hàng giả thực sự đem lại hiệu quả, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát có vai trò vô cùng quan trọng Cụ thể:
Thường xuyên tổ chức các đoàn thanh tra, tiến hành kiểm tra hoạt động của các cơ sở sản xuất hàng hóa, kịp thời phát hiện hoạt động sản xuất, tàng trữ, buôn bán hay sử dụng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng
Tiến hành xử phạt nghiêm khắc theo luật định các trường hợp vi phạm tạo tính răn đe cho các cá nhân và tổ chức khác trong xã hội
Giám sát việc thực hiện hoạt động chống hàng giả của các đơn vị làm công tác này, tránh tình trạng bao che, tiêu cực hoặc thực hiện một cách thủ tục, mang tính hình thức Tiến hành kiểm tra nội bộ; thanh tra, giám sát đột xuất để phòng
Trang 29ngừa, ngăn chặn các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu của cán bộ đồng thời phát hiện
và kịp thời chấn chỉnh sai phạm trong hoạt động nghiệp vụ tại các đơn vị, nhất là liên quan đến kỷ cương, kỷ luật, thái độ ứng xử trong thực thi công vụ
1.2.2 Nội dung đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả
Các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng về phòng, chống hàng giả phải chủ động và phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc tuyên truyền, bài trừ hàng giả và tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi vấn nạn hàng giả Nhà nước không quản lý hàng giả ở góc độ hàng hóa mà quản lý hàng giả thông qua công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại trên thị trường Vấn đề đặt ra là Nhà nước quản lý công tác phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả như thế nào để phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi vi phạm liên quan đến hàng giả trong lĩnh vực thương mại Công tác quản lý nhà nước gồm các hoạt động sau:
* Công tác tuyên truyền: Công tác tuyên truyền luôn được các cơ quan chức
năng về phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả coi là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng trong việc nâng cao ý thức chấp hành các quy định của pháp luật của các
tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh Đặc biệt đối với công tác đấu tranh chống hàng giả thì công tác tuyên truyền có vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân và người kinh doanh cũng như giúp ngăn ngừa và hạn chế những hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả
* Công tác đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ: Công tác đào tạo, bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ về phòng, chống hàng giả cho cán bộ, công chức, người làm công tác chống hàng giả tại các cơ quan được giao nhiệm vụ, nhất là công chức của các cơ quan QLTT tại các địa phương có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng
cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm về hàng giả
* Công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm: Công tác kiểm tra, kiểm
soát và xử lý vi phạm là hoạt động có vai trò quan trọng trong việc duy trì kỉ cương pháp luật, phát hiện và kịp thời ngăn chặn các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả
Trang 30nhằm hạn chế tác hại cũng như nâng cao tính răn đe đối với các đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả Các cơ quan QLTT đẩy mạnh công tác quản lý địa bàn, nắm bắt thông tin, chủ động phối hợp với các doanh nghiệp, các hãng sản xuất có hàng hoá đang bị làm giả và thông tin của người tiêu dùng để xây dựng kế hoạch tổ chức kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về sản xuất,
buôn bán hàng giả
* Công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng: Ở bất kỳ giai đoạn nào
thì hàng giả luôn là vấn nạn của toàn xã hội Chính vì vậy, đấu tranh chống hàng giả
là nhiệm vụ của các cấp, các ngành và của toàn xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phối hợp để hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra và để đạt hiệu quả cao nhất, công tác phối hợp với các ngành chức năng, bao gồm các lực lượng QLTT, Công an, Hải quan, Thuế, Bộ đội biên phòng, thanh tra các ngành và chính quyền địa phương luôn được đặt lên hàng đầu
Phối hợp với các các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, với các Hiệp hội
để tổ chức trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ cho lực lượng chức năng, các quy định của pháp luật có liên quan đến các loại hàng hóa mà họ sản xuất, kinh doanh, hướng dẫn cách nhận biết, phân biệt hàng thật - hàng giả, hàng nhái xuất hiện trên thị trường Tham gia làm thành viên của các Hiệp hội để nắm bắt thông tin và tình hình hoạt động cũng như phối hợp với các hội trong việc bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng khi có tranh chấp xảy ra
* Công tác trang bị cơ sở vật chất, cơ sở dữ liệu thông tin: Cơ sở vật chất,
cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ công tác phòng, chống hàng giả là yếu tố rất quan trọng, cung cấp phương tiện, máy móc, thông tin về thị trường giúp cho người công chức hoàn thành nhiệm vụ Cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác xử lý vi phạm cập nhật thông tin mới thường xuyên, phản ánh rõ tình hình và đáp ứng đầy đủ chuyên
môn, nghiệp vụ làm cơ sở cho công tác kiểm tra, kiểm soát của lực lượng QLTT
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả
* Sự cạnh tranh trong nước và quốc tế: Nhân tố rất quan trọng thúc đẩy sản
Trang 31xuất, buôn bán hàng giả là cạnh tranh toàn cầu và trong nước ngày càng gay gắt, quyết liệt mang tính sống còn, hệ quả của nó là các doanh nghiệp, cá nhân không đủ điều kiện cạnh tranh theo pháp luật, nẩy sinh ra các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh, chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá, không chú trọng xây dựng văn hóa kinh doanh và đạo đức nghề nghiệp dẫn tới con đường sản xuất, buôn bán hàng giả
* Trình độ quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước: Trong quá trình
phát triển kinh tế, trình độ quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước còn nhiều hạn chế cùng với hệ thống văn bản pháp luật của nước ta mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng còn bất cập, chồng chéo, chưa phù hợp với thực tế Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức trong đấu tranh phòng chống hàng giả còn hạn chế, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức, sự phối hợp giữa các lực lượng chưa chặt chẽ cũng là tác nhân lớn để hàng giả tồn tại, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự
ổn định và phát triển lành mạnh của thị trường
* Sự hiểu biết và quan tâm của doanh nghiệp: Yếu tố ảnh hưởng đến đấu
tranh phòng, chống hàng giả trong đó không thể không tính đến yếu tố về sự hiểu biết và quan tâm của doanh nghiệp, nhất là ban lãnh đạo doanh nghiệp đối với quyền sở hữu công nghiệp chưa đầy đủ Trong sản xuất và kinh doanh hàng hóa nếu các doanh nghiệp không quan tâm đến việc xác lập các quyền về nhãn hiệu hàng hóa và sở hữu công nghiệp thì doanh nghiệp đó không có cơ sở pháp lý để kiện tụng hoặc tố cáo để bảo vệ thương hiệu hàng hóa mà mình sản xuất ra Những nội dung
đó ảnh hưởng rất lớn tới công tác đấu tranh phòng, chống khi có những trường hợp sản xuất và kinh doanh hàng giả xảy ra
* Ảnh hưởng từ các nước lân cận: Do các nước, vùng lãnh thổ xung quanh
như Trung Quốc, Thái Lan, Đài loan có nền kinh tế hàng hóa phát triển hơn tạo nên sức ép hàng hóa đối với thị trường nội địa Có nhiều tổ chức quốc tế, doanh nghiệp,
cá nhân nước ngoài chuyên làm hàng giả, hàng kém chất lượng để đưa vào các nước
có nền kinh tế kém hơn, nền sản xuất quy mô nhỏ, cung và cầu hàng hóa còn hạn chế về số lượng và chất lượng Đặc biệt những nước đang phát triển chịu sức ép của
Trang 32những nước lân cận có nền kinh tế phát triển, họ thường phải nhập và sử dụng hàng hóa nhập khẩu vào trong nước Không những vậy, còn có những máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất không đảm bảo về chất lượng được nhập khẩu vào nội địa
để sử dụng trong sản xuất, tiếp tục tạo ra động cơ cho việc sản xuất, buôn bán hàng hóa giả về hình thức, chất lượng
* Hiểu biết của người tiêu dùng: Sự hiểu biết của người tiêu dùng về bảo hộ
nhãn hiệu hàng hoá, SHTT và phân biệt hàng giả sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc mua bán, lưu thông hàng giả trên thị trường Thông tin chính xác về sản phẩm còn thiếu, không chính xác sẽ khiến họ nhầm lẫn khi mua hàng, khi phát hiện ra mình mua phải hàng giả thì thường bỏ qua hoặc lúng túng không biết phải làm gì, tạo động cơ cho những kẻ xấu tiếp tục lợi dụng để kinh doanh hàng giả, nhằm mục đích kiếm lời, mà không cần quan tâm đến lợi ích của người tiêu dùng
1.3 Kinh nghiệm một số tỉnh về phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả
1.3.1 Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng có vị trí địa lý thuận lợi trong việc trao đổi, buôn bán hàng hóa Những năm gần đây, tình hình vận chuyển, buôn bán hàng giả, hàng nhái diễn ra ngày càng phức tạp và có dấu hiệu gia tăng Hàng giả được đưa từ các tỉnh biên giới phía bắc và phía nam về Đà Nẵng qua nhiều luồng, chủ yếu nằm trong ngạch buôn bán nhỏ lẻ rồi thâm nhập vào một số chợ truyền thống Trong đó, các mặt hàng cao cấp bị làm giả được tiêu thụ mạnh nhất là các loại đồng hồ đeo tay mang nhãn hiệu nổi tiếng như Casio, Rado, Omega, Rolex, Tissot, Longines; túi xách, ví cầm tay của Chanel, Prada, Burberry; giày thể thao của Adidas, Nike; quần
áo Levi’s, Calvin; hàng phụ tùng xe máy của Honda, Yamaha; dầu nhớt Honda, Castrol; bột trét tường Dulux; loa, âm-ly Arirang…
Đáng chú ý, gần đây xuất hiện nhiều hàng tiêu dùng, thực phẩm làm giả, kém chất lượng như nước khoáng hoa quả, sâm nước Hàn Quốc, mì chính Ajinomoto, sữa Ensure và thuốc tân dược
Trang 33Để đạt hiệu quả cao trong công tác phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả, Cục QLTT Đà Nẵng xác định: Ngoài chức năng, nhiệm vụ thường xuyên của lực lượng QLTT, cần chú trọng các nội dung như:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhà sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng Các cơ quan chức năng tăng cường phối hợp với các tổ chức đoàn thể xã hội tuyên truyền, hướng dẫn người tiêu dùng các quy định về tác hại của tệ nạn sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng dưới nhiều hình thức như: Phối hợp với Công ty Quản lý hội chợ - triển lãm và các chợ tại Đà Nẵng tổ chức gian hàng trưng bày “hàng thật - hàng giả”, để giúp người tiêu dùng nhận diện hàng hóa chất lượng Phối hộ với Ban quản lý các chợ trên địa bàn thườn xuyên tổ chức tuyên truyền và thực hiện phát tờ rơi khuyến cáo đến các tổ chức, cá nhân không kinh doanh, sử dụng thực phẩm, phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ; hàng hóa không có nhãn theo quy định Khuyến cáo người tiêu dùng thận trọng khi mua hàng hóa không có nhãn mác, không ghi rõ nguồn gốc xuất xứ, hạn sử dụng… để bảo đảm an toàn cho sức khỏe khi sử dụng các loại thực phẩm thiết yếu
- Lực lượng QLTT chủ động phối hợp các đơn vị chức năng, phát hiện trao đổi thông tin trong công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả; đại diện thương hiệu của các nhãn hàng cần cập nhật mẫu mã cho lực lượng chức năng để tiến hành nhận diện kịp thời
- Duy trì đường dây nóng và hộp thư điện tử tiếp nhận thông tin tố giác về hành vi buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả của Ban Chỉ đạo 389 chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả thành phố Đà Nẵng Tổ chức tốt công tác điều tra, xác minh, nhân mối, mua tin sau khi nhận thông tin tố giác
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn của cán bộ, công chức Việc nâng cao trình độ, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức là rất cần thiết, đóng vai trò then chốt quyết định đến chất lượng và hiệu quả trong xử lý vi phạm
1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Đắk Lắk
Trang 34Những năm gần đây, trên địa bàn Đắk Lắk tình hình vận chuyển, buôn bán hàng giả, hàng nhái diễn ra ngày càng phức tạp và có dấu hiệu gia tăng Hàng giả, hàng nhái được vận chuyển vào địa bàn tỉnh chủ yếu là hàng nhập lậu từ Trung Quốc, bằng phương tiện xe khách và xe tải, hàng được trà trộn vào hàng nhập khẩu tiểu ngạch, chính ngạch, thu gom của cư dân biên giới Lực lượng QLTT tỉnh Đắk Lắk đã kiểm tra, phát hiện thu giữ rất nhiều tang vật vi phạm liên quan tới hàng giả, hàng vi phạm về SHTT như các sản phẩm: Rượu, hóa mỹ phẩm, chi tiết phụ tùng xe máy Honda, nhớt Castrol, quần áo, mủ bảo hiểm, phân bón
Để đạt hiệu quả cao trong công tác phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả, Cục QLTT tỉnh Đắk Lắk đã luôn chú trọng một số nội dung sau:
- Thường xuyên bám sát vào sự chỉ đạo của Bộ ngành trung ương các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương Tăng cường sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp, sự đồng tình ủng hộ của các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội, sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng chức năng trong công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả
- Nâng cao trình độ, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức là rất cần thiết, đóng vai trò then chốt quyết định đến chất lượng và hiệu quả trong xử lý vi phạm
- Tổ chức tốt công tác điều tra, trinh sát, nhân mối, mua tin Trong công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng kém chất lượng thì khâu trinh sát, nhân mối, mua tin, nắm bắt đối tượng và phát hiện vi phạm đóng vai trò hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong việc phát hiện vi phạm
- Xây dựng cơ chế thích hợp hỗ trợ về vật chất, kinh phí, trang thiết bị cho các lực lượng thực thi pháp luật về chống hàng giả
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhà sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng Các cơ quan chức năng tăng cường phối hợp với các tổ chức đoàn thể xã hội tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân các quy định về tác hại của tệ nạn sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng dưới nhiều hình thức nhằm tăng cường sự hiểu biết pháp luật và nét văn hóa khi tiêu dùng
Trang 35Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức các gian hàng triển lãm hàng thật - hàng giả giúp cho mọi người có thể nhận biết để tránh mua phải các loại hàng hoá không đảm bảo chất lượng, hàng giả
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Gia Lai
Trong thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Gia Lai tệ nạn sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn diễn ra khá phổ biến Với thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt gây khó khăn cho các cơ quan chức năng và lừa dối được không ít người tiêu dùng Với vai trò là lực lượng chủ đạo trong công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả
ở địa phương, những năm qua lực lượng QLTT tỉnh Gia Lai đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ
Qua thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống hàng giả tại địa bàn và nghiên cứu kinh nghiệm của lực lượng QLTT Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Đắk Lắk Để kiểm soát vấn nạn sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm quyền SHTT, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống hàng giả và xâm phạm quyền SHTT trên địa bàn tỉnh, Cục QLTT tỉnh Gia Lai có thể rút ra những bài học kinh nghiệm như sau:
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, xử lý những nội dung còn nhiều chồng chéo, bất cập Đồng thời tăng cường đào tạo, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức thực thi quyền sở hữu trí tuệ và chống hàng giả chuyên sâu
- Phối hợp với các doanh nghiệp đẩy mạnh công tác tuyên truyền để hướng dẫn người tiêu dùng nhận biết hàng hóa do doanh nghiệp mình sản xuất, phân phối Các doanh nghiệp cần xây dựng phòng chuyên trách và bảo vệ nhãn hiệu của mình, luôn giữ mối quan hệ, phối hợp với các cơ quan thực thi pháp luật; quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu của doanh nghiệp, coi nhãn hiệu,
thương hiệu là một phần tài sản và đăng ký để được bảo vệ
- Người tiêu dùng cũng cần tự trang bị cho mình các kiến thức về hàng hóa Trong quá trình mua sắm tiêu dùng, đặc biệt là những sản phẩm liên quan trực tiếp
Trang 36đến sức khỏe, người tiêu dùng cần dành thời gian trong việc kiểm tra các sản phẩm
mà mình định mua; cần tạo thói quen yêu cầu các đơn vị cung cấp sản phẩm cung cấp các giấy tờ hợp lệ trước khi mua hàng Không ai có thể bảo vệ cho chúng ta tốt hơn việc chúng ta tự trang bị kiến thức tiêu dùng cho chính mình
- Tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các cơ quan thực thi pháp luật, sự liên minh giữa các nhà sản xuất trong đấu tranh, chống hàng giả Doanh nghiệp không được buông lỏng trong quản lý, giám sát tiêu thụ hàng hóa của mình, không nên coi việc chống hàng giả là của các cơ quan thực thi pháp luật
Kết luận Chương 1
Trong Chương 1, Luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ những vấn đề
lý luận cơ bản quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả; khái niệm về hàng giả dưới góc độ pháp lý trong từng thời kỳ, từng bối cảnh của nền kinh tế; qua các giai đoạn lịch sử, khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam cũng đã có sự phát triển, hoàn thiện đáng kể
Bên cạnh đó cũng đã đánh giá được bản chất, đặc điểm về sản xuất, buôn bán hàng giả; đối tượng và phương thức sản xuất, buôn bán hàng giả, từ đó xác định các nhân tố thúc đẩy sản xuất, buôn bán hàng giả và tác hại của nó đối với nền kinh tế -
xã hội Tác giả cũng đã nghiên cứu phân tích quan điểm của Đảng, Nhà nước và chính sách, pháp luật về đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả; những nội dung đấu tranh phòng, chống sản xuất, buôn bán hàng giả; những kinh nghiệm chống hàng giả của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Đắk Lắk Từ đó làm cơ sở
để đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả ở Chương 2 và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước
về phòng, chống hàng giả tại Cục QLTT tỉnh Gia Lai ở Chương 3
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ
TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG QUẢN LÝ THỊ
TRƯỜNG TỈNH GIA LAI 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Gia Lai
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Gia Lai nằm ở phía Bắc của vùng Tây Nguyên hùng vỹ, trên độ cao trung bình 700-800m so với mực nước biển, có diện tích tự nhiên 15.536,93 km2 trải dài
từ 12°58'20" đến 14°36'30" vĩ bắc, từ 107°27'23" đến 108°54'40" kinh đông Phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum; phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên; Phía Nam giáp tỉnh ĐăkLăk và phía Tây giáp Vương quốc Campuchia
Gia Lai có vị trí quốc tế quan trọng trong khu vực tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, có 90km đường biên giới với Vương quốc Campuchia, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế cửa khẩu Là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông chảy xuống vùng Duyên hải và lưu vực sông MêKông nên có vị trí quan trọng trong việc cân bằng sinh thái, môi trường không chỉ của Gia Lai mà còn của các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ
Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, một năm có hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Vùng Tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình từ 2.200 đến 2.500mm, vùng Đông Trường Sơn từ 1.200 đến 1.750mm Nhiệt độ trung bình là 22-25ºC
Nguồn nước sông suối: Sông, suối trên địa bàn tỉnh Gia Lai thuộc 03 sông lớn là: sông Ba, sông SêSan và sông Xrê-pốc Ngoài ra, thượng nguồn sông Kôn và sông Kỳ Lộ cũng bắt nguồn từ phần phía Đông của tỉnh Gia Lai
Thiên nhiên ưu ái ban tặng cho Gia Lai vùng đất rộng lớn, thổ nhưỡng phì nhiêu, thời tiết ôn hòa quanh năm, phù hợp với các loại cây trồng trên mọi miền đất nước và chăn nuôi các loại giống gia súc, gia cầm và thủy sản
Trang 382.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Gia Lai có 17 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Pleiku, Thị xã An Khê, AyunPa và 14 huyện: Đức Cơ, Đăk Đoa, Chư Pưh, Chư Păh, Chưprông, Kôngchro, Mang Yang, Chư Sê, Phú Thiện, IaGrai, Đăk Pơ, Ia Pa, Krông Pa, Kbang
Thành phố Pleiku là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và thương mại của tỉnh, nơi hội tụ của 2 quốc lộ chiến lược vùng Tây Nguyên là quốc lộ 14 theo hướng Bắc Nam và quốc lộ 19 theo hướng Đông Tây, là điều kiện thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, cả nước và quốc tế
Dân số trung bình năm 2015 của tỉnh là 1.379.400 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên chiếm 1,356% Mật độ dân cư phân bố không đều tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã và các trục đường giao thông
Trong những năm qua, nhờ sự đồng hành, hợp tác, góp sức của các nhà đầu
tư, cộng đồng doanh nghiệp cả nước nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng; sự hỗ trợ của các nhà tài trợ, cùng với khát vọng đổi mới, vươn lên của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Gia Lai đã và đang phát huy lợi thế, tiềm năng, tập trung đầu tư phát triển, nên đã đạt được nhiều bước chuyển quan trọng: Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá; kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư, mở rộng; văn hóa, xã hội, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt; môi trường đầu
tư kinh doanh được cải thiện đáng kể; năm 2018 đứng vị trí thứ 33 trên cả nước (tăng 10 bậc so với năm 2017) và đứng thứ 2 khu vực Tây nguyên trên bảng xếp hạng năng lực canh tranh PCI cấp tỉnh và là tỉnh duy nhất khu vực Tây nguyên tăng bậc so với năm 2017
Với diện tích tự nhiên 15.500km2 (đứng thứ 2 cả nước), trong đó hơn 11.600
ha là đất đỏ BaZan phù hợp với các loại cây trồng Dân số khoảng 1.5 triệu người, trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khoảng 800.000 người (chiếm 53% dân số toàn tỉnh); cơ cấu lao động: Nông, lâm nghiệp 72,9%, công nghiệp và xây dựng 6,4%; dịch vụ 20,7%
Trang 39Thế mạnh của tỉnh là phát triển cây công nghiệp (100.300 ha cao su; 94.000
ha cà phê; 16.300 ha tiêu; 17.800 ha điều, 42.100 ha mía) Với định hướng phát triển của tỉnh đến năm 2020 là tập trung đẩy mạnh phát triển một số lĩnh vực cụ thể như: Nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến sâu các sản phẩm từ nông nghiêp, năng lượng sạch - tái tạo, du lịch, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và đẩy mạnh liên kết trong và ngoài nước
Gia Lai có thế mạnh về phát triển du lịch sinh thái với nhiều danh lam thắng cảnh như: Biển Hồ hay còn gọi là Hồ Tơnưng, hồ Ayun Hạ, thác Phú Cường, thác Chín Tầng, thác Mơ, vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng… Du lịch văn hóa, lịch sử với nhiều địa danh nổi tiếng đi vào sử sách như: Pleime, Cheo Reo, Nhà lao Pleiku, Khu di tích Tây Sơn thượng đạo, làng kháng chiến Stơr… Và mới đây là di tích khảo cổ Rộc Tưng ở thị xã An Khê, với nhiều đồ đá vừa mới được phát hiện, có niên đại trên dưới 80 vạn năm, dự kiến sẽ xây dựng Công viên địa chất toàn cầu tại khu vực này Khu du lịch Biển hồ - Chư Đăng Ya đã được Thủ tướng phê duyệt vào danh mục các địa điểm tiềm năng phát triển du lịch quốc gia
2.1.1.3 Tác động của điều kiện kinh tế - xã hội đến hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả
Từ những đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội như trên đã tạo ra nhiều thuận lợi cho quá trình phát triển thị trường hàng hóa cũng như thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của tỉnh song cũng mang lại không ít khó khăn thách thức đó là sự phát triển của nạn hàng giả Cùng với quá trình phát triển kinh tế thì những năm gần đây hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả tại địa bàn tỉnh Gia Lai có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, khó kiểm soát Lợi dụng sự kém hiểu biết, thiếu thông tin và tâm lý thích hàng ngoại giá rẻ của người tiêu dùng, các đối tượng đã và đang tìm mọi phương thức, thủ đoạn để đưa hàng giả vào thị trường tỉnh Gia Lai tiêu thụ nhằm thu lợi bất chính, gây xáo động thị trường
Hàng giả không chỉ xuất hiện ở khu vực chợ nhỏ vùng nông thôn, vùng sâu,
Trang 40vùng xa mà ngày càng xuất hiện nhiều hơn tại trung tâm thành phố, các huyện, thị
xã với chủng loại, mẫu mã ngày càng đa dạng, phong phú thuộc nhiều lĩnh vực; kỹ thuật sản xuất ngày càng tinh vi khó phân biệt với sản phẩm thật từ kiểu dáng đến nhãn hiệu Ngoài những loại hàng hóa tiêu dùng thông thường thì ngày càng xuất hiện nhiều các loại hàng cao cấp, hàng công nghệ cao, nhất là những hàng hoá có thương hiệu nổi tiếng Những hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đã và đang gây tâm lý lo lắng trong nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như gây không ít khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng
Gia Lai, mặt dù không phải là địa bàn tập trung các đầu mối lớn về sản xuất, buôn bán hàng giả, vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu nhưng với địa bàn có nhiều tuyến giao thông đia qua nên các đối tượng đầu nậu đã lợi dụng để vận chuyển hàng giả, hàng cấm, hàng nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ vào tiêu thụ tại địa bàn tỉnh và trung chuyển đi qua các tỉnh khác Trong đó, chủ yếu hàng giả được sản xuất từ các tỉnh phía Bắc, nhập lậu từ Trung Quốc hoặc từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam được vận chuyển bằng đường bộ vào tiêu thụ trên địa bàn tỉnh Hàng giả được sản xuất tại địa bàn tỉnh Gia Lai số lượng rất ít Các loại hàng giả lưu thông trên thị trường Gia Lai đã được các lực lượng chức năng phát hiện, kiểm tra, xử lý gồm:
- Hàng hóa giả mạo nhãn hàng hóa, tên, địa chỉ thương nhân khác trên nhãn, bao bì; hàng hoá giả mạo về nguồn gốc nơi sản xuất, đóng gói (một số loại bánh kẹo, bánh trung thu, nhôm định hình)
- Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ: Hiện đang lưu thông trên thị trường gồm nhiều loại bao gồm hàng hoá sản xuất trong nước, hàng sản xuất từ nước ngoài (các hàng hoá mỹ phẩm, máy tính, đồng hồ đeo tay Casio, thiết bị vệ sinh, phụ tùng
xe máy Honda, Yamaha, mũ bảo hiểm, giày dép, quần áo, rượu…)
- Hàng giả về chất lượng, công dụng, có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hoá như: (Phân bón có hàm lượng