2.5 Phương pháp nghiên khả năng giải phóng dược chất in vitrora khỏi tá dược trong dạng thuốc dùng ngoài da 19 2.6 Phương pháp nghiên cứu tác dụng của thuốc chống nấm Ketoconazol chế tạo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI IIỌC Dược HÀ NỘI
Ds Trần Kim Chi
NGHIÊN CỨU IN VITRO ẢNH HƯỞNG CỦA TÁ DƯỢC TỚI TÁC DỤNG CỦA KETOCONAZOL TRONG DẠNG THUỐC DÙNG NGOÀI DA
Chuyên ngành: Công nghiệp dược phẩm và bào chế thuốc
Mã sô: 30201
LUẬN VÀN TỐ T NGIIIỆP TIIẠC s ĩ DƯỢC IIỌC
-IIÀ NỘI
Trang 21999-LỜI CẢM ƠN
Đề tài này được thực hiện tại bộ môn Bào chế và tổ bộ môn Vi nấm - kháng sinh - Trường Đại học Dược Hà nội, dưới sự hướng dãn của PTS Nguyễn Văn Long và PTS Chu Thị Lộc
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện đầy đủ của các Thầy, Cô giáo bộ môn bào chế và tổ bộ môn vi nấm-kháng sinh
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PTS Nguyễn Văn Long, PTS Chu Thị Lộc - đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình trong thời gian tôi thực hiện đề tài cùng toàn thể các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã động viên hỗ trợ tôi hoàn thành nhiệm vụ đề tài
Hà nội, ngày 01 tháng 6 năm 1999
DS Trần Kim Chi
Trang 32.5 Phương pháp nghiên khả năng giải phóng dược chất in vitro
ra khỏi tá dược trong dạng thuốc dùng ngoài da 19 2.6 Phương pháp nghiên cứu tác dụng của thuốc chống nấm
Ketoconazol chế tạo qua màng celophan 263.3.3 Kháo sát tốc độ giải phóns hoạt chất của mẫu chê tạo
Trang 44 PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ NHẬN XÉT 29 4.1 Nghiên cứu khả năng giải phóng của Ketocona/ol ra khỏi tá dược
thực nghiệm sau 30 phút đầu tiên 424.1.7 So sánh sự giải phóng Ketoconazol ra khỏi các mẫu thuốc mỡ
4.2 Nghiên cứu tác tỉụng chống nấm in vitro 44
4.2.1 Phương pháp khuếch tán trên thạch 444.2.2 Phương pháp xác định nồng độ ức chế tối thiểu 46
4.3 Đánh giá tương quan giữa khả năng giải phóng qua màng và
Trang 52 PHÂN II: TỒNG QUAN 2.1 Thuốc chống nấm
2.1.1 Vài nét về thuốc chống nấm
Thuốc chống nấm là các thuốc được dùng chủ yếu để điều trị và phòng bệnh do nhiễm nấm Chúng bao gồm chủ yếu là các nhóm thuốc sau:
• Allylamin (naftifine và terbinafine),
• Kháng sinh họ macroliđ polyen (gồm có amphotericin B và nystatin),
• Các kháng sinh chống nấm khác như griseofulvin,
• Dãn xuất imidazol (như ketoconazol, miconazol, clotrimazol),
• Dẫn xuất triazol (như fluconazol),
• Một vài acid béo (acid caprylic và propionic và muối của chúng),
• Một số các hợp chất khác như amorolfine, ciclopirox olamine, flucytosine, haloprogin, tolnaftate, và acid undecenoic và muối của nó
• Các thuốc khác cũng được dùng trong nhiễm nấm như: acid benzoic, co-trimoxazol, tím tinh thể, kali iodid, selen sulfit, natri thiosulphat
và các chất kháng khuẩn khác [19]
2.1.2 Các loại vi nấm gây bệnh
Vi nấm bao gồm nấm mốc và nấm men, là nhóm vi sinh vật có cấu tạo
tế bào Eucaryote Tế bào vi nấm rất nhỏ, muốn quan sát phải dùng kính hiển
vi Nấm không có chất diệp lục, sống hoại sinh hoặc ký sinh Nấm mốc và nấm men khác nhau về đặc tính hình thái của chúng
Nhiều loài vi nấm được ứng dụng trong công nghệ lên men sinh tổng hợp thực phẩm và thuốc Tuy nhiên, bên cạnh đặc tính có ích, không ít loài vi nấm cũng gây nên nhiều tác dụng có hại Người ta đã xác định được khoảng 13-15 loài nấm men có khả năng gây bệnh cho người và cho động vật Đáng
chú ý nhất là các loài: Candida albicans, Ciyptococcus neoformans,
Trang 6Trichosporon cutaneum, Trichosporon capitatum, Trichophyton rubrum, Epidermophyton interidigitale
Nấm mốc cũng như nấm men, chúng phát triển rất nhanh trên nhiều nguồn cơ chất hữu cơ khi gặp khí hậu nóng ẩm Nhiều loại nấm ký sinh trên người, động vật, thực vật và gây ra các bệnh nấm khá nguy hiểm Một số nấm sinh độc tố có thể gây ung thư và nhiều bệnh tật khác
Một vài loại nấm có tác dụng gây bệnh thực sự và có thể gây bệnh ở bất
kỳ cá thể nào Các loại nấm khác có khả năng gây bệnh thấp và cần có sự thay đổi trong cơ chế bảo vệ bình thường kháng lại bệnh, các bệnh đó được gọi là nhiễm khuẩn cơ hội [5]
Nhiễm nấm có thể phân loại như là nhiễm nấm bề mặt có tác động lên
da, tóc, móng chân, móng tay hoặc màng nhầy, hoặc nhiễm nấm toàn thân Nhiễm nấm toàn thân có khuynh hướng xuất hiện ở bệnh nhân bị suy giảm hệ thống miễn dịch như trong bệnh AIDS Nhiễm nấm có thể là tại chỗ khi nó chỉ
giới hạn ở một vùng của cơ thể, hoặc lan rộng khi vào các mô, hoặc lây truyền
khi lan rộng từ nơi nhiễm ban đầu đến các cơ quan khác trên toàn cơ thể
Điều trị nấm nên được chỉ định sau vi sinh vật gây nhiễm đã được xác
định, nhưng thường ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch việc điều trị thường được
bắt đầu trước khi vi sinh vật gây bệnh có thể nuôi cấy và xác định, do việc nhiễm bệnh tiến triển rất nhanh
Tóm tắt về các thuốc chính sử dụng trong điều trị bệnh nấm [19]
Trang 7hợp với flucytosine, azol
• Cladosporium carrionii
• Rhinocladiella aquaspersa
• Flucytosine, itraconazol, thiabendazol
• Paracoccidioides braslliensis • Amphotericin B, Ketoconazol
tolnaftate, acid undecenoic
Trang 8capsulatum w Đôi khi nhiễm nấm có thể ảnh hưởng đến màng nhày, móng
chân móng tay, hoặc các mô dưới da, và có thể lan truyền đến các mô sâu hơnđặc biệt là ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch
• Nấm da (ecpet mảng tròn, nấm tóc) do các vi sinh vật sống trong đất và
nguyên nhân gây bệnh ở người là 3 loài Epidermophyton interidigitale,
M icrosporum can is và Trichophyton mentữgrophytes Nấm da có thể tăng
sinh do điều kiện nóng ẩm và điều kiện vệ sinh tồi và thường xuất hiện ở các vùng nhiệt đới
• Nhiễm nấm da bề mặt tại chỗ thể nhẹ thường đáp ứng đối với các điều trị tại chỗ Các azol được sử dụng ngoài da gồm clotrimazol, econazol, ketoconazol và miconazol
• Nhiễm nấm ở một vài vị trí của cơ thể ít đáp ứng đối với điều trị ngoài da,
như nhiễm nấm lan rộng hoặc ở các khu vực sừng hoá cao, ở trường hợp
này cần kết hợp điều trị toàn thân
• Ketoconazol có phổ tác dụng rộng, nhung đôi khi có tác dụng phụ nghiêm trọng khi dùng dài ngày, và có thể thay thế bằng itraconazol, chất này cho đáp ứng điều trị nhanh hơn và đòi hòi thời gian điều trị ngắn hơn
• Nấm móng: điều trị kết hợp với griseofulvin theo đường uống và azol dùng ngoài da có thể cho đáp ứng tốt hơn Sử dụng ketoconazol bằng đường uống đối với nấm móng bị hạn chế bởi khả năng độc tiềm tàng của nó
• Lang ben: là nhiễm nấm bề mặt do nấm men M aỉasseiia furfur
(Pityrosporum orbiculaire) Bệnh lang ben thường đáp ứng với chất chống
nấm azol dùng ngoài da
2.3 Thuốc chống nấm họ Imidazol
2.3.1 Sơ lược về các thuốc chống nấm họ Imidazol
• Bifonazol: có phổ tác dụng rộng, đối với nấm da, M alassezia furfur, và
Candida spp.
• Butoconazol: có tác dụng lên Candida spp, và nấm da được dùng tại chỗ để
điều trị nấm Candida âm đạo.
5
Trang 9• Clotrimazol: có tác dụng tương tự Ketoconazol
• Croconazol hydroclorid: được dùng điều trị nhiễm Candida da bề mặt, nấm
da và lang ben
• Econazol: có tác dụng tương tự Ketoconazol
• Enilconazol: dùng trong thuốc thú y
• Fenticonazol nitrat: có tác dụng in vitro đối với nấm da, Malassezia fu rfu r,
và Candida albicans.
• Fluconazol: được dùng theo đường uống hoặc đường tĩnh mạch trong
nhiễm Candida, viêm màng não do cj-yptococcus và nấm da.
• Flutrimazol: được dùng ngoài da điều trị nhiễm nấm bề mặt
• Isoconazol: có phổ tác dụng rộng lên Candida spp Và nấm da.
• Itraconazol: được dùng điều trị nhiễm Candida, nấm tóc, lang ben và một
vài trường hợp nhiễm nấm toàn thân
• Ketoconazol:
• Lanoconazol: được dùng ngoài điều trị nhiễm nấm bề mặt
• Miconazol: được dùng ngoài điều trị nhiễm Candida bề mặt và nhiễm nấm
da Cũng có thể dùng theo đường tĩnh mạch trong điều trị nhiễm nấm toànthân
• Omoconazol nitrat: có tác dụng lên vi khuẩn và nấm Thường được dùng
ngoài trong điều trị nhiễm Candida trên da, nấm da và lang ben.
• Oxiconazol nitrat: thường được dùng ngoài trong điều trị nhiễm nấm da
• Sulconazol: có tác dụng lên nấm da, M aỉasseiia fu rfu r và Candida
albicans.[ 19]
Trang 10ketoconazol Ketoconazol có phổ tác dụng rộng: tác dụng lên Candida spp.,
Blastomyces dermatidis, Coccidioides immitis, Epidermophyton floccosum, Histopỉasma capsulatum, Paracoccidioides brasiliensis, M alassezia furfur,
M icrosporum canis, Trichophyton meỉitagrophytes, và T rubrum Một vài
chủng Aspergillus spp., Cỉyptococcus neoformans và Sporothrix schenckii
nhạy cảm với Ketoconazol Giá trị nồng độ ức chế tổi thiểu (MIC) phụ thuộc vào phương pháp xác định, và không luôn luôn là chỉ số dự đoán tác dụng in vivo Ketoconazol có tác dụng đối với một số vi khuẩn Gram dương [20]
2.3.2.4 Dược động học của Ketoconazol:
Hấp thu qua đường tiêu hoá biến thiên và tăng lên khi giảm pH dạ dày Pic nồng độ máu khoảng 3,5 |Lig/ml đạt được sau 2 h sau khi dùng 200 mg theo đường uống Hấp thu vào cơ thể khi dùng dạng dùng ngoài là không tối
7
Trang 11thiểu Liên kết protein huyết tương 90%, chủ yếu là albumin Phân bố nhiều trong các mô nhưng ít vào dịch não tuỷ Thải trừ theo hai pha t1/2 của pha đầu
là 2h, pha cuối là 8 h Chuyển hoá ở gan thành chất chuyển hoá không có hoạt tính Thải trừ dạng chuyển hoá hoặc dạng không biến đổi qua phân, một ít qua nước tiểu [19]
2.3.2.5 Tác dụng phụ: thoáng qua và có thể phục hổi
• Rối loạn đường tiêu hoá, nôn, buồn nôn và ỉa chảy, táo bón và đau bụng Tác dụng phụ này có liên quan đến liều và có thể giảm khi dùng vào bữa ăn
• Viêm gan nếu điều trị kéo dài quá hai tuần,
• Rối loạn nội tiết gồm có vú to và ức chế vỏ thượng thận,
• Các tá dụng phụ khác bao gồm mề đay, mẩn đỏ, đau đầu, choáng váng và ngủ gà
• Khi dùng ngoài có thể gây kích ứng, viêm da hoặc cảm giác nóng [19]2.3.2.6 Liều dùng và cách dùng
Ketoconazol có thể dùng theo đường uống hoặc dùng ngoài
• Dùng theo đường uống khi nhiễm Candida da niêm mạc mãn tính, nhiễm nấm đường tiêu hoá, nhiễm nấm da và nấm móng
• Do hấp thu thất thường và đáp ứng điều trị chậm, và độc đối với gan Ketoconazol được khuyến nghị sử dụng theo đường uống đối với nhiễm
nấm nặng như viêm não nấm, nhiễm nấm nặng ở bệnh nhân suy giảm miễn
dịch và nhiễm nấm nặng kháng lai các thuốc khác
• Liều dùng hàng ngày để phòng và điều trị là 200 mg có thể tăng tới 400 mg/ngày hay cao hơn khi không đạt được đáp ứng điều trị mong muốn
• 400 mg/ngày trong 5 ngày đối với nhiễm nấm âm đạo mãn
• Việc điều trị nên được duy trì ít nhất một tuần sau khi hết triệu chứng và kết quả nuôi cấy là ãm tính
• Ketoconazol dùng ngoài dưới dạng kem 2% để điều trị nhiễm nấm và Candida da, hoặc điều trị lang ben Dùng một hoặc hai lần một ngày, và
Trang 122.4.1.3 Ảnh hưởng của các yếu tố sinh lý tới sự giải phóng thuốc và hấp thu thuốc qua da:
2.4.2 Ảnh hưởng của yếu tố công thức và kỹ thuật bào chế
2.4.2.1 Ảnh hưởng của dược chất:
Tính chất lý hoá của dược chất là yếu tố có ý nghĩa căn bản đối với sự giải phóng thuốc ra khỏi tá dược (cốt thuốc), cả mức độ và tốc độ Tính chất lý hoá bao gồm một số tính chất như: độ tan, tính đa hình, kích thước tiểu phân,
pH, hệ số khuếch tán, hệ số phân bố, nồng độ, mức độ phân ly và bản chất hoá học
• Độ tan:
Độ tan của dược chất quyết định mức độ và tốc độ giải phóng của dược chất ra khỏi tá dược Các dược chất bào chế dưói dạng thuốc mỡ thường rất ít tan Chẳng hạn thuốc chống nấm, cocticoit dùng ngoài
Để tăng độ tan của dược chất ít tan, nhằm cải thiện sinh khả dụng của dạng thuốc, có thể áp dụng nhiều biện pháp Một số biện pháp thường được sử dụng là:
- Giảm kích thước tiểu phân tới mức tối đa Cụ thể là thường sản xuất các nguyên liệu dưới dạng micronise hoặc siêu mịn
- Dùng các chất diện hoạt: có thể là chất diện hoạt không ion hoá hoặc ion hoá, nhằm mục đích tăng độ tan của dược chất ít tan, thường dùng là polysorbat (Tween)
10
Trang 13- Dùnơ các dung môi trơ: hoà tan dược chất vào các dung mối trơ trước khi phối hợp với tá dược Thường dùng propylen glycol, dimethylsulfoxid (DMSO), dimethylformamid (DMF).
Ngoài ra có thể ứng dụng hệ phân tán rắn Có thể coi các hệ này là chất
ít tan được phân tán trong các chất mang hoặc cốt trơ về tác dụng dược lý và
có tính thân nước cao Các chất mang trơ thân nước hay dùng trong dạng thuốc mỡ bao gồm:
- Polyetylen glycol như: PEG 400, PEG 4000
- Cholesterol và các dãn chất tương tự,
- Các chất diện hoạt thiên nhiên hoặc tổng hợp như: phospholipid, các Tween,
- p, Ỵ - cyclodextrin.[15]
Để có nguyên liệu chế tạo thuốc mỡ hoặc kem trong đó dược chất ít tan
đã được cải thiện độ tan, người ta chế hệ phân tán rắn bằng hai phương pháp chính sau:
- Phương pháp nấu chảy: thường áp dụng với các dược chất và chất mang có độ chảy thấp Hỗn họp được nung chảy, khuấy đều, làm lạnh nhanh trên nước đá (4°C) Để nguội và làm khô trong bình hút
ẩm hoặc tủ sấy chân không
- Phương pháp dung môi: thường áp dụng với trường họp dược chất vàchất mang đồng tan trong một dung môi trơ (hoặc có thể tan trong hai dung môi trơ khác nhau) Dược chất và chất mang được hoà tantrong một lượng dung môi thích họp, trộn đều, bốc hơi dung môi,làm khô trong bình hút ẩm hoặc tủ sấy chân không
Độ tan và đặc biệt là tốc độ hoà tan của dược chất ít tan tăng lên nhiều sau khi đưa vào hệ phân tán rắn Cơ chế có thể là:
- Làm giảm kích thước của nhiều tiểu phân ít tan
- Làm thay đổi kiểu kết tinh hoặc chuyển sang dạng vô định hình tan tốt hơn,
- Làm tăng tính thấm của các tiểu phân ít tan,
Trang 14- Tạo phức hợp thân nước hơn hoặc dễ tan hon
• Ảnh hưởng của hệ s ố khuếch tán, pH, mức độ lon hóa:
Quá trình giải phóng thuốc từ hệ tá dược là quá trình khuếch tán thụ động, quá trình hoà tan và quá trình phân bố dược chất giữa tá dược và bề mặt
da Trong đa số trường hợp tốc độ giải phóng thuốc từ hệ tá dược là hàm sô của hệ số phân bố và hệ số khuếch tán Hệ số khuếch tán thể hiện khả năng của các phân tử vận chuyển từ vùng có nồng độ cao (trong hệ tá dược) sang vùng có nồng độ thấp (bề mặt da), v ề mặt kỹ thuật bào chế, người ta có thể tác động để làm tăng hệ số khuếch tán khi sử dụng các dung môi trung gian, các tá dược khác nhau và biện pháp thích hợp để bào chế Các dược chất khác nhau, các dẫn chất khác nhau của cùng một dược chất có hệ số khuếch tán khác nhau, phụ thuộc vào khả năng ion hoá của dược chất và pH của hệ Một dược chất có thể có hệ số khuếch tán khác nhau do dạng kết tinh và thù hình khác nhau, vì thế cần chọn dạng nào, dẫn chất nào có hệ số khuếch tán lớn đốivới tá dược sử dụng Mặt khác tá dược cũng có ảnh hưởng tới hệ số khuếch táncủa dược chất
Với dược chất có tính acid yếu hay kiềm yếu thì mức độ ion hoá phụ thuộc vào pH môi trường Dược chất ở dạng ion hoá thường dễ tan hơn so với dạng không ion hóa
• Ảnh hưởng của hệ s ố phân b ố (K):
Hệ số phân bố của một dược chất trong 2 pha khác nhau, chẳng hạn như
trong pha dầu và pha nước là tỷ số độ tan bão hoà của nó trong hai pha ở cùng
điều kiện Người ta thường sử dụng nước và octanol để xác định hệ số phân bố của dược chất
Da có cấu tạo bởi nhiều lóp thân dầu, thân nước xen kẽ nhau, cho nên nếu dược chất chỉ thân dầu hoặc thân nước (tức K » 1 hoặc K « 1) thì sẽ khó thấm qua da Hệ số phân bố dầu nước xấp xỉ bằng 1 thì sẽ hấp thu qua da tốt nhất
Hệ số phân bố có thể bị thay đổi theo các cách khác nhau, chẳng hạn như, sự phân ly tạo phức, tạo mixen Trong thuốc mỡ, dược chất không những
Trang 15chỉ phân bố giữa hai pha dầu - nước mà có phân bố giữa tá dược với các mixen của chất diện hoạt nếu có Khi dùng thuốc lên da, còn có sự phân bố giữa tá dược và lóp sừng.
Loại dầu sử dụng cũng rất có ý nghĩa đối với hệ số phân bố Ngoài ra,
nó còn có thể bị ảnh hưởng của các hợp phần khác nhau trong công thức bào chế như: các dược chất khác dùng phối hợp, bản chất tá dược sử dụng, các chất phụ (chất bảo quản, ổn định, tăng độ tan, tăng tính thấm)
Thực tế Ketoconazol không hấp thu qua da, tức là không thấm qua da Đối với chế phẩm Ketoconazol điều trị tại chỗ thì sự hấp thu qua da của Ketoconazol được coi là không cần thiết và có thể cần hạn chế vì khi đi vào cơ thể thuốc có nhiều tác dụng phụ và độc đối với gan
• Ảnh hưởng của nồng độ thuốc:
Theo định luật Fick, tốc độ khuếch tán của dược chất từ hệ tá dược vào môi trường tỷ lệ thuận với sự chênh lệch nồng độ dược chất khuếch tán giữa
hệ tá dược và môi trường
Có thể viết theo dạng:
dQ
— - = D.s (C, - c 2)
dTdQ/dT: tốc độ khuếch tán của dược chất trong một đơn vị diện tích bề mặt theo thời gian
C: nồng độ chất khuếch tán trong hai vùng
D: hệ số khuếch tán
S: diện tích bề mặt khuếch tán
Cũng chính vì vậy, trong thực tế, khi xây dựng công thức, người ta sử dụng nồng độ dược chất thích hợp, thường là cao để tạo hiệu số chênh lệch
nồng độ lớn Người ta thường nghiên cún ở nhiều nồng độ hoạt chất trong
công thức bào chế để từ đó chọn nồng độ cho tác dụng tối ưu
Trang 16Tăng độ loang của thuốc mỡ trên da, sẽ tăng diện tích bề mặt khuếch tán, tăng sự giải phóng dựơc chất từ hệ tá dược Điều này phụ thuộc vào thể chất của thuốc mỡ.
• Ảnh hưởng khi tạo dẫn xuất:
Một dược chất có thể có nhiều dẫn chất khác nhau Dẫn chất khác nhau thì khác nhau về tính chất lý học, hoá học và mức độ tác dụng
Do có sự khác nhau về tính chất lý học (độ tan, dạng kết tinh và thù hình, hệ số phân bố, hệ số khuếch tán) cho nên, trong cùng một hệ tá dược như nhau, mức độ và tốc độ giải phóng ra khỏi tá dược sẽ khác nhau [6]
2.4.2.2 Ảnh hưởng của tá dược:
• Các nhóm tá dược thường sử dụng:[ 18]
- Nhóm tá dược thân dầu, gồm có:
Các dầu mỡ sápDầu mỡ sáp hydrogen hoáDẫn chất hoặc các thành phần lấy từ dầu, mỡ, sáp: acid béo, alcolbéo
Hydrocacbon no: vaselin, parafin, w Silicon
- Nhóm tá dược thân nước, bao gồm:
Các polyetylen glycol (PEG), thường dùng phối hợp PEG 400 và PEG4000
Polyme của acid acrilic và dẫn chất Thường dùng nhất là Carbopol 934, tạo gel với nồng độ 1 - 3%.[15]
Dẫn chất cellulose: carboxymehylcellulose (CMC), Na CMC,ethylcellulose (EC) tạo gel với nồng độ 3 - 7 %, Hydroxy propyl methyl cellulose 3 - 4% [10]
- Nhóm tá dược khan (tả dược hấp phụ, nhũ hoá): điển hình là lanolin khan, các hỗn họp vaselin với lanolin, cholesterol, alcol cetylic
- Tá dược nhũ tương:
14
Trang 17Loại N/DLoại D/N tuỳ thuộc vào tỷ lệ giữa pha dầu và pha nước và chấtnhũ hoá sử dụng.[17]
• Ảnh hưàỉĩg của tá dược tới giải phóng thuốc trên da\
Nhiều công trình nghiên cứu về sinh dược học thuốc mỡ đã chứng minh
là đặc tính của tá dược có ý nghĩa rất lớn đối với mức độ và tốc độ giải phóng hoạt chất từ hệ tá dược Rõ ràng là tuỳ thuộc vào bản chất của tá dược sử dụng, chọn lựa, có thể làm thay đổi sinh khả dụng của thuốc mỡ
Tá dược thuốc mỡ có ảnh hưởng tới quá trình hydrat hoá lóp sừng, nhiệt
độ bề mặt da, độ bám dính trên da của thuốc Mặt khác, rất nhiều trường hợp
độ tan của dược chất, hệ số phân bố, hệ số khuếch tán của dược chất cũng chịu ảnh hưởng của tá dược Những tác động này dẫn tới sự thay đổi về độ tan, tốc
độ tan của dược chất, do trực tiếp ảnh hưởng tới mức độ, tốc độ giải phóng dược chất [6]
2.4.2.3 Ảnh hưởng của chất phụ:
• Chất diện hoạt'.[13]
Các chất diện hoạt ngày càng được sử dụng nhiều trong kv thuật bào chế các dạng thuốc nói chung, dạng thuốc dùng ngoài nói riêng Trong các công thức thuốc mỡ, người ta sử dụng các chất diện hoạt với vai trò là các chất làm tăng độ tan của dược chất ít tan, làm tác nhân nhũ hoá, và cải thiện tính thẩm mỹ của thuốc mỡ đó là khả năng dễ lửa sạch
Các chất diện hoạt nói ảnh hưởng tới tính thấm của dược chất vì nó làm giảm khả năng đối kháng của lớp sừng Chúng tác động trực tiếp lên các màng sinh vật, vì vậy làm thay đổi thành phần và tốc độ quá trình tổng hợp một vài phospholipid, làm thay đổi quá trình hydrat hoá colagen, làm biến tính protein, tăng nhiệt độ bề mặt da, tăng tuần hoàn của hệ mạch Tác dụng này
có thể hiện mạnh nhất ở các span và tween.
Các chất diện hoạt làm thay đổi mức và tốc độ giải phóng dược chất ra khỏi tá dược vì những lý do sau:
Trang 18- Chất diện hoạt làm thay đổi độ tan Thay đổi hệ số phân bố, hệ sốkhuếch tán của dược chất với tá dược cũng như giữa tá dược và da.
- Làm thay đổi độ nhớt của thuốc (chủ yếu là giảm) do vậy làm tăng tốc độ khuếch tán của dược chất
- Làm giảm sức căng bề mặt ỏ' bề mặt tiếp xúc giữa các pha vì thế dược chất có khả năng tăng tính thấm; thuốc mỡ được dàn đều trên
bề mặt của da và tạo nên một lớp thuốc có bề dày đồng nhất
Tác dụng của chất diện hoạt phụ thuộc vào bản chất, số lượng và giá trịHLB của nó Mức độ và tốc độ giải phóng dược chất đạt được cao nhất ở giá trị tới hạn của cân bằng dầu nước
Trong nhiều công trình nghiên cứu, người ta nhận thấy là: chất diện hoạt trong một số trường hợp làm tăng hấp thu qua da, tuy nhiên cũng có trường hợp gây giảm hấp thu Có thể giải thích như sau:
Nếu gọi Kp là hệ số phân bố của dược chất, Cm là nồng độ thuốc trong các mixen, Cf là nồng độ thuốc tự do, ta có:
Kp = c m c f
mà J = Kp c (C = hằng số)
Do vậy, nếu nồng độ chất diện hoạt trong hệ lớn hon nồng độ mixen tới hạn sẽ làm giảm nồng độ thuốc trong pha động và do đó giảm tốc độ khuếch tán, giảm hấp thu qua da
Một số công trình nghiên cứu đã chứng minh là các chất diện hoạt có thể làm tăng tính thấm của dược chất dưới dạng kem hoặc thuốc mỡ.[13] Có thể giải thích là do các chất diện hoạt gây nên tương tác với lớp bề mặt da, làm giảm tính đối kháng của lớp sừng, hoặc cũng có thể do làm tăng mức độ và tốc
độ giải phóng dược chất ra khỏi tá dược Nói chung chất diện hoạt anion có
m
khuynh hướng làm tăng hấp thu hơn chất diện hoạt cation hoặc không ion hoá
Đôi khi cũng có trường hợp chất diện hoạt gây kích ứng nơi đặt thuốc
- Ảnh hưởng của chất diện hoạt không ion hoá: nhiều tác giả đã chỉ ra rằng Tween làm giảm hấp thu qua đường tiêu hoá nhưng lại làm tăng
16
Trang 19hoặc giảm hoặc không có ảnh hưởng tới hấp thu thuốc qua da của một số dược chất nhất định
- Ảnh hưởng của chất diện hoạt ion hoá: chất diện hoạt ion hoá có tương tác mạnh hơn với da, ảnh hưởng tới chức năng bảo vệ của da mạnh hon chất diện hoạt không ion hoá
Một số công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng Natri lauryl sulphat làm tăng sự giải phóng protein và phospholipid từ niêm mạc ruột của chuột Cũng như Tween, natri lauryl sulphat làm giảm sự hấp thu của một số dược chất nhưng lại tăng hấp thu đối với một số dược chất khác Cơ chế tác dụng của chất diện hoạt: các chất diện hoạt tác động cả đối với tế bào bị sừng hoá cũng như với cả lớp sừng, làm giảm sự đối kháng của da đối với dược chất, do vậy làm cho dược chất đâm xuyên qua da dễ dàng hon, hấp thu tốt hơn Các chất diện hoạt khi đưa thêm vào thành phần của thuốc và làm giảm hoạt độ nhiệt động của tá dược sẽ làm giảm sự hấp thu Ngoài ra cũng cần phải nói tới yếu
tố khác như tính chất lý, hoá của dược chất, nồng độ chất diện hoạt sử dụng và
ái lực tương tác của các chất diện hoạt sử dụng đối với da
• Ảnh hưởng của dung môi:[ll], [14], [12]
Một số dung môi hữu cơ được sử dụng như các chất mang đối với các dược chất khác nhau bởi vì nó có thể mang thuốc qua da vào tới hệ tuần hoàn
Cơ chế có thể giải thích như sau: dung môi làm giảm tính đối kháng của da vì
nó hoà tan các lipid trong da, làm thay đổi cấu trúc của các lipoprotein, làm tăng quá trình hydrat hoá của da Ngoài ra, các dung môi này cũng làm tăng
độ tan của các dược chất ít tan do đó làm tăng mức độ, tốc độ giải phóng dược chất từ hệ tá dược
Các dung môi hay dùng hiện nay:
- Nhóm alkyl methyl sulfoxid:
Dimethylsulfoxid Dimethyl acetamid Dimethyl formamid
Trang 20Những dung môi này háo nước, tác động lên hàng rào của da bằng cách làm trương nở tầng tế bào trong tầng nền, tạo điều kiện cho dược chất dễ thấm qua da.
- Ngoài ra, một số dung môi khác cũng được dùng với tác dụng tương
tự như các dung môi hữu cơ trên, như propylen glycol, PEG 300, PEG 400,
Hỗn hợp propylen glycol và acid oleic mặc dù khả năng hoà tan dược chất không cao nhưng thuốc hấp thu tốt bởi vì cả acid oleic và propylen glycol đều tác động trực tiếp lên lớp sừng, làm tăng quá trình hydrat hoá, vì vậy hấp thu tăng
Việc sử dụng dung môi trơ trong thành phần phần các thuốc mỡ theo tỷ
lệ nào là tối ưu cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng cụ thể với từng dược chất,
hệ tá dược sử dụng cũng như các chất phụ khác Đã có nhiều công trình
nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ (tỷ lệ %) propylen glycol hoặc DMSO tới
sự hấp thu thuốc qua da
Nhưng quy luật chung còn chưa được thống nhất Chẳng hạn như: một
số tác giả cho rằng mức độ hấp thu qua da tăng theo lượng propylen glycol trong công thức Nhưng cũng có tác giả chứng minh rằng phải vói tỷ lệ trên 40%, tác dụng làm tăng hấp thu mới rõ rệt Một số tác giả kết luận là với DMSO, tỷ lệ trên phải ít nhất là 60% trong khi đó có người cho rằng với tỷ lệ
5%, dung môi này đã có tác dụng làm tăng hấp thu qua da của một số dưọ'c
chất
Như vậy việc sử dụng các dung môi trơ trong mỗi công thức bào chế của một loại hoạt chất đều phải được khảo sát nghiên cứu về tác dụng của dung môi đối với tốc độ và mức độ giải phóng hoạt chất, và tác dụng đối với
sự hấp thu dược chất qua da
Có thể kết luận là: việc sử dụng các dung môi trơ, các chất diện hoạt cải thiện rất đáng kể mức độ, tốc độ giải phóng của nhiều dược chất ít tan, tức là làm tăng sinh khả dụng của chế phẩm
18
Trang 212.4.2.4 Ảnh hưởng của kỹ thuật bào chế: [6]
Phương pháp bào chế có ý nghĩa rất căn bản đối với mức độ và tốc độ giải phóng của hoạt chất ra khỏi tá dược Do đó ảnh hưởng tới sinh khả dụng của chế phẩm Bởi vì biện pháp kỹ thuật xác định trạng thái vật lý hoá lý của dược chất (phân tử, ion
Điều kiện sản xuất, máy móc và trang thiết bị cũng có ý nghĩa đối với quá trình phân tán, hoà tan dược chất vào hệ nói chung Chẳng hạn: chế độ gia nhiệt, khuấy trộn, hút không khí
Ngoài ra còn phải kể tới đổ bao gói và chế độ bảo quản Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc ổn định thể chất, chất lượng dạng thuốc.[5]
2.5 Phương pháp nghiên cứu khả năng giải phóng dược chất in vitro ra khỏi tá dược trong dạng thuốc dùng ngoài da.
Thông thường hay đánh giá khả năng giải phóng hoạt chất ra khỏi tá dược bằng phương pháp khuếch tán Đơn giản nhất là dùng phương pháp khuếch tán qua gel Đánh giá mức độ giải phóng dựa vào đường kính vùng khuếch tán dược chất Tuy nhiên biện pháp chỉ áp dụng được với các dược chất tạo màu hoặc phức màu với thuốc thử tan trong môi trường khuếch tán
Với hầu hết các dược chất, người ta dùng phương pháp khuếch tán qua màng: tự nhiên hoặc nhân tạo
Các màng nhân tạo thường dùng nhất là màng celophan Theo nhiều nhà nghiên cứu thì màng celophan rất thích hợp để nghiên cún khả năng giải phóng hoạt chất Trong khi đó cũng có tác giả lại cho rằng silicon là lý tưởng
Môi trường khuếch tán thường là nước cất, dung dịch đệm,
Để xác định lượng dược chất giải phóng được trong từng khoảng thòi gian, người ta thường dùng phương pháp đo độ hấp thụ ở bước sóng vùng tử ngoại hoặc sắc ký lỏng hiệu năng cao
Tuy nhiên việc nghiên cứu in vitro chỉ là giai đoạn đầu tiên của quátrình
Trang 222.6 Phương pháp nghiên cứu tác dụng của thuốc chống nấm dùng ngoài
da in vitro:
Thử tác dụng chống nấm in vitro theo [16]
• Định tính: khả năng kháng nấm của thuốc bằng phương pháp khuếch tán trên thạch: sự khuếch tán của hoạt chất vào môi trường dinh dưỡng có vi sinh vật chỉ thị, tạo nên vòng ức chế vi sinh vật So sánh tác dụng của các chế phẩm bằng cách so sánh đường kính vòng ức chế này
• Xác định nồng độ ức chế tối thiểu bằng phương pháp pha loãng trong thạch: chế phẩm được pha loãng thành dãy nồng độ theo cấp số nhân, sau
đó được thêm cùng một thể tích vào mỗi ống môi trường có cùng thành phần, thể tích và nồng độ vi sinh vật chỉ thị Song song làm ống chứng có chế phẩm không có hoạt chất Sau thời gian nuôi cấy 24 h ở nhiệt độ thích hợp, nồng độ pha loãng thấp nhất không thấy vi sinh vật phát triển trên các môi trường nuôi cấy là nồng độ ức chế tối thiểu
20
Trang 233 PHẨN III: NGUYÊN LIỆU, PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
- Saccharomyces cereviacea ATCC 2601
• Môi trường Sabouraud thử vi nấm [9]:
Thành phần:
Pepton Glucose Thạch bộtNước cất vừa đủ 1000 ml
Tiêu chuẩn USP 23 BP98 BP98 USP 23 USP23 ƯSP 23 USP 23 ƯSP 23 USP 23
BP 93
BP 93DĐVN II, Tập 3 DĐVN II, Tập 3 USP 23
USP 23 USP 23
10 g
20 g
18 g
Trang 24pH 5,6 - 5,8Ngâm thạch bột trong nước cho trương nở, đun sôi hoà tan pepton và glucose, điều chỉnh pH đến khoảng 5,6 - 5,8, bổ sung nước vừa đủ Hấp ở 1 at trong 20 phút.
• Đĩa petri, ống nghiệm
3.3 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 253.3.1.3 Chế với tá dược thân nước:
Công thức 4
2 g29,4 g 19,6 g
Công thức 5
2 g34,3 g 14,7 g
Trang 26Công thức 6 Công thức 7 Công thức 8Ketoconazol 2 g 2 g 2 g
■ Ngâm HPMC (CMC hoặc carbopol 934) trong nước cho trương
nở hoàn toàn được (1)
■ Hoà tan ketoconazol trong propylen glycol và alcol etylic được (2)
■ Phối hợp (1) và (2) cho đến khi thu được khối trong đồng nhất Đóng lọ thuỷ tinh kín
3.3.1.4 Chế với tá dược nhũ tương:
• Sử dụng chất diện hoạt ion hoủ (aiìioỉì)
Công thức 9 và 9* Công thức 10 và 10*Ketoconazol 2 g 2 g
■ Phương pháp hoà tan (công thức 9 và 9*):
Hoà tan natri lauryl sulphat vào trong nước (1)Đun nóng nhẹ propylen glycol hoặc DMF hoà tan nipagin và ketoconazol (2)
24
Trang 27Phối hợp (1) và (2) được (3)Đun nóng chảy vaselin và alcol cetylic đến khoảng 65°c được (4), đun nóng (3) đến khoảng 60°c, đổ vào (4) đang nóng chảy, khuấy kỹ đến khi nguội thu được khối kem mềm mịn màu trắng.
Đóng tuýp nhôm tráng vemi
■ Phương pháp phân tán (công thức 9* và 10*):
Chế tạo kem nhũ tương N/D không có ketoconazol như phươngpháp ho à tan
Trộn đều ketoconazol vào kem nhũ tương N/D theo phương pháp đồng lượng thu được kem mềm mịn màu trắng
Đóng tuyp nhôm tráng verni
• Sử dụng cặp chất diện hoạt không ion (Tween 80 và Span 80)
- Công thức 11 và 11*:
Ketoconazol 2 gAlcol cetyllic S gTween 80 1.2 gSpan 80 0,2 gPropylen glycol 20 gNước vừa đủ 100 g
- Tiến hành:
■ Phương pháp hoà tan (công thức 11):
Hoà tan span 80 vào trong alcol cetylic đun chảy (1)Hoà tan ketoconazol trong propylen glycol đun nóng lên khoảng