Tính cấp thiết của đề tài Quản lý xây dựng đô thị phù hợp quy hoạch hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước nói chung và công tác xây dựng nói riêng đang là những vấn đề, nội d
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN HOÀNG HÀ
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
XÂY DỰNG ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN TỈNH KHÁNH HÒA
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Lê Thị Hương
HÀ NỘI, 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị từ thực tiễn tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Hương Các tư liệu, số liệu được sử dụng trong luận văn này đều được tác giả sưu tầm, phân tích và có trích dẫn đầy đủ nguồn theo đúng quy định Nội dung của luận văn không sao chép bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan nói trên
Tác giả
Phan Hoàng Hà
Trang 3HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG ĐÔ THỊ ……… 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực xây dựng đô thị ……… 7 1.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BBVPHC : Biên bản vi phạm hành chính BPKPHQ : Biện pháp khắc phục hậu quả BPXLHC : Biện pháp xử lý hành chính CQHCNN : Cơ quan hành chính nhà nước GPXD : Giấy phép xây dựng
QLHCNN : Quản lý hành chính nhà nước QLNN : Quản lý nhà nước
UBND : Ủy ban nhân dân VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật VPHC : Vi phạm hành chính
VPPL : Vi phạm pháp luật XLVPHC : Xử lý vi phạm hành chính XPVPHC : Xử phạt vi phạm hành chính
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý xây dựng đô thị phù hợp quy hoạch hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước nói chung và công tác xây dựng nói riêng đang là những vấn đề, nội dung quan trọng được các cấp, các ngành quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện, trong đó nhằm hạn chế các vi phạm thì việc xử lí vi phạm hành chính (XLVPHC) trong lĩnh vực xây dựng đang là vấn đề cấp thiết đòi hỏi cần được hoàn thiện, phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý hành chính nhà nước của mỗi cấp chính quyền, góp phần tích cực trong việc quản lý xây dựng hiện nay ở nước ta
Trong những năm đổi mới, ngành xây dựng đã hoàn thành nhiều công trình do Nhà nước đầu tư xây dựng, cải tạo đã làm thay đổi diện mạo đất nước, góp phần quan trọng bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của toàn xã hội
Cùng với việc đầu tư các nguồn lực xã hội cho phát triển các công trình xây dựng ở đô thị, Nhà nước cũng không ngừng hoàn thiện khung thể chế về trật tự xây dựng đô thị Một trong các biện pháp hữu hiệu được Nhà nước chú trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng đô thị là xử lý các vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực xây dựng đô thị Các văn bản quan trọng liên quan đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị là: Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Xây dựng năm 2014; Nghị định số 81/2013/NĐ-
CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị; Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính
trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh
vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và
Trang 6công sở, Đây chính là những cơ sở pháp lý tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội nói chung, trong lĩnh vực xây dựng đô thị nói riêng
Bên cạnh những hoạt động xây dựng được đầu tư và xây dựng tuân thủ quy định của pháp luật thì tình hình VPHC trong lĩnh vực xây dựng nói chung, xây dựng
đô thị nói riêng xảy ra ngày càng nhiều gây thất thoát nghiêm trọng cho ngân sách nhà nước, làm ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan đô thị Nhiều dự án vi phạm quy định về thẩm định dự án; vi phạm về quy chế đấu thầu; thi công sai thiết kế, sai chủng loại vật tư, thiết bị, không phê duyệt khối lượng phát sinh, vi phạm về trình
tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng, về quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh toán công trình còn chậm; vi phạm về thiết kế, khảo sát; vi phạm quy định trong giai đoạn chuẩn bị đưa công trình vào khai thác, sử dụng Tình trạng xây dựng sai phép, không phép, xây dựng trên đất nông nghiệp, đất lấn chiếm vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và quy mô xây dựng gây ảnh hưởng tới cảnh quan, môi trường đô thị, thậm chí đã xảy ra các sự cố nghiêm trọng gây thiệt hại cả về người và của nhưng kết quả phát hiện, xử lý của các cơ quan chức năng còn thấp
Cũng giống như nhiều địa phương khác trên cả nước, tỉnh Khánh hòa cũng đang trong quá trình đô thị hóa rất nhanh Điều đó ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của địa phương, góp phần khẳng định vị thế của Khánh Hòa trên bản đồ Việt nam cũng như quốc tế
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì hoạt động xây dựng đô thị ở Khánh Hòa cũng còn nhiều bất cập Tình hình VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị diễn
ra ở mọi lúc, mọi nơi làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước (QLNN) Thực trạng đó có nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến hệ thống pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập; từ đó, tình trạng lấn chiếm đất công, xây dựng không phép hoặc trái phép, đặc biệt tình hình vi phạm trật tự xây dựng, diễn ra khá phổ biến Do đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về XLVPHC và thực tiễn thi hành XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị ngày càng trở nên cấp bách và cần thiết; qua đó, kịp
Trang 7thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc và đề xuất kiến nghị các giải pháp thực
hiện để hoàn thiện hệ thống pháp luật Đó là lý do tác giả chọn đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị từ thực tiễn tỉnh Khánh Hòa”
làm Luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan tới đề tài luận văn, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài báo trên tạp chí chuyên ngành và tại các hội thảo khoa học về XLVPHC nói chung Có thể kể ra một số công trình như:
- Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của GS.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS Đinh Văn Mậu, Nxb Giao thông Vận tải, năm 2009; Giáo trình Luật Hành
chính Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2010; Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Hà Nội, năm 2013; Bình luận khoa học Luật Xử lý vi
phạm hành chính năm 2012 do PGS TS Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên, Nxb Hồng
Đức, 2017; Tìm hiểu pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính do ThS Đặng Thanh
Sơn chủ biên, Nxb Tư pháp, năm 2016…
Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều luận văn thạc sỹ đã quan tâm đến chủ đề này như:
- Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị - Từ thực tiễn ở thành phố Thái Nguyên, Phạm Xuân Đương (2006), Luận văn QLHC công, Học viện Hành chính
Quốc gia, Hà Nội Luận văn đã phân tích nội dung QLNN về trật tự xây dựng đô thị
và đánh giá thực trạng này tại thành phố Thái Nguyên, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm bảo đảm QLNN về trật tự xây dựng đô thị
- Trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng từ thực tiễn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học của Đỗ Vượng,
Học viện khoa học xã hội, năm 2012 Tác giả luận văn đã luận bàn về các biện pháp
trách nhiệm pháp lý đối với VPHC trong lĩnh vực xây dựng từ khái niệm đến các
quy định của pháp luật, đồng thời liên hệ thực tiễn tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh,
từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện
Trang 8- Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng - Liên hệ thực tiễn tại quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Nguyễn Quốc Thành, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công,
Học viên Hành chính Quốc gia, năm 2008 Tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và cơ
sở pháp lý về QLNN trong lĩnh vực xây dựng và đề xuất các giải pháp để tăng cường quản lý nhà nước về trật tự xây dựng thực tiễn tại quận Ba Đình, thành phố
Hà Nội
- Quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn quận Liên Chiểu, Thành phố
Đà Nẵng, Phạm Văn Trường, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội,
năm 2011 Cũng chủ đề quản lý nhà nước về trật tự đô thị nhưng công trình này lại
khai thác dưới góc độ Luật học và gắn với một địa phương cụ thể là quận Liên Chiển, Thành phố Đà Nẵng
- Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở thành phố Đồng Hới,
tỉnh Quảng Bình, Lê Duy Lĩnh 2015, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện
Hành chính quốc gia Tác giả cho rằng, VPHC trong lĩnh vực xây dựng là một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm, nó ảnh hưởng sâu rộng đến QLNN về trật tự đô thị Luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về VPHC, XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng, phân tích đánh giá thực trạng VPHC về xây dựng,
từ đó đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường phòng, chống và XLVPHC
về xây dựng ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Có thể nói rằng, chủ đề nghiên cứu của tác giả là vấn đề không mới, đã có nhiều công trình đề cập ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, qua tìm hiểu, rà soát
thì việc nghiên cứu đề tài “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị từ thực tiễn tỉnh Khánh Hòa” dưới góc độ Luật Hiến pháp và luật Hành chính
thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Do vậy, luận văn sẽ kế thừa một phần cơ sở lý luận của các nghiên cứu trên, đồng thời phản ánh thực trạng VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị tại tỉnh Khánh Hòa, nhằm cung cấp luận cứ khoa học
và thực tiễn cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật XLVPHC về xây dựng đô thị, cũng như phòng, chống VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 93.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật và thực tiễn XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị tại tỉnh Khánh Hòa, tác giả Luận văn
đề xuất những giải pháp bảo đảm XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích cụ thể nói trên, Luận văn có nhiệm vụ chủ yếu:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và pháp lý về XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị ở tỉnh Khánh Hòa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
- Về không gian: Tỉnh Khánh Hòa
- Về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật nói chung, đồng thời dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật nói chung, QLNN đối với xây dựng đô thị, trong đó có XLVPHC về xây dựng đô thị nói riêng
- Về phương pháp nghiên cứu, Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu chủ yếu cụ thể như:
Trang 10+ Phương pháp phân tích, so sánh và bình luận: Được sử dụng để phân tích các quy định của pháp luật, so sánh với thực tế và đưa ra các bình luận khoa học tại Chương 1; phân tích các tình huống thực tiễn tại Chương 2 để làm căn cứ đưa ra các kết luận khi nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị
+ Phương pháp thống kê: Được sử dụng trong luận văn để thống kê tình hình VPHC và XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị tại Chương 2
+ Phương pháp quy nạp: Sử dụng các kết quả nghiên cứu đã công bố để đề xuất giải pháp tại Chương 3
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu cơ bản, hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị Từ đó, đề ra các phương hướng, giải pháp bảo đảm XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị, không chỉ có ý nghĩa đối với thực hiện pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị, mà còn
có ý nghĩa trong nghiên cứu bảo đảm thực hiện pháp luật nói chung, góp phần hoàn thiện cơ chế thực hiện và bảo vệ pháp luật, giáo dục pháp luật theo chủ trương, đường lối của Đảng hiện nay Đồng thời, Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho học viên, sinh viên chuyên ngành Luật Hành chính và những ai quan tâm đến đề tài này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung gồm
03 chương theo bố cục như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Chương 2: Thực trạng vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị ở tỉnh Khánh Hòa
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị từ thực tiễn tỉnh Khánh Hòa
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG ĐÔ THỊ
1.1 Khái niệm và đặc điểm vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
1.1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội năm 1995 thì đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp,
cơ sơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện
Việt Nam quy định đô thị là những thành phố, quận, huyện, thị xã, thị trấn, với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thấp hơn
Khoản 1 Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17/6/2009 (có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/2010) quy định: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh
sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn
Khoản 21 Điều 3 Luật Xây dựng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2014 (có
Trang 12hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015) quy định: Hoạt động xây dựng gồm lập quy
hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình
Hoạt động đầu tư xây dựng công trình là quá trình tiến hành các hoạt động xây
dựng gồm xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, triển khai công trình xây dựng 1
Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Vi phạm hành chính
là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC)
Định nghĩa trên đưa ra các dấu hiệu pháp lý cơ bản của VPHC, đó là: Tính xâm phạm các quy tắc QLNN, tính trái pháp luật hành chính, tính có lỗi và phải bị XPVPHC
Từ khái niệm đô thị, hoạt động xây dựng và khái niệm VPHC như đã phân
tích ở trên có thể hiểu: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị là các
hành vi vi phạm pháp luật về hoạt động xây dựng do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bị xử phạt vi phạm hành chính
1.1.1.2 Đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là một hành vi cụ thể của VPHC nên cũng có những đặc điểm như VPHC và những đặc điểm cụ thể của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị, đó là:
Thứ nhất, hành vi xâm hại đến trật tự QLNN trong lĩnh vực xây dựng đô thị,
phá vỡ trật tự hành chính đang được duy trì và bảo vệ, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả QLNN trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Thứ hai, chủ thể của hành vi VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là cá nhân,
tổ chức
1 Khoản 20 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014
Trang 13Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của VPHC phải là người có năng lực trách nhiệm pháp lý Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể do nhà nước quy định Thông thường, Nhà nước chỉ quy định sự độc lập phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đối với những người có khả năng tự lựa chọn được cách xử sự và có tự do ý chí, nói khác đi, người đó phải có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình,
có điều kiện lựa chọn và quyết định cách xử sự cho mình và chịu trách nhiệm độc lập về hành vi của mình Do vậy, pháp luật chỉ quy định năng lực trách nhiệm pháp
lý cho những người đã đạt được một độ tuổi nhất định, có khả năng lý trí và có tự
do ý chí, không bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự, không có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi 2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị XPVPHC về VPHC do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị XPVPHC về mọi VPHC Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân VPHC thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý3
Điểm b khoản 3 Điều 2 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định XPVPHC trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà
ở, quản lý sử dụng nhà và công sở (Nghị định số 139/2017/NĐ-CP) quy định: Hộ gia đình, cộng đồng dân cư, cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài, cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được gọi chung là cá nhân
Tổ chức là chủ thể của VPHC là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được
2 Điều 22, 23, 24 Bộ luật Dân sự năm 2015
3 Điểm a khoản 1 Điều 5 Luật XLVPHC
Trang 14thành lập theo quy định của pháp luật 4 Tổ chức bị XPVPHC về mọi VPHC do mình gây ra5
Tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp được gọi chung là tổ chức Tổ chức có thể có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân 6 Trách nhiệm pháp lý hành chính phát sinh như một tất yếu khách quan, có nghĩa là khi thực hiện hành vi VPHC, cá nhân, tổ chức phải chịu những hình thức
xử lý do pháp luật quy định Trách nhiệm hành chính tồn tại dưới hình thức các chế tài hành chính, thông thường là phạt tiền, cảnh cáo và các biện pháp xử lý hành chính (BPXLHC) khác
Ba là, VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị xâm hại đến các quan hệ xã hội
được pháp luật xây dựng bảo vệ Nói cách khác, khách thể của VPHC này là các quan hệ xã hội về quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng bị hành vi vi phạm xâm hại đến
1.1.2 Cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là một loại VPHC cụ thể, do đó nó cũng bao gồm các yếu tố cấu thành pháp lý là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể Dưới đây, các dấu hiệu và yếu tố cấu thành pháp lý của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị sẽ được xem xét trong mối quan hệ thống nhất với nhau
1.1.2.1 Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Mặt khách quan của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là những biểu hiện
ra bên ngoài thế giới khách quan của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị Thông thường, các biểu hiện ra bên ngoài của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện hay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi VPHC
và hậu quả của VPHC
VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị không chỉ xem xét trên cơ sở thiệt hại thực tế mà chính sự phá vỡ, đi ngược lại với trật tự quản lý về xây dựng đã được
4 Khoản 10 Điều 2 Luật XLVPHC
5 Điểm b khoản 1 Điều 5 Luật XLVPHC
6 Điểm a khoản 3 Điều 2 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
Trang 15pháp luật về xây dựng điều chỉnh; xâm hại hoặc đe doạ xâm hại các quan hệ đã được pháp luật quy định thành quy tắc QLNN
Xuất phát từ tính đa dạng và phong phú của các hoạt động bảo vệ trật tự an toàn xây dựng, nên VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị được pháp luật quy định
có đặc điểm khá rộng và đa dạng tương ứng với các nội dung được pháp luật về xây dựng bảo vệ Đặc điểm này được thể hiện tập trung ở các hành vi được quy định tại Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn
Ngoài ra, khi nghiên cứu mặt khách quan của VPHC trong lĩnh vực xây dựng
đô thị trong một số trường hợp cần xem xét thêm một số dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện thực hiện hành vi vi phạm
1.1.2.2 Mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị Mặt chủ quan của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm, gồm: Lỗi, động cơ và mục đích
Lỗi là trạng thái tâm lý, là ý chí chủ quan của con người đối với hành vi vi phạm và hậu quả do hành vi đó gây ra được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Vì vậy phải xét yếu tố lỗi chính xác để xác định được hình thức xử lý phù hợp với hành
vi VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Khi xem xét VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị cũng cần phải xem xét đến năng lực trách nhiệm pháp lý và trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi VPHC Tuy nhiên, hoạt động xây dựng là hoạt động đặc thù, phức tạp, nó diễn ra ở nhiều khâu khác nhau và cần phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật nhất định, mang tính chất tư duy cao của con người Các chủ thể (cá nhân hoặc tổ chức) tham gia hoạt động xây dựng nhận thức được hành vi của mình, có kế hoạch chi tiết và tính toán kỹ lưỡng để đạt mục đích Do đó, chủ thể tham gia hoạt động xây dựng là những chủ thể có năng lực hành vi Ở góc độ trạng thái tâm lý của chủ thể hoạt động xây dựng, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh thực hiện hành vi của chủ thể để xác định tính có lỗi của hành vi vi phạm
Khác với những loại vi phạm pháp luật khác, tính có lỗi của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị thường là lỗi cố ý Chủ thể vi phạm nhận thức được hành vi
Trang 16của mình là vi phạm pháp luật và không được thực hiện, nếu thực hiện sẽ bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý nhưng vẫn cố ý thực hiện làm trái và tìm mọi biện pháp để né tránh việc bị kiểm tra, phát hiện và bắt lỗi của hành vi vi phạm; đồng thời lợi dụng mọi kẽ hở của pháp luật, sự yếu kém, thiếu sót của cơ quan QLNN để hạn chế việc bị xử lý VPHC
Tính có lỗi của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị còn là tính chấp nhận, tính đánh đổi Các chủ thể trước khi thực hiện hành vi vi phạm đã tính toán và chấp nhận thiệt hại khi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý VPHC để công trình vi phạm được xây dựng và tồn tại Trường hợp này thường xảy ra đối với công trình xây dựng sai giấy phép, sai thiết kế được phê duyệt; chủ thể vi phạm chấp nhận chịu mức phạt tiền mà pháp luật quy định Đối với công trình xây dựng không phép, chủ thể vi phạm còn chấp nhận mạo hiểm hơn vì công trình vi phạm có thể bị xử lý cưỡng chế dỡ bỏ, buộc khôi phục lại hiện trạng ban đầu
1.1.2.3 Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Chủ thể của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính
Như đã phân tích ở trên 7, chủ thể của hành vi VPHC trong lĩnh vực xây dựng
đô thị là cá nhân, tổ chức
VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật về xây dựng bảo vệ Do vậy, chủ thể của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là những cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể Những hành vi này đều xâm hại đến các quan hệ pháp luật về xây dựng đô thị đang được duy trì, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả QLNN Song do tính chất và mức độ xâm hại của hành vi chưa đến mức nguy hiểm cho xã hội để trở thành tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.8
1.1.2.4 Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị Khách thể của VPHC là những quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo
7 Điểm b, khoản 1.1.1.2 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
8 Bùi Xuân Đức (2006), “Về vi phạm hành chính và hình thức xử phạt hành chính: những hạn chế và giải pháp đổi mới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (2), tr 18-25
Trang 17vệ, nhưng bị hành vi VPHC xâm hại Các quan hệ xã hội bị hoặc có thể bị VPHC xâm phạm rất đa dạng, đó là: trật tự nhà nước và xã hội, sở hữu xã hội chủ nghĩa, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, …
Khách thể của VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị ở đây là trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực xây dựng đô thị
1.1.3 Các loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Hiện nay, các loại hành vi VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị được quy định tại Chương II Nghị định số 139/2017/NĐ-CP, được chia thành các nhóm hành
vi như sau:
1.1.3.1 Những hành vi vi phạm hành chính do chủ đầu tư thực hiện
Trong lĩnh vực xây dựng đô thị, chủ đầu tư xây dựng là một trong những chủ thể quan trọng nhất, quyết định đến mục đích, yêu cầu của hoạt động xây dựng đô thị Những hành vi vi phạm của chủ đầu tư trong lĩnh vực xây dựng đô thị bao gồm:
- Vi phạm quy định về lựa chọn tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện, năng lực tham gia hoạt động xây dựng; Để nhà thầu nước ngoài tham gia hoạt động xây dựng khi chưa được cấp giấy phép hoạt động xây dựng theo quy định
- Vi phạm quy định về khảo sát xây dựng như9: Không thông báo bằng văn bản việc chấp thuận hoặc không chấp thuận nghiệm thu báo cáo kết quả khảo sát xây dựng theo quy định; Phê duyệt báo cáo kết quả khảo sát xây dựng khi chưa có văn bản thông báo chấp thuận nghiệm thu báo cáo kết quả khảo sát xây dựng; Không nghiệm thu hoặc không phê duyệt vào báo cáo kết quả khảo sát xây dựng theo quy định; Không tổ chức lập hoặc phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng; Không tổ chức lập hoặc phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng; Không phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng bổ sung trước khi nhà thầu thực hiện khảo sát xây dựng đối với các phần việc phát sinh…
- Vi phạm quy định về lập quy hoạch xây dựng gồm10: Lập nhiệm vụ quy hoạch xây dựng, đồ án quy hoạch xây dựng, nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch xây
9 Điều 8 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
10 Điều 9 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
Trang 18dựng hoặc đồ án điều chỉnh quy hoạch xây dựng không đúng trình tự, thủ tục quy định; Không lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ quy hoạch xây dựng, đồ án quy hoạch xây dựng, nhiệm vụ quy hoạch xây dựng điều chỉnh hoặc đồ án điều chỉnh quy hoạch xây dựng theo quy định
- Vi phạm quy định về điều chỉnh quy hoạch xây dựng gồm11: Điều chỉnh quy hoạch xây dựng không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng; Điều chỉnh quy hoạch xây dựng đối với một lô đất trong khu vực quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt làm thay đổi mật độ xây dựng hoặc mật độ dân
số, dẫn đến làm vượt khả năng cung cấp hạ tầng kỹ thuật hoặc hạ tầng xã hội của đô thị, khu vực
- Vi phạm quy định về thiết kế, dự toán xây dựng công trình gồm12: Không lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình theo quy định; Phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình không đúng trình tự, thủ tục hoặc quy cách hồ sơ thiết kế theo quy định; Không phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình theo quy định; Không tổ chức nghiệm thu hoặc tổ chức nghiệm thu hồ sơ thiết kế xây dựng không đúng quy định; Không tổ chức lập hoặc phê duyệt chỉ dẫn kỹ thuật đối với công trình buộc phải lập chỉ dẫn kỹ thuật; Không tổ chức thi tuyển hoặc tuyển chọn thiết
kế kiến trúc đối với các công trình yêu cầu phải thi tuyển hoặc tuyển chọn thiết kế kiến trúc; Không gửi cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định thiết kế xây dựng theo quy định
- Vi phạm quy định về đầu tư phát triển đô thị gồm các hành vi sau13:
+ Hành vi: Thực hiện đầu tư phát triển khu đô thị không tuân theo kế hoạch hoặc chậm so với tiến độ được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Chậm bàn giao dự án theo tiến độ đã được phê duyệt
+ Hành vi: Để chủ đầu tư thứ cấp thực hiện đầu tư xây dựng không phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng hoặc tiến độ dự án đã được phê duyệt (nếu có);
11 Điều 10 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
12 Điều 12 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
13 Điều 13 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
Trang 19Thay đổi chủ đầu tư cấp 1 mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản; Điều chỉnh dự án mà chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét chấp thuận; Không hoàn thành thủ tục để được công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công trình theo quy định đối với công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng; Không tổ chức khai thác cung cấp dịch vụ đô thị đảm bảo phục
vụ nhu cầu của dân cư đến ở theo đúng mục tiêu của dự án cho đến khi chuyển giao cho chính quyền hoặc các tổ chức, doanh nghiệp quản lý dịch vụ chuyên nghiệp
- Vi phạm quy định về nghiệm thu, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình như14: Để cán bộ giám sát thi công thực hiện giám sát hoặc ký các tài liệu trong hồ sơ nghiệm thu mà không có chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng công trình hoặc không phù hợp với lĩnh vực hành nghề, loại công trình, hạng hoặc thời hạn hành nghề theo chứng chỉ được cấp; Nghiệm thu không đúng trình tự, thủ tục quy định; Không gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền đề nghị kiểm tra công tác nghiệm thu theo quy định
- Vi phạm quy định về bảo hành, bảo trì, khai thác, sử dụng công trình xây dựng15: Không phê duyệt quy trình bảo trì công trình xây dựng theo quy định; Không tổ chức giám sát, nghiệm thu việc khắc phục, sửa chữa của nhà thầu thi công xây dựng, nhà thầu cung ứng thiết bị công trình xây dựng; Không tổ chức lập quy trình bảo trì công trình xây dựng hoặc không thực hiện bảo trì công trình theo đúng quy trình được duyệt; Không lập kế hoạch bảo trì công trình xây dựng hằng năm theo quy định; Không lập hồ sơ sửa chữa công trình theo quy định; Không bàn giao, bàn giao chậm hoặc bàn giao không đầy đủ quy trình bảo trì công trình xây dựng được duyệt cho chủ sở hữu, đơn vị quản lý sử dụng công trình; Không lập, thẩm định, phê duyệt dự toán bảo trì đối với công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước
- Vi phạm quy định về quản lý, lưu trữ hồ sơ gồm các hành vi 16: Không lưu trữ hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng hoặc lưu trữ không đầy đủ danh mục tài
14 Điều 17 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
15 Điều 19 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
16 Điều 20 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
Trang 20liệu theo quy định; Không lưu trữ hoặc lưu trữ không đầy đủ hồ sơ đồ án quy hoạch xây dựng theo quy định
- Vi phạm quy định về sự cố công trình gồm17: Không báo cáo cơ quan có thẩm quyền theo quy định khi xảy ra sự cố công trình; Không tổ chức bảo vệ hiện trường sự cố công trình hoặc tự ý phá dỡ, thu dọn hiện trường khi chưa được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận; Không lập hồ sơ sự cố công trình theo quy định 1.1.3.2 Những hành vi vi phạm hành chính của nhà thầu
Nhà thầu trong hoạt động xây dựng đô thị là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng đô thị Nhà thầu là một chủ thể tham gia vào hoạt động xây dựng đô thị với vai trò là người thực hiện thiết kế; khảo sát; giám sát; thi công công trình xây dựng… theo hợp đồng thoả thuận với chủ đầu tư Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định các tiêu chuẩn về năng lực hoạt động của nhà thầu xây dựng
và cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng Nhóm các hành vi VPHC của nhà thầu gồm:
- Vi phạm quy định về điều kiện hoạt động xây dựng18: Cá nhân hoạt động xây dựng không đủ điều kiện năng lực theo quy định hoặc sai chứng chỉ hành nghề hoặc không có chứng chỉ hành nghề hoặc chứng chỉ hành nghề đã hết hiệu lực; Tổ chức hoạt động xây dựng không có chứng chỉ hành nghề hoặc không đủ điều kiện năng lực tương ứng với loại, cấp công trình đảm nhận đối với các chức danh theo quy định; Hoạt động không đủ điều kiện năng lực theo quy định; Hoạt động xây dựng không có chứng chỉ năng lực hoặc chứng chỉ năng lực đã hết hiệu lực theo quy định; Không có hợp đồng lao động với những cá nhân đảm nhận những chức danh chủ chốt theo quy định; Những chức danh chủ chốt không có chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực đặc thù của dự án theo quy định
17 Điều 21 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
18 Điều 23 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
Trang 21- Vi phạm nội dung hồ sơ dự thầu19: Nhà thầu không đáp ứng đủ năng lực theo
hồ sơ dự thầu hoặc bố trí người, trang thiết bị, đưa vật liệu vào sử dụng trong công trình không đúng với hồ sơ dự thầu hoặc kết quả trúng thầu
- Vi phạm quy định về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng, sử dụng số liệu, tài liệu trong hoạt động xây dựng gồm20: Hành vi sử dụng tiêu chuẩn nước ngoài mà chưa được người quyết định đầu tư chấp thuận; Hành vi sử dụng kết quả thí nghiệm của tổ chức thí nghiệm chuyên ngành xây dựng không đủ điều kiện năng lực theo quy định; Hành vi sử dụng số liệu, tài liệu thiếu căn cứ pháp lý; Hành
vi không sử dụng hoặc sử dụng sai quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng
- Vi phạm quy định về khảo sát xây dựng gồm21: Sử dụng nhân lực, thiết bị, phòng thí nghiệm không phù hợp với phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng được duyệt; Phiếu kết quả thí nghiệm không đáp ứng các nội dung theo quy định; Không lưu trữ mẫu khảo sát hoặc tài liệu khảo sát theo quy định; Không phục hồi hiện trường sau khi kết thúc khảo sát
- Vi phạm quy định về thẩm tra dự án đầu tư xây dựng công trình, thiết kế, dự toán gồm22: Thực hiện thẩm tra dự án do mình lập hoặc công trình do mình thiết kế; Báo cáo kết quả thẩm tra không chính xác; Hành vi thực hiện thẩm tra dự án vượt quá thời hạn quy định
- Vi phạm quy định về thiết kế, dự toán xây dựng công trình gồm23: Lập hồ sơ thiết kế xây dựng không đúng quy định; Thay đổi thiết kế không theo đúng trình tự quy định; Thực hiện bước thiết kế tiếp theo khi bước thiết kế trước chưa được phê duyệt hoặc không phù hợp với bước thiết kế trước đã được phê duyệt
- Vi phạm quy định về an toàn trong thi công xây dựng công trình gồm24: Không có sổ nhật ký an toàn lao động hoặc sổ nhật ký không ghi chép đầy đủ theo quy định; Sử dụng người lao động không có thiết bị bảo vệ cá nhân, an toàn lao
Trang 22động trên công trường theo quy định; Không lập các biện pháp an toàn cho người lao động, thiết bị, phương tiện thi công hoặc công trình trước khi thi công xây dựng;
Sử dụng thiết bị thi công không có giấy tờ lưu hành, vận hành theo quy định, không kiểm định hoặc đã hết thời gian kiểm định; Không có biển cảnh báo đề phòng tai nạn hoặc không bố trí người hướng dẫn tại những vị trí nguy hiểm trên công trường;
Sử dụng người lao động chưa được huấn luyện, hướng dẫn về an toàn lao động…
1.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Trên nền lý luận về VPHC, XLVPHC có thể hiểu: XLVPHC trong lĩnh vực
xây dựng đô thị là việc cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính đối với chủ thể VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị theo thủ tục do pháp luật hành chính quy định
XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là hoạt động áp dụng pháp luật, trong đó, người có thẩm quyền áp dụng chế tài pháp luật (hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả) đối với chủ thể VPHC (cá nhân, tổ chức) trong lĩnh vực xây dựng đô thị theo thủ tục do luật hành chính quy định, theo đó, chủ thể thực hiện VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinh thần
XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị vừa mang những đặc điểm chung của XLVPHC vừa mang những đặc điểm cụ thể trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Thứ nhất, XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị chủ yếu được thực hiện
trên cơ sở kiểm soát địa bàn, kiểm tra các hoạt động xây dựng phát hiện các hành vi
vi phạm Nơi diễn ra hoạt động xây dựng là các khu đất có chủ sở hữu riêng của cá nhân hoặc tổ chức, có không gian riêng Do vậy mà hành vi VPHC thường khó bị phát hiện Vì vậy, cần phải trải qua thủ tục kiểm tra, giám sát để xác định vi phạm
Thứ hai, XLVPHC là hoạt động quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN), do
các cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN) có thẩm quyền thực hiện để tổ chức
Trang 23thực thi pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị Các cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện là Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ Bên cạnh đó, nhiệm vụ XLVPHC còn được giao trực tiếp cho các cơ quan chức năng như thanh tra viên xây dựng
Thứ ba, XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị là hoạt động cưỡng chế nhà
nước, mang tính quyền lực nhà nước, được đảm bảo thực hiện bằng các nguồn lực của nhà nước, từ quyền năng được phân giao, nhân tài vật lực, phương tiện, con người, tài chính…
Tính cưỡng chế và tính quyền lực nhà nước thể hiện ở chỗ hoạt động XPVPHC này luôn được các cơ quan hoặc cán bộ có thẩm quyền thực hiện Chỉ có các cơ quan hoặc cán bộ nhà nước nào được Nhà nước trao thẩm quyền XPVPHC
và được ghi rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có quy định về XPVPHC mới có thẩm quyền xử phạt
Thứ tư, cơ sở để XLVPHC là VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị Chỉ có
hành vi nào xâm phạm quy tắc QLNN về xây dựng đô thị mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự do các cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp
lý thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý mới bị XPVPHC
Thứ năm, XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị phải tuân theo những
nguyên tắc và thủ tục XLVPHC được quy định
Thứ sáu, việc XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị liên quan đến quyền
lợi trực tiếp của chủ thể vi phạm ở mức độ cao Do đó, tiềm ẩn nhiều vấn đề phát sinh phức tạp trong quá trình xử lý vi phạm như việc đảm bảo an toàn về con người,
về tài sản, an ninh trật tự, đảm bảo đời sống dân sinh… Quá trình thực hiện XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị cần phải có kế hoạch chi tiết, tỉ mỉ, cần có
sự tham gia của nhiều người, nhiều cơ quan chức năng và cần nguồn kinh phí thực hiện lớn Nhất là đối với các trường hợp phải xử lý cưỡng chế dỡ bỏ công trình vi phạm trật tự xây dựng, buộc khôi phục lại hiện trạng ban đầu
Ngoài ra, do chi phí xây dựng công trình thường ở mức cao; giá trị kinh tế của công trình xây dựng là lớn khiến cho chủ thể chấp nhận đánh đổi, mua chuộc đối
Trang 24với người có thẩm quyền kiểm tra xác định hành vi vi phạm, người giám sát, người
có thẩm quyền thực thi việc XLVPHC Điều này có thể phát sinh những tiêu cực trong việc XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị
1.2.2 Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
1.2.2.1 Nguyên tắc chung
Nguyên tắc XLVPHC nói chung là những quan điểm chủ đạo, có tính chất nền tảng, làm cơ sở cho việc xử phạt các VPHC, đảm bảo cho mọi VPHC phải được xử phạt kịp thời, kiên quyết, triệt để, nghiêm minh, đúng pháp luật nhằm đảm bảo trật
tự, an toàn trong lĩnh vực xây dựng đô thị nói riêng và bảo vệ trật tự QLNN nói chung XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị phải quán triệt đầy đủ các nguyên
tắc chung, cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc đề cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc phát hiện, đình chỉ kịp thời, kiên quyết đấu tranh, xử phạt nhanh chóng, nghiêm minh, khắc phục triệt để hậu quả do VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị gây ra
Đây là nguyên tắc cơ bản, quan trọng được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) về XLVPHC Việc tuân thủ và thực hiện tốt nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống VPHC nói chung, VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị nói riêng Yêu cầu của nguyên tắc này là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm tích cực, chủ động phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm, ngăn ngừa những hậu quả tiêu cực có thể xảy ra nếu hành vi vi vi phạm đó vẫn tiếp diễn Theo đó, các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phải chủ động phát hiện VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị và khẩn trương đình chỉ ngay hành vi đó nhằm hạn chế tối đa hậu quả tiêu cực phát sinh Khi phát hiện hành vi VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị xảy ra, phải xử phạt vụ việc một cách kiên quyết, nhanh chóng, công minh, triệt để, đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
- Nguyên tắc pháp chế
Trang 25Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị cũng như các tổ chức, cá nhân là chủ thể của VPHC trong
lĩnh vực xây dựng đô thị phải triệt để tuân thủ pháp luật về xử phạt VPHC
- Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hành chính
Yêu cầu của nguyên tắc này là một hành vi VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị chỉ có thể bị XPVPHC hoặc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính (BPXLHC) khác một lần
- Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và nhân thân người vi phạm
Đây là nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hành chính đối với chủ thể thực hiện hành vi VPHC Nội dung của nguyên tắc này là cơ quan có thẩm quyền xử phạt VPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình thiết khác để quyết định hình thức, biện pháp xử phạt cho phù hợp Cụ thể là, khi xem xét trách nhiệm hành chính, người có thẩm quyền XLVPHC phải đánh giá toàn diện, khách quan về tính chất, mức độ vi phạm của hành vi; xác định các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ các đặc điểm nhân thân có liên quan của chủ thể vi phạm để quyết định hình thức và mức phạt cho phù hợp
dựng đô thị Việc XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị phải được tiến hành
nhanh chóng, khách quan, triệt để Mọi hậu quả do VPHC trong lĩnh vực xây dựng
đô thị gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật
- Việc XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị phải do người có thẩm quyền thực hiện và được tiến hành theo quy định của pháp luật
Trang 26Nguyên tắc này có thể được xem là sự thể hiện của nguyên tắc pháp chế trong hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị Theo đó, một quyết định XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị chỉ có giá trị pháp lý khi được ban hành bởi chức danh có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi VPHC đó và việc xử phạt được tiến hành tuân thủ đúng các quy định của pháp luật
1.2.3 Các hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Xử lý VPHC bao gồm XPVPHC và các BPXLHC Trong đó:
XPVPHC là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC theo quy định của pháp luật về XPVPHC25
BPXLHC là tổng thể biện pháp được áp dụng để thi hành đối với cá nhân vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và vi phạm pháp luật khác mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp áp dụng; giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào các trường giáo dưỡng; đưa vào các cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật26
Hình thức XPVPHC và BPKPHQ trong lĩnh vực xây dựng đô thị được quy định tại Điều 3 Nghị định số 139/2017/NĐ-Chính phủ, bao gồm:
Thứ nhất, hình thức xử phạt chính: Cảnh cáo; phạt tiền
- Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản 27 Mức mức phạt tiền tối đa trong
lĩnh vực hoạt động đầu tư xây dựng là 1.000.000.000 đồng 28
- Hình thức xử phạt bổ sung:
- Biện pháp khắc phục hậu quả:
Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều BPKPHQ sau đây:
25 Khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC
26 Khoản 3 Điều 2 Luật XLVPHC
27 Điều 22 Luật XLVPHC
28 Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
Trang 27+ Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu: Cá nhân, tổ chức VPHC phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do VPHC của mình gây ra; nếu cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện29 + Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường: Cá nhân, tổ chức VPHC phải thực hiện biện pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường; nếu cá nhân, tổ chức VPHC không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện30
+ Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính:
Cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp lại số lợi bất hợp pháp là tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá có được từ VPHC mà cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện để sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt31
+ Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm: Cá nhân, tổ chức VPHC phải tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện32
+ Những biện pháp khác được quy định tại Nghị định này
1.2.4 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Nghị định số 139/2017/NĐ-CP chỉ được XPVPHC trong phạm vi thẩm quyền; trường hợp hành vi vi phạm vượt quá thẩm quyền thì phải lập BBVPHC chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt
Khi áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, chứng chỉ năng lực, chứng chỉ hành nghề, người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản hoặc gửi QĐXPVPHC về Thanh tra Sở Xây dựng
Trường hợp VPHC thuộc thẩm quyền của nhiều người thì việc XPVPHC do người thụ lý đầu tiên thực hiện
Trang 28Thẩm quyền xử phạt quy định tại Điều 71, Điều 72, Điều 73, Điều 74, Điều
76, Điều 77 và Điều 78 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi VPHC của tổ chức; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt
cá nhân bằng 1/2 thẩm quyền xử phạt tổ chức
- Thẩm quyền xử phạt của thanh tra viên xây dựng33: Cảnh cáo; phạt tiền đến 1.000.000 đồng; áp dụng các BPKPHQ: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường
- Thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành34:
+ Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Sở Xây dựng có thẩm quyền xử phạt như sau: Cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ năng lực, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng các BPKPHQ
+ Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ Xây dựng có thẩm quyền xử phạt như sau: Cảnh cáo; phạt tiền đến 500.000.000 đồng đối với lĩnh vực hoạt động đầu tư xây dựng; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ năng lực, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng các BPKPHQ
- Thẩm quyền xử phạt của Chánh thanh tra Sở Xây dựng35: Cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ năng lực, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng các BPKPHQ
- Thẩm quyền xử phạt của Chánh thanh tra Bộ Xây dựng 36 : Cảnh cáo; phạt
tiền đến 1.000.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ năng lực, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng các BPKPHQ
Trang 29- Thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân37:
Người có thẩm quyền xử phạt thuộc Công an nhân dân có thẩm quyền XPVPHC đối với hành vi chống đối hoặc cản trở người thực hiện nhiệm vụ XPVPHC
- Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã38: Cảnh cáo; phạt tiền đến 10.000.000 đồng; áp dụng các BPKPHQ: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường; những biện pháp khác được quy định tại Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
- Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp huyện39: Cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ năng lực, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng các BPKPHQ
- Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp tỉnh40: Cảnh cáo; phạt tiền đến 1.000.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ năng lực, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng các BPKPHQ
1.2.5 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Luật XLVPHC chia thủ tục xử phạt thành hai loại: thủ tục xử phạt không lập biên bản và thủ tục xử phạt có lập biên bản
Trường hợp VPHC được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản41
XPVPHC có lập biên bản được áp dụng đối với hành vi VPHC của cá nhân, tổ chức VPHC không thuộc trường hợp XPVPHC không lập biên bản Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm hành chính (BBVPHC), QĐXPVPHC, các tài liệu, giấy tờ có liên quan và phải được đánh bút lục Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp
Trang 30luật về lưu trữ42
1.2.5.1 Lập biên bản vi phạm hành chính
Luật XLVPHC quy định khi phát hiện VPHC thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản43 Người có thẩm quyền đang thi hành công vụ ở đây được hiểu là người có thẩm quyền XPVPHC và người đang thi hành công vụ Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC (Nghị định số 81/2013/NĐ-CP) quy định: Người
có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính gồm người có thẩm quyền xử phạt, công chức, viên chức đang thi hành công vụ, nhiệm vụ; người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu và những người được chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu giao nhiệm vụ lập biên bản Các chức danh có thẩm quyền lập biên bản được quy định cụ thể tại các nghị định XPVPHC trong từng lĩnh vực QLNN
Trong lĩnh vực xây dựng đô thị, người có thẩm quyền lập BBVPHC bao gồm44:
- Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Điều 71, Điều 72, Điều 73, Điều
74, Điều 76, Điều 77 và Điều 78 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
- Công chức, viên chức thuộc UBND các cấp được giao nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện VPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị
- Công chức, viên chức, thanh tra viên thuộc cơ quan thanh tra nhà nước ngành Xây dựng được phân công thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra chuyên ngành độc lập hoặc thanh tra theo đoàn thanh tra
- Công chức, viên chức được phân công thực hiện nhiệm vụ kiểm tra hoạt động đầu tư xây dựng
- Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Điều 75 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP được lập BBVPHC đối với hành vi quy định tại Điều 6 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
42 Điều 57 Luật XLVPHC
43 Khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC
44 Điều 69 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
Trang 311.2.5.2 Xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính
Xác minh tình tiết của vụ việc VPHC là thủ tục bắt buộc thuộc trách nhiệm của người có thẩm quyền xử phạt được thực hiện trước khi ra quyết định xử phạt Hoạt động này có thể thực hiện trước hay sau khi lập BBVPHC và có thể được thực hiện cùng với các trình tự, thủ tục xử phạt tiếp theo cho đến khi ra quyết định xử phạt Khi xem xét ra quyết định XPVPHC, trong trường hợp cần thiết người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xác minh có hay không có VPHC; chủ thể thực hiện hành vi VPHC, lỗi, nhân thân của cá nhân VPHC; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; tính chất, mức độ thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra và các tình tiết khác
có ý nghĩa đối với việc xem xét, quyết định xử phạt Người có thẩm quyền xử phạt
có thể trưng cầu giám định và việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định Quá trình xác minh phải được thể hiện bằng văn bản để đảm bảo tính khách quan, tính chính xác của các tình tiết trong vụ việc vi phạm45
1.2.5.3 Xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt
Điều 60 Luật XLVPHC quy định về căn cứ xác định giá trị tang vật vi phạm, trình tự, thủ tục xác định giá trị tang vật VPHC Luật cũng quy định các căn cứ và thứ tự ưu tiên áp dụng để xác định giá trị tang vật vi phạm, gồm: Giá niêm yết hoặc giá ghi trên hợp đồng hoặc hoá đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu; Giá theo thông báo của cơ quan tài chính địa phương; trường hợp không có thông báo giá thì theo giá thị trường của địa phương tại thời điểm xảy ra vi phạm hành chính; Giá thành của tang vật nếu là hàng hoá chưa xuất bán; Đối với tang vật là hàng giả thì giá của tang vật đó là giá thị trường của hàng hoá thật hoặc hàng hoá có cùng tính năng, kỹ thuật, công dụng tại thời điểm nơi phát hiện VPHC
Về trình tự, thủ tục định giá, Luật quy định chặt chẽ, cụ thể hơn về điều kiện, thời hạn, thủ tục tạm giữ tang vật vi phạm để định giá Việc tạm giữ tang vật vi phạm chỉ được thực hiện khi người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc không
45 Điều 59 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Trang 32thể áp dụng được các căn cứ nêu trên thì người có thẩm quyền phải thành lập Hội đồng để định giá Thủ tục tạm giữ tang vật vi phạm để định giá thực hiện theo thủ tục tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính (khoản 5, khoản 9 Điều 125 Luật XLVPHC) Tuy nhiên, thời hạn tạm giữ tang vật để xác định giá trị không quá 24 giờ, kể từ thời điểm ra quyết định tạm giữ, trong trường hợp thật cần thiết thì thời hạn có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 24 giờ Mọi chi phí liên quan đến việc tạm giữ, định giá và thiệt hại do việc tạm giữ gây ra do cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ chi trả 1.2.5.4 Giải trình
Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, cá nhân, tổ chức VPHC phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền XPVPHC trong thời hạn không quá 05 ngày, kể từ ngày lập BBVPHC Cá nhân, tổ chức VPHC tự mình hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp của mình thực hiện việc giải trình bằng văn bản Đối với trường hợp giải trình trực tiếp, cá nhân, tổ chức VPHC phải gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền XPVPHC trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày lập BBVPHC
Người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm
về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày, kể
từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm
Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn cứ pháp lý và tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi VPHC, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan46
1.2.5.5 Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự và chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính
- Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định XPVPHC, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ
46 Điều 61 Luật XLVPHC
Trang 33sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng hình sự có trách nhiệm tìm hiểu, xem xét, kết luận vụ việc và trả lời kết quả giải quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển hồ sơ trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; trường hợp không khởi tố vụ án hình
sự thì trong thời hạn 03 ngày, cơ quan tiến hành tố tụng phải trả hồ sơ vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ đến47
- Đối với vụ việc do cơ quan điều tra tiến hành tố tụng hình sự thụ lý,xem xét,
giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra vụ việc hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu phat hiện hành vi có dấu hiệu VPHC, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền XPVPHC Thời hạn ra quyết định XPVPHC là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định kèm theo hồ sơ vụ vi phạm Trong trường hợp cần xác minh thêm quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày48 1.2.5.6 Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong việc phát hiện
vi phạm hành chính
Cơ quan, người có thẩm quyền XPVPHC được sử dụng phương tiện, thiết bị
kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện VPHC về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường Việc quản lý, sử dụng và quy định danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải bảo đảm các nguyên tắc như: Tôn trọng quyền tự do, danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư của công dân, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân và tổ chức; tuân thủ đúng quy trình, quy tắc về sử dụng phương tiện, thiết bị
kỹ thuật nghiệp vụ; kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp
vụ phải được ghi nhận bằng văn bản và chỉ được sử dụng trong XPVPHC; phương
47 Điều 62 Luật XLVPHC
48 Điều 63 Luật XLVPHC
Trang 34tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
do cơ quan có thẩm quyền quy định49
1.2.5.7 Những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Những trường hợp không ra quyết định XPVPHC bao gồm: Các trường hợp không XPVPHC quy định tại Điều 11 của Luật XLVPHC; không xác định được đối tượng vi phạm hành chính; hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt; cá nhân VPHC chết, mất tích, tổ chức VPHC đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt và trường hợp chuyển hồ sơ
vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm Người có thẩm quyền không ra quyết định XPVPHC nhưng có thể ra quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật VPHC thuộc loại cấm lưu hành và áp dụng BPKPHQ quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC để đảm bảo an toàn, trật tự quản lý xã hội50 1.2.5.8 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Thời hạn ra quyết định XPVPHC trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập BBVPHC Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2
và khoản 3 Điều 61 của Luật XLVPHC thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là
30 ngày, kể từ ngày lập biên bản
Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật XLVPHC mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày51
Trường hợp một cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi VPHC mà bị xử phạt trong cùng một lần thì chỉ ra 01 quyết định xử phạt, trong đó quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi VPHC Trường hợp nhiều cá nhân, tổ chức
49 Điều 64 Luật XLVPHC
50 Điều 65 Luật XLVPHC
51 Điều 66 Luật XLVPHC
Trang 35cùng thực hiện một hành vi VPHC thì có thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng cá nhân, tổ chức Trường hợp nhiều
cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi VPHC khác nhau trong cùng một vụ vi phạm thì có thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để quyết định hình thức, mức
xử phạt đối với từng hành vi vi phạm của từng cá nhân, tổ chức 52
Nội dung quyết định XPVPHC quy định tại khoản 1 Điều 68 Luật XLVPHC Quyết định XPVPHC phải ghi rõ nội dung hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt đối với từng cá nhân, tổ chức phải xác định cụ thể, rõ ràng53
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
1.3.1 Tốc độ đô thị hóa
Đô thị hóa là một quá trình tập trung dân cư đô thị Nói một cách đầy đủ hơn thì đô thị hóa là một quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội, văn hóa và không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học - kỹ thuật của xã hội loài người, trong đó diễn
ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự chuyển đổi lối sống ngày càng văn minh hơn cùng với sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị, song song với việc tổ chức ranh giới hành chính lãnh thổ và quân sự Ở những nước có trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng cao thì tỷ lệ đô thị hóa càng cao
Đô thị hóa là quá trình phát triển tất yếu của mọi quốc gia và là tiến trình gắn liền với sự phát triển kinh tế Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đang góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, thể hiện ở sự gia tăng số lượng và quy mô các điểm dân cư các đô thị; gia tăng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu đô thị mới; gia tăng tỷ lệ dân đô thị
Tuy nhiên, việc quản lý quá trình đô thị và phát triển đô thị ở nước ta thời gian qua còn nhiều hạn chế, yếu kém như: không theo kịp tốc độ công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế nhanh (về lượng); chất lượng đô thị hóa chuyển đổi chậm so với kỳ vọng và thế giới (chậm chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội); đô thị hóa thiên
52 Điều 67 Luật XLVPHC
53 Khoản 3 Điều 68 Luật XLVPHC
Trang 36về chiều rộng, quá tải và phát triển không đều theo lãnh thổ; sử dụng tài nguyên đất đai lãng phí, không hiệu quả; thiên nhiều về kinh tế, kỹ thuật; bị chi phối mạnh bởi
1.3.2 Sự hoàn thiện của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực xây dựng nói riêng
XLVPHC nói chung và XPVPHC nói riêng là công cụ quan trọng trong hoạt động QLNN nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính của Nhà nước Được ban hành đầu tiên vào năm 1989 (ngày 30/11/1989), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (Pháp lệnh XLVPHC) đã từng bước được hoàn thiện góp phần quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với các VPHC ở nước ta, bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, an toàn xã hội để phát triển kinh tế - xã hội Tiếp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh XLVPHC ngày
06/7/1995 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/1995), Pháp lệnh XLVPHC ngày
02/7/2002, Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 ngày 08/3/2007 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLVPHC ngày 02/4/2008
Tuy nhiên, Pháp lệnh XLVPHC đã bộc lộ những hạn chế, bất cập đòi hỏi phải khẩn trương nghiên cứu, điều chỉnh, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới Trên cơ sở đó, Luật XLVPHC được ban hành với mục tiêu nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh XLVPHC; góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính,
an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với VPHC, tội phạm trong thời kỳ mới; khắc phục tối đa tình trạng thiếu thống nhất và chồng chéo trong hệ thống pháp luật về XLVPHC; tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tế; đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới
Lầu đầu tiên, Luật Xây dựng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004) đã có 01 (một) điều khoản quy định về xử lý vi phạm trong hoạt
Trang 37động xây dựng (Điều 120) Trên cơ sở đó, ngày 07/12/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 180/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị (Nghị định số 180/2007/NĐ-CP) và Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở (Nghị định số 121/2013/NĐ-CP)
Qua gần 10 năm triển khai thi hành Luật xây dựng năm 2003 đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, bất cập, ngày 18/6/2014, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật xây dựng số 50/2014/QH13 và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 Theo đó, ngày 27/11/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 139/2017/NĐ-CP (có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 01 năm 2018), thay thế Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và Nghị định số 180/2007/NĐ-CP Ngày 24/4/2018, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 03/2018/TT-BXD quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP
1.3.3 Ý thức của người dân và doanh nghiệp
Ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của các chủ thể và thái độ của họ đối với các quy định của pháp luật Cho nên, ý thức pháp luật càng được nâng cao, mức
độ hiểu biết pháp luật càng sâu thì tinh thần tôn trọng pháp luật, thái độ tự giác xử
sự theo yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật ngày càng được đảm bảo Do đó,
ý thức pháp luật của các đối tượng tham gia hoạt động xây dựng đô thị là một yếu tố
có ý nghĩa rất lớn ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng đô thị Pháp luật về XLVPHC chỉ có thể được thực hiện nghiêm chỉnh và chính xác nếu như các đối tượng tham gia nắm vững, hiểu rõ và chỉ làm những gì pháp luật không cấm, hạn chế tình trạng VPPL
Các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng đô thị là các tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, cá nhân trong nước,
cá nhân nước ngoài, cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài Một số tổ
Trang 38chức, cá nhân chưa nghiêm chỉnh chấp hành hoặc lợi dụng kẽ hở của pháp luật và
sự thiếu quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để vi phạm Trên thực tế hiện nay, hiện tượng vi phạm nhiều và có xu hướng ngày càng tăng, phức tạp là VPHC
về trật tự xây dựng Ý thức của người dân và doanh nghiệp trong việc chấp hành các quyết định XPVPHC của cơ quan có thẩm quyền ban hành còn chưa cao
1.3.4 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất QLNN trong hoạt động đầu tư xây dựng54 UBND cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện QLNN
về hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn theo phân cấp của Chính phủ; ban hành văn bản theo thẩm quyền; chỉ đạo tổ chức thực hiện các quy hoạch xây dựng, kế hoạch đầu tư xây dựng; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, xử lý VPPL trong hoạt động đầu tư xây dựng UBND cấp huyện, cấp xã có trách nhiệm thực hiện QLNN về hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn theo phân cấp; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đầu tư xây dựng cho cán bộ, công chức của các cơ quan, đơn vị trực thuộc…55 Thanh tra xây dựng thuộc Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành về xây dựng đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư xây dựng Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện thanh tra chuyên ngành về hoạt động đầu tư xây dựng trong phạm vi cả nước Sở Xây dựng chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thanh tra chuyên ngành về hoạt động đầu tư xây dựng tại địa phương56
Tuy nhiên, hiện nay tình trạng xây dựng công trình, nhà ở không phép, sai phép, lấn chiếm đất công diễn ra ở nhiều nơi tại các thành phố lớn ở Việt Nam, với quy mô, cấp độ khác nhau, thời gian qua đã gây bức xúc, giảm sút niềm tin của người dân đối với công tác QLNN Nhiều công trình vi phạm lại được phạt cho tồn tại
Những tồn tại, bất cập trên xuất phát từ quy định pháp luật về XLVPHC chưa quy định rõ trách nhiệm cũng như chế tài, hình thức xử lý những người có thẩm
54 Khoản 1 Điều 162 Luật Xây dựng năm 2014
55 Điều 164 Luật Xây dựng năm 2014
56 Điều 165 Luật Xây dựng năm 2014
Trang 39quyền xử phạt buông lỏng, thiếu trách nhiệm trong việc xử lý, dẫn đến việc nhiều quyết định xử phạt được ban hành nhưng không được tổ chức thực hiện hoặc có thực hiện nhưng không đạt được kết quả đã đặt ra, tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm tiếp tục diễn ra, pháp luật không được coi trọng, kỷ cương hành chính không nghiêm, ảnh hưởng xấu đến công tác QLNN trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có công tác QLNN trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Hiện nay, trong ngành xây dựng, lực lượng thực hiện nhiệm vụ XLVPHC trong lĩnh vực xây dựng còn thiếu, không chuyên trách mà chỉ làm kiêm nhiệm và thường xuyên bị luân chuyển dẫn đến nhiều hạn chế, bất cập, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chưa được nâng cao
Tiểu kết Chương 1
Trong Chương 1, Luận văn đã làm rõ khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị; cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị; các loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị Từ đó, đã phân tích được các khái niệm, đặc điểm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị; nguyên tắc và biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị cũng như thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị Đồng thời, đã phân tích thêm các yếu tố ảnh hưởng đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Trang 40Từ những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị ở Chương 1, Luận văn sẽ tập trung phân tích thực trạng vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị ở tỉnh Khánh Hòa
ở Chương 2
Chương 2 THỰC TRẠNG VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ LÝ
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG ĐÔ THỊ
Ở TỈNH KHÁNH HÒA
2.1 Những yếu tố tác động và cơ sở pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị
2.1.1 Khái quát về điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị