Giáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí MinhGiáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học, các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn, sự kính trọng đặc biệt đến GS.TS Hoàng Thế Liên
- người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về khoa học để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Lãnh đạo, chuyên viên Sở GD&ĐT thành phố Hồ Chí Minh
- Ban giám hiệu, các giáo viên dạy trường THPT thành phố Hồ Chí Minh là trường Trường THPT Nguyễn Khuyến; Trường THPT Nguyễn Du; Trường THPT Nguyễn An Ninh; Trường THPT Sương Nguyệt Anh; Trường THPT Diên Hồng
- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song có thể còn có những mặt hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2019
TÁC GIẢ
HOÀNG THỊ TỨ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, không trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu nào đã có Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực Tôi cũng xin cam đoan rằng các kết quả trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc hoặc chỉ rõ trong tài liệu tham khảo
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2019
HỌC VIÊN
HOÀNG THỊ TỨ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIÁO DỤC PHÁP
1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật……….6 1.2 Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông……….8 1.3 Vai trò của giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông …….12 1.4 Quy định pháp luật về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông………12 1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông………20
Tiểu kết Chương 1……… 22 Chương 2: THỰC TIỄN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TẠI
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 10,
THÀNH PHÔ HỒ CHÍ MINH ……….……23
2.1 Khái quát về thực trạng bậc học ở trung học phổ thông Quận 10, thành phố
Hồ Chí Minh 23 2.2 Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông tại Quận
10, thành phố Hồ Chí Minh 27 2.2.1 Mục tiêu, phương pháp lấy mẫu, phương pháp khảo sát 27 2.2.2 Kết quả khảo sát và kết luận 30 2.3 Đánh giá chung về thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học thông trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh … … …….……… 50 2.3.1 Ưu điểm ……….……… ……… 50
Trang 52.3.2 Hạn chế……… ………50 2.3.3 Nguyên nhân……… ………53
Tiểu kết Chương 2……… 56 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH……… 57
3.1 Quan điểm chung về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông……… ….57 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh……… 57 3.2.1 Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch
về phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông, Quận
10……… ………57
3.2.2 Xây dựng nội dung, chương trình giáo dục pháp luật phù hợp với học sinh trung học phổ thông……….………58 3.2.3 Nâng cao vai trò, tính tích cực của các thầy giáo, cô giáo, tuyên truyền viên các tổ chức đoàn thể trong công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông trên đại bàn Quận 10……… ……….62 3.2.4 Đa dạng hình thức, đổi mới phương pháp giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông Quận 10……… ……… 64 3.2.5 Từng bước đổi mới, hiện đại hóa về cơ sở vật chất đáp ứng công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông, Quận 10 ……….68
Tiểu kết Chương 3……… …69 KẾT LUẬN……… 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CBQL, GV, NV : Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật là cơ sở tổ chức hoạt động của chính quyền, là sự ghi nhận, bảo vệ
và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, là phương thức quản lý xã hội có hiệu lực nhất Vì vậy, việc ban hành pháp luật và bảo đảm thực thi pháp luật
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Nhà nước Để thực hiện đúng pháp luật trước hết cần phải tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật Vì vậy, tuyên truyền giáo dục pháp luật là một bộ phận có ý nghĩa đặc biệt trong hệ thống giáo dục chung của Đảng và Nhà nước nhằm giáo dục đạo đức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật và góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ mới Quận 10 là một trong những quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội với các quận trung tâm và ngoại thành, là cơ hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quận trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong thời gian vừa qua, các cấp ủy, chính quyền, cùng lãnh đạo các trường phổ thông đã có biện pháp tích cực trong nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục bậc THPT (Trung học phổ thông) nói riêng Đối với công tác giáo dục pháp luật cho học sinh đã được các trường tổ chức triển khai nhằm trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật, làm hình thành lối sống và làm việc theo pháp luật cho học sinh; giúp học sinh hiểu rõ về các quyền con người, quyền công dân,
về quyền học sinh Tuy nhiên, trong những năm qua bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được cũng còn bộc lộ những hạn chế, bất cập trên nhiều mặt, từ việc xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương pháp cho đến hình thức GDPL (giáo dục pháp luật) cho học sinh Có thể thấy, công tác GDPL cho học sinh trong các trường THPT Quận 10 tuy đã được chú trọng, nhưng chưa được tiến hành thường xuyên; còn thiếu trọng tâm, trọng điểm, thiếu sự gắn kết nhịp nhàng, phối hợp đồng
bộ, hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức, giữa các cấp, các ngành có liên quan; tình
Trang 8Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Giáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông, từ thực tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp, đóng góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp lớn
đã đề cập ở trên
2 Tình hình nghiên cứu
Trong hoạt động giáo dục thì vấn đề tuyên truyền, giáo dục pháp luật được triển khai dưới nhiều hình thức Đối tượng hướng đến là các học sinh nói chung, đặc biệt là các học sinh trung học phổ thông Trong những năm gần đây, tình trạng học sinh trung học phổ thông nói riêng, người chưa thành niên phạm tội nói chung phạm tội diễn biến rất phức tạp Có rất nhiều vụ án hình sự đã xuất hiện tình trạng
trẻ hóa đối tượng phạm tội đã trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội, đặc biệt là các
vụ án phức tạp, đặc biệt nghiêm trọng, gây bức xúc lớn cho dư luận xã hội
Với tình hình đó đã có một số công trình nghiên cứu về GDPL cho học sinh, sinh viên như sau:
Lê Thị Thu Hạnh (2011), Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh thông qua
dạy học phần công dân với pháp luật chương trình Giáo dục công dân lớp 12 ở các
Trang 93
trường THPT dân lập trên địa bàn thành phố Vinh, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo
dục, Nghệ An
Trần Ngọc Minh (2016), Giáo dục pháp luật cho sinh viên từ thực tiễn các
trường cao đẳng tỉnh Bình Dương, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội
Trần Thị My Ly (2018), Phổ biến, giáo dục pháp luật cho Thanh niên từ
thực tiễn Tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội
Các công trình đã áp dụng các quy định pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đối tượng học sinh, sinh viên qua quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn nói chung về cơ bản đã đáp ứng với yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay Với ý nghĩa đó, giáo dục pháp luật với đối tượng học sinh THPT
mà tác giả sẽ nghiên cứu sẽ có ý nghĩa thực tiễn cao, trong đó các công trình đã nghiên cứu trên giúp cho tác giả nghiên cứu luận văn này có thêm tư liệu để tham khảo và nghiên cứu sâu hơn
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho học sinh, đánh
giá thực trạng và luận chứng một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn cần có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ, làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về GDPL cho học sinh tại các trường Trung học phổ thông
- Phân tích, đánh giá thực trạng GDPL đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông từ thực tiễn tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh làm rõ những ưu, nhược điểm và nguyên nhân của những nhược điểm đó
Trang 104
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác GDPL đối với học sinh tại các trường Trung học phổ thông từ thực tiễn tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác GDPL cho học sinh tại các trường Trung học phổ thông
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu:
+ Những vấn đề lý luận trực tiếp liên quan đến GDPL trong các trường phổ thông trung học
+ Quy định pháp luật liên quan đến GDPL trong trường phổ thông trung học + Thực tiễn GDPL trong các trường THPT tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
- Về thời gian:
Từ khi có Luật phổ biến giáo dục Pháp luật năm 2012 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin, chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác, cụ thể:
Mác-Một là, kết hợp giữa phân tích với tổng hợp, diễn dịch với quy nạp làm rõ nội dung cần nghiên cứu trong vấn đề nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho học sinh THPT thông qua các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam được ghi nhận tại chương 1 cũng như thực tiễn áp dụng từ thực tiễn tại trường THPT Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và chương 2 của đề tài
Hai là, luận văn vận dụng phương pháp điều tra xã hội học để thống kê, phân tích số liệu, so sánh, đối chiếu, kết quả tổng kết và các quan điểm khác nhau để rút
Trang 115
ra kết luận, tìm hiểu nguyên nhân vấn đề và các giải pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế Các phương pháp này được áp dụng trong chương 2 và chương 3 của đề tài Thông qua đó, tác giả muốn đưa ra một bức tranh toàn cảnh về giáo dục pháp luật cho học sinh THPT nói chung và thực tiễn áp dụng trong thực tế cũng như một số biện pháp nhằm hoàn thiện yêu cầu đề ra của công tác này, đáp ứng với yêu cầu hội nhập và phát triển đất nước Phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ, làm sâu sắc hơn, một cách hệ thống một số vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho học sinh ở Việt Nam hiện nay
- Phân tích làm rõ những kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong giáo dục pháp luật cho học sinh tại các trường THPT Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho học sinh THPT tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phục lục, thì nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ
thông
Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trường THPT, từ thực tiễn
Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường và nâng cao chất lượng giáo dục pháp
luật cho học sinh các trường THPT Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 126
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Khái quát về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
* Giáo dục
Giáo dục - hiểu theo nghĩa rộng là quá trình trao đổi và chuyển giao tri thức, là
sự đạt được những giá trị và các mô hình hành vi theo một mục đích, yêu cầu định sẵn Hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình hình thành nhân cách con người dưới ảnh hưởng của hoạt động có mục đích của nhà giáo dục trong hệ thống các cơ quan giáo dục và dạy học [26]
Dưới góc độ triết học, có thể hiểu, giáo dục là một quá trình hai mặt, một mặt,
đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục; mặt khác, thông qua sự tác động này làm cho đối tượng tự biến đổi bản thân mình, tự hoàn thiện, tự nâng mình lên qua giáo dục [27]
Theo Từ điển Từ và ngữ Hán - Việt : “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất, đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội” [27]
Về bản chất, giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho đối tượng được giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội; nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, phát huy trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên
* Giáo dục pháp luật
Trang 13đó không cần phải đặt vấn đề về giáo dục pháp luật, bởi vì bản thân pháp luật sẽ tự thực hiện chức năng của mình bằng các qui định về quyền và nghĩa vụ thông qua các chế tài đối với những người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh.[13]
Mặt khác cũng có người coi giáo dục pháo luật đồng nhất với việc tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu pháp luật bằng các biện pháp khác nhau để mọi người tuân thủ làm theo pháp luật [26]
Có thể thấy, GDPL là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (Thuyết phục, nêu gương, ám thị ) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng Giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật và có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Tóm lại: khái niệm giáo dục pháp luật dù được tiếp cận dưới góc độ nào thì trong khoa học pháp lý, giáo dục pháp luật cần theo tính định hướng của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội, trong đó người giáo dục và người được giáo dục luôn tác động qua lại lẫn nhau, thiết lập những hành vi xử sự phù hợp với các quy phạm pháp luật Tổ chức thực hiện GDPL nhằm hình thành ở con người thói quen xử sự phù hợp với đòi hỏi của pháp luật Giáo dục pháp luật là quá trình
Trang 148
tác động có tính liên tục lâu dài, thường xuyên Vì thế, giáo dục pháp luật phải thông qua nhiều cơ quan, tổ chức chính trị xã hội, nhưng cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan nhằm mục đích hướng dẫn hành vi của con người xử sự phù hợp với các quy định pháp luật
Từ các nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm GDPL như sau: GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành
1.2 Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
Hoạt động giáo dục pháp luật là một hoạt động giáo dục cụ thể gắn bó hữu cơ với hoạt động giáo dục nói chung Nội dung GDPL cho HS THPT là một phần của nội dung chương trình giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân Nói cách khác, GDPL cho HS THPT là một hoạt động tự thân, thường xuyên của ngành giáo dục khác một số ngành khác Giáo dục pháp luật trong nhà trường thực hiện thông qua việc dạy và học nội dung, kiến thức pháp luật trong chương trình giáo dục chính khóa qua các môn học như giáo dục công dân (phổ thông), hoặc được lồng ghép, tích hợp vào các môn học có liên quan đạo đức, tìm hiểu tự nhiên xã hội, sinh học, lịch sử…
GDPL cho HS THPT trong nhà trường được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp với các hình thức như nói chuyện pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, viết báo tường, sinh hoạt theo chủ đề pháp luật, tọa đàm, hội thảo chuyên đề, tham dự phiên tòa… GDPL cho HS THPT góp phần củng cố những tri thức được học trong chương trình, bồi dưỡng tình cảm, niềm tin pháp luật, đồng thời rèn luyện, uốn nắn hình thành hành vi ứng xử theo chuẩn mực pháp luật quy định [30]
GDPL cho HS THPT (Học sinh trung học phổ thông) là một bộ phận của GDPL nói chung, nghĩa là nó cũng phải tuân theo các quy luật chung của quá trình
Trang 15Thứ nhất, GDPL cho HS THPT từ lớp 10 đến hết lớp 12 trong hệ thống
giáo dục quốc dân ở nước ta hiện nay, độ tuổi chủ yếu của các em là trong khoảng
16 đến 18 Ở lứa tuổi này học sinh THPT là thời kỳ đầu của giai đoạn tuổi thanh niên Học sinh THPT ở giai đoạn này cơ thể đang dần đi đến hoàn thiện về mọi mặt:
cơ bắp, chiều cao, trọng lượng cơ thể tăng nhanh So với học sinh THCS, thì nhiều mặt ở lứa tuổi này đã phát triển và trưởng thành hơn nhiều Do vậy, khả năng hoạt động trí tuệ ở học sinh THPT vượt xa học sinh THCS Các em có khả năng tiếp nhận tác động vô cùng phong phú, phức tạp của thế giới xung quanh Vì vậy, khả năng nhận thức của các em về những sự vật hiện tượng thường xuyên xảy ra trong giới tự nhiên và xã hội được nâng lên, nhân sinh quan và thế giới quan của các em khá rõ nét Có thể nói, đây là độ tuổi chủ thể con người đang ở thời kỳ hài hoà, đẹp
đẽ với sức lực dồi dào nhất
Thứ hai: GDPL cho HS THPT trang bị cho HS những thông tin, kiến thức về
những lĩnh vực pháp luật thiết yếu, gần gũi và phù hợp với mục tiêu, nhu cầu giải quyết những vấn đề pháp lý nảy sinh trong cuộc sống của HS Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, luôn đặt pháp luật ở vị trí thượng tôn nên với tư cách là những công dân, HS THPT rất cần đến thông tin, kiến thức pháp luật để có thể “Sống, làm việc theo pháp luật” Ngoài ra, cần trang bị cho
HS THPT những kỹ năng cần thiết để họ có thể vận dụng pháp luật vào việc giải quyết các sự kiện, vấn đề pháp luật xảy ra trong thực tế cuộc sống [19]
Thứ ba: Hoạt động GDPL cho HS THPT được thực hiện thông qua các
phương pháp GDPL có tính đặc thù, phù hợp GDPL cho HS THPT có những nét đặc thù về mục tiêu, nội dung và đối tượng nên các chủ thể GDPL cần chủ động tìm
Trang 1610
ra các phương pháp GDPL tối ưu, phù hợp nhất Tùy theo từng nội dung GDPL cụ thể, chủ thể phải có sự tìm tòi, vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp GDPL sao cho sinh động, hấp dẫn, cuốn hút HS THPT bằng cách đặt các câu hỏi, nêu những tình huống, sự kiện pháp lý cụ thể, hoặc cũng có thể lồng ghép với các hoạt động giáo dục trong và ngoài giờ lên lớp [11]
Thứ tư: GDPL cho HS THPT được thực hiện bằng những hình thức GDPL đa
dạng, phong phú Trong GDPL nói chung có thể sử dụng rất nhiều hình thức GDPL Mỗi hình thức lại được các chủ thể GDPL sử dụng phù hợp với mục tiêu, đối tượng tiếp nhận khác nhau, như tuyên truyền miệng về pháp luật; GDPL qua các phương tiện thông tin đại chúng; thi tìm hiểu pháp luật; biên soạn tài liệu phổ biến GDPL; trợ giúp pháp lý; tư vấn pháp luật; bồi dưỡng kiến thức pháp luật Tùy thuộc vào mục tiêu, nội dung GDPL cho HS THPT để lựa chọn hình thức GDPL phù hợp với lớp [30]
Thứ năm Những quá trình nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng ở lứa tuổi này
các em có những rung cảm mãnh liệt, đặc biệt là tính tích cực cao, thể hiện ở sự nhiệt tình, sôi nổi của tuổi trẻ Song cũng bộc lộ tâm trạng phong phú, phức tạp nên vai trò xã hội và hứng thú xã hội của học sinh không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà còn biến đổi cả về chất lượng Một đặc điểm hết sức rõ nét của tuổi học sinh THPT là sự hứng thú nhận thức rộng rãi Các em khao khát được tìm hiểu, được tiếp nhận những thông tin mới trên mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội Nhưng
sự nhận thức của các em là sự nhận thức có phê phán Do đó, các em thường có những tranh cãi sôi nổi về thế giới xung quanh Các em mong muốn không những
“hiểu biết bản thân mình” mà còn quan tâm đến thế giới nội tâm của con người Do vậy, thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển Đó là lý do sự
tự ý thức hình thành rõ rệt ở học sinh THPT [16]
1.3 Vai trò của giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
Trang 1711
Thứ nhất: Góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành nhân cách, rèn
luyện hành vi ứng xử cho thế hệ trẻ ngay từ trên ghế nhà trường tạo nếp sống, hành động “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật.”
Thứ hai: Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
GDPL cho HS THPT có vai trò to lớn đối với sự phát triển toàn diện con người Việt Nam trong đó có việc hình thành ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý trong nhân dân GDPL cho HS THPT là một hoạt động giáo dục cụ thể gắn bó hữu cơ với hoạt động giáo dục nói chung Nội dung GDPL cho HS THPT là một phần của nội dung chương trình giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân GDPL cho HS THPT không chỉ góp phần ổn định hoạt động của ngành
mà còn góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục, góp phần quan trọng đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Thực tế hiện nay cho thấy, tình hình vi phạm pháp luật trong xã hội ngày càng tăng nhất là trong lứa tuổi thanh thiếu niên mà một trong những nguyên nhân đó là tình trạng “mù” pháp luật, không hiểu biết gì về pháp luật, hoặc hiểu biết pháp luật không đầy đủ, từ đó dẫn đến việc có những hành vi vi phạm pháp luật [30]
Xã hội càng phát triển, nhu cầu hiểu biết pháp luật và vận dụng pháp luật trong các hoạt động kinh tế hay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân trong xã hội càng lớn Do đó, ngoài việc trang bị các kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật, việc phổ biến, giáo dục pháp luật vào nhà trường nhằm trang bị những tri thức pháp luật cơ bản cho học sinh, giáo dục ý thức tự giác tuân thủ pháp luật cho các công dân trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước là việc làm đúng đắn, cần thiết và cấp bách đáp ứng đòi hỏi khách quan của sự phát triển của xã hội nhằm nâng cao dân trí pháp lý và thực hiện chủ trương của Đảng đã đề ra trong các Nghị quyết hội nghị Trung ương
Đẩy mạnh GDPL cho HS THPT là việc trang bị cho các em những tri thức pháp luật cần thiết, bồi dưỡng tình cảm và đặc biệt là xây dựng và hình thành trong các em ý thức pháp luật làm cơ sở cho sự hình thành hành vi và thói quen hành có
Trang 1812
các hành vi phù hợp pháp luật, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, với kỷ cương, nề nếp xã hội yêu cầu Trường học là môi trường giáo dục pháp luật tốt nhất, dễ đạt hiệu quả cao Do việc sử dụng các hình thức, phương pháp đặc trưng của giáo dục nhà trường trong hoạt động giáo dục pháp luật Thực hiện GDPL cho HS THPT trong nhà trường là góp phần đưa pháp luật đến với những công dân trẻ tuổi bằng con đường ngắn nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất, góp phần thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục toàn diện mà Đảng, Nhà nước và Ngành Giáo dục Đào tạo đã xác định [43]
1.4 Quy định pháp luật về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
Quốc Hội ban hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật (2012), Quyết định số 1042/QĐ-TTg ngày 17/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành - Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên giai đoạn II (2016 - 2020); Quyết định số 228/QĐ-BTP ngày 21/02/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành - Kế hoạch tiếp tục thực hiện đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh, thiếu niên giai đoạn 2010 - 2015” đến năm 2020
Với quan niệm giáo dục pháp luật cho học sinh trong các nhà trường là giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục ý thức công dân, ý thức làm người, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật thể chế hoá các Nghị quyết của Đảng, khẳng định vai trò chiến lược của công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, tạo cơ sở pháp
lý cho việc triển khai thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường Theo
đó, GDPL cho học sinh trung học phổ thông được xác định là một hệ thống bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân, gắn liền chặt chẽ giáo dục nghề nghiệp, giáo dục truyền thống đạo đức và thực hiện quy tắc chuẩn mực xã hội
Nội dung của pháp luật về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông bao gồm:
(i) Xác định mục đích giáo dục giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
Trang 1913
- Xác định mục đích GDPL cho HS THPT là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với việc xây dựng nội dung giáo dục và toàn bộ công tác tổ chức thực hiện Vì vậy, cần phải căn cứ theo các tiêu chí sau:
+ Căn cứ từ nhu cầu giáo dục toàn diện cho HS
+ Căn cứ từ thực trạng tình hình tuyên truyền và hiểu biết pháp luật và ý thức tôn trọng pháp luật cùng hiểu biết về tệ nạn xã hội, nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn của đất nước
+ Căn cứ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi
Từ những tiêu chí cơ bản trên, ta có thể nhận thấy mục tiêu của GDPL cho
Giáo dục tình cảm công bằng là giáo dục cho GDPL choHS THPT biết nhìn nhận, đánh giá một hành vi nào đó xảy ra là đúng hay sai để từ đó, bày tỏ thái độ bất bình, phê phán, lên án cái sai; bênh vực, ủng hộ và đấu tranh bảo vệ cái đúng dựa trên cơ sở kiến thức, hiểu biết pháp luật có được
Giáo dục tình cảm trách nhiệm là GDPL cho HS THPT biết được bổn phận, nghĩa vụ pháp lý của mình, để thực hiện các hành vi sao cho phù hợp với quy định
Trang 2014
của pháp luật, biết rõ trách nhiệm pháp lý của mình và luôn hoàn thành trách nhiệm
đó trong mối quan hệ với các chủ thể pháp luật khác Tình cảm trách nhiệm là cơ sở
để mỗi HS THPT sống đoàn kết, gắn bó, chia sẻ và có trách nhiệm với gia đình, nhà trường, bạn bè trong học tập và lao động
Giáo dục tình cảm không khoan nhượng đối với các hành vi phạm tội, về thực chất, là GDPL cho HS THPT nhận thức đầy đủ về tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội, rằng tội phạm không chỉ xâm hại tới lợi ích của Nhà nước, tập thể, cộng đồng; mà còn xâm hại tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân
(ii) Quy định về nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ
thông (Điều 23, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật (2012))
Nội dung GDPL và đối tượng GDPL có mối liên hệ mật thiết với nhau, nghĩa
là phải căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu tiếp nhận kiến thức pháp luật của từng nhóm đối tượng GDPL để lựa chọn các nội dung GDPL phù hợp [30]
Các nội dung pháp luật được phổ biến trong các trong trường học thường gắn với giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục nhân cách học sinh, tập trung vào các lĩnh vực như : giáo dục về quyền trẻ em, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, bảo vệ môi trường, chấp hành luật giao thông, phòng chống ma túy, tội phạm và các tệ nạn
xã hội trong học đường, phòng chống HIV/AIDS, luật nghĩa vụ quân sự, giáo dục giới tính và kỹ năng sống, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình
Nội dung về hệ thống các văn bản QPPL của Nhà nước cũng cần được truyền đạt cho học sinh THPT một cách khái quát nhất Trong đó, cần thiết nhất là:
Thứ nhất, nhìn trên phương diện hệ thống các văn bản QPPL do Nhà nước
ban hành, nội dung GDPL cho HS THPT bao gồm các bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định, các loại văn bản QPPL khác, đang có giá trị và hiệu lực thực thi, như Hiến pháp, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình, Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật khiếu nại, Luật giáo dục,
Trang 2115
Thứ hai, nhìn trên phương diện các văn bản QPPL dưới luật do các cấp, các
ngành giáo dục ban hành, nội dung GDPL cho HS THPT bao gồm: Các quy định pháp luật về cán bộ, công chức; các quy định pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; các quy định pháp luật về hội nhập quốc tế; các quy định pháp luật
về thực hiện quy chế dân chủ; các quy chế về đào tạo, rèn luyện học sinh, sinh viên; các bộ luật, luật liên quan tới giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của giáo viên, học sinh
(iii) Quy định về hình thức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông (Điều 24, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật (2012))
GDPL cho HS THPT thông qua một số hình thức sau:
Hình thức thuyết phục kết hợp rèn luyện thực hành: Là những phương pháp
tác động vào lý trí tình cảm của HS để xây dựng những niềm tin pháp luật, gồm các nội dung sau: Giảng giải về pháp luật: được tiến hành trong giờ dạy môn chuyên cũng như trong các giờ học môn khác, giờ sinh hoạt lớp Đồng thời nêu gương người tốt, việc tốt bằng nhiều hình thức như: nói chuyện, kể chuyện, đọc sách báo, mời những người có gương phấn đấu tốt đến nói chuyện, nêu gương tốt của GV và
HS trong trường Từ đó, hình thành hành động thực tế như rèn luyện thói quen tuân thủ pháp luật thông qua các hoạt động cơ bản của nhà trường: dạy học trên lớp, lao động, hoạt động xã hội đoàn thể và sinh hoạt tập thể và rèn luyện pháp luật thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường là biện pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ kích thích bên trong của HS Vì vậy, nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua và động viên HS tham gia tốt phong trào này…
Thông qua các môn học chính khóa trong nhà trường: Đây là con đường
thuận lợi, tích cực chủ động và ngắn nhất giúp HS nắm bắt kiến thức về pháp luật, phòng, chống tệ nạn xã hội một cách đầy đủ có hệ thống Dạy học còn là con đường quan trọng nhất trong tất cả các con đường Giáo Dục Do vậy, GDPL cho HS THPT nếu được tích hợp qua các môn học bằng con đường dạy học trong các nhà trường thì vai trò và ý nghĩa càng có tác dụng to lớn Hình thức này yêu cầu cần phải có sự
Trang 2216
đồng ý của các cơ quan quản lý nhà nước về mặt chuyên môn như bộ Giáo dục và Đào tạo, và phải được thể hiện bằng khung chương trình đào tạo Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về PL, làm phát triển ý thức công dân ở HS thông qua dạy học, nhất
là các bộ môn có liên quan như giáo dục công dân, văn học, lịch sử trong nhà trường phổ thông
Thông qua những hoạt động ngoại khóa: GDPL cho HS không chỉ đóng
khung trong các giờ dạy trên lớp mà nên thực hiện lồng ghép với các hoạt động ngoại khóa và các hoạt động phong trào, nhằm đa dạng hóa các loại hình tổ chức hoạt động và thu hút đông đảo lực lượng sinh viên, các tổ chức và tầng lớp xã hội cùng tham gia
Thông qua các hoạt động xã hội: GDPL cho HS thông qua các hoạt động xã
hội giúp HS hiểu biết hơn nhưng về thế giới, cuộc sống xã hội ngày càng được mở mang, và kinh nghiệm hoạt động được phát huy tính tích cực xã hội được phát huy tạo động lực thu hút HS tham gia các hoạt động xã hội phong phú và đa dạng Các hoạt động xã hội thường được tổ chức dưới các hình thức như các hoạt động tình nguyện, tuổi trẻ xung kích vì cộng đồng, thông qua các hoạt động của Đoàn Thanh niên…
Thông qua giáo dục của gia đình: Qua môi trường giáo dục gia đình, HS
được học hỏi tiếp thu những kiến thức, những chuẩn mực về đạo đức, hành vi ứng
xử đúng đắn, về những vấn đề có liên quan đến phòng, chống tệ nạn xã hội, yêu cầu đối với hình thức giáo dục này là những người lớn trong gia đình phải thực sự gương mẫu, mẫu mực sống, có văn hóa, có trách nhiệm, biết quan tâm sẻ chia với nhau những kiến thức kinh nghiệm về phòng chống tệ nạn xã hội
Thông qua hình thức tự giáo dục của HS: Cũng như các hoạt động giáo dục
khác, việc GDPL cho HS sẽ phát huy hiệu quả khi và chỉ khi bản thân sinh viên ý thức được những tác hại và hậu quả mà tệ nạn xã hội gây ra cho mọi người, gia đình
và toàn xã hội Từ đó có ý thức chủ động tích cực học tập rèn luyện tu dưỡng bản thân để phòng chống các tệ nạn xã hội
Trang 23+ Xử phạt : là phê phán những khiếm khuyết của HS Khi xử phạt cần phải làm cho HS thấy rõ sai lầm, khuyết điểm, thấy hối hận và đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ, động viên HS sửa chữa khuyết điểm, cần phải tỏ rõ thái độ nghiêm khắc nhưng không có lời nói, cử chỉ thô bạo đánh đập, xỉ nhục hoặc các nhục hình xúc phạm đến thân thể HS
(iv) Quy định về phương pháp GDPL cho học sinh trung học phổ thông
Các phương pháp giáo dục nói chung và công tác GDPL cho HS THPT nói riêng, có thể phân thành 2 nhóm cơ bản:
Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân:
- Phương pháp đàm thoại: sử dụng các đề tài, chủ đề có liên quan đến nội dung phòng, chống tệ nạn xã hội để HS có cơ hội trao đổi, trình bày quan điểm của mình nhằm nâng cao kiến thức, hình thành thái độ và có hành vi đúng đắn về công tác phòng chống tệ nạn xã hội
Trang 2418
- Phương pháp nêu gương: sử dụng những tấm gương tốt hoặc xấu của các cá nhân tập thể để kích thích HS, khiến họ được giáo dục, học tập làm theo những cái đúng cái tốt và tránh những hành vi xấu
- Phương pháp giảng dạy: sử dụng những hình ảnh, pano, áp phích,…để giải thích, minh họa cho HS để nắm bắt liên quan đến vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội
Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và hình thành kinh nghiệm ứng xử
xã hội cho HS bao gồm:
- Phương pháp giao việc: phương pháp này chú trọng việc tổ chức các hoạt động nhằm thu hút HS THPT vào các hoạt động đa dạng phong phú của tập thể, qua đó giúp sinh viên ý thức đầy đủ ý nghĩa công việc mình làm và tích cực hoạt động
- Phương pháp tập thói quen: Đây là phương pháp tổ chức cho sinh viên thực hiện đều đặn và có kế hoạch hành động đúng đắn nhất định, nhằm biến những hành động thành thói quen ứng xử và thành kỹ năng, kỹ xảo
- Phương pháp tạo tình huống giáo dục: Là phương pháp tổ chức cho HS được thể hiện thái độ nhận thức của mình về những vấn đề nảy sinh trong thực tế cuộc sống, qua đó nhằm hình thành, củng cố những hành vi, thực hiện những kỹ năng chính xác, đúng đắn để giải quyết vấn đề
- Phương pháp tạo dư luận xã hội: là một hình thức biểu thị trạng thái ý kiến của
xã hội khi một hiện tượng xã hội xuất hiện, một số người nắm bắt được, họ truyền
đi cho những người khác cùng trao đổi, bàn bạc, tranh luận, xem xét, lên án hiện tượng đó và tạo ra dư luận tốt hoặc xấu về hiện tượng đó để mọi người biết và có những hành vi ứng xử phù hợp
(v) Quy định về các điều kiện đảm bảo giáo dục pháp luật cho học sinh
trung học phổ thông (Điều 38 và Điều 39, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật
(2012))
Để thực hiện GDPL cho HS cần thiết có những điều kiện như :
Về mặt nhân lực : Sư phối hợp, huy động giữa các lực lượng giáo dục
Trang 2519
Để đạt hiệu quả cao trong công tác GDPL cho HS cần phải phối hợp với các lực lượng trong nhà trường (Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, các tổ chức đoàn thể) Phối hợp với các lực lượng xã hội (các ban, ngành, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội) Phối hợp với gia đình các em HS
Trong GDPL cho HS, đội ngũ hỗ trợ GDPL cho HS như cán bộ QL, GV, Đoàn thanh niên là những người trực tiếp biến mục tiêu GDPL cho HS thành hiện thực Họ là nhân tố quyết định chất lượng GDPL cho HS Vì vậy, điều kiện tiên quyết để thực hiện được các mục tiêu GDPL cho HS là các giáo viên làm nhiệm vụ GDPL cho HS phải được trang bị đầy đủ các kiến thức và kiến thức về pháp luật để
có năng lực cần thiết thực hiện các nhiệm vụ GDPL cho HS
Trong các lực lượng trên thì gia đình đóng vai trò quan trọng Vì gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nuôi dạy, giáo dục và rèn luyện HS, là ngôi trường đầu tiên xây dựng nền tảng cho phát triển tri thức, đạo đức, tính cách, tâm lý
và kết hợp cùng nhà trường, cộng đồng xã hội tiếp tục nuôi dưỡng và phát triển nhân cách toàn diện cho HS
Vật lực: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu giảng dạy (Điều 38, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật (2012))
Các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng Internet, Tủ sách pháp luật ) có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động GDPL cho
HS Một mặt, do khả năng đưa thông tin đến với mọi người, mọi nhà, trong đó có các gia đình HS, một cách nhanh chóng, cập nhật, kịp thời nên các phương tiện thông tin đại chúng thường được sử dụng như một kênh thông tin quan trọng, chuyển tải các thông tin, kiến thức pháp luật, giải thích pháp luật phục vụ GDPL cho HS một cách hiệu quả
Thiết bị, máy móc và đồ dùng dạy học là công cụ để giáo viên tiến hành các phương pháp khi tổ chức thực hiện GDPL cho HS Hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp, hình thức GDPL cho HS phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện về thiết bị,
cơ sở, thiết bị Do vậy, muốn tổ chức GDPL cho HS các trường cần phải có các
Trang 26Cùng với các điều kiện cơ bản trên, việc thực hiện các hình thức GDPL cho
HS còn đòi hỏi phải có nguồn kinh phí nhất định để mua sắm trang thiết bị kĩ thuật, băng đĩa hình về GDPL, xây dựng góc tư vấn pháp luật, tổ chức cho HS tham quan, ngoại khóa ngoài nhà trường; Có cơ chế chính sách phù hợp, có khen thưởng, đãi ngộ xứng đáng để động viên và khuyến khích GV phụ trách GDPL cho HS [37]
1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
1.5.1 Yếu tố khách quan
Môi trường chính trị - xã hội: Môi trường chính trị - xã hội ổn định là điều
kiện thuận lợi cho việc tiến hành các hoạt động GDPL cho HS vì nó tạo cơ sở củng
cố niềm tin chính trị của HS đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây
là tiền đề quan trọng để HS nhiệt tình tham gia quá trình GDPL nhằm tiếp nhận, nâng cao tri thức, hiểu biết pháp luật Ngược lại, môi trường chính trị bất ổn, các thiết chế chính trị ở địa phương không phát huy được vai trò điều tiết, điều chỉnh các quan hệ chính trị thường là nguyên nhân gây tâm lý bất an trong các tầng lớp xã hội, làm suy giảm niềm tin chính trị trong HS Khi đó, hoạt động GDPL cho HS khó
mà đạt được chất lượng, hiệu quả như mong muốn của các chủ thể GDPL
Truyền thống văn hóa: Các giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống là tổng thể
những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Bằng chính sức lao động sáng tạo, ý chí quật cường, nhân dân ta đã bồi đắp, xây dựng nên nền văn hoá kết tinh sức mạnh và mang đậm bản sắc dân tộc Những giá trị văn hóa đó chính là chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng Những giá trị văn hóa này, nếu được khơi gợi, khích lệ hợp lý, động viên kịp
Trang 2721
thời sẽ tạo nên sức mạnh to lớn, có tác dụng tích cực đối với GDPL nói chung, cho
HS nói riêng [36]
Điều kiện kinh tế - xã hội: Nền kinh tế càng phát triển, khả năng nâng cao
mức sống, thỏa mãn nhu cầu của nhân dân lao động càng cao Khi đã có mức sống vật chất đầy đủ, người dân sẽ chú trọng hơn đến các nhu cầu tinh thần trong đó họ thường đặc biệt lưu tâm tới nâng cao trình độ văn hóa nói chung và trình độ nhận thức pháp luật nói riêng Cho nên, có thể nói, với sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa chính là một điều kiện bảo đảm cho công tác giáo dục pháp luật nói chung và GDPL cho HS nói riêng đạt hiệu quả Rõ ràng, sự phát triển kinh tế không những đảm bảo đời sống vật chất hàng ngày cho HS mà đó còn là những minh chứng, minh họa cho nội dung chính sách giáo dục pháp luật đối với HS đúng đắn và yếu tố kinh tế có tác động thuận chiều tới thực hiện chính sách GDPL cho HS [26]
sẽ thôi thúc, thúc đẩy vượt qua khó khăn, tìm kiếm giải pháp, tích cực tham gia GDPL cho HS có hiệu quả
Yếu tố về bản thân học sinh:
Học sinh là đối tượng của GDPL đồng thời là chủ thể của quá trình tiếp nhận thông tin GDPL mang lại học sinh không chỉ có nhiệm vụ tiếp thu thông tin do chủ thể GDPL cung cấp mà cùng với nó là quá trình lựa chọn những thông tin hữu ích phù hợp với hứng thú, đặc điểm tâm lý lứa tuổi của HS Do vậy, bản thân HS phải luôn ý thức được vai trò, ý nghĩa của GDPL khi còn ngồi trên ghế nhà trường Chủ
Trang 2822
động, tích cực tham gia vào các hoạt động GDPL do nhà trường tổ chức, thì hiệu quả GDPL cho HS sẽ đạt kỳ vọng
Yếu tố về nhà trường (CBQL, giáo viên hướng nghiệp, cơ sở vật chất)
Trong nhà trường phổ thông hiện nay nhất thiết phải xây dựng được lực lượng chuyên trách, hàng năm nhà trường cần có kế hoạch cử lực lượng tham gia các chương trình tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ do ngành tổ chức
Cán bộ quản lý các trường THPT cần quan tâm, phối hợp với các lực lượng đoàn thể như Đoàn thanh niên, Chính quyền địa phương, Ban ngành đoàn thể đưa các nội dung GDPL vào các tổ chức nầy, đây là tổ chức vừa có lực lượng đông đảo vừa có vai trò tác động tích cực và hiệu quả trong việc vận động tuyên truyền đến các đối tượng học sinh [39]
Do vậy, cần tăng cường quản lí cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng GDPL cho
HS nhằm huy động, sử dụng và khai thác có hiệu quả yếu tố này cho các hình thức GDPL
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến GDPL cho HS THPT các yếu tố đó bao gồm
về yếu tố thuộc trường THPT, đến các cấp quản lý và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, nhà trường
Các nội dung trình bày trên là cơ sở quan trọng để tiến hành khảo sát thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thong trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh ở chương tiếp theo
Trang 2923
Chương 2 THỰC TIỄN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
10, THÀNH PHÔ HỒ CHÍ MINH
2.1 Khái quát về thực trạng bậc học ở THPT Quận 10, Tp HCM
Về qui mô phát triển trường lớp bậc THPT: Quận 10 có tất cả 7 trường
THPT trải đều khắp phường, xã
Bảng 2.1: Thống kê số lượng CBQL, giáo viên và học sinh 5/7 trường THPT Quận
Bình quân HS/ lớp
Trang 30đủ về số lượng, phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực đã đạt được nhiều kết quả, sĩ số học sinh luôn được duy trì từ 95-98%, chất lượng Giáo dục luôn có sự chuyển biến về chất lượng và số lượng, tỷ lệ học sinh lớp 12 đỗ tốt nghiệp THPT nhiều năm đạt 100%
Về đội ngũ cán bộ, giáo viên: Năm học 2016-2017 các trường nói trên tỉ lệ
cán bộ nữ chiếm 22,2 % Trình độ chuyên môn 87,5% cán bộ QL có trình độ đạt chuẩn ( Đại học), 12,5% cán bộ QL có trình độ trên chuẩn ( thạc sỹ), về lí luận chính trị có 1 cán bộ QL trình độ cao cấp, có 4 cán bộ QL trình độ trung cấp và 3 cán bộ QL có trình độ sơ cấp Tuổi đời trên 50 có 6 cán bộ QL (chiếm 66,7%), trong đó có 3 Hiệu trưởng
Đội ngũ cán bộ quản lý các trường đều nhiệt tình, yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tự học và tự bồi dưỡng, có trình độ chuyên môn vững, quan hệ tốt với đồng nghiệp
Trang 3125
Về nghiệp vụ quản lý còn hạn chế, vì khi được đề bạt làm cán bộ quản lý, chưa được đào tạo chính qui về quản lý Trình độ tin học mới ở mức cơ bản, chủ yếu biết soạn thảo văn bản, chưa khai thác tốt internet và áp dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý
Kết quả thống kê tại Sở GD&ĐT TP.HCM (Thành phố Hồ Chí Minh), trình
độ chuyên môn 100% có trình độ đại học, có ít tổ trưởng có trình độ thạc sỹ, các cấp quản lí cần tạo điều kiện thời gian và kinh phí học tập để các giáo viên nói chung và các tổ trưởng nói riêng nâng cao trình độ chuyên môn Số lượng giáo viên dạy môn tin học, môn công nghệ không nhiều, có trường không có giáo viên 2 bộ môn trên Môn hướng nghiệp và môn giáo dục ngoài giờ lên lớp chưa có giáo viên được đào tạo chính qui, số giáo viên dạy môn này lấy từ giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên dạy các bộ môn chưa đủ số tiết theo qui định Nhìn chung chất lượng môn hướng nghiệp và môn giáo dục ngoài giờ lên lớp không cao
Kết quả thống kê: Số lượng giáo viên có trình độ thạc sỹ không nhiều (chiếm 9,82%), số lượng giáo viên trẻ dưới 40 tuổi (chiếm 43,8%) đây là số giáo viên được đào tạo cơ bản, nhiệt tình, năng động, có điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin tốt Bên cạnh đó lực lượng giáo viên trẻ cũng có những hạn chế như kinh nghiệm trong giảng dạy còn ít, chưa có biện pháp giáo dục phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi THPT trong giai đoạn hiện nay, còn lúng túng nhiều trong việc giáo dục đạo đức
Thực trạng về chất lượng học tập của học sinh:
Kết quả học tập của học sinh là thước đo để đánh giá chất lượng giáo dục của các nhà trường Bảng 2.7 là kết quả học tập của học sinh các trường THPT trong 5 năm ( từ năm học 2013-2014 đến năm học 2018-2018)
Bảng 2.2 Kết quả học tập của học sinh trong 5 năm của các trường THPT
Các nội dung Năm học
2013-Năm học 2014-
Năm học 2015-
Năm học 2016-
Năm học 2017-
Trang 321,2 29,6 61,1 7,3 0,8
2,2 35,3 57,5 4,6 0,4
3,0 40,7 43,7 11,5 1,1
4,3 40,7 45,6 9,2 0,2
57,2 34,1 7,9 0,8
61,8 30,1 6,9 1,2
62,4 28,3 7,8 1,5
62,7 27,9 8,6 0,8
4 Kết quả thi học sinh
Trang 3327
Qua bảng số liệu trên ta thấy tỉ lệ xếp loại học lực yếu kém vẫn còn nhiều và
tỉ lệ học sinh xếp loại học lực giỏi không cao Tính bình quân trong 5 năm tỉ lệ học sinh xếp loại học lực yếu kém là 8,84%, tỉ lệ học sinh xếp loại học lực giỏi chiếm 2,36%
Về xếp loại hạnh kiểm tốt và khá, chiếm tỉ lệ tương đối cao ( trung bình trong 5 năm 91% xếp loại hạnh kiểm khá, tốt
Qua bảng trên, cho thấy mặc dù số lượng học sinh đi thi học sinh giỏi đạt với tổng số giải là tương đối cao, nhưng số lượng giải nhất và nhì còn ít mà chỉ chủ yếu tập trung ở giải ba và giải khuyến khích Điều này cũng cần các trường quan tâm hơn nữa và tìm ra các giải pháp có hiệu quả hơn trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi
Qua bảng tổng hợp tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT của các trường trong 5 năm gần đây cho thấy tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT rất cao ( trung bình 98,9%) Tuy vậy, số học sinh thi đỗ tốt nghiệp xếp loại giỏi quá ít Phần lớn học sinh thi đỗ tốt nghiệp xếp loại trung bình
Kết quả thống kê thể hiện rõ sự quyết tâm vươn lên trong học tập, lao động
và tu dưỡng rèn luyện của học sinh Số lượng học sinh xếp loại học lực khá, giỏi ngày một tăng, số lượng học sinh xếp loại học lực yếu kém ngày một giảm Điều đó thể hiện học sinh đã có ý thức học tập, ý thức nâng cao trình độ học vấn và trau dồi kiến thức văn hoá thường xuyên Kết quả trên thể hiện sự quan tâm sâu sắc của cấp
ủy đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân; các đồng chí lãnh đạo tỉnh và cán bộ quản
lý của Sở Giáo dục và Đào tạo Một trong những nét nổi bật về sự chuyển động tích cực tạo nên thành quả giáo dục đạo đức đối với học sinh các trường THPT giáo dục
đạo đức trong Nhà trường [33]
2.2 Thực trạng GDPL cho học sinh THPT tại Quận 10, Tp HCM
2.2.1 Mục tiêu, phương pháp lấy mẫu, phương pháp khảo sát
Trang 3428
Mục đích khảo sát: Nhằm làm rõ thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh
THPT trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng từ đó đề xuất các biện giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên địa bàn
Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh đạt hiệu quả
Nội dung khảo sát: Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên
địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
Đối tượng khảo sát:
Qui mô và địa bàn khảo sát: Đề tài tiến hành khảo sát 5/7 trường THPT trên địa bàn quận
Đề tài tiến hành khảo sát nghiên cứu khảo với đối tượng là CBQL, GV thuộc
5 trường THPT trên địa bản quận
Số liệu được thể hiện trong bảng sau:
Trang 3529
Cách quy ước điểm số cho bảng hỏi: Mỗi item đều có các lựa chọn và được quy ước bằng các mức điểm khác nhau:
Chuẩn cho điểm:
Chuẩn đánh giá (theo điểm):
Câu hỏi 4 mức độ trả lời, đánh giá theo các mức sau:
- Mức 4: Tốt (Tốt; Rất thường xuyên; Rất ảnh hưởng): 3.26≤ X ≤3.99
- Mức 3: Khá (Khá; Thường xuyên; Ảnh hưởng): 2.51≤ X ≤3.25
- Mức 2: Trung bình (Trung bình; Thỉnh thoảng; Phân vân): 1.76≤ X ≤2.50
- Mức 1: Yếu, kém (Yếu; Chưa bao giờ; Không ảnh hưởng): 1.00≤ X ≤1.75
Ý nghĩa sử dụng X :
Điểm trung bình trong thống kê biểu hiện mức độ đại biểu theo một tiêu thức
số lượng nào đó của tổng thể đồng chất bao gồm nhiều đơn vị cùng loại Điểm trung bình phản ánh mức độ trung bình của hiện tượng, đồng thời so sánh hai (hay nhiều) tổng thể hiện tượng nghiên cứu cùng loại, không có cùng quy mô
Trang 36Ki: Số người tham gia đánh giá ở mức độ Xi
n: Số người tham gia đánh giá
2.2.2 Kết quả khảo sát và kết luận
2.2.2.1 Nhận thức của cán bộ, giáo viên về tầm quan trọng của giáo dục pháp luật cho học sinh THPT
Đánh giá được thực trạng nhận thức của cán CB, GV về tầm quan trọng ý
nghĩa của GDPL cho HS, từ đó đánh giá vai trò của nó đối với việc nâng cao chất
lượng GDPL cho HS và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường Kết quả nhận thức của CB, GV là cơ sở để CBQL xây dựng mục tiêu, nội dung, hình thức thực hiện GDPL cho HS được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1: Nhận thức của cán bộ, giáo viên về tầm quan trọng của giáo dục pháp luật cho HS THPT
55.56 29.63
14.81 0.00
Tỷ lệ
Rất cần thiết Cần thiết
Ít cần thiết Không cần thiết
Trang 3731
Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các ý kiến đều cho rằng GDPL cho HS trong nhà trường có vai trò rất cần thiết và cần thiết với tỷ lệ chiếm (85.2% ý kiến đánh giá
là rất cần thiết và cần thiết) Bên cạnh đó, vẫn còn 14.81% ý kiến cho rằng GDPL cho
HS ít cần thiết và không có đối tượng nào đánh giá GDPL cho HS là không cần thiết Thực tế này cho thấy một bộ phận nhỏ GV vẫn chưa nhận được tầm quan trọng của công tác này
Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ số người được hỏi phần lớn xác định đúng về vai trò, ý nghĩa của GDPL cho HS Điều đó, chứng tỏ công tác tuyên truyền, bồi dưỡng nhận thức về GDPL cho HS đã được tuyên truyền, phổ biến một cách rộng rãi Mặc dù, số ít CB, GV nhận thức còn chưa đúng đắn nên trong thời gian tới các trường cần tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn cho đội ngũ GV hiểu rõ, đúng đắn
về công tác này
2.2.2.2 Thực trạng nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn của đội ngũ giáo viên tham gia thực hiện giáo dục pháp luật cho học sinh THPT Quận 10
GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và là yếu tố then chốt của mọi
sự cải cách, đổi mới giáo dục Kết quả khảo sát ý kiến của 10 CBQL, 125 GV thuộc
5 trường THPT Quận 10 về nội dung này, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.3: Thực trạng nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn của đội ngũ giáo viên tham gia thực hiện GDPL cho học sinh THPT
Mức độ thực hiện
X
Thứ bậc
Trang 3832
môn dạy
3
Tổ chức hoạt động dạy học đa
dạng về nội dung, kiến thức
Trang 3933
Kết quả khảo sát cho thấy, đa phần đánh giá thực trạng nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn của đội ngũ giáo viên tham gia thực hiện GDPL cho học sinh THPT ở
mức độ trung bình, khá với X từ 2.26 đến 2.65, trong đó có nội dung được đánh giá
mức độ khá, có nội dung đánh giá mức độ khác Cụ thể:
Nội dung thực hiện mức độ khá là:
- Hiểu biết và chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp
luật của nhà nước, quy chế quy định của ngành (có X = 2.65) Đây là yêu cầu thuộc
về chuyên môn, kiến thức nghề nghiệp của ĐNGV Thực tế, GV dạy giáo dục công dân của các trường THPT của quận hiện nay 100% có bằng cử nhân chính trị Sự
am hiểu về quan điểm, đường lối của Đảng đến chính sách, pháp luật của Nhà nước
là nền tảng đến GV truyền thụ các kiến thức đến HS Do vậy, nội dung về “Nắm
vững kiến thức, nội dung môn dạy” có X =2.47 (mức độ khá) Yếu tố về phẩm chất,
danh dự, uy tín nhà giáo cũng được đánh giá cao với X =2.43 “Giữ gìn phẩm chất,
danh dự, uy tín của nhà giáo”
Tuy vậy, một số mặt còn hạn chế như: Sử dụng đa dạng các phương pháp,
hình thức dạy học; Vận dụng các kỹ thuật dạy học; Nắm vứng kiến thức môn học và vận dụng kỹ năng thực hành chuyên môn/môn học; Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học
Có thể thấy, vai trò của đánh giá học sinh rất quan trọng, việc đánh giá sẽ
g iúp học sinh có điều kiện tiến hành các hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế và giúp học sinh có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập, có ý chí vươn lên đạt những kết quả cao hơn, cũng cố lòng tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn Tuy nhiên, thực hiện nội dung này của đội ngũ GV còn hạn chế
Trang 4034
Như vậy, kết quả khảo sát cho thấy đội ngũ GV dạy pháp luật trong các trường THPT đã đạt được một số ưu điểm về kiến thức chuyên môn, đến phẩm chất, năng lực tuy nhiên những mặt hạn chế còn nhiều như ít sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, năng lực đánh giá HS Điều đó đã đặt ra yêu cầu đối với lãnh đạo các nhà trường cần phải có những biện pháp nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ GV trong thời gian tới
2.2.2.3 Thực trạng mục tiêu GDPL cho HS THPT trên địa bàn Quận 10,
thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu là kết quả dự kiến cần đạt Thực trạng mục tiêu GDPL cho HS THPT Quận 10 hiện nay đã đạt các mục tiêu dạy học như thế nào? Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng và kết quả thu được trình bày ở bảng số liệu sau:
Bảng 2.4: Thực trạng mục tiêu GDPL cho HS THPT trên địa bàn Quận 10, thành