Quản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk LắkQuản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và người thân
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng trân trọng biết ơn đối với lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, Cơ sở Học viện Khoa học xã hội tại Tây Nguyên, các thầy, cô giáo giảng viên thuộc các ban, khoa, tổ bộ môn của Học viện Khoa học xã hội, Cơ sở Học viện Khoa học xã hội tại Tây Nguyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS.Hoàng Văn Tú– Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội đã dành nhiều thời gian, công sức và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh và đồng nghiệp cơ quan,
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đắk Lắk đã cung cấp các số liệu, tài liệu cần thiết cũng như những kiến thực tế liên quan đến đề tài luận văn
Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè những người đã luôn bên cạnh, tạo mọi điều kiện tốt nhất về tinh thần, vật chất, thời gian để tôi hoàn thành khóa học này
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trần Dũng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài “Quản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động
mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” là công trình nghiên cứu độc lập của
cá nhân tôi, các kết quả nghiên cứu chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, nguồn gốc rõ ràng
Tác giả
Trần Dũng
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỀU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1.Mục đích của luận văn 4
3.2.Nhiệm vụ của luận văn 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Cơ sở lý luận 5
5.2.Phương pháp nghiên cứu 6
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6
7.Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG MẶT ĐẤT TRẢ TRƯỚC 7
1.1 Quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước 7
1.1.1 Khái niệm của quản lý Nhà nước 7
1.1.2 Sự cần thiết của quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước 9
1.1.3 Quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước 10 1.1.4 Các nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả
Trang 51.1.5 Kinh nghiệm về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ thông tin di động mặt
đất trả trước ở một số quốc gia 13
1.1.5.1 Tổng quan về lịch sử phát triển dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước trên thế giới 13
1.1.5.2 Kinh nghiệm về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước ở một số quốc gia 18
1.2 Vai trò của quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước 21
1.3 Các loại hình thông tin di động mặt đất trả trước hiện nay 23
1.4 Lịch sử hình thành, phát triển của dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước của Thế giới và Việt Nam 24
1.4.1 Lịch sử phát triển của thế giới 24
1.4.2 Lịch sử phát triển của Việt Nam 26
Tiểu kết Chương 1 29
CHƯƠNG 2: 30
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG MẶT ĐẤT TRẢ TRƯỚC TẠI TỈNH ĐẮK LẮK 30
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Đắk Lắk 30
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 30
2.1.1.1 Vị trí địa lý 30
2.1.1.2 Địa hình 30
2.1.1.3 Khí hậu 31
2.1.2 Dân số và lao động 31
2.1.2.1 Dân số 31
2.1.2.2 Lao động 32
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 32
2.1.3.1 Đặc điểm kinh tế 32
2.1.3.2 Đặc điểm xã hội 35
2.1.4 Hạ tầng 36
Trang 62.1.4.1 Hạ tầng giao thông 36
2.1.4.2 Hạ tầng đô thị 36
2.1.4.3 Khu công nghiệp, cụm công nghiệp 37
2.1.4.4 Du lịch, dịch vụ 37
2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước tại tỉnh Đắk Lắk 38
2.2.1 Thực trạng chung của dịch vụ thông tin di động tại tỉnh Đắk Lắk 38
2.2.2 Thực trạng dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước ở tỉnh Đắk Lắk 38
2.2.2.1 Nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với dịch vụ 40
2.2.2.2 Thực trạng phát triển dịch vụ thông tin di động 41
2.2.3 Chất lượng dịch vụ thông tin di động tại tỉnh Đắk Lắk 51
2.2.4 Giá cước của dịch vụ thông tin di động 53
2.3 Đánh giá về quản lý dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước tại tỉnh Đắk Lắk 55
2.3.1 Những kết quả đạt được 55
2.3.1.1 Các thông tin cơ bản của mẫu 55
2.3.2 Những hạn chế bất cập 59
2.3.3 Nguyên nhân hạn chế 60
2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan 60
2.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 62
Tiểu kết luận Chương 2 67
CHƯƠNG 3 68
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG MẶT ĐẤT TRẢ TRƯỚC 68
3.1 Phương hướng tăng cường quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước 68
3.1.1 Quan điểm chiến lược 68
3.1.2 Mục tiêu của Chiến lược 68
Trang 73.2 Giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động
mặt đất trả trước 70
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật 71
3.2.2 Tăng cường sự quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước 72
3.2.3 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế phục vụ phát triển 72
3.2.4 Thu hút đầu tư và huy động nguồn vốn 72
3.2.5 Hỗ trợ thành lập hội người tiêu dùng dịch vụ thông tin di động 72
3.2.6 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát 73
3.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước 73
3.3.1 Một số giải pháp chung 73
3.3.2 Giải pháp ưu đãi về giá cước 75
3.3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thông tin di động 76
3.3.4 Công tác quảng cáo, khuyến mãi 77
Tiểu kết luận Chương 3 78
KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHIẾU ĐIỀU TRA
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 10MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để phát triển nhưng cũng ẩn chứa nhiều thách thức đối với mọi nền kinh tế, đặc biệt đối với những quốc gia đang phát triển Việt Nam là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã đem lại cơ hội thu hút đầu tư và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa cho các doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, khi mở cửa thị trường theo cam kết gia nhập WTO thì những ngành sản xuất, dịch vụ trong nước sẽ phải đối mặt với một áp lực cạnh tranh rất lớn
Ngành Viễn thông Việt Nam, do vai trò quan trọng của ngành vừa là một ngành hạ tầng, vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn đồng thời góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng
và trật tự xã hội, nâng cao dân trí của người dân
Trong những năm qua, chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp tạo điều kiện tối đa cho các doanh viễn thông phát triển từ đó thị trường viễn thông đã có sự phát triển mạnh mẽ dẫn đến các dịch vụ viễn thông di động mặt đất được cung cấp đến người dùng thông qua mạng viễn thông di động mặt đất với chất lượng dịch vụ cơ bản, dịch vụ giá trị gia tăng và dịch vụ công cộng được nâng cao, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng dịch vụ viễn thông
Theo quy định phân loại dịch vụ viễn thông của Bộ Thông tin và Truyền thông Dịch vụ viễn thông di động mặt đất bao gồm: dịch vụ thông tin di động mặt đất, dịch
vụ trung kế vô tuyến, dịch vụ nhắn tin Trong ba dịch vụ này chỉ có dịch vụ thông tin
di động mặt đất là có hình thức thanh toán cước sử dụng dịch vụ theo hình thức trả trước hoặc sau Do đó, các doanh nghiệp viễn thông đẩy mạnh cung cấp loại hình dịch
vụ thông tin di động trả trước
Nhằm tăng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ, chiếm lĩnh thị phần và tăng doanh thu của doanh nghiệp, nên mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để quản lý việc cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông nhưng nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông vẫn không chấp hành quy định của Nhà
Trang 11ký trước thông tin ảo của người sử dụng dịch vụ còn diễn ra thường xuyên, việc đăng
ký thông tin người dùng không chính xác dẫn đến khi cơ quan quản lý Nhà nước xác định thông tin người sử dụng dịch vụ viễn thông sử dụng dịch vụ viễn thông vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội gặp không ít khó khăn
Từ những vấn đề nêu trên, đặt ra là cần có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn do đó việc chọn đề tài
“Quản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” để nghiên cứu là hết sức cần thiết; có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
khoa học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước là một đề tài tương đối mới Tuy nhiên chưa có nhiều công trình nghiên cứu đầy đủ về Quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước ở Việt Nam Một số công trình nghiên cứu liên quan có thể kể ra gồm:
- TS Lê Minh Toàn (2012), Quản lý Nhà nước về Bưu chính, Viễn thông và công nghệ thông tin, NXB Chính trị quốc gia Cuốn sách này đã hệ thống hóa lịch sử ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam từ năm 1945 đến nay, chỉ ra những chính sách của Nhà nước đối với ngành Bưu chính Viễn thông theo từng giai đoạn, đề cập những nội dung cơ bản đến công tác quản lý Nhà nước về bưu chính Viễn thông, công nghệ thông tin
- ThS Dương Hải Hà (2007), Quản lý Nhà nước về Bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin, Học viện Bưu chính viễn thông, Hà Nội Cuốn sách đã cung cấp nội dung liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về kinh tế, tập trung vào từng lĩnh vực bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin, cơ sở lý luận chủ yếu dựa vào Pháp lệnh Bưu chính viễn thông năm 2002
- Luận án Tiến sỹ của Trần Đăng Khoa (2007) về Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020 Trong Luận án tác giả đã tập trung phân tích thực trạng của ngành viễn thông Việt Nam giai đoạn 2000 – 2006, dự báo về số lượng thuê bao tăng trưởng, kết hợp với xu hướng công nghệ thế giới, từ đó đưa ra phương hướng về mục
Trang 12tiêu tăng trưởng của ngành Viễn thông Việt Nam đến năm 2020 cũng như đề xuất các chính sách liên quan đến công tác quản lý, hoạch định chính sách, thu hút vốn, nguồn lực cho phát triển ngành viễn thông Việt Nam
- Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ về Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức cơ quan quản lý viễn thông Việt Nam do Nguyễn Tiến Sơn – Cục Viễn thông –
Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu (2011) Tác giả nghiên cứu hiện trạng cơ quan quản lý Viễn thông tại Việt Nam, mô hình của một số nước như Anh, Singapore, Malaysia, Trung Quốc…
- Báo cáo đề tài khoa học và công nghệ về Nghiên cứu đề xuất chính sách quản
lý Internet phù hợp với quy định mới của pháp luật về viễn thông do Nguyễn Thành Chung – Cục Viễn thông nghiên cứu (2011) Tác giả đã đưa ra các số liệu thống kê, đánh giá về tình hình thị trường viễn thông Việt Nam từ 2006 – 2010, tập trung vào dịch vụ Internet và các nhà cung cấp dịch vụ internet, nêu những quy định mới của Nhà nước về công tác quản lý dịch vụ internet Tác giả so sánh công tác quản lý tại một số nước có dịch vụ internet phát triển như Mỹ, Anh, Úc, Trung Quốc…từ đó đề
ra phương hướng bổ sung các nghị định, hướng dẫn chi tiết thi hành việc quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
- Phạm Thị Minh Huệ (2007), Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Luận văn thạc sỹ kinh tế, trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh Tác giả đã chỉ ra tồn tại hạn chế của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO
- Cuốn sách “Quản lý Nhà nước về bưu chính, viên thông và công nghệ thông tin” của tác giả TS Lê Minh Toàn, NXB Chính trị Quốc gia Cuốn sách cung cấp các kiến thức cơ bản liên quan đến quản lý Nhà nước về bưu chính, viên thông, công nghệ thông tin như hệ thống cơ quan quản lý, quản lý Nhà nước về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tần số vô tuyến, internet, thanh tra và xử lý vi phạm về thông tin và truyền thông
Trang 13NXB Bưu điện (2006) Công trình đề cập đến những vấn đề chung về kinh doanh, quản trị kinh doanh viễn thông; các lĩnh vực quản trị kinh doanh viễn thông… đề xuất một số phương pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Viễn thông
- Báo cáo Thực thi quản lý Nhà nước về viễn thông trong môi trường mới của tác giả Hoàng Hải, đăng trên trang Web của Bộ Thông tin và Truyền thông ngày 15/8/2011 Tác giả chỉ ra rằng “Trong một thập kỷ qua, kể từ thời điểm Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Bưu chính, viễn thông (2002) tới nay, thị trường viễn thông Việt Nam
đã có những bước phát triển mạnh mẽ” Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển của thị trường
và sự tác động của hội nhập kinh tế quốc tế thì công tác quản lý Nhà nước về viễn thông cần được chú trọng nhằm đảm bảo cho viễn thông Việt Nam phát triển bền vững
- Báo cáo “Thị trường Viễn thông Việt Nam sau một năm gia nhập WTO” của TS Phan Thảo Nguyên, đăng trên tạp chí Bưu chính, Viễn thông tháng 3/2008 Tác giả đã mở rộng phạm vi quản lý Nhà nước theo xu hướng hội tụ viễn thông – công nghệ thông tin – phát thanh – truyền hình Xu thế chung của Viễn thông Việt Nam là khai thác cơ sở hạ tầng chung để phát triển các dịch vụ và ứng dụng dịch vụ Công nghệ thông tin – viễn thông Với vai trò của cơ quan quản lý Nhà nước, Bộ Thông tin và Truyền thông tạo ra môi trường cạnh tranh, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa Nhà nước - doanh nghiệp – người sử dụng dịch vụ
Điểm mới của đề tài, tác giả đã nghiên cứu sâu hơn công tác quản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk Đây là một đề tài nghiên cứu mới, thông qua đề tài tác giả đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao thực trạng quản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước tại tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn hội nhập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý quản
lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước gắn với thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao quản lý Nhà nước về dịch
vụ thông tin di động mặt đất trả trước trong giai đoạn hiện nay
Trang 143.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước như: Khái niệm về dịch vụ thông tin di động mặt đất, đặc điểm dịch
vụ thông tin di động mặt đất, các yếu tố cấu thành dịch vụ thông tin di động mặt đất, vai trò của dịch vụ thông tin di động mặt đất, sự cần thiết phát triển dịch vụ thông tin
di động mặt đất ở Việt Nam, các loại hình thông tin di động mặt đất trả trước hiện nay, lịch sử hình thành, phát triển của dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước của Thế giới và Việt Nam; khái niệm, vai trò của quản lý Nhà nước, sự cần thiết của quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động, quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước, các nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước
- Phân tích, đánh giá thực trạng và chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế; chỉ ra các nguyên nhân của những kết quả đạt được và hạn chế trong quản lý Nhà nước về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước ở địa bàn tỉnh Đắk Lắk
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước gắn với thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước tại tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn từ năm 2012 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 15Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn đã làm rõ các luận cứ khoa học về dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước tại tỉnh Đắk Lắk
Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối với vụ dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk qua đó rút ra các kết quả đạt được, các hạn chế
và các nguyên nhân của hạn chế
Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin
Trang 16CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH
VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG MẶT ĐẤT TRẢ TRƯỚC
1.1 Quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước
1.1.1 Khái niệm của quản lý Nhà nước
Khái niệm quản lý Nhà nước xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy Nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý Nhà nước là hoạt động của cả
ba hệ thống cơ quan Nhà nước: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp Quản lý Nhà nước có các đặc điểm sau đây:
- Chủ thể quản lý Nhà nước là các cơ quan, công chức trong bộ máy Nhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
- Đối tượng quản lý của Nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
- Quản lý Nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…
Mục tiêu của quản lý Nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững trong xã hội
Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý Nhà nước Đồng thời, các cơ quan Nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy
và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình, chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sáp nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ… Quản lý Nhà nước theo nghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính Nhà nước với các đặc điểm sau đây:
Trang 17- Thứ nhất, Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động mang quyền lực Nhà nước Quyền lực Nhà nước trong quản lý hành chính Nhà nước trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí Nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hành chính Nhà nước Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hành chính Nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước
và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới nhằm đảm bảo
sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính Nhà nước
- Thứ hai, quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp Cách hiểu phổ biến hiện nay thì Nhà nước có ba quyền năng: lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính Nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạt động khác như: việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan Nhà nước, hoạt động quản lý được tiến hành bởi các bộ…Trong những trường hợp này quyền năng hành pháp cũng thể hiện rõ nét và nếu xét về bản chất thì tương đồng với hoạt động hành pháp của các cơ quan hành chính Nhà nước
- Thứ ba, quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được
tổ chức chặt chẽ Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các
cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương tới địa phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều
Trang 18có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế – xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành,
bộ máy hành chính còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương
- Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính Nhà nước mang tính chấp hành và điều hành Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý Nhà nước thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật
Quản lý Nhà nước là một dạng đặc biệt của quản lý, được sử dụng các quyền lực Nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội Trong đó, quản lý Nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt là tính tổ chức cao,
và có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu, hơn cả là quản lý Nhà nước ở Việt Nam mang nguyên tắc tập trung dân chủ Quản lý Nhà nước không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý và nó luôn đảm bảo tính liên tục, ổn định trong tổ chức
1.1.2 Sự cần thiết của quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước
Dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước có vai trò to lớn, đem lại những lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội…góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển phồn vinh Trong những năm gần đây, dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước của tỉnh Đắk Lắk có những bước phát triển vượt bậc nhưng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế làm giảm khả năng phát triển
Bên cạnh đó, các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động đứng trước những thách thức của thị trường với sự xuất hiện của nhiều đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài, đặc biệt khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO Ngày 07/2/2006, Quyết định số
Trang 19Nam đến 2010” nêu rất rõ xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông có công nghệ hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực, có độ bao phủ rộng khắp trên cả nước với dung lượng, chất lượng cao, cung cấp đa dịch vụ và hoạt động có hiệu quả Quan điểm chỉ đạo của Nhà nước về chiến lược phát triển cho ngành viễn thông nói chung, dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước nói riêng là một yêu cầu mang tầm chiến lược trong quá trình phát triển
1.1.3 Quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước
Quản lý Nhà nước về viễn thông nói chung, dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước nói riêng là sự tác động có tổ chức, có mục đích của Nhà nước lên hoạt động viễn thông để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế
xã hội, quốc phòng an ninh
Quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước cũng như bất kỳ dạng quản lý công vụ của bộ máy hành pháp, mang tính quyền lực, tính tổ chức cao, được điều chỉnh bằng pháp luật, vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù quản lý ngành
Ngành viễn thông là ngành kinh tế kỹ thuật dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân, đồng thời là động lực quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh Sự phát triển cơ
sở hạ tầng viễn thông đã góp phần thúc đẩy các dịch vụ viễn thông phát triển vượt bậc, đưa Việt Nam trở thành một quốc gia có tốc độ phát triển viễn thông nhanh trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, việc phát triển và quản lý hạ tầng viễn thông, đặc biệt
là hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động (nhà, trạm máy; cống, bể cáp; cột ăng ten; cột dây thông tin) vẫn còn nhiều hạn chế như: nhận thức chưa thống nhất; cơ chế, chính sách, quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật còn thiếu và chưa đồng bộ; một số quy định quản lý chưa cụ thể và sử dụng chưa hiệu quả; công tác thực thi pháp luật còn nhiều bất cập
Nghị định số 25/2011/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, cùng với sự phát triển, hoạt động của các doanh nghiệp viễn thông cũng bộc lộ những hạn chế mà không khó để nhận ra những
Trang 2014/2013/TT-“điểm yếu” như doanh nghiệp vẫn chưa chủ động triển khai thực hiện, chưa tuân thủ đầy đủ các quy trình, quy định của Nhà nước trong sản xuất - kinh doanh cũng như phát triển hạ tầng, dẫn đến còn có sai sót trong công tác quản lý, phát triển thuê bao di động trả trước; có doanh nghiệp còn chậm trễ trong việc triển khai xây dựng quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động tại địa phương
Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động tổ chức tuyên truyền, phổ biến việc thực hiện quản lý dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước như xây dựng, ban hành kế hoạch triển khai việc quản lý theo đúng quy định của Nhà nước; hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tổ cáo trong các hoạt động đăng ký lưu trữ
và sử dụng thông tin thuê bao theo thẩm quyền và các quy định hiện hành của pháp luật; phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai việc quản lý thuê bao di động mặt đất trả trước theo quy định; xây dựng hệ thống kỹ thuật kết nối tới các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
di động phục vụ việc thu thập, lưu giữ, quản lý số liệu thuê bao di động
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Thông tin và Truyền thông: Chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, thành phố để tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp, đại lý thông tin di động trên địa bàn trong đăng ký, lưu giữ và
sử dụng thông tin thuê bao theo các quy định hiện hành; Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động đăng ký, lưu giữ và
sử dụng thông tin thuê bao trên địa bàn theo thẩm quyền, theo quy định hiện hành của pháp luật; Thanh tra, kiểm tra, phát hiện được chủ điểm đăng ký thông tin thuê bao trên địa bàn vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm quy định và xử lý vi phạm hành chính theo quy định về quản lý thuê bao di động trả trước, tùy vào mức độ mà có hướng xử
lý phù hợp, trường hợp vi phạm nghiêm trọng thì có văn bản yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động chấm dứt hợp đồng uỷ quyền với chủ điểm đăng
ký thông tin thuê bao, đồng thời thông báo cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động khác chấm dứt hoặc không được ký hợp đồng ủy quyền đối với chủ
Trang 211.1.4 Các nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước
Tùy thuộc vào cơ cấu và sự phát triển của từng quốc gia, khuôn khổ pháp luật và khả năng quản lý Nhà nước, mà nguyên tắc quản lý dịch vụ viễn thông di động mặt đất trả trước cũng thay đổi:
Tối thiểu hóa sự can thiệp quản lý Nhà nước sau khi canh tranh được thiết lập: Quản lý Nhà nước cần được giữ ở mức độ tối thiểu, đặc biệt là trong những thị
trường cạnh tranh Những bằng chứng trên toàn thế giới chỉ ra rằng các thị trường cạnh tranh tự do thường có khả năng cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng tốt hơn những thị trường do Nhà nước kiểm soát Những ưu điểm của cổ phần hóa và mở cửa thị trường sẽ bị mất đi hoặc bị hạn chế nghiêm trọng bởi các biện pháp quản lý Nhà nước nặng nề
Cân đối các tiêu chuẩn quản lý Nhà nước của khu vực và toàn cầu: nền tảng
công nghệ của ngành viễn thông giống nhau Thị trường viễn thông đang trở thành thị trường chung của khu vực và toàn cầu Các cơ quan quản lý thường quan tâm tới việc duy trì tính cạnh tranh trong thị trường viễn thông nội địa; xu hướng quản lý quốc tế; tăng cường hiệu quả và cạnh tranh Trong đó, kỹ thuật quản lý Nhà nước đã được khẳng định trong một số thị trường thì sẽ hoạt động được trong các thị trường tương
tự khác
Tạo cạnh tranh: Ngày nay khi con người nhận thức một cách rộng rãi rằng lợi ích
của cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ và thiết bị viễn thông vượt xa những nhược điểm của nó Tại đa phần các quốc gia trên thế giới, các thị trường viễn thông đã được mở cửa với nhiều mức độ cạnh tranh khác nhau Sự can thiệp của quản lý Nhà nước thông thường là cần thiết để đảm bảo việc thiết lập và duy trì cạnh tranh
Quản lý theo nguyên tắc: Trong kinh doanh chậm trễ trong việc quyết định các
vấn đề quản lý sẽ trì hoãn sự phát triển của một ngành Ví dụ về vấn đề kết nối mạng, nếu cơ quan quản lý không đưa ra trước những chỉ dẫn rõ ràng, hợp lý về nguyên tắc kết nối mạng thì doanh nghiệp phải tiến hành đàm phán hàng tháng, hàng năm và việc cung ứng dịch vụ sẽ bị chậm trễ Trong những trường hợp như vậy, cơ quan quản lý
Trang 22cần thiết lập những nguyên tắc để doanh nghiệp áp dụng mà không cần phải mất quá nhiều thời gian vào những chi tiết của việc thực thi Những chi tiết đó thường dành cho doanh nghiệp thực hiện
Tạo hiệu quả hoạt động: Chia sẻ kinh nghiệm với các cơ quan quản lý khác
nhằm tạo các hiệu quả trong hoạt động Ngày nay, hoạt động quản lý Nhà nước đạt hiệu quả cao hơn nhiều so với trước đây, việc ứng dụng công nghệ thông tin, internet vào quản lý thể hiện được tính minh bạch, công khai
1.1.5 Kinh nghiệm về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước ở một số quốc gia
1.1.5.1 Tổng quan về lịch sử phát triển dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước trên thế giới
Điện thoại di động ra đời từ những năm 1920, và chỉ được sử dụng như là các phương tiện thông tin giữa các đơn vị cảnh sát ở Mỹ Mặc dù các khái niệm tổ ong, các kỹ thuật trải phổ, điều chế số và các công nghệ vô tuyến hiện đại khác được biết đến hơn 50 năm trước đây, dịch vụ điện thoại di động mãi đến đầu những năm 1960 mới xuất hiện ở các dạng sử dụng được và khi đó nó chỉ là sửa đổi thích ứng của các
hệ thống điều vận Các hệ thống điện thoại di động đầu tiền này ít tiện lợi và dung lượng rất thấp so với các hệ thống hiện nay Các hệ thống điện thoại tổ ong điều tần song công sử dụng kỹ thuật đa truy cập phân chia theo tần số (FDMA) đã xuất hiện vào những năm 1980 Hệ thống thông tin di động sử dụng kỹ thuật đa truy cập phân chia theo thời gian (TDMA) đầu tiên trên thế giới được ra đời ở Châu Âu và có tên gọi
là GSM (Global System for Mobile communications)
GSM là chuẩn phổ biến nhất cho điện thoại di động (ĐTDĐ) trên thế giới Khả năng phủ sóng rộng khắp nơi của chuẩn GSM làm cho nó trở nên phổ biến trên thế giới, cho phép người sử dụng có thể sử dụng ĐTDĐ của họ ở nhiều vùng trên thế giới GSM khác với các chuẩn tiền thân của nó về cả tín hiệu và tốc độ, chất lượng cuộc gọi Nó được xem như là một hệ thống ĐTDĐ thế hệ thứ hai (second generation, 2G) GSM là một chuẩn mở, hiện tại nó được phát triển bởi 3rd Generation Partnership
Trang 23Project (3GPP) Đứng về phía quan điểm khách hàng, lợi thế chính của GSM là chất lượng cuộc gọi tốt hơn, giá thành thấp và dịch vụ tin nhắn Thuận lợi đối với nhà điều hành mạng là khả năng triển khai thiết bị từ nhiều người cung ứng GSM cho phép nhà điều hành mạng có thể sẵn sàng dịch vụ ở khắp nơi, vì thế người sử dụng có thể sử dụng điện thoại của họ ở khắp nơi trên thế giới
Ban đầu hệ thống này được gọi là “nhóm đặc trách di động” (Group Special Mobile) theo tên gọi của một nhóm được CEPT – Conference of European Postal and Telecommunications Administrations (Hội nghị các cơ quan quản lý viễn thông và bưu chính Châu Âu) cử ra để nghiên cứu tiêu chuẩn để tiện việc thương mại hoá GSM GSM được phát triển từ năm 1982 khi các nước Bắc Âu gửi đề nghị đến CEPT để quy định một dịch vụ viễn thông chung Châu Âu ở băng tần 900MHz Trên thế giới hiện nay, dịch vụ GSM được sử dụng bởi hơn 2 tỷ người của trên 212 quốc gia và vùng lãnh thổ Các mạng thông tin di động GSM cho phép có thể roaming với nhau do đó những máy điện thoại di động GSM của các mạng GSM khác nhau có thể sử dụng được nhiều nơi trên thế giới
Trang 24AUC: Trung tâm nhận thực
VLR: Bộ ghi định vị tạm trú
HLR: Bộ ghi định vị thường trú
EIR: Bộ ghi nhận dạng thiết bị MS
BSS: Phân hệ trạm gốc MS: Trạm di động OSS: Phân hệ khai thác bảo dưỡng PSPDN: Mạng số liệu công cộng chuyển mạch gói CSPDN: Mạng số liệu công cộng chuyển mạch kênh PSTN: Mạng điện thoại chuyển mạch cơng cộng PLMN: Mạng di động mặt đất
ISDN: Mạng số dịch vụ tích hợp OMC: Trung tâm khai thác và bảo dưỡng
AUC
BSS BSC
LAPD
BTS
OSS EIR
Trang 25Một mạng GSM để cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho khách hàng cho nên nó khá phức tạp vì vậy sau đây sẽ chia ra thành cácphần như sau: chia theo phân hệ:
- Phân hệ chuyển mạch NSS: Network switching SubSystem
- Phân hệ vô tuyến RSS = BSS + MS: Radio SubSystem
- Phân hệ vận hành và bảo dưỡng OMS: Operation and Maintenance SubSystem BSS Base Station Subsystem= TRAU + BSC + BTS
+ TRAU: bộ chuyển đổi mã và phối hợp tốc độ
+ BSC: bộ điều khiển trạm gốc
+ BTS: trạm thu phát gốc
MS: chính là những chiếc di động gồm: ME và SIM
+ ME Mobile Equipment: phần cứng và phần mềm
+ SIM: lưu trữ các thông tin về thuê bao và mật mã / giải mật mã
Chức năng của BSC: - điều khiển một số trạm BTS xử lý các bản tin báo hiệu - Khởi tạo kết nối - Điều khiển chuyển giao: Intra & Inter BTS HO - Kết nối đến các MSC, BTS
và OMC
Chức năng của BTS: - Thu phát vô tuyến - Ánh xạ kênh logic vào kênh vật lý - Mã hóa và giải mã - Mật mã / giải mật mã - Điều chế / giải điều chế
BSS nối với NSS thông qua luồng PCM cơ sở 2 Mbps
Mạng và hệ thống chuyển mạch Network and Switching Subsystem (phần này gần giống với mạng điện thoại cố định) Đôi khi người ta còn gọi nó là mạng lõi (core network)
Phần mạng GPRS (GPRS care network) Phần này là một phần lắp thêm để cung cấp dịch vụ truy cập Internet
Và một số phần khác phục vụ việc cung cấp các dịch vụ cho mạng GSM như gọi, hay nhắn tin SMS
Máy điện thoại - Mobile Equipment
Thẻ SIM (Subscriber identity module)
Modul nhận dạng thuê bao (Subscriber identity module)
Trang 26Một bộ phận quan trọng của mạng GSM là modul nhận dạng thuê bao, còn được gọi là thẻ SIM SIM là 1 thẻ nhỏ, được gắn vào máy di động, để lưu thông tin thuê bao và danh bạ điện thoại Các thông tin trên thẻ SIM vẫn được lưu giữ khi đổi máy điện thoại Người dùng cũng có thể thay đổi nhà cung cấp khác, nếu đổi thẻ SIM Một số rất ít nhà cung cấp dịch vụ mạng ngăn cản điều này bởi việc chỉ cho phép 1 máy dùng 1 SIM hay dùng SIM khác, nhưng do họ sản xuất, được gọi là tình trạng khóa SIM Ở Australia, Bắc
Mỹ và châu Âu, một số nhà khai thác mạng viễn thông tiến hành khóa máy di động họ bán Lý do là giá của các máy này được những nhà cung cấp đó tài trợ, và họ không muốn người dùng mua máy đó để sử dụng cho mạng khác Người dùng cũng có thể liên hệ với nhà sản xuất để đăng ký gỡ bỏ khóa máy Số được khóa theo máy di động là số nhận dạng máy di động quốc tế IMEI (International Mobile Equipment Identity), chứ không phải số thuê bao Một vài nước như Bangladesh, Belgium, Costa Rica, India, Indonesia, Malaysia,
và Pakistan tất cả các máy di động đều được bỏ khóa (tất nhiên, cả Việt Nam nữa)
Ở Mỹ khi hệ thống AMPS tương tự sử dụng phương thức FDMA được triển khai vào giữa những năm 1980, các vấn đề về dung lượng đã phát sinh ở các thị trường di động chính thức như: New York, Los Angeles và Chicago Mỹ đã có chiến lược nâng cấp hệ thống này thành hệ thống số: chuyển tới hệ thống TDMA được liên hiệp công nghệ viễn thông – TIA (TIA: Telecommunications Industry Association) ký hiệu là IS-54 Cuối những năm 1980 mọi việc trở lên rõ ràng là IS-54 đã gây thất vọng Việc khảo sát khách hàng cho thấy chất lượng của AMPS tốt hơn Rất nhiều hãng của Mỹ lạnh nhạt với TDMA Tình trạng trên đã tạo cơ hội cho các nhà nghiên cứu ở Mỹ tìm ra một phương án thông tin di động số mới Để tìm kiếm hệ thống thông tin di động số mới người ta nghiên cứu công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã (CDMA) CDMA đã được ứng dụng trong ngành viễn thông quân đội Hoa Kỳ từ thập niên 1960 CDMA dùng một mã ngẫu nhiên
để phân biệt kênh thoại và dùng chung băng tầng cho toàn mạng, có giải thuật mã hóa riêng cho từng cuộc Chỉ thiết bị được gọi mới biết được giá trị mã ngẫu nhiên và giải thuật giải mã qua các kênh báo hiệu Chính vì thế tính bảo mật của cuộc thoại và mức độ hiệu quả khai thác băng tần cao hơn
Trang 27Hệ thống CDMA có khả năng chuyển mạch mềm: khi thiết bị di động dịch chuyển vào giữa hai ô, thiết bị đồng thời nhận được tín hiệu từ hai trạm gần nhất, tổng đài sẽ điều khiển cho hai trạm bắt tay nhau cho đến khi việc chuyển đổi trạm phát thành công Có phần tương tự cơ chế chuyển mạch cứng trong GSM nhưng khả năng bắt tay của CDMA tốt hơn
So với hệ thống tương tự AMPS, chất lượng thoại được nâng lên và dung lượng của CDMA có thể tăng lên từ 6 – 10 lần CDMA có cơ chế giúp tiết kiệm năng lượng, giúp tăng thời gian thoại của pin thiết bị Khả năng mở rộng dung lượng của CDMA dễ dàng
và chi phí thấp hơn so với GSM GSM sẽ gặp bài toán khó về phân bố lại tầng số cho các
ô Được thành lập vào năm 1985, Qualcom sau đó được gọi là “thông tin Qualcom” (Qualcom Communications) đã phát triển công nghệ CDMA cho thông tin di động
và đã nhận được nhiều bằng phát minh trong lĩnh vực này Đến nay công nghệ này đã trở thành công nghệ thống trị ở Bắc Mỹ Các mạng CDMA thương mại đã được đưa vào khai thác tại Hàn Quốc và Hồng Kông CDMA cũng được mua hoặc đưa vào thử nghiệm ở Ac-hen-ti-na, Braxin, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Việt Nam Song song với sự phát triển của các hệ thống thông tin di động tổ ong nói trên, các hệ thống thông tin di động hạn chế cho mạng nội hạt sử dụng máy cầm tay không dây số (Digital Cordless Phone) cũng được nghiên cứu phát triển
Ngoài các hệ thống thông tin di động mặt đất các hệ thống thông tin di động vệ tinh cũng được đưa vào thương mại hóa trong năm 1998
1.1.5.2 Kinh nghiệm về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước ở một số quốc gia
Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước có tốc độ phát triển ngành viễn thông đứng hàng đầu trên thế giới, số lượng thuê bao di động nhiều nhất trên toàn cầu với hơn 400 triệu thuê bao Để
có những thành quả này ngành viễn thông Trung Quốc nói chung và hoạt động dịch vụ thông tin di động nói riêng đã có những bước đi hết sức đúng đắn như sau:
Trung Quốc nhận thức rõ vai trò quan trọng của viễn thông trong việc phát triển kinh tế Vai trò của viễn thông là phục vụ quốc phòng, các cơ quan Nhà nước Khi nền
Trang 28kinh tế phát triển, nhiệm vụ của viễn thông Trung Quốc là đáp ứng mọi yêu cầu dịch
vụ của xã hội Với sự phát triển của nền kinh tế, viễn thông được xem là ngành ưu tiên phát triển hàng đầu Vì thế, chính phủ Trung Quốc ban hành nhiều chính sách phát triển mới dẫn đến sự bùng nổ đầu tư vào ngành viễn thông Chính điều này đã chuyển đổi phương thức cung cấp dịch vụ viễn thông chủ đạo từ hình thức độc quyền, bán độc quyền sang chiến lược phân phối dịch vụ dựa trên thị trường và có cạnh tranh quyết liệt hơn Sự chuyển đổi này được mô tả như một sự chuyển đổi từ quản lý hành chính sang quản lý thị trường
Trong năm 2015, Trung Quốc đã đầu tư số tiền vượt Mỹ khoảng 24 tỷ USD cho
cơ sở hạ tầng truyền thông không dây (với số tiền dự kiến là hơn 400 tỷ USD) Trung Quốc đã xây dụng một mạng lưới rộng lớn trên toàn quốc gồm 350.000 BTS mới Tăng cường chất lượng mạng lưới và phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng: các doanh nghiệp Trung Quốc không ngừng tăng cường chất lượng mạng lưới, phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng để tăng khả năng cạnh tranh đồng thời tăng doanh thu; lấy nhu cầu của thị trường làm phương hướng phát triển Tăng cường xây dựng đội ngũ nhân viên văn minh, trình độ; Gia tăng các hoạt động chăm sóc khách hàng – lấy khách hàng là tâm điểm để phục vụ
Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một nước có tỷ lệ dân số sử dụng điện thoại di động khá cao Các công ty thông tin di động Hàn Quốc đã có những chiến lược phát triển hết sức thành công Việt Nam cần học hỏi một số kinh nghiệm phát dịch vụ thông tin di động của Hàn Quốc như sau:
Phát triển công nghệ theo hướng hiện đại hóa: phát triển mạnh mẽ mạng CDMA dưới sự hỗ trợ của Nhà nước Phát triển công nghệ 5G
Khai thác hiệu quả dịch vụ thông tin di động, Hàn Quốc đã giảm bớt các nhà khai thác dịch vụ thông tin di động từ 5 nhà khai thác xuống còn 3 nhà khai thác Với lý do hạn chế số lượng nhà kinh doanh mạng di động vào việc đầu tư xây dựng trùng lắp, lãng phí vật tư, tiền vốn và cả tài nguyên (tần số, mã số ) Mặt khác, kinh doanh với
Trang 29quy mô lớn sẽ tiết kiệm, tăng năng suất, hạ giá thành, kết quả cả người sử dụng và nhà kinh doanh đều có lợi
Các doanh nghiệp di động Hàn Quốc rất chú trọng công tác chăm sóc khách hàng
Họ xem việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, làm hài lòng khác hàng chính là tiêu chí để công ty phát triển bền vững
Đa dạng hóa dịch vụ giá trị gia tăng, luôn đưa ra các dịch vụ mới nhằm phục vụ người tiêu dùng, nhất là giới trẻ
Đầu tư thị trường quốc tế: chiến lược kinh doanh của các công ty thông tin di động Hàn Quốc chú trọng đến việc mở rộng thị trường ra nước ngoài, đầu tư và liên kết với các công ty viễn thông khác để khai thác thị trường
1.1.6 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Từ những bài học kinh nghiệm của các nước nói trên có thể rút ra một số bài học quý báu cho hoạt động dịch vụ thông tin di động mặt đất Việt Nam như sau:
+ Khi trình độ của ngành viễn thông còn hạn chế, mạng lưới chưa phát triển mạnh, độc quyền sẽ là hình thức lựa chọn phù hợp Khi đã đạt đến một mức phát triển nhất định cần dần dần xóa bỏ độc quyền chuyển sang thị trường cạnh tranh, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia Phát huy nguồn nội lực của đất nước kết hợp với hợp tác quốc tế hiệu quả để mở rộng, phát triển thị trường Tuy nhiên, sự xoá
bỏ cơ chế độc quyền cần có lộ trình và tính đến yếu tố an ninh quốc phòng nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc
+ Cần có sự chuẩn bị tốt và nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty thông tin di động trong nước ngang tầm quốc tế đủ sức đối phó với các tập đoàn viễn thông quốc tế với nguồn tài chính dồi dào, kinh nghiệm quản lý tốt
+ Tích cực khai thác thị trường trong nước đồng thời vươn ra hoạt động trên thị trường quốc tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
+ Đầu tư, xây dựng công nghệ, mạng lưới tiên tiến, hiện đại ngang tầm thế giới
để tránh lạc hậu
+ Đổi mới phương châm kinh doanh: hướng về khách hàng, khách hàng là mục tiêu chính
Trang 30+ Xây dựng hoàn thiện pháp luật, chiến lược phát triển, chính sách, quy định về viễn thông nói chung và về dịch vụ thông tin di động mặt đất nói riêng nhằm tạo môi trường pháp lý lành mạnh để hoạt động dịch vụ thông di động phát triển bền vững
1.2 Vai trò của quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước
Viễn thông là ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ quan trọng trong nền kinh tế quốc dân: dựa vào các tính chất của kỹ thuật, công nghệ, ngành viễn thông làm nhiệm vụ đảm bảo kết cấu cơ sở hạ tầng, cung cấp các dịch vụ kết nối cho khách hàng sử dụng, góp phần thúc đẩy trao đổi thông tin, rút ngắn khoảng cách địa lý và thời gian, tạo điều kiện cho Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân phát triển Viễn thông tác động mạnh
mẽ đến quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phương thức quản lý, cơ cấu kinh tế xã hội, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong thời đại ngày nay, thông tin đóng vai trò rất quan trọng Người nào nắm được thông tin nhanh và chính xác thì người đó sẽ chiến thắng Đặc biệt, điện thoại di động có một vai trò rất lớn trong xã hội Điện thoại di động là chiếc cầu nối thông tin giữa mọi người, mọi miền ở mọi lúc mọi nơi Sự ra đời của dịch vụ thông tin di động giúp chúng ta tiếp cận được những công nghệ tiên tiến nhất, hòa mình với xu hướng phát triển chung của thế giới Ngoài ra, dịch vụ thông tin di động góp phần phát triển nền kinh tế nước nhà, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước có tốc độ phát triển rất cao, doanh thu của các nhà mạng không ngừng tăng, tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động, mỗi năm nộp cho ngân sách nhà nước hàng trăm tỷ đồng Đội ngũ tri thức trẻ biết khai thác và vận hành công nghệ thông tin hiện đại đây là nguồn tài sản hết sức quý báu cho nền kinh tế khi chúng ta hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa
Ngoài ra, dịch vụ thông tin di động là công cụ bảo đảm an ninh quốc phòng, phục
vụ công tác chính trị của Đảng, Nhà nước
Sự cần thiết phát triển dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước ở Việt Nam
Dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước có vai trò to lớn, đem lại nhiều lợi ích về
Trang 31gần đây, đặc biệt khi Việt Nam giai nhập WTO, có nhiều tập đoàn viễn thông nước ngoài
có tiềm lực tài chính dồi dào, nhiều kinh nghiệm về dịch vụ thông tin di động tham gia thị trường di động ở Việt Nam đòi hỏi các hoạt động dịch vụ thông tin di động nói riêng, viễn thông nói chung ở Việt Nam phải có định hướng phát triển cụ thể
Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg ngày 07 tháng 2 năm 2006 về việc “phê duyệt Quy hoạch phát triển viễn thông và internet Việt Nam đến năm 2010” chỉ rõ xây dựng
và phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông có công nghệ hiện đại ngang tầm các nước trong khu vực, có độ bao phủ rộng khắp trên cả nước và dung lượng lớn, chất lượng cao, cung cấp đa dịch vụ và hoạt động có hiệu quả
Quyết định số 32/2012/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2012 về việc “phê duyệt Quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia đến năm 2020” chỉ rõ xây dựng và phát triển
cơ sở hạ tầng viễn thông hiện đại, an toàn có dung lượng lớn, tốc độ cao, vùng phủ sóng rộng đến vùng sâu, vùng xa biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; cung cấp dịch vụ viễn thông chất lượng tốt, giá cước hợp lý trên cơ sở cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng dịch vụ Tăng cường phát triển các dịch vụ ứng dụng viễn thông trên cơ sở hạ tầng viễn thông đã được xây dựng nhằm phát huy tối đa sự hội tụ của công nghệ và dịch vụ; phát triển bền vững thị trường viễn thông, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh thông qua việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp viễn thông theo các quy định của pháp luật về cạnh tranh Phát huy nội lực, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển viễn thông; ưu tiên áp dụng các công nghệ viễn thông tiên tiến, hiện đại, tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên viễn thông; Bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng viễn thông và an ninh thông tin cho các họat động ứng dụng viễn thông, công nghệ thông tin, đặc biệt là trong việc thúc đẩy phát triển chính phủ điện tử, thương mại điện tử
Theo báo cáo nghiên cứu thị trường của Amazon Web Services (AWS) năm
2013, đến năm 2020, Châu Á – Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam, sẽ là khu vực tăng trưởng mạnh nhất về dữ liệu và các nhu cầu liên quan đến việc sử dụng, chia sẻ,
Trang 32trao đổi, lưu trữ, sao lưu bảo vệ dữ liệu nội dung của cá nhân và tổ chức Sự giao thoa giữa công nghệ viễn thông, đặc biệt là viễn thông di động và công nghệ thông tin trong những năm gần đây đã giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ có thể đưa ra những dịch vụ mới cùng các giải pháp phục vụ cho nhu cầu quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Cũng theo lộ trình phát triển đến năm 2020 của ngành Thông tin và Truyền thông, các nhà mạng viễn thông di động Việt Nam sẽ triển khai hệ thống mạng data tốc độ cao 5G Đây sẽ là tiền đề vô cùng quan trọng không chỉ việc phát triển cơ sở hạ tầng,
mà còn là tiền đề để các nhà mạng chuyển hóa thành nhà cung cấp dịch vụ thực thụ, cạnh tranh được một cách bình đẳng với các nhà cung cấp đa dịch vụ xuyên biên giới Tuy nhiên, đó mới chỉ là điều kiện cần Điều kiện đủ là các doanh nghiệp viễn thông
di động Việt Nam cần phải nhận thức rõ được xu thế phát triển của thế giới trong những năm tiếp theo, cũng như nhu cầu của người dùng là cá nhân và doanh nghiệp trong nước Lợi thế lớn nhất mà các doanh nghiệp viễn thông di động có được là khả năng Việt hóa (Localize) các nội dung và dữ liệu, việc này hoàn toàn phù hợp với thị trường Việt Nam khi khả năng ngoại ngữ của Việt Nam còn hạn chế
Từ năm 2014 đến nay, các doanh nghiệp viễn thông di động trong nước như Viettel, MobiFone, VinaPhone đã có những bước đi cụ thể nhằm xác định chiến lược phát triển trong thời gian sắp tới, trong đó các dịch vụ về nội dung, dữ liệu và ứng dụng cần được ưu tiên phát triển, phù hợp với nhu cầu của người dùng cá nhân cũng như các tổ chức trong các lĩnh vực giải trí, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, du lịch, thương mại điện tử…Đây chính là hướng đi để các nhà mạng Việt Nam tiến một bước dài trở thành “nhà cung cấp dịch vụ”, cạnh tranh được với các nhà cung cấp đa dịch vụ xuyên biên giới, trong bối cảnh doanh thu từ các dịch vụ thoại và tin nhắn truyền thống đang trên đà sụt giảm nhanh chóng theo thời gian
1.3 Các loại hình thông tin di động mặt đất trả trước hiện nay
Ngày 18/5/2012, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư BTTTT phân loại dịch vụ viễn thông Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân cung
Trang 3305/2012/TT-cung cấp, sử dụng dịch vụ viễn thông tại Việt Nam
Theo đó, các loại hình dịch vụ thuộc dịch vụ viễn thông cố định mặt đất là một trong những nội dung trọng tâm và được quy định tại Khoản 3 Điều 4 Thông tư 05/2012/TT-BTTTT Cụ thể như sau:
- Dịch vụ viễn thông cơ bản bao gồm: dịch vụ điện thoại (thoại, fax, truyền số ),
dịch vụ truyền số liệu, dịch vụ nhắn tin, dịch vụ truyền hình ảnh; dịch vụ hội nghị truyền hình, dịch vụ kênh thuê riêng; dịch vụ kết nối Internet, dịch vụ mạng riêng ảo
và các dịch vụ viễn thông cơ bản khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông
- Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng bao gồm: dịch vụ thư điện tử, dịch vụ thư
thoại, dịch vụ fax gia tăng giá trị, dịch vụ truy nhập Internet, gồm dịch vụ truy nhập Internet băng hẹp có tốc độ tải thông tin xuống thấp hơn 256 kb/s và dịch vụ truy nhập Internet băng rộng có tốc độ tải thông tin xuống từ 256 kb/s trở lên và các dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông
- Dịch vụ viễn thông cộng thêm bao gồm: dịch vụ hiển thị số chủ gọi, dịch vụ
giấu số gọi, dịch vụ bắt số, dịch vụ chờ cuộc gọi, dịch vụ chuyển cuộc gọi, dịch vụ chặn cuộc gọi, dịch vụ quay số tắt và các dịch vụ viễn thông cộng thêm khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông
1.4 Lịch sử hình thành, phát triển của dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước của Thế giới và Việt Nam
1.4.1 Lịch sử phát triển của thế giới
Từ thời nguyên thủy, “tiếng hú” là những tín hiệu thông tin đầu tiên nhằm báo tin cho nhau giữa con người Nó là phương tiện truyền báo để con người liên kết nhau lại tạo sức mạnh của cộng đồng bảo đảm cho cuộc sống săn bắt, hái lượm và chống đỡ với thiên nhiên còn hoang dã, dữ dội và khắc nghiệt
Tiếng mõ, tù và bằng vỏ ốc, sừng trâu và tiếng loa ra đời sau tiếng hú Tiếp đó đến cồng, chiêng, trống đồng cũng trở thành những phương tiện thông tin Ánh lửa soi sáng từ những đêm sâu thẳm dần dần trở thành những “phong hỏa đài” (Trung Quốc, Việt Nam) hoặc “quang hiệu báo” (châu Âu) với những trạm nối tiếp theo khoảng cách
Trang 34nối thành mạng lưới truyền tin tức theo chiều dài và chiều rộng mỗi quốc gia
Ngôn ngữ ra đời đã xuất hiện thông tin truyền miệng Khi có chữ viết thì nội dung thông tin được diễn đạt và phong kín trong những bức thư Sự ra đời của nghề in
đã đưa nội dung chuyển tải thông tin lên tầm vóc cao hơn qua các ấn phẩm, sách báo Những loại hình thông tin được nâng cao qua các phương thức thông tin khi bước vào thời cận đại và hiện đại
Khi những phương thức thông tin từng bước phát triển, con người sử dụng chim
bồ câu, ngựa, chó, thuyền bè để chuyển tải thông tin, điều đó phản ánh nhu cầu thông tin của con người ngày càng phát triển Qua từng thời kỳ lịch sử, con người lọc ra những phát minh mới nhất để ứng dụng vào thông tin một cách năng động, điều đó càng được nhân lên gấp bội khi khoa học thông tin xuất hiện
Bước vào thời kỳ cận đại, nhất là thời kỳ đầu của cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất, thông tin liên lạc không chỉ tiến lên bằng những bước nhảy vọt mà đã cất mình bay lên
Năm 1837: Xê-mu-en Mooc-xơ, một họa sĩ người Mỹ say mê vật lý đã chế tạo máy điện báo mở đầu cho kỹ thuật điện báo Phát minh này thật sự đã mở ra một thời đại mới cho thông tin liên lạc đường dài
Năm 1844: đường điện báo đầu tiên dài 60km nối thông từ Oa-sinh-tơn đến ti-mo
Ban-Năm 1866: đường điện báo xuyên Đại Tây dương dài 3.800km nối châu Âu với châu Mỹ giúp nối liền các nước trên thế giới
Năm 1876: giáo sư vật lý A-lếch-xan Ben-lơ cùng sự hoàn thiện của nhà phát minh Tô-mát E-đi-xơn, điện thoại ra đời nối liền mọi khoảng cách trên phạm vi quốc gia và thế giới Tiếp bước điện báo, điện thoại cũng được xuyên qua biển cả và đại dương để mọi người giao lưu với nhau trong mọi lĩnh vực và cuộc sống
Năm 1895: A-lếch-xan pô-pốp thí nghiệm thành công máy phát sóng dựa trên nguyên lý sóng điện từ của Hen-ric Hec-sơ Tiếp đó đèn điện tử 2 cực, 3 cực ra đời tạo nền móng cho kỹ thuật thông tin vô tuyến điện
Trang 35từ dưới đáy sâu biển cả, xuyên trong lòng đất (cáp ngầm), dựng trên tầm cao (dây trần
và anten) và bay trong không gian
Cũng vào thời kỳ này, thông tin bưu chính cũng chuyển mình từ chạy bộ, ngựa, thuyền, bè sang chuyển tải bằng ô tô, tầu thủy, máy bay… Tem thư đầu tiên ra đời ở nước Anh năm 1840 sau đó mở rộng ra khắp thế giới
Vào nửa sau thế kỷ 20, trên thế giới, thông tin Bưu điện đã xuất hiện sự “bùng nổ” trong Khoa học – Kỹ thuật Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Liên Xô được phóng ngày 04/10/1957, năm 1962 vệ tinh Telstar đã ra đời ở Mỹ mở ra liên lạc bằng vệ tinh với 23 nước châu Âu và 23 thành phố nước Mỹ
Ngày nay có hàng trăm vệ tinh thông tin bay trên bầu trời gồm cả vệ tinh địa tĩnh
và vệ tinh di động Thông tin vệ tinh đã đi vào đời sống thường ngày và sử dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực kể cả hàng không, hàng hải Với dung lượng cực lớn, nó đã đóng vai trò quan trọng trong viễn thông Quốc tế
Trên mặt đất, mạng lưới thông tin điện thoại được sử dụng dày đặc và đa dạng, ngoài tự động hóa trên mạng lưới, còn được sử dụng điện thoại ghi âm, điện thoại thấy hình
1.4.2 Lịch sử phát triển của Việt Nam
Từ thời Hai Bà Trưng (năm 40-43), tiếng trống đồng đã vang động từ thành quách đến thôn dã để truyền tin, dấy quân chống xâm lược
Các triều Lý, Trần, Lê và các triều đại phong kiến đều xác lập hệ thống thông tin trong cơ chế của Nhà nước phong kiến Lực lượng thông tin được chọn những người trung kiên nhất, phương tiện thông tin được chọn những khả năng có sức chuyển tải
và cơ động nhất so với thời ấy như ngựa, thuyền… Các phong hỏa đài được thiết lập
từ tuyến biên giới, tuyến phòng thủ bờ biển để truyền báo về kinh đô Triều Nguyễn,
hệ thống thông tin trong cả nước được xác lập rộng khắp với hệ thống cung trạm bao gồm bộ trạm, thủy trạm vững vàng và thực hiện bằng một quy chế có ưu tiên nhưng hết sức nghiêm ngặt
Ngày 01/9/1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha đã nổ súng vào bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Năm 1862, đoạn đường điện
Trang 36báo đầu tiên Sài Gòn – Biên Hòa được xây dựng phục vụ cuộc chiến dài 18km Năm 1863, thực dân Pháp phát hành con tem đầu tiên tại Việt Nam và năm 1864 bắt đầu phát triển bưu chính bằng thư Tem bưu chính thuộc địa Pháp gồm có tem đại bàng, Napoleon được phát hành năm 1881 in đè bằng chữ A&T ở Trung Kỳ và Bắc
Kỳ
Năm 1864, điện thoại được dùng ở Sài Gòn, năm 1889 ở Hà Nội
Năm 1872, thực dân Pháp đặt được 6.600km đường dây điện tín, trong đó có 36
km đường dây cáp đặt ngầm dưới nước
Năm 1884, Pháp đặt xong cáp biển điện báo Sài Gòn – Đồ Sơn, thành lập các bưu cục ở Hà Nội và các thành phố, thị xã thuộc miền Bắc, miền Trung tiếp với các bưu cục chúng đã lập từ trước ở Nam Bộ
Năm 1888 hoàn thành đường hữu tuyến dây trần Sài Gòn – Hà Nội dài 2000km Năm 1891-1892, phát hành các mẫu tem in hình biểu tượng của uy quyền nước Pháp
Năm 1906, thành lập Nha Tổng giám đốc Bưu điện Đông dương với tổng biên chế 1644 người
Đường liên lạc Việt Nam-Pháp, ngoài việc chuyển tải theo hệ bưu chính và vô tuyến điện, còn dùng điện báo qua cáp biển Vũng Tàu – Singapo - Pháp
Khi Cách mạng tháng 8 thành công ngày 19/8/1945, toàn bộ mạng thông tin trên đất nước Việt Nam và bộ máy tổ chức Bưu điện hoàn toàn thuộc về chính quyền cách mạng
Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ Toàn bộ lực lượng thông tin Bưu điện đã nhanh chóng chuyển hướng để đáp ứng yêu cầu thời chiến
Trong suốt 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, đội ngũ thông tin Bưu điện
có mặt trên mọi chiến trường, trong mọi lĩnh vực và đã trải qua những hy sinh to lớn, phấn đấu không mệt mỏi, vượt mọi gian nan, thử thách để hoàn thành sứ mệnh của mình Trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ năm 1990 đến nay, viễn thông đã có một bước
Trang 37gia của ta đã hoàn thiện và ngang tầm quốc tế và hòa mạng toàn cầu Ngành Viễn thông đã trở thành một trong những ngành mũi nhọn đi đầu trong sự nghiệp đổi mới đất nước
Trang 38Tiểu kết Chương 1
Từ những nghiên cứu của Chương 1, tác giả có những kết luận như sau:
Trong Chương 1, tác giả đã phân tích và trình bày các vấn đề lý luận chung về
dịch vụ thông tin di động mặt đất trả trước Cụ thể, tác giả đã phân tích, làm rõ những
khái niệm cơ bản về dịch vụ thông tin di động, quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông
tin di động mặt đất trả trước, vai trò của dịch vụ thông tin di động, các loại hình thông
tin di động, lịch sử hình thành, phát triển, kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm đối với
Việt Nam nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng
Kết quả lý luận ở Chương 1 là căn cứ khoa học quan trọng để tác giả tiến hành
nghiên cứu và phân tích thực trạng quản lý Nhà nước đối với dịch vụ thông tin di động
mặt đất trả trước ở tỉnh Đắk Lắk, được thực hiện trong Chương 2 của luận văn này
Trang 39CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THÔNG TIN
DI ĐỘNG MẶT ĐẤT TRẢ TRƯỚC TẠI TỈNH ĐẮK LẮK
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Đắk Lắk
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, với diện tích tự nhiên là 13.123,49km2 Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây giáp tỉnh Đắk Nông và Vương quốc Campuchia, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa Với chiều dài đường địa giới hành chính khoảng 660km, trong đó có 70km chung với Vương quốc Campuchia
Với vai trò, vị trí địa lý kinh tế, quốc phòng rất quan trọng trong vùng Tây Nguyên nói riêng, Việt Nam nói chung, tỉnh Đắk Lắk luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong suốt quá trình phát triển, tầm ảnh hưởng ngày càng được nâng cao Đây cũng là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp viễn thông phát triển đồng bộ hạ tầng, đóng vai trò trong việc cung cấp thông tin liên lạc, đảm bảo quốc phòng trên địa bàn tỉnh và khu vực
2.1.1.2 Địa hình
Địa hình của tỉnh Đắk Lắk khá phức tạp, có sự xen kẽ giữa các địa hình thung lũng, cao nguyên xen giữa núi cao và núi cao trung bình, có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc Địa hình núi cao phân bố ở phía Nam, có độ cao từ 1.000 ÷ 1.500m, chiếm 30% diện tích toàn tỉnh Dãy núi cao nhất là dãy Chư Yang Sin có ngọn cao nhất tới 2442m Vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột có địa hình thấp hơn, nằm ở trung tâm tỉnh, độ cao trung bình 550 ÷ 750m, chiếm 53,5% diện tích toàn tỉnh Địa hình phần lớn đã được khai thác và đưa vào sản xuất trong nhiều năm nay, vùng địa hình thấp trũng chiếm 12% diện tích tự nhiên, xen kẽ cao nguyên với núi cao tạo ra những cánh đồng tương đối bằng; độ cao trung bình 400 ÷ 500m
Trang 40Với địa hình phức tạp, xen kẽ giữa thung lũng và cao nguyên đã gây khó khăn không nhỏ cho công tác phát triển hạ tầng viễn thông thụ động trong các công tác xây dựng, phát triển, bảo dưỡng cũng như tối ưu hoá hạ tầng viễn thông
2.1.1.3 Khí hậu
Do đặc điểm vị trí địa lý, địa hình nên khí hậu ở Đăk Lắk vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên Song chịu ảnh hưởng mạnh nhất chủ yếu vấn là khí hậu Tây Trường Sơn
Thời tiết chia 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 (tập trung 90% lượng mưa hàng năm), chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh
2.1.2 Dân số và lao động
2.1.2.1 Dân số
Theo Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk năm 2015, dân số trung bình toàn tỉnh năm 2015 khoảng 1.853.698 người, trong đó: dân số đô thị chiếm 24,31% (345.585 người), nông thôn chiếm 75,69% (1.403.113 người); dân số đô thị tăng trong 10 năm
2005 đến 2015 chỉ 2,17% (năm 2005 chiếm 22,14%); phân theo giới tính nam 932.827 người (chiếm 50,32% dân số trung bình), nữ 920.871 người (chiếm 49,68% dân số trung bình) Cộng đồng dân cư gồm nhiều dân tộc cùng chung sống, trong đó người Kinh chiếm 72%, các dân tộc ít người như Ê Đê, M’Nông, Thái, Tày chiếm 28% Các dân tộc ít người sống ở 135/184 xã phường của tỉnh Ngoài các dân tộc ít người tại chỗ còn có số đông khác di cư từ phía Bắc và miền Trung
Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 141 người/km2, dân số phân bổ không đều
ở các huyện Thành phố Buôn Ma Thuột có mật độ dân số cao nhất 943 người/km2, thị
xã Buôn Hồ 363 người/km2, các trung tâm thị trấn huyện lỵ dọc theo các quốc lộ hình thành nhiều khu dân cư tập trung như Krông Pắc 331 người/km2, Krông Năng 203 người/km2, Ea Kar 146 người/km2, Krông Ana 242 người/km2, Cư Kuin 360 người/km2; các huyện có mật độ dân số thấp là Ea Súp 37 người/km2, Buôn Đôn 45 người/km2, Lắk 51 người/km2, M’Đrắk 53 người/km2 là các huyện có điều kiện sinh