“Trình bày các cách thức đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài bài tập học kỳ môn tư pháp quốc tế .................................................................................................................................................................................................................................................................
Trang 1A.MỞ BÀI
Ngày nay, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng đã mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội hợp tác với các đối tác nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đã nỗ lực không ngừng để tăng cường hoạt động kinh doanh Nhưng bên cạnh đó, việc nhận thức các đúng đắn về đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài nhằm bảo vệ thương hiệu của mình là rất cần thiết Để có thể hiểu rõ hơn về những cách thức đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của doanh
nghiệp Việt Nam tại nước ngoài em xin chọn đề số 18: “Trình bày các cách thức đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài”
làm đề tài cho bài tập lớn của mình
B.NỘI DUNG I.Khái quát chung về nhãn hiệu và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu
1 Một số khái niệm có liên quan
1.1 Khái niệm nhãn hiệu
Ở Việt Nam, Luật SHTT năm 2005 là một đạo luật chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam về SHTT trên cơ sở pháp điển hoá các quy định của pháp luật về SHTT đã được ban hành từ trước.Luật SHTT của Việt Nam không có điều khoản cụ thể nào về định nghĩa nhãn hiệu mà khái niệm nhãn hiệu được
quy định trong phần giải thích từ ngữ Theo đó, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng
để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” (Điều 4
khoản 16)
Còn theo Điều 785 Bộ Luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thì: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu
tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”
Và Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu của doanh nghiệp (hoặc tập thể các doanh nghiệp) dùng để phân biệt với
Trang 2Nhãn hiệu được coi là một loại tài sản vô hình của người hoặc công ty thực hiện hoặc sản xuất và là một trong các đối tượng sở hữu công
nghiệp được pháp luật bảo hộ, nhưng tùy theo luật ở mỗi quốc gia, nhãn hiệu
cần đăng ký để trở thành thương hiệu được bảo hộ theo luật định (Registered Trademark: "Thương hiệu đã đăng ký" hay là "nhãn hiệu cầu chứng").
1.2 Bảo hộ nhãn hiệu
Trước hết, bảo hộ được hiểu là khái niệm dùng để chỉ hoạt động của Nhà nước trong việc xác lập và bảo vệ các quan hệ xã hội phát sinh Nói cách khác, bảo hộ nhãn hiệu là thủ tục hành chính do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu đối với nhãn hiệu
Theo quy định tại hiệp định TRIPs : “thuật ngữ bảo hộ phải bao gồm các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng đạt được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực
và và việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ”
Như vậy, là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ nhãn hiệu là một bộ phận của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung Bảo hộ nhãn hiệu không chỉ giới hạn việc xác lập quyền mà còn bao gồm cả viêc thực thi quyền
đó trên thực tế , cụ thể là việc áp dụng những biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm đảm vệ quyền sở hữu của chủ nhãn hiệu, đồng thời ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm sử dụng, khai thác trái phép nhãn hiệu đó
2 Vai trò, lợi ích của bảo hộ nhãn hiệu Việt Nam tại nước ngoài
Thứ nhất, doanh nghiệp hay chủ sở hữu của nhãn hiệu được phép độc quyền sử dụng nhãn hiệu ở nước đã đăng ký, hoặc có thể chuyển giao quyền này cho các chủ thể khác qua các bản hợp đồng chuyển nhượng và thu về những khoản tiền;
Thứ hai, được đảm bảo về giá trị pháp lý từ đó giá trị kinh tế của nhãn hiệu được gia tăng;
Thứ ba, tạo thế cân bằng trong đàm phán, cạnh tranh với các doanh
Trang 3Thứ năm, tránh nguy cơ bị lợi dụng, chiếm đoạt nhãn hiệu tại nước sở tại, tránh được các chi phí tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu nhãn hiệu; Thứ sáu, có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Thứ bảy, loại trừ rủi do và tạo điều kiện thuận lợi cho các danh nghiệp khi tiến hành mở rộng hoạt động kinh doanh tại thị trường nước ngoài
3.Hạn chế khi không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Việt Nam tại nước ngoài
Trong trường hợp doanh nghiệp không đăng ký nhãn hiệu tại nước ngoài, họ có nguy cơ mắc phải những rủi ro như sau:
Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể bị các bên đăng ký chiếm chỗ, các bên ở đây bao gồm: doanh nghiệp Việt Kiều ở nước sở tại, doanh nghiệp của nước
sở tại doanh theo cùng lĩnh vực hoặc doanh nghiệp nước sở tại đã có hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam Bằng việc chiếm chỗ, họ có thể sử dụng uy tín sẵn có của nhãn hiệu từ đó kiếm lợi, buộc chủ sử hữu phải mua lại nhãn hiệu của chính họ với giá cao, gây ảnh hưởng đến việc kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam, làm giảm uy tín của nhãn hiệu để làm tổn hại đến hình ảnh của doanh nghiệp thực tế làm chủ nhãn hiệu đó
Khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam chân chính sẽ có nguy cơ đối diện với các hành vi vi phạm pháp luật tại nước ngoài và thua thiệt về kinh tế khi mắc phải khi xảy ra kiện cáo
II.Cách thức đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài.
1.Đăng ký bảo hộ trực tiếp theo quy định của công ước Pari
1.1Khái quát về công ước pari
Công ước Paris là công ước đa phương đầu tiên quy định về bảo hộ sở hữu công nghiệp được ký kết ngày 20/3/1883 tại Paris Tính đến ngày
15/01/2002, có 162 nước là thành viên của Công ước này (Việt Nam đã là thành viên của Công ước này)
Trang 4Việc bảo hộ nhãn hiệu theo công ước Paris được thực hiện dựa trên hai khía cạnh:
Một là, thiết lập những nguyên tắc bảo hộ chung cho tất cả các đối tượng
sở hữu công nghiệp được quy định trong công ước trong đó có nhãn hiệu Hai là, những quy định riêng về chế độ bảo hộ đối với nhãn hiệu
Sự ra đời của Công ước Paris đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của pháp luật về bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp Tuy nhiên công ước Paris cũng bộc lộ một số thiếu sót nhất định như chưa thiết lập về hệ thống đăng kí quốc tế cũng như chưa có các hình phạt đối với các nước thành viên không bảo hộ tối thiểu quyền sở hữu trí tuệ
Việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa theo Công ước Paris được áp dụng trong trường hợp quốc gia, nơi mà chủ nhãn hiệu muốn nhãn hiệu của mình được bảo hộ là thành viên của Công ước Paris
1.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia
Theo điều 2 và điều 3 của công ước Paris quy định rằng đối với việc bảo
hộ sở hữu công nghiệp, mỗi nước thành viên phải dành cho công dân của các nước thành viên khác sự bảo hộ tương tự như sự bảo hộ dành cho công dân của mình Chế độ đối xử quốc gia tương đương cũng phải được dành cho công dân của những nước không phải là thành viên của Công ước Paris nếu
họ cư trú tại một nước thành viên hoặc nếu họ có cơ sở kinh doanh tại một nước thành viên Quy định về chế độ đối xử quốc gia được đặt ra không chỉ nhằm bảo đảm quyền của người nước ngoài được bảo hộ mà còn bảo đảm rằng họ không bị phân biệt đối xử theo bất kỳ cách nào liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Liên quan đến chế độ đối xử quốc gia, Công ước cũng đặt ra những ngoại lệ nhất định Các quy định của luật pháp quốc gia liên quan đến thủ tục xét xử và thủ tục hành chính, thẩm quyền xét xử, việc lựa chọn địa chỉ giao dịch hoặc chỉ định đại diện được bảo lưu
1.3 Quyền ưu tiên khi nộp đơn
Trang 5Quy định tại điều 4- công ước Paris định quyền ưu tiên đối với nhãn hiệu, cụ thể là trên cơ sở một đơn hợp lệ đầu tiên đã được nộp tại một trong số các nước thành viên, trong một thời hạn nhất định (12 tháng đối với sáng chế
và mẫu hữu ích, 6 tháng đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp) người nộp đơn có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ tại bất cứ nước thành viên nào khác
và các đơn nộp sau sẽ được coi như đã được nộp vào cùng ngày với ngày nộp đơn đầu tiên.Tuy nhiên, đăng ký có thể bị từ chối trong một số trường hợp nhất định
Ngoài ra, những đơn nộp sau dựa trên cơ sở đơn nộp đầu tiên sẽ không
bị ảnh hưởng bởi bất cứ sự kiện nào có thể xảy ra trong khoảng thời gian ưu tiên, chẳng hạn như việc công bố sáng chế hoặc bán các sản phẩm mang nhãn hiệu hoặc mang kiểu dáng công nghiệp Một trong những lợi ích thiết thực nhất của quy định này là khi người nộp đơn muốn đạt được sự bảo hộ ở một
số nước, họ không buộc phải nộp đồng thời tất cả các đơn tại nước xuất xứ và các nước khác mà có đến 6 hoặc 12 tháng để quyết định xem nên nộp đơn yêu cầu bảo hộ ở những nước nào và tiến hành thủ tục nộp đơn ở các nước được chọn lựa
Việc rút hoặc từ chối đơn đầu tiên không làm mất khả năng được hưởng quyền ưu tiên của người nộp đơn Người nộp đơn có thể yêu cầu hưởng quyền
ưu tiên từ nhiều đơn cũng như có thể yêu cầu hưởng quyền ưu tiên từ một phần của một đơn nộp trước
2 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo hệ thống đăng ký quốc tế Madrid 2.1 Khái quát về hệ thống
Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam có thể sử dụng hệ thống đăng ký nhãn hiệu Madrid để đăng ký nhãn hiệu của mình tại các quốc gia thành viên
Hệ thống này được xây dựng trên cơ sở Nghị định thư Madrid 1989 ( Việt nam trở thành thành viên vào ngày 11/7/206) và Thỏa ước Madrid 1891( Việt Nam trở thành thành viên ngày 8/3/1949)
Trang 6Thỏa ước và Nghị định thư là những điều ước quốc tế đa phương tiêu biểu về đơn giản hóa quy trình thủ tục đăng ký bảo hộ quốc tế về quyền SHCN
2.2 Quyền nộp đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu
Có ba loại đơn đăng ký quốc tế: Đơn quốc tế chịu sự điều chỉnh của Thỏa ước; Đơn quốc tế chịu sự điều chỉnh của Nghị định thư; Đơn quốc tế chịu điều chỉnh của Thỏa ước và Nghị định thư
Đối với nộp đơn theo Nghị định thư: Bắt đầu từ ngày 11/07/2006, Việt
Nam là thành viên của nghị định thư Marid nên nếu bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân Việt Nam nào cũng có thể nộp đơn đăng ký bản quyền quốc tế theo nghị định thư Marid để được bảo hộ thương hiệu quốc tế Để được đăng ký bản quyền theo nghị định thư Marid thì bạn cần có giấy chứng nhận đăng ký thương hiệu tại Việt Nam
Đối với đăng ký theo Thỏa ước: Việc đăng ký quốc tế phải dựa trên văn
bằng bảo hộ nhãn hiệu đã được cấp tại nước xuất xứ Tròn trường hợp nhãn hiệu mới chỉ nộp đơn đăng ký quốc gia thì việc nộp đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu dựa trên đơn đăng ký đó sẽ không được chấp nhận theo thỏa ước
2.3Đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu
Có ba loại đơn đăng ký quốc tế: Đơn quốc tế chịu sự điều chỉnh của Thỏa ước; Đơn quốc tế chịu sự điều chỉnh của Nghị định thư; Đơn quốc tế chịu điều chỉnh của Thỏa ước và Nghị định thư
Trong đơn quốc tế phải chỉ định một hoặc nhiều nước nơi nhãn hiệu cần được bảo hộ Nước chỉ định và nước xuất xứ đều phải là thành viên của Nghị định thư và Thỏa ước Madrid
Đơn quốc tế được nộp đến văn phòng quốc tế của tổ chức SHTT thế giới( Văn phòng quốc tế) thông qua cơ quan trung gian là cơ quan có thẩm quyền của nước xuấ xứ Kèm theo đơn là các khoản lệ phí, bao gồm lệ phí đăng ký, lệ phí quốc gia Sau khi nhận đơn, văn phòng quốc tế sẽ thông báo
Trang 7với tât cả các nước thành viên và tiến hành đăng bạ quốc tế nhãn hiệu hàng hóa
2.4 Hiệu lực của đăng ký quốc tế
Đối với Thỏa ước Madrid: Điều 6 của thỏa ước quy định, đăng ký nhãn hiệu tại văn phòng quốc tế có hiệu lực trong vòng 20 năm kẻ từ ngày đăng ký
và có khả năng gia hạn Theo điều 7- Thỏa ước thì bất cứ nhãn hiệu nào cũng
có thể gia hạn 20 năm kể từ khi hết thời hạn đó
Đối với Nghị định thư Madrid: Theo điều 6 nghị định thư, đăng ký nhãn hiệu tại văn phòng quốc tế có hiệu lực 10 năm và có thể gia hạn Điều 7 cũng quy định bất cứ đăng ký quốc tế nào cũng có thể gia hạn thêm 10 năm kể từ khi kết thúc hì hạn hiệu lực trước đó
3.Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu vào cộng đồng Châu Âu theo thể thức nhãn hiệu cộng đồng (The community trade mark – CTM)
3.1 Khái quát về nhãn hiệu cộng đồng
Nhãn hiệu CTM gồm nhãn hiệu hình, nhãn hiệu chữ, nhãn hiệu gồm cả hình và chữ, hình dạng của hàng hóa, bao gói sản phẩm và đặc biệt có thể là
âm thanh hoặc mùi vị Nhãn hiệu CTM có hiệu lực trên toàn phạm vi bộ Liên Minh Châu Âu (gồm 28 nước thành viên tính đến năm 2013) và được đăng ký tại Cơ quan Sở Hữu Trí Tuệ chung của Châu Âu OHIM chỉ bởi một đơn đăng
ký duy nhất
Từ năm 1993, Liên minh Châu Âu EU đã đưa ra hệ thống đăng ký nhãn hiệu khu vực, có giá trị tương đương hoặc thay thế nhãn hiệu quốc gia tuân theo các nguyên tắc cơ bản của Công ước Paris
Việt Nam là thành viên của công ước Paris, Hiệp định trips, do đó các pháp nhân, cá nhân Việt Nam nếu có nhu cầu cũng có thể nộp đơn đăng ký CTM tại OHIM
3.2Nộp đơn, xét nghiệm đơn, phản đối đơn
a.Nộp đơn
Trang 8Đơn đăng ký nhãn hiệu CTM có thể nộp trực tiếp tại OHIM theo địa chỉ dưới đây, hoặc nộp qua bất kỳ Cơ quan sở hữu trí tuệ nào của các nước thành viên Cộng đồng Châu Âu
Có thể nộp đơn trực tiếp qua các kênh: nộp trực tuyến theo website của OHIM, gửi qua bưu điện, nộp trực tiếp tại phòng nhận đơn của OHIM, gửi fax, gửi đĩa lưu đơn điện tử
b.Xét nghiệm đơn
Đơn sau khi nộp tại OHIM sẽ được cơ quan này xét nghiệm về hình thức Nếu đơn có đủ các thông tin và tài liệu trên, ngày nộp đơn được ghi nhận Sau đó đơn được chuyển sang xét nghiệm nội dung
Trong giai đoạn xét nghiệm nội dung, nhãn hiệu trong đó chỉ được xét nghiệm trên cơ sở tuyệt đối (Điều 7) tức là đánh giá về khả năng phân biệt của nhãn hiệu, ví dụ nhãn hiệu có thuộc các dấu hiệu loại trừ theo quy định của pháp luật hay không; nhãn hiệu có phải là một thuật ngữ chung theo các ngôn ngữ của cộng đồng cho hàng hoá và dịch vụ hay không
c.Phản đối đơn
Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày công bố đơn trên bao CTM thì bên thứ ba có quyền và lợi ích liên quan có thể tiến hành thủ tục phản đối đơn khi
có căn cứ cho rằng việc đăng ký nhãn hiệu trong đơn gây ra thiệt hại đến quyền và lợi ích của mình Nếu trong thời hạn trên mà đơn không gặp phải bất cứ phản đối nào từ bên thứ ba thì nhãn hiệu OHIM sẽ có hiệu lực
3.4 Thời hạn bảo hộ và gia hạn hiệu lực
Nhãn hiệu CTM có hiệu lực 10 năm kể từ ngày nộp đơn và có thể được gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm Khi gia hạn, chủ sở hữu chỉ phải nộp lệ phí gia hạn mà không phải nộp bằng chứng sử dụng nhãn hiệu
4.Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại từng quốc gia
Nhằm mục đích đăng ký nhãn hiệu tại các quốc gia diễn ra thuận tiện và nhanh chóng thì các doanh nghiệp Việt Nam nên thuê các công ty Luật làm
Trang 9đại diện pháp lý cho mình hoặc sử dụng dịch vụ đăng ký nhãn hiệu chuyên nghiệp của từng quốc gia đó
Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang đăng ký bảo hộ nhãn hiệu nhều nhất tại các quốc gia như: Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan, Với mỗi quốc gia, yêu cầu nộp đơn là khác nhau.Tuy nhiên, để đăng ký thành công văn bằng bảo hộ nhãn hiệu quốc tế thì doanh nghiệp cần thực hiện những bước cơ bản sau đây:
Một là, các tài liệu sau cần được người nộp đơn chuẩn bị: 01 bản Giấy
ủy quyền của HAIHAN-IP (theo mẫu); Mẫu nhãn hiệu (file mềm); Danh mục hàng hóa/dịch vụ đi kèm nhãn hiệu; Tên nước đăng ký
Hai là, chi phí đăng ký nhãn hiệu trược tiếp tại các quốc gia được tính theo các điều kiện sau:Màu sắc nhãn hiệu: đen trắng hoặc có màu Ở một số nước, phí đăng ký cho nhãn hiệu đen trắng thấp hơn phí đăng ký nhãn hiệu màu ; Số nhóm hàng hóa/dịch vụ: một số quốc gia tính phí cơ bản dựa trên 1 nhóm hàng hóa/dịch vụ và phải nộp phí bổ sung cho mỗi nhóm hàng hóa/dịch
vụ từ nhóm thứ 2 trở đi Tuy nhiên, một số quốc gia lại tính phí cơ bản dựa trên 3 nhóm đầu tiên và chỉ tính phí bổ sung từ nhóm thứ 4 trở đi; Quốc gia
dự kiến nộp đơn
Ba là, thời gian xử lý đơn tại các nước khác nhau: Thời gian xử lý đơn còn phụ thuộc vào Cục sở hữu trí tuệ các nước có đưa ra đối chứng hay không
có đối chứng
III.Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu của doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài hiện nay và giải pháp
Số lượng đơn đăng ký và nhãn hiệu được bảo hộ ở nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp Trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp vẫn còn thờ ơ với một việc làm mang tính cấp thiết hàng đầu là đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài Theo thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ thì số doanh nghiệp đăng ký theo hệ thống Madrid là hơn 445 nhãn hiệu, đăng ký
Trang 10khiêm tốn cho thấy sự quan tâm của các doanh nghiệp xuất khẩu trong vấn đề này thực sự rất mờ nhạt Các doanh nghiệp tiến hành đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài trong năm gần đây đã có sự gia tăng so với năm 2009: 39 doanh nghiệp đăng ký theo hệ thống Madrid, năm 2012: 70 doanh nghiệp đăng ký theo hệ thống Madrid Có thể nhận thấy số lượng doanh nghiệp có hàng hóa xuất khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp ra thị trường nước ngoài là vài chục nghìn doanh nghiệp nhưng số lượng doanh nghiệp cũng như
số lượng nhãn hiệu hàng hóa được đăng ký bảo hộ ở nước ngoài chỉ hơn 1500 nhãn hiệu như nêu trên là một tỷ lệ rất nhỏ
1.Về phía doanh nghiệp
Thứ nhất, doanh nghiệp chỉ nên lựa chọn đăng ký nhãn hiệu ở nơi doanh nghiệp xem đó là thị trường nhập khẩu trong trung và dài hạn – chọn nơi bảo
hộ là những nước đã là thị trường nhập khẩu của doanh nghiệp hẳn nhiên là cần phải tiến hành càng sớm càng tốt, nhất là khi nhãn hiệu dự kiến đăng ký
đã được sử dụng ở đây
Thứ hai, doanh nghiệp nên tìm hiểu và dự kiến ngân sách cho chiến lược đăng ký nhãn hiệu ở các nước nhập khẩu được chọn, và tốt nhất ngân sách này nên được xây dựng căn cứ vào tính toán mang tính so sánh của hai hoặc nhiều hơn phương án đăng ký bản hộ nhãn hiệu
Thứ ba, doanh nghiệp nên tìm kiếm ý kiến tư vấn của các Luật sư về thủ tục, trình tự và những vấn đề pháp lý cần lưu tâm ở các nước nhập khẩu được chọn Doanh nghiệp không nên e ngại về việc bị phát sinh chi phí cho Luật sư
ở giai đoạn này bởi lẽ nếu bỏ qua nó, doanh nghiệp sẽ có nguy cơ chịu chi phí cao hơn nhiều lần khi triển khai chiển lược của mình ở giai đoạn sau Chẳng hạn, nếu không tham khảo ý kiến luật sư ở giai đoạn này, doanh nghiệp sẽ không thể biết và sự chuẩn bị trước cho những yêu cầu mà buộc doanh nghiệp phải đáp ứng ngay trong quá trình nộp đơn (hoặc xác lập quyền), khiến cho việc tiếp tục theo đuổi đơn thêm phần khó khăn và tốn kém Cách làm đơn