1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang (Luận văn thạc sĩ)

81 184 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An GiangĐịnh tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LẠI VĂN GIANG

ĐỊNH TỘI DANH TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

TỪ THỰC TIỄN TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LẠI VĂN GIANG

ĐỊNH TỘI DANH TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Định tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực

hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS ĐINH THỊ MAI Các nội dung, thông tin được trình bày trong luận văn là trung thực

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình

Hà Nội, ngày tháng 02 năm 2019

Tác giả luận văn

Lại Văn Giang

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS 1999 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 BLHS 2015 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH TỘI DANH TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI 11

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi 11 1.2 Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi 17 1.3 Phân biệt dấu hiệu pháp lý của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với một số tội khác có liên quan 27

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 34

2.1 Khái quát tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn từ năm 2013 – 2017 34 2.2 Thực tiễn định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn tỉnh An Giang 40 2.3 Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân những khó khăn vướng mắc trong công tác định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn tỉnh An Giang 52

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

TỪ THỰC TIỄN TỈNH AN GIANG 59

3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả của định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi 59 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam 60 3.3 Một số giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự trong định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi 66

KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang nỗ lực thực hiện công cuộc đổi mới với những chủ trương, chính sách đúng đắn đã thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của nước ta phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao rõ rệt, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội đang được giữ vững Cùng với sự phát triển của đất nước, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh An Giang trong những năm gần đây đã có những bước phát triển đáng kể trên tất cả các mặt Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhiều mặt trái của xã hội cũng song song tồn tại Xã hội ngày càng phát triển thì con người ngày càng hoàn thiện hơn về mặt thể chất lẫn tinh thần cũng như nâng cao hơn các nhu cầu của cá nhân và đặc biệt là nhu cầu tình dục Do

đó, nếu nhu cầu này không được kiểm soát thì rất dễ đến việc phạm tội, đặc biệt là tội phạm chọn các đối tượng là người dưới 16 tuổi, bởi vì những nạn nhân dưới 16 tuổi còn hạn chế về mặt nhận thức, dễ bị dụ dỗ, mua chuộc và khi đó tội phạm dễ dàng được thực hiện

Theo báo cáo thống kê của Cục cảnh sát Bộ Công an giai đoạn 5 năm

từ năm 2012 đến năm 2016 có gần 6700 vụ xâm hại trẻ em và hơn 8100 trẻ

em trở thành nạn nhân của các vụ xâm hại Trong đó có hơn hàng trăm trẻ dưới 6 tuổi cũng trở thành nạn nhân Riêng năm 2016 đã có 1641 vụ xâm hại trẻ em trong đó có 1248 vụ xâm hại tình dục trẻ em, chiếm 77% tổng số vụ Nạn nhân bị xâm hại chủ yếu là trẻ em gái (1358 cháu, chiếm 84%) Phần lớn

độ tuổi từ 13 đến 16 tuổi là 1037 cháu, từ 6 đến 13 tuổi là 479 cháu, đặc biệt trẻ em dưới 6 tuổi là 120 cháu Con số này chưa dừng lại ở đó, bởi trong 6 tháng đầu năm 2017 ghi nhận có khoảng 805 vụ xâm hại tình dục trẻ em

Như vậy, tình hình trẻ em bị xâm hại tình dục đang diễn ra với xu hướng ngày càng gia tăng Vấn đề bảo vệ trẻ em tránh khỏi sự xâm hại tình

Trang 7

dục đang là vấn đề cấp thiết nhất Bởi đây là đối tượng chưa thực sự phát triển

về mặt thể chất và tinh thần Họ cần được sống trong môi trường lành mạnh, trong sạch để phát triển bình thường, phát huy hết tiềm năng vốn có Mặc dù BLHS 2015 đã được sửa đổi bổ sung, thông qua năm 2017 cũng đã quy định khá cụ thể về các tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi Tuy nhiên, không có gì là hoàn hảo một cách tuyệt đối, BLHS 2015 và luật sửa đổi bổ sung 2017 có nhiều điểm mới và tiến bộ nhưng vẫn còn không ít những vướng mắc cũng như những thiếu sót và chưa phù hợp với thực tiễn áp dụng trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, căn cứ tình hình tội phạm xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi hiện nay đang có xu hướng tăng lên với tính chất mức

độ ngày càng nguy hiểm Đặc biệt, đối tượng phạm tội ở đây lại là những người thân thích, quen biết nạn nhân thực hiện hành vi phạm tội trái với pháp luật cũng như các chuẩn mực đạo đức xã hội Nhưng chưa có một giải pháp tốt nhất cũng như các chế định cụ thể để hạn chế sự gia tăng số lượng và mức

độ phổ biến vụ án

Ngoài ra, trong những năm qua, tình hình các tội phạm xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi ngày càng diễn biến phức tạp, có sự gia tăng về số lượng cũng như mức độ nguy hiểm, gây tâm lí hoang mang trong nhân dân và làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội Thực tiễn áp dụng pháp luật về xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi cho thấy còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh, định khung và quyết định hình phạt dẫn đến bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc ngược lại làm oan người vô tội, xử lí quá nặng hoặc quá nhẹ hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng đến chất lượng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Do đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn định tội danh của xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi là một vấn đề vô cùng cần thiết và có ý nghĩa, đặc biệt là việc nghiên cứu thực tiễn định tội danh trong bối cảnh tỉnh An Giang là một nhu cầu quan

Trang 8

trọng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với địa phương

Với mong muốn đóng góp một phần công sức cho công tác nghiên cứu

và hoàn thiện pháp luật về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong tình

hình mới, tác giả quyết định chọn đề tài: “Định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang” làm luận văn thạc sĩ luật học

Hoạt động định tội danh đã được đề cập trong rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học của các chuyên gia luật hình sự của nước ta, trong đó

phải kể đến một số công trình nghiên cứu của PGS.TSKH Lê Cảm: “Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh”; “Thay đổi định tội danh một số vấn

đề lý luận và thực tiễn”, GS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí tòa án nhân dân, số

11, 2003; “Định tội danh và quyết định hình phạt” TS Dương Tuyết Miên chủ biên, Nxb Công an Nhân dân, 2014; “Lý luận chung về định tội danh”GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2013;

Liên quan đến các tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi đã có nhiều luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu khoa học trong

và ngoài học viện nghiên cứu về vấn đề này

Nhóm các luận văn thạc sĩ, có thể kể đến: “Các tội hiếp dâm trong luật hình sự Việt Nam” – Tác giả Nguyễn Thu Hương; “Các tội xâm phạm tình

Trang 9

dục” – Tác giả Phan Thị Phương Hiền; ”Các tội xâm phạm tình dục trẻ em

trong Luật Hình sự Việt Nam hiện nay (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)” của tác giả Nguyễn Tuấn Thiện (năm 2015); “Các tội phạm tình dục trong Luật Hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk)” của tác giả Trịnh Văn Toàn (năm 2015)

Ngoài ra còn các tài liệu: “Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình

sự về các tội xâm phạm tình dục trẻ em” của Tác giả Phạm Mạnh Hùng; Chuyên đề: “Pháp luật Việt Nam và Công ước quốc tế về bảo vệ trẻ em trước

tệ nạn lạm dụng tình dục” của Viện nghiên cứu thuộc Bộ tư Pháp; Giáo trình

Luật Hình sự Việt Nam Tập 1, 2 của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội Phạm

Văn Beo (2011), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần Các tội phạm),

quyển 2, NXB Chính trị Quốc gia- Sự thật, Hà Nội; Trường Đại học Luật

thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần Các tội phạm), quyển 1, NXB Hồng Đức, Hà Nội; Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, tập 1, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Thông qua các giáo trình trên, người đọc được cung cấp những kiến thức

pháp lý cơ bản về khái niệm của các tội hiếp dâm, các dấu hiệu pháp lý, các trường hợp phạm tội cụ thể trong quy định của các tội hiếp dâm cũng như hình phạt của các tội này Người đọc dễ dàng nắm bắt vấn đề do tài liệu được trình bày sinh động và dễ hiểu thông qua những ví dụ minh họa

Nhìn chung đa phần các luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, các công trình nghiên cứu khoa học trên chỉ tập trung khai thác làm nổi bật nội dung của các quy định pháp luật hình sự về các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong Bộ luật Hình sự 1999 với những chế định cũ không phù hợp với thực tiễn hiện nay Bên cạnh đó, cũng có một số Tác giả với những bài viết được

đăng trên các tập chí như “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em so sánh BLHS

1999 với BLHS 2015” của Lê Thị Diễm Hằng, đăng trên Tạp chí TAND số 06

Trang 10

năm 2017, “Những quy định mới về các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong BLHS 2015” của Nguyễn Thị Ngọc trên Tạp chí Khoa học Kiểm Sát hay khóa

luận tốt nghiệp của Võ Trần Hoàng Sa đã nghiên cứu về những điểm mới trong Bộ luật Hình sự 2015 Tuy nhiên, những bài viết này chỉ tập trung khai thác vấn đề ở góc độ bao quát Mặt khác, BLHS 2015 vừa có những sửa đổi, bổ sung và được thông qua vào năm 2017 với những chế định mới, và dựa trên tình hình thực tiễn cho thấy còn nhiều bất cập trong các quy định của

pháp luật hình sự Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Định tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi” để làm rõ hơn các quy định hiện hành, và đề

xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tế Trong suốt đề tài của tác giả có khá nhiều điểm mới mà các công trình trước đây chưa có thể làm rõ một cách cụ thể Chẳng hạn như nhóm tác giả đã đưa

ra được những khái niệm để giải thích cho các thuật ngữ Giao cấu, hành vi quan hệ tình dục khác, dâm ô, khiêu dâm…nhằm góp phần hướng dẫn chi tiết cho các quy định về nhóm tội này Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu còn đề xuất kiến nghị sửa đổi bổ sung đối với một số vấn đề về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của Tội mua dâm người dưới 18 tuổi với tình tiết tăng nặng mua dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, kiến nghị sửa đổi tình tiết biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội khiến nạn nhân bị lây nhiễm…Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn bổ sung tội danh Tấn công tình dục với cấu thành tội phạm, hướng dẫn chi tiết về thuật ngữ và cách định tội danh này

Nhìn chung, dưới góc độ luật hình sự:

- Các nghiên cứu thường dưới dạng tội đơn lẻ về hiếp dâm hoặc nghiên cứu cả nhóm tội xâm phạm tình dục

- Các nghiên cứu chưa thể hiện một cách toàn diện, đầy đủ từ việc làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, lý giải rõ ràng các đặc điểm pháp lý trong quy định của các tội hiếp dâm đến việc áp dụng quy định các tội này trên thực tiễn để

Trang 11

có những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đề xuất hướng dẫn áp dụng quy

định được hiệu quả

- Đặc biệt, Bộ luật hình sự 2015 mới được ban hành nên chưa có một

công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về các tội hiếp dâm để có

những kiến nghị hoàn thiện các tội này theo quy định của Bộ luật hình sự

2015

Người viết lựa chọn nghiên cứu định tội danh về các tội hiếp dâm, là đề

tài nghiên cứu chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn áp dụng tội hiếp dâm và

tội hiếp dâm trẻ em để từ đó làm cơ sở xác định được những bất cập, vướng

mắc cần tiếp tục khắc phục trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự 2015 và

có những kiến nghị hoàn thiện Do vậy, đây là đề tài tạo được tính mới so với

những nghiên cứu trước đây

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về định tội danh, các quy

định của pháp luật hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và thực tiễn

định tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên tại tỉnh An Giang trong

thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, luận văn đề xuất các giải pháp định tội

danh đúng tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên tại tỉnh An Giang

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

- Phân tích khái niệm: Ý nghĩa, quá trình và cơ sở pháp luật của định

tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên tại tỉnh An Giang

- Phân tích định tội danh theo các yếu tố cấu thành của tội hiếp dâm

người dưới 16 tuổi

- Phân tích thực trạng tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên tại

tỉnh An Giang từ năm 2013 đến năm 2017 chỉ ra nguyên nhân của thực trạng

đó

Trang 12

- Phân tích yêu cầu đối với định tội danh đúng tội hiếp dâm người dưới

16 tuổi

- Đề xuất các giải pháp bảo đảm tội danh đúng định tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên tại tỉnh An Giang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa thực tiễn hoạt động định tội

danh và quyết định hình phạt tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tình hình tội

hiếp dâm người dưới 16 tuổi tại tỉnh An Giang từ năm 2013 đến 2017 để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn về đề tài: “Định tội danh tội hiếp

dâm người dưới 16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang” như sau:

- Về không gian, tác giả đã thu thập được số liệu khảo sát tình hình

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên phạm vi tỉnh An Giang từ năm 2013 -

2017

 Về thời gian, luận văn sử dụng số liệu thống kê từ năm 2013 đến năm 2017 (05 năm), các vụ án dẫn chứng trong luận văn là những vụ án xảy

ra sau khi BLHS năm 1999 có hiệu lực cho đến nay

 Về nội dung, luận văn sẽ xem xét, giải quyết các vấn đề sau: khái

niệm, đặc điểm, phân loại định tội danh của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;

Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của định tội danh Tội hiếp dâm người dưới

16 tuổi; Phân biệt Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với một số tội danh trong BLHS; Thực trạng định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn

tỉnh An Giang và đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả định tội danh

đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lí luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối,

Trang 13

chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi nói riêng

 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu này chủ yếu dựa trên đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bên cạnh

đó nhóm sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn, cụ thể là:

- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập thông tin khoa học

trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết:

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài

liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về khái niệm tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi cũng như các khái niệm, phạm trù nhóm nghiên cứu trong đề tài Phương pháp này được sử dụng điển hình là các khái niệm được đưa ra tại mục 2.2,…;

+ Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Sắp xếp các tài

liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển Hệ thống hóa là sắp xếp tri thức thành một

hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết nhằm có cái nhìn hoàn thiện và đầy

đủ hơn về nhóm tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi;

+ Phương pháp so sánh: Nghiên cứu, đối chiếu với các khái niệm khác

cũng có mối liên hệ gần giống với tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi, tái hiện lại đối tượng đó theo các cơ cấu, chức năng của đối tượng;

Trang 14

+ Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát

sinh, quá trình phát triển của tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi dưới góc độ pháp luật quốc gia và pháp luật nước ngoài được so sánh để học hỏi từ

đó rút ra bản chất và quy luật vận động phát triển của loại tội phạm này trong từng thời kỳ, quan điểm nhà nước nhìn nhận loại tội phạm này trong từng thời

kỳ đó

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Là các phương pháp tác động

trực tiếp vào đối tượng có trong thực tiễn để làm rõ bản chất và các quy luật của đối tượng:

+ Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu và tổng

hợp lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học được thể hiện tại Chương 3, ngoài ra dựa trên phân tích

so sánh với pháp luật nước ngoài để đưa ra kinh nghiệm cho Việt Nam góp phần hoàn thiện pháp luật về nhóm tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện

lí luận và thực tiễn vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Luận văn đã tổng hợp đươc những vấn đề về khái niệm, đặc điểm, phân loại định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Luận văn cũng tổng hợp các quan điểm khoa học về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi để xây dựng nên khái niệm Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, bảo đảm tính chính xác, khoa học, đồng thời chỉ ra các đặc điểm cơ bản của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong mối tương quan so sánh với một

số chế định tội danh khác;

Trang 15

Đóng góp của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về tình hình định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, luận văn đã đưa ra được những tồn tại, hạn chế của thực tiễn định tội danh; Trên cơ

sở kết quả đó, luận văn đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả định tội của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn này gồm 3 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật của việc định tội danh

đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

- Chương 2: Thực trạng định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới

16 tuổi từ thực tiễn tỉnh An Giang

- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả định tội danh

đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH TỘI DANH

TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1.1.1 Khái niệm định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Để có thể cụ thể hóa các quy định trừu tượng của pháp luật vào trong thực tế đời sống cần có một quá trình nhất định Quá trình này diễn ra từ đơn giản đến phức tạp và được thực hiện bằng nhiều hoạt động áp dụng pháp luật khác nhau: xác định dấu hiệu của tội phạm, điều tra, định tội danh, xem xét miễn, giảm trách nhiệm hình sự…Trong đó, định tội danh được xem là một hoạt động thực tiễn rất quan trọng của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Bởi

lẽ việc định tội danh được xem như “mạch dẫn đầu tiên” trong quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Việc định tội danh đúng đắn tạo tiền

đề đảm bảo cho việc quyết định hình phạt, giải quyết vụ án được đúng người đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm và tránh làm oan sai người vô tội Tuy nhiên, khái niệm định tội danh vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất giữa các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật hình sự Theo PGS.TSKH Lê Cảm thì

“Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự

và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình

Trang 17

sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.”[8, tr.716]

Theo quan điểm này, định tội danh được xác định là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, là quá trình mà các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành so sánh, đối chiếu để tìm ra sự tương đồng giữa hành vi phạm tội được thực hiện với cấu thành tội phạm trong Bộ luật hình sự dựa trên các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khách quan khác của vụ án

Theo Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô cũ (Liên bang Nga hiện

nay) Kudriavtxev V.N “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm do quy phạm pháp luật hình sự quy định” Quan điểm này cho rằng định tội danh là việc xác định sự phù hợp

giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong phần tội phạm của Bộ luật hình sự Quan điểm này chỉ đơn thuần nhìn nhận định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp

lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu pháp lý của hành vi phạm tội với quy định của pháp luật, không nhìn nhận định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic

Theo PGS.TS Võ Khánh Vinh, ĐTD là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng PLHS nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm PLHS quy định CTTP tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của CTTP với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định. Theo quan điểm này thì hoạt động ĐTD không chỉ là quá trình đánh giá

về mặt pháp lý hình sự mà còn là một quá trình nhận thức và không phải chỉ

do cơ quan THTT thực hiện

Trang 18

Theo TS Dương Tuyết Miên, ĐTD là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, VKS, TA) và một số cơ quan khác

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu có phạm tội thì tội đó là gì? Theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác ĐTD cho hành vi nguy hiểm cho xã hội Theo quan điểm của chuyên gia này, “Định tội danh” được đặc trưng là

quá trình đánh giá về mặt pháp lý hình sự của các cơ quan THTT về một hành

vi cụ thể xem có đầy đủ các yếu tố CTTP không?

Trên cơ sở nghiên cứu tiếp thu các quan điểm nêu trên, học viên có thể

khái quát về ĐTD với các đặc điểm sau:

- ĐTD là một quá trình nhận thức một cách logic cũng như áp dụng PLHS và tố TTHS vào thực tế

- ĐTD là quá trình tìm hiểu, đánh giá hành vi trên thực tế với các dấu hiệu của CTTP trong BLHS

- Cơ sở của việc “ĐTD” là CTTP cụ thể trong BLHS

- ĐTD là một giai đoạn quan trọng, là tiền đề cho các giai đoạn của TTHS cũng như việc cá thể và phân hóa TNHS

Tổng hợp các ý kiến trên cùng với việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng, tác giả đưa ra khái niệm về định tội danh như sau: Định tội danh được xem là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành trên cơ sở thu thập chứng cứ, tài liệu cũng như các tình tiết khách quan khác trong vụ án hình sự, từ đó so sánh, đối chiếu và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp (tương đồng) giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội được thực hiện với các cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định

Từ khái niệm trên, có thể rút ra được khái niệm định tội danh Tội hiếp

dâm người dưới 16 tuổi như sau: “Định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành trên cơ sở thu thập

Trang 19

chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khách quan của vụ án để so sánh, đối chiếu, kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp (tương đồng) giữa hành vi nguy hiểm cho

xã hội được thực hiện với các cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi”

1.1.2 Đặc điểm định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Từ nội dung của khái niệm về định tội danh Tội hiếp dâm người dưới

16 tuổi nêu trên chúng ta có thể nhận thấy được vấn đề định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một quá

trình nhận thức lý luận có tính logic, được tiến hành bởi cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Tính logic được hiểu là việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động xem xét, phân tích, đánh giá, so sánh, đối chiếu với các dấu hiệu cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi để xác định xem hành vi phạm tội có cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi không Tất cả các hoạt động trên phải được thực hiện theo một trình tự chặt chẽ, kết quả của hoạt động trước là tiền đề của hoạt động tiếp theo và cuối cùng là xâu chuỗi các vấn đề đã nghiên cứu để đưa ra kết luận cuối cùng

Thứ hai, định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một dạng

của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật Hoạt động định tội danh sẽ tiến hành áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự lên những hành vi phạm tội

cụ thể, những quy định của pháp luật không còn là lý thuyết xa vời mà được

cụ thể hóa vào trong một tình huống cụ thể và được áp dụng lên một cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, nhằm mục đích răn đe, giáo dục người phạm tội

để duy trì trật tự xã hội

Thứ ba, hoạt động định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được

tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết khách

Trang 20

quan khác của vụ án Như đã đề cập, hoạt động định tội danh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự, định tội danh đúng sẽ giúp cho hoạt động xét xử được đúng đắn, đúng người đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm và tránh làm oan sai người vô tội Với ý nghĩa quan trọng như vậy, hoạt động định tội danh đòi hỏi người tiến hành định tội danh phải thật tỉ mĩ và nhạy bén, bởi lẽ một hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể cấu thành nhiều tội phạm khác nhau (Tội hiếp dâm trẻ em, Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi) vấn đề đặt ra ở đây là tội danh nào

sẽ là phù hợp nhất với hành vi nguy hiểm đã thực hiện Và để đạt được điều này, người tiến hành định tội danh phải dựa vào những chứng cứ, tài liệu thu thập được từ thực tế khách quan liên quan đến vụ án, những hoạt động thu thập này phải được tiến hành theo trình tự thủ tục được pháp luật quy định Đặc điểm này thể hiện rất rõ tính pháp chế trong pháp luật hình sự, một người chỉ bị kết tội khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng minh được hành

vi của họ thỏa mãn các dấu hiệu được quy định trong Bộ luật hình sự và các bằng chứng dùng để buộc tội phải được thu thập từ thực tế khách quan được tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định

Dựa vào đặc điểm trên, có thể phân chia quá trình định tội danh được tiến hành qua 04 bước sau:

 Bước 1: Xem xét, phân tích, đánh giá đúng các tình tiết đã diễn ra trong thực tế khách quan của vụ án

Bước này đòi hỏi người tiến hành định tội danh phải đánh giá các tình

tiết của vụ án một cách khách quan, vô tư, không suy diễn hay áp đặt ý chí chủ quan của mình để phân tích các tình tiết của vụ án Để có thể nhìn nhận một cách khách quan vô tư, người tiến hành định tội danh phải đánh giá đúng thực tế những gì có được từ công tác khám nghiệm hiện trường, giải phẩu tử

Trang 21

thi, nghiên cứu hồ sơ vụ án, những hoạt động này phải được tiến hành một cách toàn diện, có chiều sâu, bên cạnh thu thập chứng cứ buộc tội thì cũng phải thu thập chứng cứ gỡ tội, không được bỏ lọt bất kỳ tình tiết nào liên quan đến vụ án Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải có sự phối hợp với nhau một cách chặt chẽ để hỗ trợ cho nhau trong suốt quá trình tiến hành những hoạt động trên, bởi mỗi một cơ quan đều có chức năng chuyên biệt như

cơ quan điều tra chỉ tiến hành các hoạt động điều tra, tòa án chỉ tiến hành các hoạt động xét xử vậy nên để có thể phân tích đánh giá một cách toàn diện các tình tiết của vụ án thì các cơ quan này phải có sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý với nhau để quá trình xem xét, phân tích đạt được hiệu quả cao nhất Đánh giá mỗi tình tiết phải đặt nó trong một hoàn cảnh cụ thể, trong tổng thể của vấn đề

và các lập luận phải có mối quan hệ biện chứng với nhau, bởi cùng một tình tiết khi đặt vào những tình huống cụ thể khác nhau chúng sẽ khác nhau về bản chất, ví dụ: cùng là hành vi giết người nhưng giết người trong tình thế tinh thần bị kích động mạnh sẽ khác với hành vi giết người cướp tài tài sản Không thể dựa vào một tình tiết để kết luận toàn bộ vấn đề mà phải dựa vào tất cả các

tình tiết có liên quan để kết luận một vấn đề

 Bước 2: Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các quy phạm pháp luật trong cấu thành tội phạm cụ thể

Các quy định trong Bộ luật hình sự là những quy định mang tính trừu tượng, chỉ mô tả khái quát các hành vi phạm tội, một hành vi phạm tội cụ thể xảy ra với nhiều tình tiết phức tạp sẽ tạo ra những cách hiểu không thống nhất trong các cơ quan tiến hành định tội danh Chính vì thế, cần có một cách hiểu thống nhất đối với một hành vi phạm tội cụ thể Với quy định khá chi tiết về các tội danh, ví dụ như: Tội hiếp dâm, Tội cưỡng dâm, Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi… vì vậy

mà khi một hành vi phạm tội được thực hiện sẽ có thể cấu thành nhiều tội

Trang 22

danh bởi ranh giới định tội danh đối với những tội trên rất mong manh Để làm được điều này đòi hỏi những cơ quan tiến hành định tội danh phải có

năng lực chuyên môn cao và năng lực pháp lý hình sự vững vàng

 Bước 3: Tiến hành so sánh, đối chiếu kết quả của hai quá trinh trên

 Bước 4: Ra bản án để kết tội người đã thực hiện hành vi phạm tội

Đây được xem là bước cuối cùng trong quá trình định tội danh, khi có quyết định của tóa án thì người phạm tội sẽ bị kết tội vào một tội danh cụ thể, quá trình định tội danh kết thúc

1.1.3 Ý nghĩa của việc định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Được xem như “mạch dẫn đầu tiên” của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, việc định tội danh nói chung và định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác xét xử vụ

án hình sự Định tội danh giúp cụ thể hóa những quy định của pháp luật vào trong thực tiễn đời sống, làm cho pháp luật phát huy được vai trò quản lý xã hội của mình, góp phần ổn định trật tự xã hội tạo điều kiện cho kinh tế phát triển Định tội danh đúng giúp cho quá trình giải quyết vụ án hình sự được đúng đắn, công minh, xét xử đúng người, đúng tội để từ đó góp phần củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật nước nhà, nâng cao được ý thức tuân thủ pháp luật của người dân Định tội danh đúng còn góp phần nâng cao được uy tín của các cơ quan nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, để pháp luật trở thành công cụ hiệu quả trong việc quản lý trật tự xã hội

1.2 Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1.2.1 Cơ sở khoa học

Định tội danh đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là hoạt động nhận thức mang tính logic Để định tội danh được tiến hành một cách hiệu

Trang 23

quả, khoa học thì chủ thể định tội ngoài việc nhận thức đúng đắn các quy định của Bộ luật hình sự thì còn phải dựa trên cơ sở lý luận khoa học về mô hình pháp lý của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi Mô hình pháp lý về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi mà chủ thể định tội danh dựa vào được gọi là cơ sở khoa học của việc định tội danh

Như vậy, căn cứ khoa học của định tội danh là cấu thành tội phạm (CTTP) Tổng hợp những dấu hiệu chung đặc trưng, điển hình cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS, mà cụ thể là đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là CTTP của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định trong Điều 142 BLHS năm 2015, gồm các yếu tố như sau:

1.2.1.1 Khách thể của tội Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

“Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội bị xâm phạm mà các quan hệ xã hội đó được Bộ luật hình sự bảo vệ” [16, tr.51] Đây là phần quan trọng không thể thiếu trong cấu thành tội phạm Khách thể được hiểu là các quan hệ xã hội, các quan hệ xã hội này phải là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, vậy nên không phải bất kỳ một quan hệ xã hội nào cũng được xem là khách thể của tội phạm Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định trong Chương XIV: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật hình sự 2015 Là một quan

hệ xã hội được Bộ luật hình sự bảo vệ, khách thể của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là quyền được bảo vệ về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,

sự phát triển lành mạnh của trẻ em Hành vi phạm tội là hành vi đã xâm phạm đến các quyền được bảo vệ về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, sự phát triển lành mạnh của trẻ em, làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường

về tâm, sinh lý của trẻ em, trật tự xã hội, đi ngược lại thuần phong mỹ tục, văn hóa của người Việt Nam để lại những hậu quả khôn lường Độ tuổi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi,

Trang 24

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định tuổi của người bị hại trên cơ

sở giấy khai sinh của họ, nếu trường hợp không có giấy khai sinh hoặc mất giấy khai sinh thì phải dùng tất cả các biện pháp để có thể xác định được tuổi thật của nạn nhân, trường hợp không có căn cứ để xác định thì phải theo nguyên tắc suy đoán có lợi cho người phạm tội

1.2.1.2 Mặt khách quan của tội Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

“Khoa học luật hình sự gọi mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội, không còn nằm trong ý nghĩ của người phạm tội nữa, những biểu hiện này có thể bằng hành động hoặc không hành động khi có nghĩa vụ phải hành động gọi là hành vi khách quan Nếu đã thực hiện hành vi và đã gây ra thiệt hại thì các biểu hiện của những thiệt hại đó, khoa học luật hình sự gọi là hậu quả của tội phạm Nhưng mặt khách quan của tội phạm không chỉ bao gồm hành vi, hậu quả mà còn nhiều yếu tố khách quan khác có thể tác động, chi phối việc thực hiện hành vi, chi phối việc phát sinh hậu quả như: không gian, thời gian, phương tiện, công cụ sử dụng để thực hiện tội phạm” [16, tr.56] Theo định nghĩa trên

của Thạc sĩ Luật học Đinh Văn Quế thì các dấu hiệu hợp thành mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện chi phối hành vi và hậu quả của hành vi

Hành vi khách quan của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là những hành vi:

Dùng vũ lực: sử dụng sức mạnh thể chất như trói tay, chân, bịt miệng, vật ngã… nhằm làm mất khả năng chống cự của nạn nhân

Đe dọa dùng vũ lực: sử dụng lời nói, cử chỉ, động tác khác nhưng chưa tác động vào nạn nhân nhằm thể hiện cho nạn nhân hiểu nếu nạn nhân không cho giao cấu thì những lời đe dọa đó sẽ được thực hiện

Trang 25

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân: tình trạng không thể tự vệ thường do phía nạn nhân tạo ra như: đi một mình trên đoạn đường vắng, nạn nhân ở nhà một mình…

Dùng thủ đoạn khác: đây là những tình huống do người phạm tội tạo ra như cho nạn nhân sử dụng thuốc mê, thuốc kích dục, xem phim khiêu dâm làm cho nạn nhân hạn chế hoặc mất khả năng chống cự

Giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân: là hành vi được thực khi không được sự đồng ý của nạn nhân hoặc họ không thể thể hiện được ý chí của mình

do bị cho sử dụng thuốc mê, rượu, bia hoặc bị hạn chế ý thức khi bị cho sử dụng thuốc kích dục

Hậu quả của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là thiệt hại mà người thực hiện hành vi đã gây ra cho nạn nhân Về vật chất: thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản… của người bị hại, về hậu quả phi vật chất thì hành vi phạm tội để lại những thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, tâm sinh lý của nạn nhân, bởi vì nạn nhân là trẻ em nên những hậu quả mà tội phạm này để lại là vô cùng nghiêm trọng

Mối quan hệ nhân quả là sự liên quan trực tiếp giữa hành vi phạm tội

và hậu quả do chính hành vi đó để lại Hành vi phạm tội xảy ra trước hậu quả

về mặt thời gian, giữa hành vi và hậu quả tồn tại mối quan hệ nội tại tất nhiên

Ý nghĩa của việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là để quá trình định tội danh được đúng, tránh làm oan sai và tránh

bỏ lọt tội phạm

1.2.1.3 Chủ thể của tội Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

“Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi phạm tội và chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình”[16, tr.56] Phân tích khái

niệm trên ta thấy chủ thể của tội phạm phải là một con người cụ thể (phân biệt với pháp nhân), con người cụ thể đó phải thực hiện một hay một số hành vi

Trang 26

cấu thành một tội phạm cụ thể và phải tự chịu trách nhiệm hình sự về hành vi

mà mình đã thực hiện Những điều kiện để chịu trách nhiệm hình sự bao gồm: tuổi chịu trách nhiệm hình sự và năng lực trách nhiệm hình sự Dựa vào cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì người phạm tội này là bất kể người nào đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ đều có thể là chủ thể của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi Tuổi chịu trách nhiệm sự đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là người từ

đủ 14 tuổi trở lên, tính chất hành vi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là năng lực của một người bình thường, không bị hạn chế về nhận thức, không bị các bệnh liên quan đến việc nhận thức hành vi như bệnh tâm thần Từ những phân tích trên có thể đưa ra kết luận một cách chi tiết về chủ thể của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bất kỳ người nào có đầy đủ năng lực hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình

1.2.1.4 Mặt chủ quan của tội Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Mặt chủ quan được hiểu là mặt bên trong, những gì thuộc về suy nghĩ của con người chưa được bộc lộ ra ngoài thế giới khách quan, vì vậy chúng ta không thể cảm nhận được những điều đó thông qua việc tiếp xúc với các giác quan trên cơ thể mà cần phải có một quá trình nhận thức theo phương pháp biện chứng Các yếu tố hợp thành mặt chủ quan theo khoa học luật hình sự bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích Một người bị coi là có lỗi khi họ thực hiện hành vi của mình trong sự tự do về ý chí, nhận thức được hành vi của mình và điều khiển được hành vi của mình, được chia thành hai loại: lỗi cố ý và lỗi vô

ý Lỗi cố ý được hiểu là người thực hiện hành vi nhận thức được hành vi của

Trang 27

mình và mong muốn cho hậu quả xảy ra, còn đối với lỗi vô ý thì người phạm tội nhận thức được hành vi của mình nhưng không mong muốn hậu quả xảy

ra nhưng do họ cẩu thả hoặc quá tự tin nên làm xảy ra hậu quả Mục đích, động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc trong định tội danh, vì vậy không phải cấu thành tội phạm nào cũng có dấu hiệu mục đích và động cơ Mục đích, động cơ được hiểu là cái thôi thúc người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Từ những phân tích trên có thể đưa ra kết luận về mặt chủ quan của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi như sau: người thực hiện hành vi phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý, ở cấu thành tội phạm của tội này không đòi hỏi dấu hiệu về mục đích, động cơ của hành vi phạm tội

Nếu như BLHS năm 1999 xem tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là tội hiếp dâm trẻ em thì đến BLHS năm 2015 thì đã có sự thay đổi so với BLHS

năm 1999, cụm từ “trẻ em” không còn được sử dụng trong BLHS năm 2015,

thay vào đó, nhà làm luật đã chi tiết hóa độ tuổi của nhóm đối tượng này, đó

là “người dưới 16 tuổi” Như vậy, BLHS năm 2015 có sự tương thích với

Luật Trẻ em năm 2016 khi thống nhất độ tuổi trẻ em là người dưới 16 tuổi

Theo Điều 142 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì Tội

hiếp dâm người dưới 16 tuổi được định nghĩa như sau: “Hiếp dâm người dưới

16 tuổi là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác với người chưa đủ 16 tuổi.” Như vậy, theo định nghĩa

trên thì Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi có những dấu hiệu cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hành vi cấu thành tội phạm giống như hành vi cấu thành tội

hiếp dâm đó là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác với nạn nhân So với Tội hiếp dâm trẻ em được quy định tại Điều 112 BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 còn bổ sung

Trang 28

thêm hành vi là quan hệ tình dục khác vào cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi Điều này xuất phát từ sự phát triển của internet, văn hóa phương Tây, các trang mạng đồi trụy du nhập vào nước ta ngày càng nhiều, nên ai cũng có thể tiếp cận với các hình thức làm tình, các kiểu làm tình “không giao cấu” nhằm thõa mãn dục vọng của mình Mặc khác, với quy định thêm hành vi quan hệ tình dục khác còn thể hiện rằng nạn nhân hay người phạm tội có thể là nam hoặc nữ giới ( mở rộng chủ thể phạm tội, người

bị phạm tội hơn so với BLHS năm 1999) Chính vì vậy, nhà làm luật bổ sung thêm hành vi quan hệ tình dục khác là nhằm mục đích bảo vệ quyền cho người dưới 16 tuổi, tránh bỏ lọt tội phạm Điểm mới này của BLHS 2015 là một bước tiến quan trọng trong thực tiễn đấu tranh tội phạm tình dục Đặc biệt

là việc quy định các hành vi tình dục khác, mở đường cho việc xử lý các hành

vi cưỡng ép, ép buộc nạn nhân quan hệ trái ý muốn trong tình dục đồng giới

Thứ hai, khía cạnh tự nguyện của nạn nhân Nếu Tội hiếp dâm yếu tố

bắt buộc cấu thành tội này là khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội phải “trái ý muốn” của nạn nhân thì vấn đề trái ý muốn của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi chỉ đặt ra khi nạn nhân là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Trường hợp, nạn nhân là người dưới 13 tuổi thì dù người dưới 13 tuổi đồng ý để người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác thì hành vi này vẫn bị coi là phạm tội Điều này xuất phát từ quan điểm: Người dưới 13 tuổi khả năng nhận thức chưa phát triển, trẻ em còn hết sức non nớt, dễ bị người khác lôi kéo, rủ rê, mua chuộc, khó có khả năng tự bảo

vệ mình, nên pháp luật cần bảo vệ những đối tượng này một cách đặc biệt nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường, lành mạnh của trẻ em

Thứ ba, tuổi của nạn nhân là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp

dâm người dưới 16 tuổi Việc xác định tuổi của nạn nhân dựa trên giấy khai sinh của họ, trường hợp không xác định được tuổi của nạn nhân thì cơ quan

Trang 29

tiến hành tố tụng phải áp dụng tất cả các biện pháp có thể để xác định tuổi thật của người bị hại Việc xác định tuổi đối với nạn nhân phải theo quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như đối với các trường hợp xác định tuổi của người bị hại là người chưa thành niên

-Về tình tiết định khung tăng nặng:

Điểm c khoản 2 Điều 142 đã thay đổi tình tiết “gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 61%” tại điểm c khoản 2 Điều 112 BLHS năm 1999 thành “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%”, tương tự tại điểm d khoản 3 “61% trở lên” Việc nhà làm luật bổ sung thêm dấu hiệu “gây thương tích” đã bao quát được những trường hợp xảy ra trong thực tế, tránh

nhầm lẫn như chúng ta đã dùng lâu nay; đồng thời, tạo sự thống nhất với Điều

134 – Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

và Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12/06/2014 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần

Bổ sung tình tiết “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%” tại điểm d khoản 2 Điều 142 hoặc tương tự tại điểm đ khoản 3

“46% trở lên” Trong trường hợp này, hành vi của người phạm tội hoặc gây

rối loạn tâm thần, hoặc gây rối loạn hành vi cho nạn nhân Quy định như vậy

đã khắc phục được thiếu sót của BLHS năm 1999 khi không bao quát được hậu quả của tội phạm, do nạn nhân của tội phạm này không chỉ bị tổn thương sức khỏe mà còn bị tổn hại về tinh thần Đặc biệt, Thông tư 20/2014/TT-BYT

đã giải quyết được vấn đề mà từ lâu các nhà nghiên cứu đã đặt ra, là làm sao

để xác định được những tổn thương về tâm thần Đây là một quy định mới mà theo người nghiên cứu đánh giá là kịp thời để có thể xử lí những hậu quả trong thực tế có thể xảy ra

Trang 30

Các tình tiết quy định tại điểm c khoản 3 Điều 112 BLHS năm 1999

“phạm tội nhiều lần” và điểm d khoản 3“đối với nhiều người” đã được giảm

nhẹ khung hình phạt và chi tiết hơn khi được quy định tại khoản 2 thành

“phạm tội 02 lần trở lên” (điểm e) và “đối với 02 người trở lên” (điểm g) Sự

thay đổi này phù hợp với cách hiểu trước đây của chúng ta mặc dù chưa được làm rõ trong luật, và được thống nhất trong tất cả các tình tiết tương tự tại BLHS năm 2015

Bổ sung tình tiết mới “phạm tội đối với người dưới 10 tuổi” là tình tiết

định khung tăng nặng tại điểm c khoản 3 Điều 142 BLHS năm 2015 với mức hình phạt là tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Việc nhà làm luật quy định tình tiết này làm tình tiết định khung tăng nặng là cần thiết, phù hợp với

lý luận cũng như thực tiễn, thể hiện rõ sự phân hóa về độ tuổi của đối tượng tác động khi chủ thể thực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan

hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi – một là người dưới 10 tuổi, hai là người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi

1.2.2 Cơ sở pháp lý

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, cơ sở pháp lý của định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được hiểu khác là quy đinh của BLHS mà cụ thể

hơn là Điều 142 BLHS năm 2015 quy định về Tội hiếp dâm người dưới 16

tuổi Các văn bản pháp luật hình sự khác chỉ là những văn bản dưới luật làm nhiệm vụ hướng dẫn, giải thích nhằm đảm bảo việc áp dụng BLHS đúng đắn, chính xác và có hiệu quả

Theo quy định tại Điều 142 BLHS năm 2015, Tội hiếp dâm người dưới

16 tuổi được quy định như sau:

“Điều 142 Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ

07 năm đến 15 năm:

Trang 31

a) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể

tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Đối với người dưới 10 tuổi;

d) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

e) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát

Trang 32

4 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”

1.3 Phân biệt dấu hiệu pháp lý của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với một số tội khác có liên quan

1.3.1 Phân biệt dấu hiệu pháp lý của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

và Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 144 Bộ luật hình sự năm 2015 là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người

từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, người thực hiện hành vi cưỡng dâm là bất

kỳ người nào bằng bất kỳ thủ đoạn nào khiến cho người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang trong tình trạng lệ thuộc vào mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác Điểm khác biệt lớn nhất giữa Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là mối quan hệ giữa người phạm tội và người bị hại Người bị hại trong tội phạm này

và người phạm tội có mối quan hệ lệ thuộc, ràng buộc nhau, người bị hại đang trong tình trạng lệ thuộc vào người phạm tội hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác Đây

là dấu hiệu pháp lý bắt buộc đối với cấu thành tội phạm của Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi Nếu giữa nạn nhân với người phạm tội không có mối quan hệ lệ thuộc hoặc nạn nhân không phải đang trong tình trạng quẫn bách thì hành vi phạm tội sẽ cấu thành Tội hiếp dâm người dưới

16 tuổi nếu thỏa mãn thêm các dấu hiệu pháp lý khác của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Quan hệ lệ thuộc được thể hiện ở nhiều mặt: về vật chất (như được nuôi dưỡng, được trợ cấp tiền bạc…), về quan hệ xã hội (như giáo viên với học

Trang 33

sinh, giữa bác sĩ với bệnh nhân…), về quan hệ gia đình (như anh, chị, em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha…) Tất cả các mối quan hệ trên đều phải là mối quan hệ lệ thuộc thực tế, nghĩa là ý chí của nạn nhân phải bị áp đặt, chi phối mạnh mẽ bởi người thực hiện hành vi phạm tội Tình trạng quẫn bách được hiểu là người đang trong tình trạng vô cùng khó khăn về vật chất hoặc tinh thần khiến họ phải miễn cưỡng cho giao cấu Những trường hợp thường gặp là: bị đe dọa tung clip nhạy cảm, không có tiền để chữa bệnh cho người thân, bị người khác nắm được hành vi sai trái của mình nên phải giao cấu theo ý muốn của họ,…

1.3.2 Phân biệt dấu hiệu pháp lý của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

và Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ

13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ

đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là hành vi của người đã thành niên thực hiện hành

vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi không trái với ý muốn của nạn nhân, cụ thể khoản 1 Điều 145

Bộ luật hình sự 2015 quy định về Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi như sau: “ Người nào

đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” Điểm khác biệt cơ bản giữ Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là ở ý chí của người bị hại Người bị hại trong Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi họ giao cấu tự nguyện, nghĩa là họ đồng ý với hành vi giao cấu mà không

bị đe dọa hay cưỡng ép như Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi hay Tội cưỡng

Trang 34

dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nhưng để bảo vệ sự phát triển bình thường về sức khỏe sinh sản của người bị hại nên pháp luật hình sự nghiêm cấm hành vi giao cấu đối những người này Nạn nhân có thể là nam và cũng

có thể là nữ, do sự thay đổi của xã hội những lý lẽ đạo đức thông thường dần

bị biến dạng đi, xu hướng tình dục của con người ngày càng đa dạng hơn, theo đó tình dục không còn là sự kết hợp giữa một người nữ và một người nam mà còn giữa những người nam với nhau hoặc những người nữ với nhau (quan hệ đồng tính) Chính vì vậy mà Bộ luật hình sự 2015 đã có những quy định mới phù hợp với thực trạng của xã hội Khái niệm giao cấu được đề cập đến trong Bản tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao số 329/HS2 ngày

11/5/1967 là : “Giao cấu: chỉ cần có sự cọ xát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức ấn vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không là tội Hiếp dâm được coi là hoàn thành, vì khi đó nhân phẩm danh dự của người phụ nữ đã bị chà đạp”, là một dấu hiệu pháp lý

quan trọng trong việc định tội danh Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan

hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thế nhưng hành vi giao cấu lại không được hướng dẫn một cách chính thức trong các văn bản quy phạm pháp luật, rõ ràng quy định trên trong bản tổng kết của Tòa án nhân dân Tối cao đã bộc lộ những bất cập và lỗi thời, bởi nếu quan hệ có sử dụng bao cao su thì không được coi là có sự cọ xát trực tiếp giữa dương vật với bộ phận sinh dục nữ Xã hội đã rất phát triển và xu hướng tình dục của con người cũng ngày càng có xu hướng phức tạp hơn vì vậy cần có những quy định thức thời trong việc định nghĩa về hành vi giao cấu để tránh bỏ lọt tội phạm Các hành vi quan hệ tình dục khác mặc dù chưa được Tòa án nhân dân Tối cao quy định cụ thể nhưng cũng có thể được hiểu là những hành vi quan hệ tình dục bằng miệng, quan hệ tình dục đồng giới thông qua việc sử dụng bộ phận

Trang 35

sinh dục nam và hậu môn của một người nam khác hoặc các cách quan hệ trong đồng giới nữ với nhau, quan hệ tình dục có sử dụng những công cụ tình dục (Toys sex), đây là những hành vi quan hệ tình dục đã được thừa nhận trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm Đây là một trong những điểm mới đáng ghi nhận trong Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Người bị phạm tội trong Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi phải ở độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, vì nếu hành vi giao cấu với nạn nhân dưới 13 tuổi sẽ cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 13 tuổi mặc dù hành vi giao cấu này không trái với

ý muốn của nạn nhân

1.3.3 Phân biệt dấu hiệu pháp lý của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

-Phân biệt với Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146 BLHS)

Tội dâm ô đới với người dưới 16 tuổi được quy định tại khoản 1 Điều

146 Bộ luật hình sự 2015 như sau: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành

vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” Khái niệm dâm ô chưa được hướng dẫn một cách cụ thể trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào, tuy nhiên theo quan điểm của Thạc sĩ Luật học Đinh Văn Quế thì hành vi dâm ô với trẻ em được hiểu là :

“Dâm ô đối với trẻ em là hành vi của người đã thành niên dùng mọi thủ đoạn

có tính chất dâm dục đối với người dưới 16 tuổi nhằm thỏa mãn dục vọng của mình nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân Hành vi dâm ô được thể hiện đa dạng như: sờ mó, hôn hít bộ phận sinh dục của nạn nhân; dùng bộ phận sinh dục của mình chà xát với bộ phận sinh dục của nạn nhân hoặc bắt

Trang 36

nạn nhân sờ mó, hôn hít bộ phận sinh dục của mình nhằm thỏa mãn dục vọng, nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân Nạn nhân có thể bị người phạm tội cưỡng ép buộc phải thực hiện hành vi dâm ô, nhưng cũng có thể đồng tình với người phạm tội để người phạm tội thực hiện hành vi dâm ô hoặc tự nguyện thực hiện hành vi dâm ô với người phạm tội”[15, tr.244]

Để cấu thành Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thì hành vi dâm ô phải không nhằm mục đích giao cấu hoặc thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, dâm ô được hiểu là những hành vi dâm dục, sờ mó, hun hít bộ phận sinh dục, chà xát bộ phận sinh dục với bộ phận cơ thê của nạn nhân nhằm thỏa mãn dục vọng của người phạm tội Điểm khác biệt lớn nhất giữa Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là mục đích của hành vi, theo đó Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích giao cấu với trẻ em hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, còn Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thì người thực hiện hành vi phạm tội không nhằm mục đích giao cấu với nạn nhân Khi định tội danh đối với hai tội này người tiến hành định tội danh phải chứng minh được hành vi của người phạm tội có nhằm mục đích giao cấu hoặc thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác hay không Việc xác định mục đích trên không

hề dễ dàng, bởi ranh giới pháp lý giữa hai tội này rất mong manh, ví dụ: một người đã thành niên đang có hành vi sờ mó, hun hít bộ phận sinh dục của một

bé gái 14 tuổi thì bị người nhà của bé gái phát hiện và tố giác với cơ quan công an, khi khai với cơ quan điều tra, người thực hiện hành vi này nói là chỉ muốn thỏa mãn dục vọng chứ không hề có ý định giao cấu với bé gái, rõ ràng việc xác định người thực hiện hành vi phạm tội có nhằm mục đích giao cấu hay thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác hay không là rất khó, bởi nếu người nhà nạn nhân phát hiện lúc hành vi phạm tội chưa đi đến kết thúc nên việc xác định mục đích của hành vi không phải là chuyện dễ dàng Từ thực tế

Trang 37

trên, cần đặt ra vấn đề là các nhà làm luật cần quy định chặt chẽ và cụ thể hơn nữa đối với Tội dâm ô người dưới 16 tuổi, trong khi điều luật quy định hành

vi dâm ô nhưng lại không có văn bản hướng dẫn thế nào là hành vi dâm ô và ranh giới giữa Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi lại rất mong manh

- Phân biệt với Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm được định nghĩa là: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới

16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” – khoản 1 Điều 147 Bộ luật hình sự 2015 Khái niệm khiêu dâm được định nghĩa trong Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 05 năm 2004 quy định chi tiết một số điều của pháp lệnh phòng chống mại dâm là “Hành vi dùng cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục”

Về mặt khách quan: người phạm tội thực hiện hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc nạn nhân trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm Hành vi khách quan của Tội hiếp dâm người dưới

16 tuổi là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác nhằm giao cấu hoặc thực hiện các hành vi quan hệ tình khác Sự khác biệt giữa hai hành vi phạm tội này là mục đích mà hành vi hướng tới, mục đích của Tội sử dụng người dưới

16 tuổi vào mục đích khiêu dâm là nhằm kích thích sự ham muốn tình dục, không nhằm mục đích giao cấu với nạn nhân, còn đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì mục đích mà người phạm tội hướng tới là thực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân

Trang 38

Về chủ thể thực hiện hành vi phạm tội: chủ thể trong Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, là nam hoặc là nữ, còn chủ thể trong Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì chủ thể là bất kỳ người nào, là nam hoặc là nữ, không phân biệt đã thành niên hay chưa thành niên

Kết luận chương 1

Chương 1 của luận văn đã nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lí luận

về định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS) Cụ thể, tại Chương 1, tác giả phân tích các khái niệm, đặc điểm định tội danh; các dấu hiệu pháp lý của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi,… Đây là cơ sở quan trọng

để giúp hoạt động định tội danh của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi chính xác và đạt hiệu quả cao, cũng như xác định ranh giới rõ ràng các dấu hiệu định tội của các tội trong Chương xâm phạm tình dục trẻ em

Những kết quả nghiên cứu tại chương 1 của luận văn sẽ là nền tảng quan trọng cho việc nghiên cứu những vấn đề được đặt ra trong thực tiễn định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi tại chương 2; là căn cứ để tác giả đưa ra một số kiến nghị đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi tại chương 3 của luận văn

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI

DƯỚI 16 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG

2.1 Khái quát tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn từ năm 2013 – 2017

An Giang là tỉnh có dân số đông nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đồng thời cũng là tỉnh có dân số đứng hạng thứ 6 Việt Nam Một phần diện tích của tỉnh An Giang nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên

An Giang có diện tích 3.536,7 km² bằng 1,03% diện tích cả nước và đứng thứ 4 so với 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp, phía bắc và tây bắc giáp hai tỉnh Kandal và Takeo của Campuchia với đường biên giới dài gần 104 km, phía tây nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp thành phố Cần Thơ.[Wikiepedia]

Về điều kiện tự nhiên, An giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có

hệ thống giao thông thủy, bộ rất thuận tiện Giao thông chính của tỉnh là một phần của mạng lưới giao thông liên vùng quan trọng của quốc gia và quốc tế,

có cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương – Tân Châu và Long Bình – An Phú Đó là lợi thế cho quá trình mở cửa, phát triển và hội nhập kinh tế An Giang với các tỉnh trong khu vực, ngoài nước, nhất là khu vực Đông Nam Á

Về kinh tế, năm 2017, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP theo giá

so sánh năm 2010) tăng 5,11%, cao hơn mức tăng của các năm 2015 và 2016 (năm 2015 tăng 5,04%, năm 2016 tăng 4,47%); tổng giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp đạt 40.025 tỷ đồng, tăng 1,82% so với năm 2016; giá trị sản xuất công nghiệp đạt 36.609,5 tỷ đồng, tăng 7,43% so với cùng kỳ năm trước; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 91.291 tỷ đồng, tăng 12,82% so cùng kỳ năm trước; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 820

Trang 40

triệu USD; tổng thu ngân sách là 5.780 tỷ đồng, bằng 108% dự toán; GRDP bình quân đầu người đạt 34,33 triệu đồng

An giang có dân số trung bình đông nhất so với các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh là 2.159.900 người[3], mật độ dân số 611 người/km².30.7% dân số sống ở đô thị và 69.3%[3] dân số sống ở nông thôn Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh

Dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh; trong

đó có 16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộc Khmer toàn tỉnh)

Dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng

số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh

Dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh

Về tôn giáo, An Giang là nơi xuất phát của một số tôn giáo nội sinh như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo An Giang hiện có 9 tôn giáo được Nhà nước công nhận, gồm: Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Tin Lành, Tịnh Độ Cư sĩ, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hồi giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, với gần 1,8 triệu tín đồ (chiếm 78% dân số toàn tỉnh), 487 cơ sở thờ tự hợp pháp, 602 chức sắc và trên 3.400 chức việc

Những đặc điểm kinh tế xã hội, dân cư của tỉnh An giang có ảnh hưởng lớn đến tình hình tội phạm nói chung cũng như Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi cũng ngày càng gia tăng và mức độ thực hiện tội phạm ngày càng nguy hiểm cao hơn, ảnh hưởng đến tình hình phát triển của An Giang nói riêng và của Việt Nam nói chung

Ngày đăng: 24/06/2019, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2003) Chỉ thị số 53/CH-TW khẳng định quyết tâm chống oan, sai trong hoạt động tố tụng, nâng cao chất lượng công tác tư pháp, tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, của công dân, ban hành ngày 21/3/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 53/CH-TW khẳng định quyết tâm chống oan, sai trong hoạt động tố tụng, nâng cao chất lượng công tác tư pháp, tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, của công dân
2. Bộ Chính trị (2002) Nghị quyết số 08-NQ/TW Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, ban hành ngày 02/01/2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
3. Bộ Chính trị (2005) Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, ban hành ngày 24/5/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW về" c"hiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
4. Bộ Chính trị (2005) Nghị quyết số 49/NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ban hành ngày 02/6/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
5. Bộ Y tế (2014) Thông tư số 20/2014/TT-BYT của Bộ Y tế Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, ban hành ngày 12/6/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2014/TT-BYT của Bộ Y tế Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần
6. Lê Cảm (1999) “Định tội danh - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (3, 4, 5, 8, 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
7. Lê Cảm (2000) Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh, Chương XXXI Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh, Chương XXXI Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
8. Lê Cảm (2002) Một số vấn đề chung về định tội danh trong “Giáo trình luật hình sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.716 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về định tội danh "trong “Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
9. Lê Cảm (2003) Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh,Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
10. Lê Cảm (2000) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh, Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh, Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
11. Dương Hằng (2016) “Hành hạ hiếp dâm 2 thiếu nữ, bắt các nạn nhân tự quan hệ”,<http://giaoduc.net.vn/Hinh-su/Hanh-ha-hiep-dam-2-thieu-nu-bat-cac-nan-nhan-tu-quan-he-post6598.gd>, (ngày 20/3/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành hạ hiếp dâm 2 thiếu nữ, bắt các nạn nhân tự quan hệ
12. Dương Tuyết Miên (2005) Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và quyết định hình phạt
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
13. Đinh Văn Quế (2000) Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 (phần chung), Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 (phần chung)
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
14. Đinh Văn Quế (2002) Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm), tập 1 Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, Nxb thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm), tập 1 Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người
Nhà XB: Nxb thành phố Hồ Chí Minh
15. Đinh Văn Quế (2005) Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm, Tập II, Các tội xâm phạm sở hữu, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm, Tập II, Các tội xâm phạm sở hữu
Nhà XB: Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh
16. Đinh Văn Quế (2010) Tìm hiểu tội phạm và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Phương Đông, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tội phạm và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Phương Đông
17. Quốc hội (1999) Bộ luật Hình sự 1999, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự 1999
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
18. Quốc hội (2015) Bộ luật Hình sự 2015, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự 2015
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
19. Quốc hội (2003) Bộ luật Tố tụng hình sự 2003,Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
Nhà XB: Nxb Tư pháp
20. Quốc hội (2015) Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm