1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT MỘT SỐ LOẠI TINH DẦU CỦA CÂY NGÒ (Coriandrum sativum L.) phần tổng quan

36 113 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 757,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một đặc điểm quan trọng, không thể thay thế, của tinh dầu so với các hợp chất hữu cơ tổng hợp khác là nó không gây hại môi trường và dễ phân hủy.Do có những công dụng thực tiễn quan trọng nên ngày càng có nhiều nghiên cứu cũng như khai thác về tinh dầu trên toàn thế giới. Ở nước ta, điều kiện thiên nhiên ưu đãi, thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các loài thực vật, trong đó cây tinh dầu là một nguồn nguyên liệu đa dạng và vị trí của nó ngày càng được khẳng định.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Hiện nay trên thế giới, con người ngày càng quan tâm đến những vấn đề có liênquan đến sức khỏe, đặc biệt là vấn đề thực phẩm sạch sẽ và ngon miệng Đó cũng lànhững ưu điểm của tinh dầu

Ngoài ra tinh dầu còn góp phần quan trọng trong nhiều lãnh vực khác như yhọc, nông nghiệp, mỹ phẩm …

Một đặc điểm quan trọng, không thể thay thế, của tinh dầu so với các hợp chấthữu cơ tổng hợp khác là nó không gây hại môi trường và dễ phân hủy

Do có những công dụng thực tiễn quan trọng nên ngày càng có nhiều nghiêncứu cũng như khai thác về tinh dầu trên toàn thế giới.[14]

Ở nước ta, điều kiện thiên nhiên ưu đãi, thuận lợi cho việc hình thành và pháttriển các loài thực vật, trong đó cây tinh dầu là một nguồn nguyên liệu đa dạng và vị trícủa nó ngày càng được khẳng định

Ngò là loại rau gia vị, rau ăn phổ biến, là nguồn thuốc quý, tinh dầu của chúng

có nhiều ứng dụng quan trọng trong công nghiệp hương liệu, thực phẩm, dược liệu,…

Tại những nước vùng ven Địa Trung Hải, Trung Á, Ấn Độ, Trung Quốc, người

ta trồng ngò quy mô để lấy hột (trái chín) làm thuốc và chưng cất tinh dầu dùng trongcông nghiệp nước hoa Bên cạnh đó, tinh dầu hột ngò đã được nghiên cứu làm chất phụgia an toàn thực phẩm sử dụng trong bia, rượu, kẹo Cây ngò được trồng khá phổ biến

ở Việt Nam nhưng chủ yếu lấy lá làm gia vị, hột chủ yếu làm hột giống, đôi khi dùnglàm thuốc chữa bệnh [11], [31]

Nhằm đưa ra những kết quả ban đầu góp phần nâng cao hiệu quả khai thác vàứng dụng của cây ngò, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tinh dầu lá, thân và hột của câyngò

Trang 2

Chương 1 - TỔNG QUAN 1.1 Đại cương về họ hoa tán

Họ Hoa tán hay họ Cà rốt theo tiếng Latin là Umbelliferae hay Apiaceae là một

họ của các loài thực vật thường là có mùi thơm với các thân cây rỗng, bao gồm các câynhư mùi tây, cà rốt, thì là và các loài cây tương tự khác Nó là một họ lớn với khoảng

430-440 giống và trên 3.700 loài đã biết Tên gọi ban đầu Umbelliferae có nguồn gốc

từ sự nở hoa trong dạng "tán" kép Các hoa nhỏ là đồng tâm với 5 đài hoa nhỏ, 5 cánhhoa và 5 nhị hoa.[47]

Họ này có một số loài có độc tính cao, chẳng hạn như cây độc cần, là loài cây đãđược sử dụng để hành hình Socrates và cũng được sử dụng để tẩm độc các đầu mũi tên.Nhưng họ này cũng chứa nhiều loại cây có ích lợi cao cho con người như cà rốt, mùitây, thì là….[47]

Các cây thuộc họ này được phân bố khắp nơi, một số loài tập trung trong vùng

ôn đới, có đời sống bán niên hoặc nhất niên, chiều cao thay đổi từ vài cm đến vài m.Hầu hết chúng được dùng làm hương liệu, sản xuất tinh dầu dùng trong thực phẩm,hương liệu, dược phẩm…[14]

1.2 Giới thiệu về ngò

1.2.1 Danh pháp

Tên thường gọi : ngò ta, rau mai, mùi, ngò, ngò rí, ngổ, ngổ thơm, nguyên tuy,hương tuy.[8], [9], [11]

Ngò còn được gọi là hồ tuy Hồ là tên gọi của Trung Quốc cổ dành cho các nước

khu vực Trung Á và Ấn Độ; và tuy là ngọn và lá tản mát Xưa kia Chương Khiên người

Trung Quốc đi sứ nước Hồ mang giống cây này về có lá thưa thớt tản mát.[11]

Tên gọi của ngò trong các ngôn ngữ châu Âu là từ tiếng Latin “coriandrum”, tên

này lại có gốc từ tiếng Hy Lạp, John Chadwick ghi chú rằng cách viết theo tiếng Hy

Lạp vùng Mycenae - koriadnon "rất giống với tên người con gái Ariadna của thần

Minos, và từ đó được viết thành koriannon hay koriandron.[48]

Tên gọi ngò ở một số nước trên thế giới được trình bày ở bảng 1.1

Trang 3

Bảng 1.1 Tên gọi ngò ở một số nước trên thế giới [6], [18], [51]

Nước Tên gọi

Pháp Coriandre, Persil arabe

Đức Koriander, Wanzendill, Schwindelkorn

Thái Phắc hom pẻn leo

Brunây nannambin (leaves), nannamzee (seed)

Indonesia Ketumbar

Lào phak hom pom

Tên khoa học : Coriandrum sativum L.

Trái ngò loại lớn Trái ngò loại nhỏ Ngò đang ra hoa

Hình 1.1 Một vài hình ảnh ngò theo tài liệu [53]

1.2.2 Phân loại [46], [48]

Trang 4

Giới (Kingdom) Plantae – Plants (Thực vật)

Giới phụ (Subkingdom) Tracheobionta – Vascular plants (Thực vật có mạch)Trên ngành (Superdivision) Spermatophyta – Seed plants (Thực vật có hột)

Ngành (Division) Magnoliophyta – Flowering plants (Thực vật có hoa)Lớp (Class) Magnoliopsida – Dicotyledons (Thực vật hai lá mầm)Lớp phụ (Subclass) Rosidae

Họ (Family) Apiaceae – Carrot family

Giống (Genus) Coriandrum L. – coriander

Loài (Species) Coriandrum sativum L. – coriander

Coriandrum sativum L. được chia thành hai loại, căn cứ vào kích cỡ của trái ngò:

 Coriandrum sativum L var microcarpum DC : loại trái nhỏ có đường kính

xẻ 2-3 lần hình lông chim, càng lên trên, phiến càng hẹp dần; lá ở ngọn không cuống,các thùy hình sợi nhỏ

Cụm hoa gồm 3-5 tán kép gần đều mọc ở ngọn thân hoặc kẽ lá; không có tổngbao hoặc chỉ có 1-2 lá bắc; tiểu bao cũng chỉ có vài lá bắc nhỏ; mỗi tán có 6-12 hoamàu trắng hoặc hơi hồng; dài có răng không đều; tràng có những cánh phía ngoàikhông bằng nhau; bầu có vòi ngắn

Trái bế đôi, hình cầu, nhẵn bóng, có cạnh lồi không rõ, gồm hai nửa (phân liệttrái), mỗi nửa có bốn sống thẳng và hai sống chung cho cả hai nửa

1.2.4 Phân bố, sinh thái

Trang 5

Cây mọc hoang ở vùng Địa Trung Hải và được trồng từ lâu đời trên thế giới.Hiện nay được trồng phổ biến ở Ấn Độ, Việt Nam, nhiều nước ở Trung Á và ven ĐịaTrung Hải.[3], [4]

Ở nước ta, cây ngò được trồng khắp nơi để làm gia vị và làm thuốc.[5], [6], [12]Tại nhiều nước vùng ven Địa Trung Hải, Trung Á, Trung Quốc, Ấn Độ, cây ngòđược trồng đại quy mô để lấy trái làm thuốc và cất tinh dầu dùng trong công nghiệpnước hoa.[11]

Cây ưa ẩm và ưa sáng, trồng ở các tỉnh phía Bắc thường trùng với thời gian cónền nhiệt độ thấp trong năm, trung bình 15-20oC, lượng mưa cũng thấp, nhưng độ ẩmkhông khí tương đối cao (trên 80%) Ở các tỉnh phía Nam và một số nước Đông Nam

Á khác, cây ngò thích nghi với khí hậu nhiệt đới điển hình, có thể trồng được ở mùakhô, khi nhiệt độ không khí lên đến 30oC Cây ra hoa trái nhiều; sau khi trái già, toàncây tàn lụi Năng lực nảy mầm của trái giảm dần theo thời gian.[2]

Ở các tỉnh phía Nam có thể trồng được quanh năm, nhưng tốt nhất là nên trồngvào cuối mùa mưa, đầu mùa khô (khoảng tháng 10 đến tháng 2 năm sau).[52]

Cần chọn đất tơi xốp, không chua, thoát nước Nếu trồng lấy trái thì đất phảithoáng, dãi nắng Đất sau khi làm nhỏ, lên thành luống cao 20-25 cm, rộng 1-1.2 m,tưới 300 l/ha nước giải nguyên chất hoặc nước phân chuồng Trái ngâm nước trong 20-

30 giờ, sau đó gieo vãi trên luống, lấp đất bột dày 1cm, dùng rơm rạ phủ kín, tưới thậtđều Mỗi hecta cần gieo 12 kg trái

Trang 6

Sau khi gieo 10-15 ngày, trái bắt đầu nảy mầm, tiến hành dỡ bỏ rơm rạ phủ, nhặtsạch cỏ, tưới nước đạm (2%) Cả tháng đầu, tưới 5-6 lần với 100 kg đạm/ha hoặc nướcgiải Cây ngò không có sâu bệnh gì đáng kể.

Sau khi mọc khoảng 1 tháng là có thể tỉa dần rau đem bán Nếu lấy trái thì nhổtỉa rau ăn dần, để lại cây với khoảng cách 20x20 cm, tưới thêm một đợt nước phân lợn

và nhổ sạch cỏ Khoảng 2 tháng, cây ngò ra hoa 10 tuần, cây ngò có trái Sau khi gieokhoảng 3 tháng, có thể thu trái Trái ngò cần được thu hái vào lúc chín tới để tránh rơirụng Cắt cả tán đem về phơi trên nong, nia, đập lấy trái rồi tiếp tục phơi thật khô, bảoquản trong lọ kín nơi khô ráo Nếu làm giống thì trước khi gieo lựa lấy trái mẩy Mỗihecta có thể thu được 6-8 tạ trái.[2], [6], [11], [52]

1.2.6 Công dụng

1.2.6.1 Công dụng của phần trên mặt đất

Rau ngò vị cay, tính ấm, vào phế, vị, có tác dụng phát tán, làm cho sởi mọc, tiêuđờm trệ, gây trung tiện, dễ tiêu hóa, kích thích [5], [6]

Để chữa bệnh sởi, giúp sởi mau mọc, ngoài việc dùng trái ngò, còn có thể dùng10-20 g lá hoặc cả cây ngò tươi dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu

Ở Peru, người ta dùng lá ngò giã nát ngửi chữa chảy máu cam, đắp trên tránchữa chứng say leo núi

Ở Angiêri, nước hãm phần trên mặt đất của rau ngò trị chứng nuốt hơi.[2]

Rau mùi là loại thuốc chủ yếu trị đậu sởi Trẻ em lên sởi, nhân gặp gió lạnh, sởikhông mọc được, dùng rau mùi một nắm sắc cho trẻ uống lúc còn nóng, đắp chăn cho

ra mồ hôi, sởi sẽ mọc tiếp Bên ngoài, có thể dùng một nắm lá mùi tươi, giã nát, chưngnóng, hoặc một nắm trái mùi khô giã dập, chế thêm tí rượu vào, chưng nóng, gói vảithưa lại, xát cho trẻ từ đầu xuống chân, sởi sẽ mọc đều và khỏi biến chứng.[3], [4], [6]

Chữa sau khi ăn, bụng đau lâm râm, bí đầy không tiêu, buồn nôn : rau mùi mộtnắm, vỏ quýt 8-10 g sắc uống.[6]

1.2.6.2 Công dụng của trái

Trang 7

Ngò được trồng quy mô lớn để lấy trái làm thuốc và cất lấy tinh dầu trong côngnghiệp làm nước hoa.

Trái ngò sấy khô được chế biến thành gia vị trong ẩm thực nhiều quốc gia.Trái ngò còn là một vị thuốc được dùng trong y học cổ truyền và y học hiện đại

Y học hiện đại dùng trái ngò làm thuốc gây trung tiện, làm dễ tiêu Trong y học

cổ truyền, trái ngò được dùng chữa cảm hàn, ho sốt, nhức đầu Ngày 4-10 g dạng thuốcsắc Để chữa bệnh sởi, giúp sởi mau mọc, lấy trái ngò giã nát ngâm rượu, xoa hoặcphun khắp mình rồi trùm chăn Để chữa bệnh gan thận hư hàn, di tinh, xuất tinh sớm,dùng trái ngò sao thơm, giã dập pha trà uống Trái ngò còn được dùng làm thuốc giúp

sự tiêu hóa, chữa ho, lợi sữa

Trong y học cổ truyền Ấn Độ, trái ngò được dùng để làm mất mùi khó chịu củanhững thuốc khác và khắc phục tính chất gây đau bụng quặn của đại hoàng và phan tảdiệp Nó được nhai để chữa hơi thở hôi và được coi là có tác dụng làm giảm tính chấtgây độc của rượu Trái ngò còn có trong thành phần bài thuốc cổ truyền trị bệnh tim

Ở Trung Quốc, trái và toàn cây ngò chữa bệnh sởi, trong trường hợp sởi khôngmọc được, dùng trái ngò tươi 160 g, cho nước sôi vào đun sôi trong thời gian ngắn, chờđến khi nước ấm, dùng xát vào thân thể và tay chân Hoặc dùng trái ngò 12 g, sắcuống Trái ngò còn có tác dụng chữa đau dạ dày, ăn không tiêu, với liều 6-12 g

Ở Trung Quốc và Arập Xêút theo kinh nghiệm dân gian dùng hột mùi để làmthuốc ngừa thai.[15]

Ở Indonesia, trái ngò được dùng làm gia vị trong nấu ăn, làm thuốc uống đểchữa ho, bệnh phong, đau ngực, khó tiêu, và được cho vào mũ tử cung mà các bà mẹđặt 4-11 ngày sau khi sinh con.[2]

Ở Guatemala, trái ngò là thuốc điều kinh và lợi tiểu theo kinh nghiệm dân gian

Ở Angiêri, thuốc ngâm hoặc bột trái ngò uống để trị nhức đầu

Chữa giun kim : hột ngò tán nhỏ, trộn với trứng gà luộc chế thêm ít dầu vừng,giã nhuyễn làm viên thỏi, nhét vào hậu môn lúc buổi tối và để suốt đêm, làm liền 3đêm thì có kết quả.[6]

Trang 8

Trái ngò có trong thành phần của chế phẩm thuốc Livomyn dùng ở Ấn Độ vàđược bào chế từ 19 dược liệu để chống nhiễm độc gan

Trái ngò là thuốc gây trung tiện, làm dễ tiêu, chống buồn bực, làm mát, kíchthích tình dục và lợi tiểu mạnh trong thực nghiệm trên động vật Trái ngò còn có tácdụng hạ đường máu trên chuột cống và chuột nhắt trắng gây đái tháo đường thựcnghiệm.[2]

1987, Mansooc S Alsaid và cộng sự thuộc trung tâm nghiên cứu dược ArậpXêút đã nghiên cứu dịch chiết nước trái mùi tươi về tác dụng chống thụ thai trên chuộtcái về các mặt như ảnh hưởng lên chu kỳ động dục, chống trứng làm tổ, gây sẩy thai,khả năng sinh quái thai và nồng độ progesteron trong huyết thanh Kết quả cho thấy hộtmùi có tác dụng chống trứng làm tổ tốt, không có phản ứng phụ, không ảnh hưởng đến

hệ con cái sinh ra.[15]

1.3 Tinh dầu ngò

1.3.1 Trạng thái

Trong thiên nhiên, tinh dầu ngò ở trạng thái tự do, chúng hiện diện sẵn trong các

cơ quan thực vật Tinh dầu ngò thu được từ những phương pháp ly trích được xem làmột hỗn hợp thiên nhiên có mùi, trong suốt, không màu hoặc màu vàng, tồn tại ở trạngthái lỏng ở nhiệt độ thường, dễ bay hơi nhưng không bị phân hủy [31]

1.3.2 Giá trị kinh tế

Ngày nay, dược phẩm có nguồn gốc thảo dược rất được quan tâm bởi độ an toàncao khi sử dụng Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng kháng vi sinh vật của tinhdầu ngò, nhất là tinh dầu lá của cây ngò [33]

Tinh dầu hột của cây ngò là một trong những loại tinh dầu chiến lược trên thếgiới, được sử dụng trong công nghiệp hóa mỹ phẩm, dược, thực phẩm, thuốc lá Uớclượng giá trị hàng năm trên toàn thế giới là 50 tỉ đô la Mỹ [31]

1.4 Những nghiên cứu về tinh dầu ngò

Khái niệm chung

Trang 9

Trái ngò chín đem phơi hay sấy khô (the dried fully ripe fruits) thường gọi nhầm

là hột ngò (seeds).[31]

Ở cây ngò, tinh dầu phân bố trên toàn cây, mỗi bộ phận của cây đều có chứa tinhdầu và thành phần hóa học của các tinh dầu này đều khác nhau Do đó, tinh dầuđược tách ra từ các bộ phận của cây đều có tên gọi riêng :

 Cilantro hay Coriander leaf oil : tinh dầu lá ngò.[31], [42], [51]

 Coriander hay Coriander seed oil, Coriander fruit oil : tinh dầu hộtngò.[31], [34], [35], [42]

 Coriander herb oil : tinh dầu phần trên mặt đất của cây ngò

 Coriander root oil : tinh dầu rễ ngò

1.4.1 Tinh dầu phần trên mặt đất của ngò

Phần trên mặt đất của ngò bao gồm tất cả bộ phận của cây sau khi cắt bỏphần rễ Chúng tôi gọi tắt là rau ngò

1.4.1.1 Hàm lượng tinh dầu

 1895 Schimmel và cộng sự đã công bố tinh dầu rau ngò ở các giai đoạn pháttriển của cây như sau :[30]

 Cây tươi đang ra hoa chứa 0.12% tinh dầu

 Cây tươi trưởng thành với trái xanh chứa 0.17% tinh dầu

 1936, Carlblom nghiên cứu tinh dầu rau ngò được chưng cất từ cây ngò đang

ra hoa ở vùng Saratov (Nga) Hiệu suất tinh dầu là 0.1%.[30]

1.4.1.2 Tính chất hóa lý

 1895, Schimmel và cộng sự công bố tính chất vật lý tinh dầu rau ngò của :

 Cây đang ra hoa :d 0.853 (sau 2,5 tháng là 0.856), 1515 18

Trang 10

 1936, Carlblom công bố tính chất hóa lý của tinh dầu rau ngò được chưng cất từ cây ngò đang ra hoa ở vùng Saratov (Nga) :[30]

Trang 11

 20 20

d : 0.8524

 αD : +2o33’

 20 D

n : 1.4555

 Chỉ số acid : 1.85

 Không tan trong etanol 70%

1942, công ty Fritzsche Brothers đã nghiên cứu tính chất hóa lý của tinh dầurau ngò thu được từ cây ngò trưởng thành với trái xanh ở vùng Fremontcủa Ohio và vùng Geneva của Ấn Độ Kết quả như sau :[30]

Bảng 1.2 Tính chất hóa lý tinh dầu rau ngò có trái

1.4.1.3 Thành phần hóa học

 1936, Carblom công bố tinh dầu rau ngò thu được từ cây ngò đang ra hoa ở

vùng Saratov (Nga) chứa 95% aldehid gồm có n-decanal (khoảng 10%),

2-decenal, 8-metil-2-nonenal.[16], [30], [36]

Ngoài ra còn có mircen, Carblom cho rằng mircen đóng một phần quantrọng trong việc hình thành linalol trong cây ngò trưởng thành từ khi ra hoađến lúc có trái.[30]

 1976, MacLeod và Islam sử dụng thiết bị sắc ký khí ghép khối phổ (GC/MS)

để nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu rau ngò [16]

Bảng 1.3 Thành phần hóa học của tinh dầu rau ngò

Trang 12

1 : Bắt đầu phát hoa 2 : Phát hoa gần như hoàn toàn 3 : Phát hoa hoàn toàn

4 : 50% hoa – 50% trái 5 : Toàn trái xanh 6 : Trái xanh – Trái chín

 1990, Mookherjee và cộng sự công bố đã sử dụng phương pháp headspace

để nghiên cứu sự khác nhau về thành phần hóa học của rau ngò đang sốngtrên cây và rau ngò đã được hái Kết quả cho thấy ngoại trừ hợp chất chính

trans-2-decenal, tất cả những cấu phần tạo mùi quan trọng trong rau đều bị

giảm sau khi được hái khỏi cây.[20]

Trang 13

Bảng 1.5 Thành phần hóa học tinh dầu rau ngò sống

trên cây và rau ngò đã được hái

- 1990, Potter và Fagerson sử dụng thiết bị sắc ký khí ghép khối phổ (GC/MS)

để xác định % thành phần hóa học của tinh dầu rau ngò ra hoa được trồng

trong vườn rau ở Orange, MA:[36]

Bảng 1.6 Thành phần hóa học của tinh dầu rau ngò ra

C 10 -enal (dây nhánh) 0.3 Dodecanal 1.6

C 10 -enal (dây nhánh) 0.2 10-Metil-2-undecenal 0.3

Trang 14

 Nguyên liệu xay, chưng cất ngay lập tức cho hiệu suất cao hơnnguyên liệu không xay

 Nguyên liệu sau thu hoạch, không xay, lưu giữ ở nhiệt độ phòngtrong vòng 24 giờ không ảnh hưởng đến hiệu suất và thành phầnhóa học tinh dầu

 Nguyên liệu xay, lưu giữ nhiều hơn 4 giờ sẽ ảnh hưởng đến hiệusuất và thành phần % hóa học tinh dầu

Bảng 1.7 Ảnh hưởng của việc xử lý nguyên liệu đến

thành phần hóa học (% GC/FID) tinh dầu rau ngò

Tác giả cũng định danh thành phần hóa học tinh dầu rau ngò gồm: nonan, linalol,

decanal, (E)-2-decenal, (E)-2-decenol, decanol, (E)-2-undecenal, (E)-2-undecenol, dodecanal, (E)-2-dodecenal, (E)-2-dodecenol, (E)-2-tridecenal, (E)-2-tetradecenal, (E)-2-tetradecenol, (E)-2-pentadecenal, (E)-2-hexadecenal.

- 1996, Potter công bố đã sử dụng hệ thống chưng cất hơi nước–dung môi Likens–Nickerson để trích lấy tinh dầu từ mẫu rau ngò còn non (1) và mẫu rau ngò trưởngthành (2) Ông xác định % thành phần hóa học tinh dầu rau ngò bằng thiết bị sắc

ký khí ghép khối phổ (GC/MS) với cả hai chế độ ion hóa EI và CI :[45]

Bảng 1.8 Thành phần hóa học tinh dầu rau ngò

Trang 15

-2009, J C Matasyoh, Z C Maiyo, R M Ngure, R Chepkorir sử dụng thiết bị

GC/MS để xác định % thành phần hóa học của tinh dầu rau ngò ở Kenya [33]Bảng 1.9 Thành phần hóa học tinh dầu rau ngò ở Kenya

Trang 16

Bảng 1.10 Thành phần hóa học tinh dầu rau ngò ở

Decahidroazulen 0.38 E-2-Etil-3-metil tiophan 0.23

Decametilen glicol 1.15 Acid E-undecanoic 4.97

Acid undecilenic 0.28

Nhận xét : Kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy trong tinh dầu rau ngò các

aldehid chi phương chiếm hàm lượng rất lớn Có sự thay đổi về thành phần hóa họctheo từng vùng, thời kỳ sinh trưởng của cây

Bảng 1.11 Tóm tắt cấu phần chính của các loại tinh dầu

rau ngò

Trang 17

Thời gian Tác giả Phương pháp

ly trích

Thời kỳ sinh trưởng

Cấu phần chính % GC/MS

1936 Carblom [30] Chưng cất

hơi nước

Cây đang ra hoa

1986 Lawrence

[23]

Chưng cất hơi nước

Cây đang ra hoa

n-Decanal trans-2-Decenal trans-2-Dodecenal

3020.67.63

1990 Mookherjee

[20]

Headspace(Rau ngò đang sống)

n-Nonan

Decanal

35.515.211.4Headspace

(Rau ngò đã thu hoạch)

n-Nonan

Decanal

39.24.74.7

1990 Potter và

Fagerson

[36]

Chưng cất hơi nước

Cây đang ra hoa

trans-2-Decenal trans-2-Dodecenal

2-Decen-1-ol

trans-2-Tetradecenal trans-2-Undecenal

46.110.39.25.85.6

1996 Potter [45] Chưng cất

hơi nước Cây non- Câytrưởng thành trans-2-Decenal2-Decen-1-ol

DecanalDodecanal

trans-2-Dodecenal trans-2-Tetradecenal trans-2-Pentadecenal

0.87-12.100.03-8.189.25-9.454.96-10.3015.6-21.612.7-20.24.77-5.12

Trang 18

MIC : Minimum inhibiting concentration

- 2009, J C Matasyoh, Z C Maiyo, R M Ngure, R Chepkorir sử dụngphương pháp chưng cất hơi nước để thu lấy tinh dầu rau ngò trồng ở Kenya,đem thử nghiệm khả năng kháng vi sinh vật Kết quả tinh dầu rau ngò :Kháng khuẩn > kháng nấm

Kháng khuẩn gram dương > kháng khuẩn gram âm [33]

Không có khả năng kháng P.aeruginosa

Bảng 1.13 Kết quả kháng vi sinh vật của tinh dầu rau

ngò Kenya

MIC : Minimum inhibiting concentration (mg/ml)

- 2009, A F Begnami, M C T Duarte, V Furletti, V L G Rehder sử dụngphương pháp chưng cất hơi nước để thu lấy tinh dầu rau ngò trồng ở Brazil,đem thử nghiệm khả năng kháng nấm Kết quả cho thấy tinh dầu rau ngò có

Ngày đăng: 24/06/2019, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w