1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Hải Dương

104 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 256 KB
File đính kèm Quản lý nợ thuế đối.rar (252 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nợ thuế Chương 2: Thực trạng quản lý nợ thuế đối với Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế đối với Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương

Trang 1

Tác giả xin cam đoan luận văn “Quản lý nợ thuế đối với Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương” là công trình nghiên cứu độc lập, các tài liệu tham

khảo, số liệu thống kê phục vụ mục đích nghiên cứu trong công trình này được sử dụngđúng quy định, không vi phạm quy chế bảo mật của Nhà nước Tác giả xin cam đoannhững vấn đề nêu trên là đúng sự thật Nếu sai, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệmtrước pháp luật

Tác giả luận văn

Trần Thị tuyết

Trang 2

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học ThươngMại, xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Sau đại học đã giảng dạy tạo điềukiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS TS Nguyễn Hoàng Long đãtận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ

Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ, nhân viên tạiChi cục thuế Thành phố Hải Dương, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày….tháng….năm 2016

Tác giả

Trần Thị Tuyết

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

PHỤ LỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC SƠ ĐỒ vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 7

1.1 Khái quát về thuế và quản lý thuế 7

1.1.2 Nội dung quản lý thuế 12

1.2 Nội dung quản lý nợ thuế 16

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ thuế 16

1.2.2 Nội dung cơ bản quản lý nợ thuế 24

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế 33

1.3.1 Nhóm yếu tố chủ quan 33

1.3.2 Nhóm yếu tố khách quan 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG 40

2.1 Giới thiệu khái quát và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương 40

2.1.1 Giới thiệu khái quát về Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương 40

2.1.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế với doanh nghiệp tư nhân của Chi cục thuế thành phố Hải Dương 50

2.2 Thực trạng quản lý nợ thuế đối với các Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) tại Chi cục thuế Thành phố Hải Dương 53

2.2.1 Tình hình các Doanh nghiệp tư nhân do Chi cục thuế thành phố Hải Dương quản lý 54 2.2.2 Thực trạng nợ thuế của các doanh nghiệp tư nhân do Chi cục thuế thành phố Hải

Trang 4

Dương quản lý 55

2.2.3 Thực trạng quản lý nợ đối với các doanh nghiệp tư nhân do Chi cục thuế Thành phố Hải Dương quản lý 59

2.3 Đánh giá về quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân tại Chi cục thuế Thành phố Hải Dương 70

2.3.1 Đánh giá chung về quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương Error! Bookmark not defined 2.3.2 Kết quả quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân và nguyên nhân Error! Bookmark not defined. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NỢ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG 75

3.1 Định hướng phát triển và quan điểm quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Hải Dương 75

3.2 Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện nâng cao quản lý nợ thuế đối với Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Hải Dương 77

3.2.1 Giải pháp về lập kế hoạch thu nợ 77

3.2.2 Giải pháp thực hiện quản lý nợ và xử lý thu nợ thuế 79

3.2.3 Giải pháp về kiểm soát nợ thuế 81

3.3 Các điều kiện thực hiện giải pháp 81

3.3.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý Thuế 81

3.3.2 Xây dựng và ban hành các chuẩn mực quản lý nợ thuế 82

3.3.3 Mở rộng diện gia hạn nộp thuế 83

3.3.4 Hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy của quản lý nợ 85

3.3.5 Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch thu hồi nợ thuế và quản lý cán bộ bộ phận quản lý nợ thuế 85

3.3.6 Công tác cán bộ 86

3.3.7 Hoàn thiện điều kiện quy định các biện pháp lý xử lý nợ thuế của người nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản hoặc bỏ trốn, mất tích 86 3.3.8 Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, giảm bớt các thủ tục rườm rà, cản

Trang 5

trở sản xuất kinh doanh 87

3.4 Một số kiến nghị 88

3.4.1 Đối với Tổng cục thuế 89

3.3.2 Đối với Cục thuế tỉnh Hải Dương 89

3.3.3 Kiến nghị với Chi Cục thuế Thành phố Hải Dương 89

3.3.4 Kiến nghị với UBND thành phố Hải Dương 91

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

PHỤ LỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Cơ cấu tổ chức lao động phân theo đội thuế 44

Bảng 2.2 Cơ cấu lao động phân theo ngạch công chức và chức danh 45

Bảng 2.3 Cơ cấu lao động phân theo trình độ và độ tuổi 47

Bảng 2.4 Kết quả thu NSNN của Chi cục thuế Thành phố Hải Dương

Bảng 2.5 Kết quả thu NSNN chia theo loại hình doanh nghiệp tại

Chi cục thuế Thành Phố Hải Dương giai đoạn 2013- 2015 51

Bảng 2.6 Tình hình doanh nghiệp tư nhân do Chi cục Thuế Thành

Bảng 2.7 Bảng tổng hợp nợ thuế của các DNTN giai đoạn 2013 –

Bảng 2.13 Tình hình thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ thuế tại

Chi cục thuế Thành phố Hải Dương giai đoạn 2013-2015 65

Bảng 2.14 Kết quả thu nợ đọng các DNTN giai đoạn 2013 - 2015 66

Bảng 2.15 Hiệu quả của biện pháp đôn đốc thu nợ đối với các

Bảng 2.16 Đánh giá của doanh nghiệp tư nhân về công tác quản lý

nợ thuế của Chi cục thuế Thành phố Hải Dương 69

Bảng 2.17

Đánh giá của doanh nghiệp tư nhân về năng lực của cán bộthuế trong công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế Thànhphố Hải Dương

70

Bảng 2.18 Tự đánh giá của cán bộ thuế trong công tác quản lý nợ

tại Chi cục thuế Thành phố Hải Dương 71

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Bộ máy Chi cục thuế Thành phố Hải Dương 44

Sơ đồ 2.2 Quy trình quản lý nợ thuế đối với các DNTN tại Chi cục

thuế TP Hải Dương

59

Trang 9

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách Nhà nước, mà thuế còn làmột công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế góp phần điềuhòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội

Thuế là khoản thu bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế nêntrong thực tế có nhiều các nhân, tổ chức, doanh nghiệp… vẫn còn tâm lý chây ỳ nộp thuế,chiếm dụng tiền thuế, thậm chí còn có hiện tượng trốn thuế làm cho số nợ đọng thuế cònrất lớn, nhiều khoản nợ thuế tồn tại nhiều năm không có khả năng thu, nhiều đối tượng có

nợ thuế đã không còn tồn tại do bị giải thể, mất tích… gây thất thu lớn cho NSNN Dovậy, công tác quản lý nợ thuế là một khâu quan trọng trong quản lý thuế, là một trongnhững chức năng chính của mô hình quản lý thuế theo chức năng trong cơ chế tự khai tựnộp Kết quả đem lại từ việc đôn đốc thu nợ thuế là một trong những thước đo cơ bản đểđánh giá chất lượng và hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý thuế Đồng thời, công tácquản lý nợ thuế có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuếcủa đối tượng nộp thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế cho Ngân sáchNhà nước nhằm chống thất thu thuế, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế

Luật quản lý thuế được thực hiện tạo ra cơ sở pháp lý để đổi mới quản lý nợ thuế.Ngược lại, việc quản lý nợ đọng thuế tốt lại có tác động to lớn với quản lý thuế nói chung,tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả từ phía đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế

Trong bối cảnh đó Chi cục Thuế (CCT) Thành phố Hải Dương đã và đang triểnkhai quản lý thuế nói chung, trong đó có quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân(DNTN) Thực tế thời gian qua cho thấy quản lý nợ thuế ở Chi cục Thuế Thành phố HảiDương cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên, trong quá trình triển khaiquản lý nợ cũng còn gặp phải những vướng mắc, khó khăn và bất cập nên tình trạng nợđọng tiền thuế của doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp tư nhân nói riêng thờigian qua vẫn còn diễn ra nhiều, gây thất thu cho NSNN

Đứng trước thực trạng đó, quản lý nợ thuế của toàn ngành nói chung và Chi cục

Trang 10

Thuế Thành phố Hải Dương nói riêng đang là vấn đề cấp bách, đòi hỏi phải có nhữngbiện pháp khả thi để thực hiện tốt công tác này Xuất phát từ các lý do nêu trên, tác giảchọn chủ đề: "Quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố HảiDương" là đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành quản lý kinh tế.

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Việc triển khai áp dụng Luật quản lý thuế đã góp phần tích cực trong việc nângcao hiệu quả công tác thu NSNN, trong đó việc quản lý nợ thuế được quy định rõ tráchnhiệm, nội dung, trình tự, thủ tục, thời gian triển khai thực hiện thống nhất trong cơ quanthuế các cấp trong việc quản lý nợ thuế, giảm thiểu nợ thuế Qua tra cứu, tìm hiểu nguồn

dữ liệu và một số chuyên mực về thuế, đã có một số công trình khoa học đã được nghiêncứu đó là:

2.1 Tình hình nghiên cứu đề tài ở nước ngoài

Mặc dù nợ thuế là một vấn đề nan giải mà cơ quan thuế các quốc gia đang phải đốimặt và nó thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học Tuy nhiên, trên thế giới không cónhiều công trình nghiên cứu riêng biệt về vấn đề quản lý nợ thuế, mà hầu hết là các côngtrình nghiên cứu về vấn đề quản lý thuế trong đó có đề cập đến quản lý nợ thuế như:

- “Reform of Tax Administration in Developing Nations” của By AmardeepDhillon, Accenture Jan G Bouwer, Accenture có đề cập đến cải cách trong quản lý thuế,tuy nhiên chưa phân tích cụ thể đầy đủ về lý luận và thực tiễn của quản lý nợ thuế

- “The Role Administrative Issues in Tax Reform: Simplicity, Compliance andAdministration” của William G Gale Janet Holtzblatt Công trình này xem xét vai tròphức tạp của quản lý và cải cách thuế, vai trò của các yếu tố hành chính trong chính sáchthuế và cải cách thuế tuy nhiên chưa nghiên cứu cụ thể về quản lý nợ thuế

2.2 Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước

Quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế nói riêng thuế ởViệt Nam đã thu hút được sự quan tâm của khá nhiều nhà khoa học, nhiều học viên Đạihọc, sau đại học viết các đề tài nghiên cứu, bài viết có liên quan đến quản lý nợ thuế Cụ

có một số công trình nghiên cứu, bài báo liên quan, đề cập đến những khía cạnh nhất định

đến vấn đề quản lý nợ thuế như:

Một số công trình hướng nghiên cứu liên quan đến đề tài quản lý nợ thuế:

Trang 11

- “Nghiên cứu quản lý kinh tế doanh nghiệp”: những vấn đề về cải cách doanh

nghiệp Nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước của PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Trường Đại học Thương Mại chủ nhiệm

“ Nghiên cứu phát triển thương mại hàng hóa dịch vụ hiện đại phát triển cơ sở

hạ tầng thương mại” của GS.TS Đinh Văn Sơn - Trường Đại học Thương Mại chủ nhiệm

- “ Nghiên cứu các phương thức, loại hình kinh tế thương mại các hoạt động đầu tư và

sở hữu trí tuế ở Việt Nam” của GS.TS Đinh Văn Sơn, PGS.TS Nguyễn Hoàng Long - Trường

Đại học Thương Mại

- “ Nghiên cứu và phát triển đại hội Đảng lần thứ X với việc tiếp tục đổi mới phương thức, nội dung quản lý Nhà nước về thị trường, thương mại, đầu tư sở hữu trí tuệ của quốc gia, vùng, ngành, địa phương, doanh nghiệp” của GS.TS Đinh Văn Sơn,

GS.TS Đinh Văn Khoa - Trường Đại học Thương Mại

- “ Nghiên cứu về quản lý kinh tế, quản lý tài chính, thống kê và phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp có quy mô lớn đại diện cho một lĩnh vực kinh tế do Nhà nước sử dụng để điều tiết bình ổn thị trường và nền kinh tế hoặc nhóm các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực, các ngành, các thành phần kinh tế” của GS.TS Đinh Văn Sơn,

GS.TS Nguyễn Bách Khoa, PCS.TS Bùi Xuân Nhàn, PGS.TS Phan Thị Thu Hoài Trường Đại học Thương Mại

“ Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại Việt Nam”

của TS Lê Xuân Trường

Ngoài ra, các bài báo khoa học trên tạp chí cũng đề cập đến việc quản lý nợ thuếnhư sau:

- TS Nguyễn Xuân Sơn (2013) với bài báo khoa học “2012 năm của tổng tiến công vào hoạt động chuyển giá, thất thu và nợ đọng thuế”; Tạp chí Tài chính số 3 (569)

2012 Qua bài viết tác giả đẫ đánh giá thực trạng nợ thuế tại các địa phương tiêu biểutrong cả nước, những hoạt động của ngành Thuế nhằm chống chuyển giá, thất thu và nợđọng thuế

Trang 12

- Các tác giả TS Lê Xuân Trường và ThS Lê Minh Thắng (2013) với bài báo khoa

học “ Đi tìm lời giải cho bài toán nợ thuế tại Việt Nam”, Tạp chí tài chính số 3 (569)

2012 Nhóm tác giả đã tìm hiểu, phân tích về thực trạng nợ thuế, những nỗ lực đôn đốc

và quản lý nợ thuế, đưa ra những hạn chế, nguyên nhân của nợ thuế và trong quản lý nợthuế bao gồm những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân chủ quan để từ đóđưa ra giải pháp hạn chế nợ thuế

- Hoài Phương (2013) với bài báo khoa học “ Chống nợ đọng thuế cần cơ chế quản lý cứng rắn hơn”, Tạp chí tài chính số 3 (569) 2012 Tác giả đã phân tích về cơ chế

quản lý thuế và phân tích khá rõ ràng tác động của lãi suất đến hành vi nợ thuế từ đó đềxuất một số giải pháp

Ngoài ra còn có các luận văn thạc sỹ đã được bảo vệ thành công tại các trường Đại học, viện nghiên cứu như:

Luận văn Thạc sỹ “Quản lý nợ thuế trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương”

(2015) của tác giả Nguyễn Viết Trung Tác giả đã đưa ra nội dung của nợ thuế nhưng phầnquy trình quản lý nợ thuế trình bày còn hạn chế

Luận văn Thạc sỹ “Quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh Hải Dương” (2015) của tác

giả Phạm Ngọc Dũng Tác giả đã đưa ra nội dung của quản lý thuế

Luận văn Thạc sỹ “Tăng cường quản lý nợ thuế tại Cục Thuế thành phố Hà Nội hiện nay” (2014) của tác giả Phạm Ngọc Thạch Tác giả mới chỉ đề cấp đến quy trình

quản lý nợ thuế trong phần lý luận còn thực tiễn tại thành phố Hà Nội chưa được cụ thể

Luận văn Thạc sỹ “Giảm thiểu nợ thuế tại Chi cục thuế huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La” (2015) của tác giả Phạm Ngọc Hải Về lý luận tác giả đã đề cập đến quy trình quản

lý nợ thuế nhưng trong thực trạng chưa đưa ra quy trình cụ thể

Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao hiệu quản quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Điện Biên”

(2014) của tác giả Nguyễn Tuấn Anh Tác giả đã trình bày phần quy trình quản lý nợ thuếcủa Cục thuế tỉnh Điện Biên.Tuy nhiên, phần giải pháp đưa ra vẫn còn chung chung

Tóm lại những nghiên cứu nêu trên đã làm nổi bật lên những khía cạnh riêng và đưa

ra những giải pháp đối với vấn đề quản lý nợ thuế Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu nêutrên chỉ nghiên cứu ở một vấn đề hoặc có nghiên cứu đầy đủ nhưng chưa đưa ra giải pháptrong dài hạn Riêng đề tài nghiên cứu khoa học cấp học viện của TS Lê Xuân Trường có

Trang 13

nghiên cứu toàn diện về quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại Việt Nam.

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung: Nghiên cứu thực trạng quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp

tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nợthuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương

- Mục tiêu cụ thể:

+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế của Nhà nước;

+ Phân tích thực trạng quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địabàn Thành phố Hải Dương;

+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tưnhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thuế, quản lý nợ thuế

- Phân tích, đánh giá thực trạng nợ thuế

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tưnhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung đi sâu vào các vấn đề lý luận và thực trạng quản lý nợ thuế nói chung

và đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh và Thành phố Hải Dương nói riêng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý nợ thuế đối với

doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương và do Chi cục Thuế Thành phốHải Dương quản lý

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu quản lý nợ thuế của doanh nghiệp tư nhân

trên địa bàn Thành phố Hải Dương của Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương

- Phạm vi về thời gian:

+ Khảo sát các số liệu thứ cấp từ 2013 - 2015 Số liệu sơ cấp điều tra năm 2013;

+ Kiến nghị giải pháp dự kiến đến năm 2020

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểmcủa Đảng, Nhà nước ta về quản lý Thuế; sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kếthợp với phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu so sánh trên cơ sở phân tích tình hìnhthực tế của hệ thống quản lý Nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bànThành phố Hải Dương từ đó xác định các tồn tại, đưa ra những giải pháp cụ thể

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nợ thuế

Chương 2: Thực trạng quản lý nợ thuế đối với Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn

Thành phố Hải Dương

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế đối với Doanh nghiệp tư

nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương

Trang 15

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 1.1 Khái quát về thuế và quản lý thuế

1.1.1 Khái niệm, phân loại và vai trò của thuế

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm

Khái niệm của thuế:

Thuế ra đời là tất yếu khách quan, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời, tồntại và phát triển của Nhà nước với vai trò đầu tiên, cơ bản là huy động nguồn thu chủ yếucho NSNN, đảm bảo nguồn lực vật chất để Nhà nước tồn tại và hoạt động bình thường.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự mở rộng và hoàn thiện các chứcnăng của Nhà nước Việc huy động, tập trung của cải đó có thể được thực hiện bằng cáccách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế

Theo quan điểm của kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước”.

Theo quan điểm của phân phối thu nhập: “Thuế hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm

vụ của Nhà nước”.

Theo quan điểm của người nộp thuế: “Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc

mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”.

Trang 16

Theo giáo trình Lý thuyết thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: “Thuế là một khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước, do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”.

Hiện nay, tuy chưa có một khái niệm về thuế thống nhất nhưng các nhà kinh tế đềunhất trí cho rằng, để làm rõ bản chất của thuế thì khái niệm về thuế phải nêu bật được cáckhía cạnh sau đây:

Thứ nhất, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách

quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt – việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc do quyềnlực của Nhà nước chi phối

Thứ hai, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa

Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp

Thứ ba, việc sử dụng tiền thuế phải dùng cho mục đích chi tiêu công.

Thứ tư, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã

được pháp luật quy định

Như vậy, dựa vào các yếu tố nêu trên có thể đưa ra khái niệm tổng quát về thuế

như sau: “ Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật định của Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng”.

Đặc điểm của thuế:

Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế.Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển Nghiên cứu về thuếngười ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác

Thứ nhất, Thuế là một khoản động viên bắt buộc gắn với quyền lực Nhà nước:

- Tính bắt buộc là tất yếu, khách quan xuất phát từ tính chất của hàng hoá,dịch vụ công cộng;

- Tuy nhiên, thuế là khoản đóng góp bắt buộc phi hình sự, nghĩa là hành độngđóng thuế cho Nhà nước là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân, khôngphải là hành động xuất hiện khi có biểu hiện vi phạm pháp luật

Trang 17

Thứ hai, Thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp: sự chuyển giao thu nhập thông

qua thuế không mang tính đối giá, thể hiện ở một số khía cạnh sau:

- Mức thuế đóng góp cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ nỡng hànghoá, dịch vụ công cộng do Nhà nước cung cấp mà người nộp thuế được hưởng;

- Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụtrực tiếp cho mình rồi mới nộp thuế;

- Mức độ cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng không nhất thiết phải ngang bằngvới mức độ đóng góp của người nộp thuế;

Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế

và mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội cũng như nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước

Thứ ba, Thuế chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị trong từng

thời kỳ nhất định:

- Nguồn thu của thuế là kết quả của quá trình hoạt động kinh tế;

- Thuế là công cụ quản lý của Nhà nước nên nó chịu sự chi phối của thể chếchính trị;

- Đối tượng nộp thuế là các thành viên trong xã hội nên chịu sự chi phối chungcủa các quy luật xã hội

Những đặc điểm của thuế phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế

1.1.1.2 Phân loại thuế

Phân loại theo tính chất chuyển dịch về thuế:

Bao gồm thuế gián thu và thuế trực thu để phân biệt đối tượng nộp thuế:

Thuế gián thu:

Là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế Thuế giánthu là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành trong giá mua hàng hóa,nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu đung Thực chất người tiêu dùng phải trả

Trang 18

khoản thuế đó nhưng lại nộp thông qua nhà kinh doanh, nhà sản xuất Như thuế GTGT,thuế TTĐB, thuế XNK

Thuế trực thu:

Là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là người chịu thuế Thuế trựcthu trực tiếp động viên thu nhập của người nộp thuế như thuế TNDN, thuế TNCN, thuếchuyển quyền sử dụng đất

Phân loại thuế theo đối tượng chịu thuế:

Theo cách phân loại này thì có thể chia thuế thành:

- Thuế đánh vào hoạt động kinh doanh, dịch vụ như: thuế GTGT;

- Thuế đánh vào hàng hóa tiêu dùng đặc biệt như: thuế TTĐB;

- Thuế đánh vào thu nhập như: thuế TNCN, thuế TNDN;

- Thuế đánh vào tài sản như: thuế nhà đất, lệ phí trước bạ;

- Thế đánh vào sử dụng một số tài sản quốc gia: thuế tài nguyên, thuế sử dụng đấtnông nghiệp

1.1.1.3 Vai trò của thuế

Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với Ngân sách Nhà nước(NSNN) và đời sống xã hội Vì trên thực tế cho thấy, thông qua hoạt động thu thuế, Nhànước tập trung được bộ phận của cải xã hội từ đó hình thành lên quỹ ngân sách Nhà nước

và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội Trong điều kiện kinh tế thị trường, với sựthay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai tròhết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của thuế được thểhiện trên các khí cạnh sau đây:

Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước (NSNN):

- Thuế đảm bảo nguồn thu lớn, ổn định và thường xuyên cho NSNN vì nguồn thuvào NSNN qua thuế là tổng sản phẩm xã hội;

- Phương thức huy động của thuế là phương thức chuyển giao bắt buộc nên đảmbảo khả năng huy động cao

Thuế là công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế:

Nền kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực còn chứa đựng những khuyếttật vốn có: mất công bằng, thiếu ổn định, thất nghiệp…vì vậy để khắc phục những

Trang 19

khuyết tật đó Nhà nước có thể sử dụng thuế là một trong các công cụ để can thiệp vàoquá trình hoạt động của nền kinh tế.

- Giảm bớt tính chu kỳ của nền kinh tế thị trường, đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổnđịnh, cụ thể như sau: Khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến hạ thuế, hạ giá hàng hoá, kíchcầu, tăng đầu tư, mở rộng sản xuất,tăng nhu cầu lao động, tăng việc làm Khi nền kinh tếphát triển quá nóng (mất cân đối) thì ngược lại;

- Điều tiết việc làm và thất nghiệp: Thất nghiệp cao dẫn đến tăng chi tiêu của Chínhphủ, giảm thuế,tăng tổng cầu,tăng đầu tư, mở rộng sản xuất, tăng việc làm;

- Lạm phát dẫn đến tăng thuế, giảm tổng cầu, giảm lạm phát;

- Thuế có vị trí quan trọng trong việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý, hướng dẫn vàkhuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng quan hệ kinh tế giữa các thành phần kinh tếtheo định hướng phát triển của Nhà nước;

- Thuế được sử dụng như một công cụ thực hiện chính sách đối ngoại bảo hộ sảnxuất trong nước và thúc đẩy hội nhập kinh tế

Thuế thực hiện tái phân phối của cải xã hội, góp phần đảm bảo công bằng

xã hội:

Một trong những khuyết tật của nền kinh tế là sự phân hoá giàu nghèo, nền kinh

tế càng phát triển thì khoảng cách này càng lớn, không chỉ do sự chênh lệch về năng lực

và mức độ cống hiến mà còn do nhiều yếu tố khác

Do vậy nếu không chia xẻ thành tựu phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ dẫnđến mất công bằng Thuế là công cụ có thể tác động vào quán trình này:

- Đánh thuế cao vào những hàng hoá, dịch vụ cao cấp, đắt tiền: TTĐB;

- Sử dụng thuế suất luỹ tiến trong những sắc thuế trực thu: thuế TNCN

Thuế là công cụ để thực hiện, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh:

Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trongthực tế Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng quy định của các luật thuế và các

cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các sơ sở sảnxuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinhdoanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có

Trang 20

1.1.2 Nội dung quản lý thuế

1.1.2.1 Khái niệm, chức năng và vai trò quản lý thuế

Khái niệm quản lý thuế:

Có nhiều định nghĩa về quản lý thuế, mỗi loại định nghĩa đề cập đến một khíacạch của quản lý thuế Có thuế đưa ra khái niệm về quản Lý thuế theo giáo trình lý thuyết

thuế của Học viện Tài chính định nghĩa như sau: “Quản lý thuế là hoạt động của Hệ thống cơ quan công quyền quản lý thuế nhằm đảm bảo thực thi pháp luật về thuế đối với các đối tượng nộp thuế”.

Chức năng của quản lý thuế:

- Chủ thể quản lý: là thuế là Nhà nước mà trực tiếp là Hệ thống các cơ quan thuếcác cấp

- Đối tượng bị quản lý: là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ về thuế

- Mục đích quản lý: là để đối tượng nộp thuế và các đối tượng các liên quan phảithực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình

- Phương tiện quản lý thuế: là sử dụng luật định của thuế như các quy định vềđăng ký thuế, nộp thuế, hoàn thuế, thanh tra thuế với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vậtchất cần thiết để quản lý

- Chức năng chủ yếu của quản lý thuế: là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng cáckhoản phạt theo Luật thuế để răn đe những đối tượng nộp thuế vị phạm

Vai trò phải quản lý thuế:

Như đã biết thuế là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước Trong quản lý thu ngân sáchNhà nước thì việc đảm bảo quản lý thu thuế là quan trọng nhất và mang tính quyết định

Do đó quản lý thuế là việc làm hết sức cần thiết:

Thứ nhất, Quản lý thuế quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập

trung chính xác, kịp thời, thời xuyên ổn định vào ngân sách Nhà nước

Quản lý thuế hiệu quả, đảm bảo được các yêu cầu nguyện vọng của nhân dân thìviệc thu thuế được tiến hành một cách nhanh chóng, dễ dàng Nguồn thu từ thuế kịp thời,

ổn định góp phần phát triển kinh tế xã hội bởi Nhà nước có đủ kinh phí để chi trả chonhững chi tiêu của mình, phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích xã hội Vì vậy quản lý thuế sẽ

Trang 21

đảm bảo được các nguồn thu được thực hiện hiệu quả tập trung một lượng lớn nguồn thuvào ngân sách Nhà nước.

Thứ hai, Quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy

định về quản lý thuế

Thông qua quản lý thuế có thể có những yêu cầu phù hợp với điều kiện, hoàn cảnhthực tế nhưng có những quy định không khả thi Quản lý là quá trình tác động có chủđích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý Thông quan quản lý, chủ thể hay các cơquan quản lý có thể hiểu được đối tượng quản lý của mình Từ đó có những phương phápphù hợp để tác động lên đối tượng là những người nộp thuế, đạt được hiệu quả quản lý.Như vậy, quản lý thuế giúp hoàn thiện hơn các chính sách pháp luật đã đề ra sao cho phùhợp với hoàn cảnh thực tế, đảm bảo ổn định, công bằng xã hội

Thứ ba, Quản lý thuế làm phát huy việc kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh

tế xã hội Đối với mỗi lĩnh vực khác nhau, Nhà nước có những sắc thuế khác nhau đểkiểm soát sự tăng trưởng hay kìm hãm sự phát triển của sự hoạt động đó Quản lý thuếcũng chính là quản lý trên những lĩnh vực mà Nhà nước đánh thuế Khi nền kinh tế trongthời kỳ lạm phát, Nhà nước sẽ tăng thuế và cắt giảm chi tiêu của chính phủ Ngược lại,khi nền kinh tế trong giai đoạn phát triển thì Nhà nước sẽ giảm thuế và tăng chi tiêuchính phủ Có thể nhận thấy, khi Nhà nước tăng thuế sẽ làm giảm sự phát triển của cáchoạt động sản xuất kinh doanh và khi giảm thuế thì các hoạt động này lại phát triển hơn.Như vậy, quản lý thuế sẽ kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội

1.1.2.2 Nội dung cơ bản quản lý thuế

Chính sách thuế:

Chính sách là hệ thống quan điểm và đường lối đạt được những mục tiêu nhất địnhtrong quản lý một tổ chức hay quản lý Nhà nước Như vậy, nói đến chính sách là nói đếnviệc cần làm gì và tại sao phải làm như vậy Tức là, có thể hiểu, là một hệ thống nhữngquan điểm, đường lối, phương châm điều tiết thu nhập tổ chức và các cá nhân xã hộithông qua thuế

Nội dung chính sách thuế:

Trang 22

- Mục tiêu của chính sách thuế: xác định mức độ điều tiết qua thuế, những tácđộng kinh tế - xã hội của chính sách như thế nào và tại sao lại điều tiết ở mức độ đó cũngnhư có tác động kinh tế - xã hội đó.

- Phạm vi tác động của chính sách thuế: chính sách thuế sẽ tác động đến những tổchức cá nhân nào trong xã hội Việc xác định rõ phạm vi tác động của chính sách thuếcho phép tập chung những mục tiêu quan trọng của chính sách, đồng thời, tránh được hậuquả không mong muốn của chính sách

- Thời gian hiệu lực của chính sách: xác định rõ chính sách thuế được áp dụngtrong thời kỳ nào xác định rõ thời điểm bắt đầu và kết thúc của chính sách

- Trách nhiệm thực hiện chính sách thuế: Chỉ rõ tổ chức, cá nhân nào có tráchnhiệm thực hiện chính sách như: cụ thuể hóa chính sách thuế thành pháp luật thuế, tôtchức thực hiện pháp luật thuế

- Phương châm chính sách: chỉ rõ những quy tắc, yêu cầu đạt được của chính sáchhoặc hệ thống quản lý thuế

Pháp luật thuế:

Là hệ thống những tổ chức quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung Như vậy,trong khi pháp luật bắt buộc người ta phải làm gì trong những điều kiện, hoàn cảnh nhấtđịnh và không được làm gì thì chính sách chỉ hướng người ta cần làm gì để đạt được mụctiêu mong muốn Như vậy, nhà nước muốn chính sách đi vào cuộc sống thì cần thể chếhóa những chính sách ấy thành pháp luật thuế

Pháp luật thuế phải quy định đầy đủ các yếu tố: NNT, cơ sở thuế, mức thu, ưu đãithuế, thủ tục thuế và xử lý vi phạm về thuế Cũng như các quy định pháp luật khác, mộtmặt, pháp luật thuế phải thực hiện các mục tiêu, quan điểm, đường lối của chính sáchthuế Mặt khác, pháp luật thuế phải minh bạch, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗiquốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế:

Để đạt được mục tiêu quản lý thuế, cơ quan thuế phải tổ chức thực hiện nhữngphần việc chủ yếu nhằm tác động, điều khiển và kiểm soát hoạt động kê khai, nộp thuếcủa NNT Nếu như xây dựng chính sách thuế, tổ chức bộ máy thu thuế và tổ chức quytrình quản lý thuế là những nội dung có tính chất đi trước, tiền đề để thực hiện hoạt động

Trang 23

quản lý thuế thì tổ chức thục hiện các chức năng quản lý thuế, còn được gọi là tổ chứchành thu, là nội dung đi sau nhưng phải thường xuyên thực hiện của quản lý thuế.

Với mục tiêu là thực hiện pháp luật thuế, nghĩa là phải đảm bảo để NNT thực hiệnnghĩa vụ kê khai nộp thuế cho Nhà nước thì cơ quan thuế cần tác động vào tất cả nhữngyếu tố đều khiến hành vi tuân thủ thuế của NNT Để làm được điều đó cần tổ chức thựchiện các chức năng quản lý nợ thuế Đó là các chức năng chủ yếu sau:

- Chức năng tuyên truyền hỗ trợ NNT: Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT được

xem là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược cải cách và hiện đại hóangành thuế cho phù hợp với tiến trình hội nhập và phát điển kinh tế

Hoạt động tuyên truyền pháp luật về thuế được xem là việc cơ quan thuế sử dụngcác hình thức, phương tiện để cung cấp, truyền bá thông tin về pháp luật thuế đối với mọingười dân, các tổ chức, cá nhân kinh doanh nhằm giúp cho họ hiểu rõ được bản chất và ýnghĩa của việc nộp thuế, quyền và nghĩa vụ của minh trong việc nộp thuế

Dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế là loại dịch vụ công do cơ quan thuế cung cấp đểhôc trợ NNT thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, bao gồm các dịch vụ giải thích pháp luật, tưvấn hỗ trợ việc chuẩn bị kê khai, tính thuế và xác định nghĩa vụ thuế Vì vậy, cơ quanthuế phải tuyên truyền, giải thích, giáo dục pháp luật thuế cho NNT và toàn dân để mộicông dân, người nộp thuế hiểu về thuế, pháp luật thuế

Trong bối cảnh hiện nay, tình trạng trốn thuế, tránh thuế và các sai phạm về thuếcòn khá phổ biến Một trong những nguyên nhân trên là do công tác tuyên truyền hỗ trợNNT chưa thực sự được coi trọng đúng mức làm cho nhận thức và hiểu biết của ngườidân nói chung và NNT nói riêng về thuế còn hạn chế

- Chức năng quản lý kê khai và kế toán thuế:

Trực tiếp tiếp nhận và xử lý hồ sơ khai thuế, hồ sơ hoàn thuế, các tài liệu chứng từ

có liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT theo quy định, nhập dự liệu, hạch toán ghi chéptoàn bộ các thông tin trên tờ khai, chức từ nộp thuế và các tài liệu lên quan đến nghĩa vụthuế của NNT

Tiếp nhận và đề xuất giải quyết các hồ sơ xin gia hạn thời hạn kê khai thuế, thờihạn nộp thuế

Trang 24

Thực hiện công tác kế toán thuế đối với NNT bao gồm: kế toán thuế NNT, kế toántài khoản tạm thu, kế toán tài khoản tạm giữ,

- Chức năng quản lý nợ và cưỡng chế nợ:

Trực tiếp theo dõi tình hình nợ, lập danh sách đối tượng nợ thuế và thực hiện phânloại nợ thuế theo quy định; phân tích tình trạng nợ thuế

Tham mưa đề xuất xử lý các hồ sơ khoanh nợ, giãn nợ, xóa nợ thuế và giải quyếtcác hồ sơ xử lý khác về nợ thuế

- Chức năng thanh tra, kiểm tra:

Thanh tra thuế: xây dựng chương trình kế hoạch thanh tra NNT hàng năm, tổ chức

thu nhập thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của NNT thộc đối tượngthanh tra Tổ chức công tác thanh tra thuế theo kế hoạch thanh tra đã được thủ trưởng cơquan thuế cấp trên phê duyệt hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế cấp trên và cơ quan Nhànước có thẩm quyền

Kiểm tra thuế: xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch thực hiện công tác kiểm

tra giám sát kê khai thuế hàng tháng, quý, năm trên địa bàn quản lý Hướng dẫn, chỉ đạo,kiểm tra công tác kiểm tra, giám sát kê khai, tổ chức thu thập thông tin liên quan đến việcxác định nghĩa vụ thuế của NNT

Xử lý vi phạm luật thuế:

Căn cứ vào kết quả thanh tra, kiểm tra để đưa ra các xử lý vi phạm cụ thuế nhưsau: xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo quy định đối với các trường hợp tổ chức, cá nhân viphạm pháp luật về thuế phát hiện được khi thanh tra thuế; đôn đốc tổ chức cá nhân viphạm thực hiện nộp tiền thuế, tiền phạt theo đúng quyết định xử lý Phối hợp với cơ quanchức năng khác trong việc thanh tra, chống buôn lậu, gian lận thương mại, kinh doanhtrái phép, trốn lậu thuế Lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thầm quyền khởi tố các tổ chức, cánhân vi phạm pháp luật về thuế theo quy định

1.2 Nội dung quản lý nợ thuế

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ thuế

1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm nợ thuế

Khái niệm nợ thuế:

Trang 25

Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao Mỗikhoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽ trởthành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhànước Tuy nhiên, trong thực tiễn do nhiều lý do khác nhau, người nộp thuế chưa nộp hoặckhông nộp thuế cho Nhà nước theo thời hạn quy định, từ đó hình thành nên khoản nợthuế.

Nợ thuế là số tiền được xác định phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luậtnhưng chưa được nộp vào NSNN

Người nợ thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế còn nợ các khoảnthuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật

Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nợ thuế tại một thời điểm, ở mộtngưỡng nào đó khi phân loại nợ thuế

Để hiểu rõ hơn bản chất của nợ thuế, cần thiết phải nghiên cứu đặc điểm của nợ thuế

Đặc điểm nợ thuế:

Thứ nhất, nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến:

Như chúng ta biết, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, tuynhiên các sắc thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều đánh vào thu nhập của các thể nhân haypháp nhân trong nền kinh tế Nói cách khác, thuế là một hình thức phân phối thu nhập cótính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước Như vậy, hành vinộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế Vì vậy, ở Việt Namcũng như các nước khác trên thế giới, người nộp thuế thường có xu hướng trốn hoặctránh thuế Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện các nước đang phát triển,trong đó có Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phậnngười dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế, chưa phê phán, lên

án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thuthuế theo đúng pháp luật Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế còn khá phổbiến vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng xã hội Hay nói cách khác,những người nộp thuế luôn tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế mà họ phải nộp Mộttrong các cách đó là nợ thuế

Thứ hai, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế:

Trang 26

Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhànước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quátrình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN.

Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điềuchỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế

Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộp thuế bằngcách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của phápluật thuế

Thứ ba, nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế:

Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hìnhthức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN Còn nợ thuế mới chỉ là hành vidây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật Tất nhiên,trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trong chuỗi hành vinhằm trốn thuế Chẳng hạn như, một số doanh nghiệp cố tình nợ một số thuế lớn sau đó

bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế

Thứ tư, nợ thuế khác với hành vi tránh thuế:

Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế Đâykhông phải là hành vi vi phạm pháp luật Còn nợ thuế thì khác hoàn toàn về bản chất, đó lànghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa, chậm nộp

1.2.1.2 Phân loại nợ thuế

Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ:

Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuế theomức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuế đượcphân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không có khả năng thu

Trang 27

Tùy thuộc vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kỳ kinh tế xã hội thì cơquan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậm nộpdưới 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 30 ngày đến 90 ngày và nợ thuế quá 90 ngày.

Đối với người nộp thuế gặp khó khăn về tài chính, hoặc ngừng và tạm ngừng kinhdoanh thì việc tiếp xúc với người nộp thuế để thu nợ là khó khăn nên phân loại vàonhóm này để có biện pháp quản lý theo dõi phù hợp Tương tự, đối với trường hợp nợđang chờ giải quyết theo Luật phá sản thì số tiền thuế nợ của người nợ thuế đã có quyếtđịnh phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệpnhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật thì cũng cần được phânvào nhóm này để cơ quan thuế có biện pháp quản lý thích hợp

Thứ ba, nợ không có khả năng thu:

Việc phân loại nợ vào nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tại của ngườinộp thuế Người nộp thuế hầu hết đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc khôngcòn tồn tại trong thực tế, bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp như nợ của người

nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản nhưng không làm các thủ tục, trình tự giải thểphá sản đúng pháp luật nên chưa có đủ căn cứ pháp lý để xử lý theo quy định của phápluật Đặc điểm của trường hợp này là khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ dẫn đếnkhông còn khả năng thanh toán Trường hợp người nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể

Trang 28

phá sản nhưng đang được cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết cho phép khoanh

nợ thì cũng phải đưa vào nhóm này để sau khi có quyết định khoanh nợ thì sẽ chuyểnsang nhóm nợ không có khả năng thu này

Ngoài ra, nợ thuế của một loại đối tượng khác cũng có thể coi là không có khảnăng thu, đó là nợ thuế của các doanh nghiệp bỏ trốn Hầu hết đây là các doanh nghiệp

ma, chỉ thành lập để mua bán hóa đơn, không thực tế kinh doanh

Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế:

Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, qua công tácthanh tra – kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được chia thành: nợ thuế, phí thôngthường; nợ phạt thuế, phí; và nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra

Thứ nhất, nợ thuế và phí thông thường:

Nợ trong nhóm này bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp dongười nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu, bịphạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện Thông thường trong nhóm

nợ thuế, phí này cũng bao gồm nhiều khoản nợ có tuổi nợ và mức nợ khác nhau do ngườinộp thuế kê khai với cơ quan thuế và các khoản nợ thuế này được theo dõi trên hồ sơquản lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế

Việc phân loại thành các nhóm nợ nhỏ theo từng loại vi phạm như trên vừa có tácdụng phân loại nợ, vừa có ý nghĩa thống kê vi phạm của người nộp thuế để cơ quan thuế

có biện pháp quản lý hiệu quả

Thứ ba, nợ thuế và phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra:

Đây là khoản nợ thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã pháthiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ sót ngoài sổ sách, không kê khai hoặc khaikhông chính xác ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế Ở thời điểm cơ

Trang 29

quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy định số thuế này đã phải nộp vàoNSNN nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc cố tình đã kê khai sai để trốn thuế Số thuếnày thường được thể hiện trên các biên bản kiểm tra, thanh tra và được các đoàn kiểm tra,thanh tra chốt lại ở thời điểm 31/12 hàng năm để thể hiện tình hình thực hiện nghĩa vụvới NSNN của người nộp thuế

Việc thống kê, phân loại nhóm nợ này không phải là chính xác tuyệt đối bởi trong

kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế hàng năm thì không phải tất cả các đốitượng nộp thuế đều được thanh tra, kiểm tra Do vậy, số nợ thuộc nhóm nợ này chỉ phảnánh được số thuế phát hiện thêm được coi là nợ thuế của những người nộp thuế đượcthanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, việc phân loại này cũng có ý nghĩa quan trọng giúp cơquan thuế có những biện pháp quản lý thích hợp với nhóm nợ này đồng thời cũng giúp

cơ quan thuế đánh giá được các mức độ vi phạm pháp luật thuế của đối tượng nộp thuếtrong từng thời kỳ cụ thể

Căn cứ vào thời gian nợ:

Thứ nhất, nợ trong hạn:

Nợ thuộc nhóm này bao gồm các khoản nợ thuế xuất, thuế nhập khẩu vẫn còntrong thời hạn nộp thuế Bên cạnh đó, còn có nợ thuế trong hạn do được gia hạn nộp thuếtheo quy định của pháp luật Ngoài ra nhằm thực hiện các biện pháp khuyến khích xuấtkhẩu thì thuế xuất khẩu hoặc nhập khẩu thường được cơ quan quản lý cho phép nộp chậmsau khi khai báo với cơ quan hải quan tại cửa khẩu, do đó các khoản này thường chưađược tính phạt nộp chậm mà phải được theo dõi như là các khoản nợ trong hạn nộp

Thứ hai, nợ quá hạn:

Nợ trong nhóm này được phân loại như các khoản nợ thông thường theo tiêu thứcphân loại theo khả năng thu hồi nợ Có nghĩa là những khoản nợ đến hạn trả theo quyđịnh của pháp luật hoặc theo thông báo, được ghi trên quyết định của cơ quan thuế đếnhạn nộp mà chưa nộp thì được coi là nợ thuế, theo tiêu thức phân loại theo thời gian nợthì sẽ được coi là nợ quá hạn Tùy theo từng thời kỳ kinh tế mà người ta chia thành cáckhoản nợ nhỏ theo mức nợ, nhóm nợ khác nhau để có biện pháp quản lý phù hợp theocác nhóm ở trên

Căn cứ vào đối tượng nợ:

Trang 30

Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cónhiều thành phần kinh tế tham gia, góp phần đa dạng hóa nền kinh tế, thúc đẩy quá trìnhcạnh tranh và là động lực phát triển đất nước Tuy nhiên, về mặt quản lý của các cơ quanchức năng thì việc có nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh tế cũngtương ứng với việc quản lý sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp Việc quản lý thuế nói chung

và quản lý nợ thuế nói riêng cũng không phải là ngoại lệ

Vì vậy, căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành các nhóm nợkhác nhau như sau:

- Nợ thuế của doanh nghiệp Nhà nước;

- Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh;

- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;

- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể;

- Nợ thuế thu nhập của cá nhân;

- Nợ thuế của các đối tượng khác

Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ nợ thuế củatừng loại hình người nộp thuế Từ đó có biện pháp, chính sách để khuyến khích cácloại hình doanh nghiệp phát triển, đồng thời nghiên cứu những bất cập của nhóm nợkhác để có phương pháp quản lý hoặc xử lý phù hợp

Căn cứ vào tính chất nợ:

Thứ nhất, nợ chờ xử lý:

Khác với việc phân loại nợ theo các nhóm trên thì nợ chờ xử lý căn cứ vào tínhchất của khoản nợ và áp dụng đối với đối tượng nộp thuế đang tồn tại để phân loại Dovậy, các khoản nợ thuộc các trường hợp được đưa vào nhóm nợ chờ xử lý để theo dõithường bao gồm:

- Nợ đang chờ điều chỉnh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế do người nợ thuế

hoặc cơ quan thuế có sai sót khi kê khai thuế, tính thuế đang làm thủ tục để điều chỉnh lạihoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn số phát sinh Tức là, số tiền nợ do người nộpthuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theo quy định nhưng thực tế thuế phát sinh phảinộp thấp hơn so với số thuế đã kê khai tạm nộp, đang làm thủ tục điều chỉnh lại Ngoài ra,trong nhóm này còn có số tiền nợ do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, tiền thuế đã

Trang 31

nộp vào tài khoản thu NSNN nhưng do chứng từ luân chuyển chưa kịp thời hoặc thất lạcnên trên sổ thuế vẫn ghi nợ.

- Nợ đang xử lý miễn, giảm, xóa nợ: là số tiền nợ thuế của người nợ thuế đang trong

thời gian làm các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm, xóa nợ theo quy địnhcủa pháp luật về thuế; cá nhân được cơ quan pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất nănglực hành vi dân sự mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ; nợ của người

nợ thuế bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của Luật phásản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt Khi người nộp thuế đang có nợ thuế

do đến kỳ phải thực hiện kê khai thuế đúng hạn nhưng theo quy định của pháp luật về thuế

họ sẽ được miễn, giảm hoặc được xử lý cho ghi thu, ghi chi và đang làm thủ tục thì tạmthời đưa vào nhóm nợ chờ xử lý này để theo dõi chứ không áp dụng các biện pháp cưỡngchế thu nợ

- Theo quy định của pháp luật về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo thì trong quá trình

khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định xử lý, người nộp thuế vẫn phảinộp các khoản thuế vào NSNN Do đó, phát sinh thêm khoản nợ chờ xử lý do khiếu nạicủa người nộp thuế, xử lý thoái trả tiền thuế khi có quyết định chính thức của cơ quan

có thẩm quyền thì nợ này được đưa vào một trong hai nhóm nợ có khả năng thu hoặc

nợ không có khả năng thu

Nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đã được

xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làm các thủ tục tại cơ quan thuế

đã được xử lý giãn nợ theo quy định

Thứ hai, nợ thông thường:

Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng

đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp vào NSNN và khôngthuộc các trường hợp thuộc nhóm nợ chờ xử lý nêu trên

Thứ ba, nợ khó thu:

Tương tự cách phân loại vào khả năng thu hồi nợ của đối tượng nợ thì khó thu baogồm nợ của các đối tượng giải thể, phá sản hoặc đang trong giai đoạn thực hiện các thủtục giải thể, phá sản để giải quyết nợ theo trình tự của thủ tục giải thể, phá sản doanhnghiệp; hoặc nợ của đối tượng bỏ trốn, mất tích; của đối tượng bị khởi tố là số tiền thuế

Trang 32

nợ của đối tượng nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự liên quan đếnnghĩa vụ nộp thuế, đang thi hành án, đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan phápluật.

Đối với những người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì việc thu nợ sẽ gặp nhiềukhó khăn, người nộp thuế thường không có tiền trả nợ thuế hoặc không tìm được chủdoanh nghiệp, khi đó cơ quan thuế sẽ phải phụ thuộc vào kết quả xử lý của cơ quan cóthẩm quyền khác, do đó sẽ không chủ động trong việc đưa ra các biệp pháp thu nợ kịpthời Chính vì vậy, việc phân loại các nhóm nợ này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản

lý nợ đối với những trường hợp người nộp thuế rơi vào tình trạng này

1.2.2 Nội dung cơ bản quản lý nợ thuế

1.2.2.1 Quan niệm, vai trò và yêu cầu của quản lý nợ thuế

Quan niệm quản lý nợ thuế:

Để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào NSNN thì quản lý nợ thuế

là công tác quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung

Quản lý nợ thuế: là việc áp dụng các biện pháp và mô hình tổ chức quản lý của cơ

quan thuế nhằm phân loại nợ thuế, đánh giá thực trạng nợ, tổ chức thu nợ tại cơ quanthuế các cấp, để từ đó đưa ra các hình thức thu nợ thuế phù hợp nhằm thu đúng, thu đủthuế, tiết kiệm chi phí quản lý, phù hợp với từng đối tượng theo định hướng phát triểnkinh tế xã hội của Nhà nước từng thời kỳ

Khi chuẩn bị áp dụng một biện pháp thu nợ cụ thể thì ngoài việc phân loại cáckhoản nợ để thu nợ hiệu quả, cơ quan thuế thường đưa ra một mức tiền nợ khởi điểm đểquản lý khoản nợ đó Do vậy, số tiền nợ thuế của NNT tại một thời điểm ở một ngưỡngnhất định được gọi là mức nợ Việc chia ra thành các mức nợ thuế khác nhau giúp cho cơquan thuế có thể quản lý từng loại nợ với từng đối tượng từ đó áp dụng các biện pháp thu

nợ phù hợp đối với từng mức nợ nhất định Tương tự như cách phân loại mức nợ nhưtrên, cũng với một khoản nợ thì tuổi nợ được coi là khoảng thời gian liên tục từ khi nóphát sinh đến thời điểm khoản nợ đó được cơ quan thuế thống kê nó Việc thống kê theotuổi nợ cũng có ý nghĩa giúp cơ quan chức năng quản lý nợ thuế một cách khoa học và cócác biện pháp thu nợ phù hợp Việc phân ra mức nợ, tuổi nợ như trên có ý nghĩa quantrọng đối với biện pháp quản lý nợ thuế của cơ quan thuế

Trang 33

Vì vậy, trong quá trình quản lý nợ thuế, để đảm bảo thu đúng, chính xác, kịp thờitiền thuế vào NSNN, đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực của pháp luật thuế thì việc phân loại

nợ, kết hợp mức nợ và tuổi nợ có ý nghĩa quan trọng trong biện pháp quản lý thu nợ vàcưỡng chế nợ thuế của cơ quan thuế, nó là một trong những yếu tố đảm bảo các biệnpháp thu nợ của cơ quan thuế là chính xác, kịp thời

Vai trò của quản lý nợ thuế:

Quản lý nợ thuế có vai trò quan trọng trong quản lý thuế cũng như có vai trò tronghoạt động kinh tế xã hội Cụ thể là:

- Quản lý nợ thuế để quản lý, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ của đối tượng

nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy đủ, kịp thời vào NSNN; đảmbảo công bằng xã hội khi các cơ sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộpvào NSNN đúng hạn;

- Quản lý nợ thuế để đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của Nhà nước, chốngthất thoát NSNN Quản lý nợ đảm bảo các chính sách thuế được thực hiện đúng và triệt

để thông qua việc cơ quan thuế có các tác động, can thiệp kịp thời và xử lý nghiêm cáctrường hợp có hành vi vi phạm thời hạn nộp thuế nhằm nâng cao ý thức tuân thủ củangười nộp thuế;

- Việc quản lý nợ thuế để đảm bảo cơ quan thuế có biện pháp thu nợ phù hợp, hiệu

quả; mặt khác quản lý nợ là một thước đo để đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thuthuế, góp phần nâng cao hiệu quả của các chức năng khác như: thanh tra, kiểm tra chốngthất thu thuế

Yêu cầu của quản lý nợ thuế:

Quản lý nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng thì yêu cầu cơ bản và

quan trọng nhất của công tác này là phải quản lý đầy đủ, không bỏ sót các khoản thu củaNSNN, vì nếu quản lý không chặt chẽ, không bao quát hết các khoản thu sẽ gây thất thucho NSNN, khi đó sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế;

- Phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để cơ quan thuế có các biện phápquản lý phù hợp Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc phân loại nợ theo các tiêu thức

đã trình bày ở phần trên thì các tiêu thức phân loại phải được kết hợp với nhau một cách

Trang 34

hợp lý; qua đó cơ quan thuế sẽ đánh giá, xem xét và đưa ra các biện pháp thu nợ phù hợpvới từng ngành nghề, lĩnh vực, trong từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội;

- Phải đảm bảo thu nợ kịp thời, tránh thất thu NSNN Yêu cầu này là yêu cầu xuyênsuốt của công tác quản lý nợ thuế và là mục tiêu của công tác quản lý nợ thuế trong toànngành nói chung và của Chi cục thuế Thành phố Hải Dương nói riêng

1.2.2.2 Quy trình quản lý nợ thuế

Toàn bộ quy trình quản lý nợ thuế áp dụng tại Chi cục Thuế ở Việt Nam được thểhiện khái quát qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý nợ thuế áp dụng cấp Chi cục Thuế

Bước 1: Lập kế

hoạch thu nợ

- Xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý nợ năm

- Điều chỉnh chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý nợ năm

Bước 2: Thực

hiện quản lý nợ

và xử lý thu nợ

- Phân công công chức quản lý nợ

- Rà soát tiền nợ thuế để phân loại nợ và lập sổ theo rõi nợ

- Thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ

Bước 1: Lập kế hoạch thu nợ

Thứ nhất, xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu nợ:

- Căn cứ vào chỉ đạo hướng dẫn của Cục Thuế và tình hình thực hiện quản lý nợ thuế

ở địa phương để xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu nợ thuế năm saucủa toàn Chi cục Thuế, có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn Chi cục thuế thực hiện trong tháng

Trang 35

Trong quá trình thực hiện chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm, Chi cụcThuế có thể điều chỉnh, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm nếu có các nguyên nhân ảnhhưởng đến việc thực hiện các chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm Chi cục Thuếphải gửi văn bản điều chỉnh, trong đó nêu rõ nội dung cần điều chỉnh, lý do điều chỉnh gửiđến Cục Thuế Thời gian điều chỉnh chương trình Chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm, trướcngày 30/9 năm thực hiện.

Trang 36

Bước 2: Thực hiện quản lý nợ và xử lý thu nợ

Thứ nhất, phân công công chức quản lý nợ thuế:

Hàng tháng, trước ngày khóa sổ thuế một (01) ngày làm việc đội trưởng đội quản

lý nợ thuế có trách nhiệm phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý nợ thuế hoặccông chức tham gia quản lý nợ thuế

Phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý nợ hoặc công chức tham giathực hiện quy trình theo nguyên tắc sau:

Một là, đối với doanh nghiệp: Phân công nợ thuế cho công chức có kinh nghiệm

thuộc bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình theo loại hình doanhnghiệp, sắc thuế, ngành thuế, địa bàn hành chính, địa bàn thu và theo các phương thứcphù hợp khác

Hai là, đối với hộ kinh doanh và các nhân có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN: Phân

công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý nợ theo địa bàn thu như: Phường, xã, thịtrấn, bến tầu, bến xe, chợ

Ba là, đối với các khoản tiền thuế do các đoàn thanh tra, kiểm tra ra quyết định

truy thu, bộ phận thanh tra, kiểm tra đôn đốc đến 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế, bộphận quản lý nợ phối hợp với bộ phận thanh tra, kiểm tra đôn đốc các khoản tiền thuếtruy thu

Hàng tháng sau ngày khóa sổ thuế 01 ngày làm việc đội trưởng đội quản lý nợ vàđội trưởng có trách nhiệm: Đôn đốc, nhắc nhở công chức quản lý nợ Nếu có thay đổi gìtrong tháng về tình hình công chức ( như ốm, thuyên chuyển công tác hoặc thực hiệnluôn chuyển công việc) thực hiện phân công lại quản lý người nộp thuế: công chức quản

lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trình phải bàn giao đầy đủ hồ sơ của NNT đãđược phân công cho công chức tiếp nhận Việc bàn giao phải có biên bản xác nhận củalãnh đạo đội

Thứ hai, rà soát tiền nợ thuế để phân loại nợ thuế và lập sổ theo dõi nợ:

Căn cứ vào tiêu thức phân loại nợ thuế theo quy định của Cục Thuế, công chứcquản lý nợ thuế thực hiện rà soát từng trường hợp nợ của từng người nợ thuế còn nợ thuếtháng trước chuyển sang tháng sau và nợ mới phát sinh tháng này theo nguyên nhân, tìnhtrạng và tuổi nợ để phân loại các khoản nợ Công chức thực hiện việc phân loại phải chịu

Trang 37

trách nhiệm về tính chính xác của việc phân loại nợ.

Sau khi phân loại nợ, công chức quản lý nợ cập nhật kết quả phân loại nợ vào Sổtheo dõi nợ thuế của từng người nợ, chuyển cho bộ phận tổng hợp để tổng hợp nợ củatoàn bộ phận

Căn cứ vào sổ theo dõi thu nộp thuế của cơ quan thuế, công chức quản lý nợ thuếphải tiến hành lập và mở sổ theo dõi nợ thuế theo từng người nộp thuế để ghi chép, phảnánh toàn bộ tình hình nợ thuế của người nợ thuế từ bộ phận kê khai và kế toán thuếchuyển sang Sổ theo dõi nợ thuế được lập theo từng tháng Hàng tháng vào ngày làmviệc cuối cùng của tháng, căn cứ Sổ theo dõi nợ thuế, công chức quản lý nợ phải kếtchuyển Sổ theo dõi nợ sang tháng sau

Sau ngày 10 hàng tháng, bộ phận quản lý nợ thuế được giao nhiệm vụ tổng hợpcông tác quản lý thu nợ của Chi cục Thuế phải lập sổ tổng hợp theo dõi nợ thuế Bộ phậnquản lý nợ của Chi cục Thuế tổng hợp chung toàn Chi cục, đồng thời in và lưu Sổ tổnghợp theo dõi nợ thuế tại bộ phận quản lý nợ

Thứ ba, thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nộp nợ:

Căn cứ vào nhật ký theo rõi tiền nợ thuế, việc đối chiếu số liệu như sau:

Một là, đối với khoản nợ từ 01 đến 30 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp thuế, công

chức quản lý nợ thuế và công chức tham gia thực hiện quy trình thực hiện đôn đốc thunộp bằng hình thức gọi điện thoại, nhắn tin, gửi thư điện tử cho NNT hoặc người đại diệntheo pháp luật của NNT

Hai là, đối với những khoản nợ từ ngày thứ 31 trở lên, kể từ ngày hết hạn nộp

thuế công chức quản lý nợ thuế và công chức tham gia thực hiện quy trình thực hiện:

- Lập thông báo tiền nợ thuế và tiền tiền phạt chậm nộp; các khoản nợ thuế củangười nộp thuế bao gồm cả khoản nợ mới phát sinh từ 01 ngày trở lên Trình lãnh đạo cơquan phê duyệt Tại Chi cục thuế thì có thể ủy quyền cho Đội trưởng quản lý nợ thuếhoặc Đội trưởng tham gia thực hiện quy trình, ký

- Sau khi lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt, thông báo được lập thành các bản: 01bản gửi cho NNT, 01 lưu tại hồ sơ quản lý NNT, 01 gửi phòng, đội kê khai và kế toánthuế, 01 bản lưu văn thư và các phòng, đội có liên quan Khi phát hành, nếu mà có pháthiện sai sót gì, phòng , đội quản lý nợ thuế hoặc đội tham gia thực hiện quy trình phải ban

Trang 38

hành lại thông báo, trong đó nêu rõ thông báo này thay thế cho thông báo đã ban hành.Khi phát hành thông báo mười (10) ngày làm việc, nếu NNT chưa nộp tiền nợ thuế vàoNSNN thì đội quản lý nợ thuế; đội tham gia thực hiện các công việc sau:

+ Mời NNT hoặc người đại diện pháp luật của NNT đến làm việc tại trụ sở CQThoặc làm việc trực tiếp tại trụ sở của NNT; Trường hợp sau thời hạn mời làm việc một(01) ngày mà NNT không đến CQT hoặc đến nhưng không giải trình đầy đủ hoặc không

bổ sung thông tin, tài liệu thì tổ chức làm việc trực tiếp tại trụ sở của NNT; Khi đến làmviệc phải có giấy giới thiệu của Chi cục Thuế;

+ Đối với NNT qua ủy nhiệm thu thì đội thuế xã, phường trình lãnh đạo Chi cụcThuế mời đại diện đơn vị được ủy nhiệm thu và NNT đến làm việc tại trụ sở CQT để nắmthông tin về tình hình SXK, tình hình tài chính và các nguyên nhân dẫn đến tình trạngchậm nộp tiền thuế

- Sau khi làm việc lập biên bản ghi nhận kết quả, đồng thời, tại biên bản phải yêucầu NNT cam kết thực hiện nộp thuế trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế

- Đối với khoản tiền nợ thuế trên 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế; Khoảntiền nợ thuế đã quá thời hạn nộp thuế; NNT có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn thì độiquản lý nợ thuế lập thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế nợp thuế

- Đối với nhóm tiền thuế đã nộp NSNN đang điều chỉnh không ban hành thôngbáo tiền nợ thuế và tiền phạt chậm nộp

Hàng ngày, công chức quản lý nợ thuế và công chức tham gia thực hiện quy trìnhphải nghi chi tiết về thời gian và các bước công việc đã thực hiện vào nhật ký theo dõitiền nợ thuế của từng NNT

Thứ tư, phân tích đánh giá và xử lý nợ:

Căn cứ vào sổ theo dõi nợ thuế, công chức được phân công theo dõi và quản lý nợphải thực hiện các công việc sau:

Một là, đối với nhóm nợ khó thu

Căn cứ vào sổ theo dõi nợ thuế, công chức được phân công theo dõi và quản lýcác trường hợp thuộc nhóm nợ khó thu phải thực hiện các công việc cụ thể cho từngtrường hợp nợ như sau:

- Người nộp thuế được pháp luật coi là đã chết: giấy chứng nhận tử hoặc giấy báo

Trang 39

tử hoặc các giấy tờ thay cho giấy báo tử theo quy định của pháp luật về đăng ký và quản

lý hộ tịch, quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết Người nộp thuế đượcpháp luật coi là mất tích, quyết định tuyên bố mất tích

- Người nộp thuế được pháp luật coi là mất năng lục hành vi dân sự: quy định củaTòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám địnhhoặc xác nhận của chính quyền địa phương hoặc cơ quan công an nơi người nộp thuếsinh sống về tình trạng mất năng lực hành vi dân sự Người nộp thuế liên quan đến tráchnhiệm hình sự: Quyết định khới tố hình sự

- Người nộp thuế chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh: Văn bản đề nghị chấmdứt hoạt động kinh doanh của người nộp thuế gửi cơ quan thuế

- Người nộp thuế lâm vào tình trạng phá sản: quyết định tuyên bố phá sản của Tòa

án có thẩm quyền; hồ sơ mở thủ tục phá sản Đối với nợ khó thu khác: các thông báo,quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ thuế

- Người nộp thuế không còn hoạt động kinh doanh tại địa bàn quản lý: văn bảnxác nhận giữa cơ quan thuế và cơ quan công an hoặc giữa cơ quan thuế và chính quyềnđịa phương về tình trạng hoạt động của người nộp thuế Người nộp thuế đã giải thể:quyết định giải thể doanh nghiệp

Hai là, đối với nợ chờ xử lý

- Chờ miễn, giảm: Văn bản, hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền thuế đầy đủ, hợp pháp.Chờ xóa nợ: Văn bản và hồ sơ đề nghị xóa nợ thuế của người nộp thuế hoặc cơ quan thuế.Chờ gia hạn nộp thuế: văn bản và hồ sơ đề nghị gia hạn nộp thuế của người nộp thuế

- Chờ xử lý bù trừ các khoản nợ NSNN với số tiền thuế được hoàn trả: giấy đềnghị hoàn trả khoản thu NSNN, trong đó ghi rõ nội dung phần đề nghị gia hạn nộp thuếcủa người nộp thuế

Ba là, đối với nhóm nợ có khả năng thu

Đối với nhóm nợ này cần thực hiện hai nội dung cụ thể sau:

- Lập kế hoạch phải thu nợ trong kỳ: hàng tháng trên cơ sở công việc được phâncông, công chức thuộc bộ phận quản lý nợ cấp Chi cục Thuế căn cứ vào tình hình nợ và

Sổ theo dõi nợ của NNT để xác định danh sách NNT phải thực hiện các biện pháp thu nợtrong kỳ Danh sách phải được gửi cho phụ trách bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ

Trang 40

thuế để báo cáo.

- Lập nhật ký thu nợ: công chức được phân công thu nợ phải lập Nhật ký theo dõithu nợ trước khi tiến hành đôn đốc thu nợ Nhật ký phải được lập riêng cho từng NNT, đểtheo dõi từng khoản nợ phải đôn đốc thu và ghi chép tất cả các biện pháp đôn đốc thu đốivới tưng khoản nợ vào nhật ký ngay sau khi thực hiện biện pháp thu nợ

Bốn là, thực hiện các biện pháp xử lý nợ khác theo pháp luật

Các trường hợp nợ thuế được áp dụng biện pháp thu nợ nêu trên, nếu người nộpthuế không nộp nợ thuế đúng hạn, cơ quan thuế xem xét nguyên nhân để xử lý theo phápluật như: Xem xét ra hạn nộp thuế, thực hiện biện pháp thu nợ đối với trường hợp ngườinộp thuế được hoàn trả tiền thuế; điều chỉnh thứ tự thu nợ thuế, tiền phạt chậm nộp; thựchiện các biện pháp cưỡng chế thu tiền nợ thuế, tiền phạt

Thư năm, lưu hồ sơ:

Hồ sơ liên quan đến công tác thu nợ thuế được lưu theo từng người nợ thuế vàtheo từng đơn vị quản lý

Hồ sơ về tình hình nợ thuế của người nợ thuế gồm: Sổ theo dõi nợ thuế hàngtháng, thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp tiền thuế, các quyết định, thông báo

áp dụng các biện pháp thu nợ và xử lý nợ, các giấy tờ, sổ sách, tài liệu khác liên quan đếntình hình nợ thuế của NNT

Hồ sơ về công tác thu nợ thuế của đơn vị quản lý nợ gồm: Các Sổ theo dõi tìnhhình nợ thuế hàng tháng, nhật ký đôn đốc nợ, các báo cáo của đơn vị và báo cáo tổng hợp

số 01-QTR-QLN, Báo cáo tổng hợp phân loại nợ thuế theo mẫu số 08-QTR-QLN, Báo cáotổng hợp xoá nợ thuế theo mẫu số 09-QTR-QLN ban hành kèm theo quy trình này

Thời hạn lập và gửi báo cáo về Cục Thuế như sau:

Ngày đăng: 24/06/2019, 11:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2010), Quyết định số 503/QĐ/TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế quy định chức năng, nhiệm vụ của các đội thuộc Chi cục Thuế Khác
2. Bộ Tài chính (2011), Quyết định số 586/QĐ-BTC ngày 11/3/2011 về việc công bố bổ sung các thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính(11/03/2011) Khác
3. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ Khác
4. Bộ Tài chính (2011), Dự thảo 20.12: Tờ trình chính phủ về Dự án Luật sửa đồi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế Khác
5. Bộ Tài chính (2013), Thông tư số 215/TT-BTC ngày 31/12/2013 về việc hướng dẫn cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Khác
6. Cục Thuế tỉnh Hải Dương (2014), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2013 7. Học viện Tài chính (2005), Giáo trình Quản lý tài chính công, NXB Tài chính 8. Tổng cục Thuế (2009), Quyết định số 490/QĐ-TCT ngày 08/05/2009 về việc banhành quy trình cưỡng chế nợ thuế ban hành Khác
9. Tổng cục Thuế (2011), Quyết định số số 1395/QĐ-TCT ban hành ngày14/10/2011 về việc ban hành quy trình quản lý nợ thuế Khác
10. Tổng cục Thuế (2014), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2013 11. Tổng cục Thuế (2015), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2014 Khác
12. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 732/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/5/2011 v/v phê duyệt chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 Khác
13. UBND Thành phố Hải Dương (2014), Báo cáo tổng kết kinh tế xã hội năm 2014 Khác
14. Các trang website: www.tapchithue.com www.gdt.gov.vn www.mof.gov.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w