1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc nghiên cứu định tính

62 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 893,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có chiến lược can thiệp phù hợp trong việc hạn chế tình trạng bán kháng sinh không có đơn tại các cơ sở bán lẻ thì những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không đơn của ngườ

Trang 1

MÔ TẢ MỘ

ĐẾN HÀNH VI BÁN KHÁNG SINH KHÔNG CÓ ĐƠN T

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Từ tận đáy lòng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo ThS.Nguyễn

Thị Phương Thúy là người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này Tôi

luôn cảm thấy biết ơn vì được làm sinh viên của cô Cô đã ân cần chỉ bảo, truyền ngọn lửa đam mê và động viên tôi cố gắng để hoàn thành khóa luận này Cảm ơn

cô vì đã dành rất nhiều thời gian quý báu để góp ý và sửa chữa cho tôi từng câu từng chữ

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới GS.TS Nguyễn Thanh Bình - Trưởng Bộ môn

Quản lý và Kinh tế Dược, cùng các thầy cô giáo trong bộ môn đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Ban Giám Hiệu, Phòng Đào

tạo và toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình 5 năm học tập tại trường, đã mang đến cho tôi rất nhiều những kiến thức bổ ích và các kỹ năng cần thiết phục vụ cho công việc sau này Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ quản lý của SYT, PYT và các Dược sĩ ở các nhà thuốc khu vực Hà Nội và Thanh Hóa đã dành thời gian trả lời phỏng vấn để tôi

có được dữ liệu phục vụ cho khóa luận này Tôi xin cảm ơn Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã tài trợ một phần kinh phí cho việc thực hiện đề tài, vì đề tài được thực hiện nằm trong một phần khuôn khổ nghiên cứu của WHO tại Việt Nam

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới ba mẹ, người đã sinh thành, dưỡng dục, nuôi nấng và tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành khóa luận Tôi cũng xin gửi lời cảm toàn thể bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian tôi làm khóa luận này

Hà Nội, 18 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2

1.1 Quy định bán kháng sinh tại cơ sở bán lẻ thuốc 2

1.2 Thực trạng bán thuốc kháng sinh không đơn 3

1.3 Kết quả một số nghiên cứu về lý do bán kháng sinh không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc……… 3

1.4 Mô hình hành vi có dự định (Theory of Planned Behaviour-TPB) 7

1.4.1 Đặc điểm của mô hình hành vi có dự định 7

1.4.2 Một số nghiên cứu ứng dụng mô hình dự định hành vi (Theory of Planned Behavior-TPB) trên thế giới và Việt Nam 8

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Đối tượng nghiên cứu 13

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13

2.3 Phương pháp nghiên cứu 13

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 13

2.3.2 Cách lấy mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu 13

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 14

2.3.4 Xử lý và phân tích dữ liệu 15

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 17

3.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc 17

3.1.1 Thái độ (Attitude) 17

3.1.2 Chuẩn chủ quan (Subjective norm) 23

Trang 5

3.1.3 Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control) 28

3.2 Bàn luận 33

3.2.1 Thái độ (Attitude) 33

3.2.2 Chuẩn chủ quan (Subject norm) 35

3.2.3 Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control) 37

3.3 Ưu điểm, hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 41

3.3.1 Ưu điểm 41

3.3.2 Hạn chế 41

3.3.3 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 41

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

TPB Mô hình hành vi có dự định (Theory of Planned Behavior)

WHO Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng hợp một số lý do bán KSKĐ từ các nghiên cứu định tính 4

Trang 8

DANH MỤC CÁCHÌNH VẼ

Hình 1.1: Mô hình lý thuyết hành vi có dự định (TPB) 7

Hình 1.2: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố lên ý định thực hiện hành vi bán kháng sinh điều trị nhiễm trùng đường hô hấp trên (URI) của người bán thuốc ở Thái Lan… 10

Hình 1.3: Mô hình lý thuyết hành vi có dự định về hành vi bán kháng sinh không đủ liều của người bán thuốc ở Alexandria, Ai Cập 11

Hình 2.1: Sơ đồ tiến trình nghiên cứu 13

Hình 2.2: Các bước tiến hành trong quá trình phân tích định tính 15

Hình 2.3: Mô hình xoắn ốc trong nghiên cứu định tính 16

Hình 3.1: Mô hình hành vi có dự định (TPB) về hành vi bán kháng sinh không có đơn của người bán thuốc……… 32

Hình 3.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán KSKĐ của người bán thuốc theo mô hình TPB 40

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, kháng kháng sinh là vấn đề toàn cầu và đặc biệt nổi trội ở các nước đang phát triển như Việt Nam với gánh nặng của các bệnh nhiễm khuẩn và những chi phí bắt buộc cho việc thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh mới, đắt tiền [6] Kháng kháng sinh là một hiện tượng tự nhiên Tuy nhiên, có nhiều yếu tố khác nhau góp phần gia tăng tình trạng này như là lạm dụng và sử dụng sai kháng sinh [18] Bán kháng sinh không đơn là một trong những yếu tố làm gia tăng sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý và dẫn đến sự phát triển kháng thuốc [19] Tại Việt Nam nhiều nghiên cứu đã cho thấy, kháng sinh được bán trong khi không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc là phổ biến mặc dù thực hành này là trái với quy định Kết quả nghiên cứu của Larsson M tại Việt Nam (1999), cho thấy 78% kháng sinh được mua ở cơ sở bán lẻ trong khi không có đơn, trong đó 67% do người bán giới thiệu và 11% do người mua thuốc tự quyết định [22] 10 năm sau, một nghiên cứu quan sát được tiến hành ở khu vực thành thị và nông thôn ở Việt Nam (2010) cho kết quả, 88% kháng sinh được bán không có đơn tại nhà thuốc thành thị và 91% kháng sinh được bán không có đơn ở khu vực nông thôn [24] Từ kết quả cho thấy, tình trạng bán kháng sinh không đơn được tiếp tục diễn ra trong một thời gian dài

Để có chiến lược can thiệp phù hợp trong việc hạn chế tình trạng bán kháng sinh không có đơn tại các cơ sở bán lẻ thì những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không đơn của người bán thuốc cần phải được tìm hiểu một cách đầy đủ Tuy nhiên qua tổng quan tài liệu chúng tôi thấy rằng chưa có nghiên cứu định tính nào ở Việt Nam

được thực hiện để tìm hiểu sâu về vấn đề này Chính vì vậy, nghiên cứu “Mô tả một số

yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc: Nghiên cứu định tính” được thực hiện với mục tiêu:

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không có đơn của người bán thuốc tại nhà thuốc đạt tiêu chuẩn GPP thông qua phương pháp phỏng vấn sâu

Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hạn chế việc bán kháng sinh không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc hiện nay

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Quy định bán kháng sinh tại cơ sở bán lẻ thuốc

Đa số quốc gia trên thế giới, luật quy định kháng sinh chỉ có thể mua được khi

có đơn thích hợp [33] Ở Anh, có một sự thay đổi về quy định đối với một số kháng sinh để điều trị cho những nhiễm trùng nhẹ, chuyển từ thuốc được bán khi có đơn (prescription only medicine) sang thuốc cho phép dược sĩ được bán ở hiệu thuốc (pharmacy medicine) [26].Do đó một số kháng sinh này có thể có được theo lời khuyên của dược sĩ Ví dụ như kháng sinh Azithromycin để điều trị Chlamydia gây nhiễm trùng đường sinh dục, có thể được các dược sĩ tự chỉ định ở các nhà thuốc khắp nước Anh mà không cần có đơn của bác sĩ [36]

Ở Indonesia, luật Dược nghiêm cấm bán phần lớn các loại kháng sinh mà không có đơn Chỉ một số kháng sinh cụ thể dùng để điều trị tại chỗ như là kem tetracyclin hay thuốc nhỏ mắt chloramphenicol, có thể mua được theo lời khuyên của dược sĩ, không bắt buộc cần có đơn thuốc [33]

Trong khi đó ở một số quốc gia khác như ở Thái Lan, dược sĩ có chứng chỉ hành nghề được bán một số kháng sinh mà không cần đơn của bác sĩ, chỉ một số ít kháng sinh như ức chế betalactamase, carbapenem and fosfomycin, không được bán ở nhà thuốc và chỉ được sử dụng trong bệnh viện [31]

Tại Việt Nam, kháng sinh là loại thuốc kê đơn Các thuốc kê đơn khi cấp phát,

bán lẻ và sử dụng phải có đơn thuốc, nếu sử dụng không theo đúng chỉ định của người kê đơn thì có thể nguy hiểm tới tính mạng, sức khỏe [8].Việc bán lẻ thuốc kê đơn mà không có đơn là một trong 16 hành vi bị nghiêm cấm được quy định trong luật Dược năm 2016 Nếu vi phạm quy định này sẽ bị “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi bản lẻ các loại thuốc phải kê đơn

mà không có đơn của bác sĩ” [3] Nhằm kiểm soát hoạt động cung cấp thuốc kháng sinh tại các cơ sở bán lẻ thuốc, từ năm 2016Bộ Y Tế đã có quy định phải lưu đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh tại cơ sở bán lẻ thuốc trong thời gian 01 (một) năm,

kể từ ngày kê đơn [2]

Trang 11

1.2 Thực trạng bán thuốc kháng sinh không đơn

Trên thế giới, theo một con số ước tính rằng hơn 50% kháng sinh được bán trong khi không có đơn của bác sĩ [14], mặc dù bán kháng sinh không đơn là bất hợp pháp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Hiện tượng này không chỉ phổ biến ở các quốc gia đang phát triển mà còn phổ biến ở các quốc gia phát triển Các nghiên cứu ở các quốc gia Châu Âu và Nam Mỹ bao gồm Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Mexio, và Brazil đều cho thấy có hiện tượng này [11],[25],[30],[35]

Theo kết quả nghiên cứu ở Indonesia, sử dụng phương pháp đóng vai khách hàng ở 75 nhà thuốc, 10 quầy thuốc và 39 kios, cho thấy 76% trong số 104 lượt mua bán kháng sinh được thực hiện khi không có đơn [34] Kết quả cho thấy tương

tự như ở Ả rập xê út, 78% trong tổng số 327 nhà thuốc bán kháng sinh không có đơn [19] Theo một nghiên cứu quan sát về việc bán lẻ thuốc kháng sinh ở khu vực thành thị và nông thôn ở miền Bắc Việt Nam (2010), cho thấy: Trong tổng số 2953 lượt giao dịch bán thuốc (2083 đô thị và 870 nông thôn) đã được quan sát hầu hết các kháng sinh đều được bán mà không có đơn của bác sĩ: 88% ở thành thị và 91%

ở các hiệu thuốc nông thôn [24]

1.3 Kết quả một số nghiên cứu về lý do bán kháng sinh không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc

Trên thế giới và Việt Nam đã có một số nghiên cứu được tiến hành để tìm hiểu lý do bán kháng sinh không đơn của người bán thuốc Các nghiên cứu này đã chỉ ra một số lý do thúc đẩy dược sĩ bán kháng sinh không đơn như là: nhu cầu của người bệnh, lợi nhuận, thực hành của những người dược sĩ khác, giám sát của cơ quan quản lýhay thiếu nhận thức về sử dụng kháng sinh hợp lý và đề kháng kháng sinh Các nghiên cứu được tiến hành tìm hiểu lý do bán kháng sinh không đơn tại các quốc gia chủ yếu là các nghiên cứu định tính hoặc nghiên cứu kết hợp (Phụ lục 4) Tìm hiểu các lý do dẫn đến việc bán kháng sinh không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc được khá nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu định tính được thực hiện và công bố đều tiếp cận dưới hình thức phỏng vấn sâu, cho kết quả như sau:

Trang 12

Bảng 1.1 Tổng hợp một số lý do bán KSKĐ từ các nghiên cứu định tính

Tác giả, năm

xuất bản

Quốc gia

PP thu thập

Cỡ mẫu Kết quả nghiên cứu

+Nhu cầu khách hàng

+Kỳ vọng của người chủ +Xung đột lợi ích của người bán thuốc +Cơ chế quản lý yếu kém

+Người bệnh không có khả năng chi trả phí

tư vấn của bác sĩ +Lợi ích thương mại của dược sĩ

+Thiếu sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý

+Nhầm lẫn về vai trò chuyên môn

+Thiếu sự quan tâm đối với việc tư vấn cho bệnh nhân

+Nhu cầu khách hàng +Kỳ vọng của người chủ +Cơ chế quản lý yếu kém Anna K

+Thiếu đào tạo về chuyên môn +Khó khăn trong việc tiếp cận cơ sở y tế +Thiếu hiểu biết về kháng sinh và đề kháng kháng sinh

Trang 13

 Nhu cầu người bệnh

Bán kháng sinh không đơn giúp cho những bệnh nhân nghèo không có khả năng chi trả phí thăm khám

Các dược sĩ ở Sudan và Ả rập xê út cho rằng, lý do chính mà họ cung cấp kháng sinh không đơn cho khách hàng bởi vì họ cảm thấy cảm thông với những bệnh nhân nghèo, những người không có khả năng để chi trả phí tư vấn [19],[29] Vì vậy, người dược sĩ không có sự lựa chọn nào khác là điều trị cho họ [29]

Bán kháng sinh không đơn đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Dược sĩ có mong muốn làm hài lòng khách hàng Bởi vì khách hàng đem lại lợi ích cho công việc kinh doanh của họ [24] Cả ở Ethiopia, Ai Cập và Việt Nam, nhu cầu của khách hàng là một trong những lý do chính ảnh hưởng lên hành vi bán KSKĐ của họ NBT cho biết người bệnh thường không đi khám vì: thời gian chờ đợi dài ở các cơ sở khám chữa bệnh, chi phí khám đắt đỏ, kinh nghiệm sử dụng kháng sinh điều trị khỏi trước đó NBT từ chối không bán và khuyên khách hàng đi khám bác sĩ, thì họ không sẵn sàng làm việc đó [24],[18],[21] Ở Ả rập xê út cũng cho thấy NBT bị ảnh hưởng lớn từ nhu cầu của KH, lý do chính dược sĩ bán kháng sinh không đơn bởi vì người bệnh không sẵn sàng đi khám, trừ khi bị bệnh nặng [19]

 Lợi ích tài chính

Bán kháng sinh không đơn giúp tăng doanh thu cho nhà thuốc

Theo kết quả nghiên cứuở Việt Nam cho biết, bán kháng sinh đóng góp đáng

kể vào doanh thu một ngày của nhà thuốc: 24% đối với khu vực thành thị và 18% đối với khu vực nông thôn NBT cho biết, bán kháng sinh không lãi bằng các thuốc phổ biến khác như là vitamin hay thực phẩm chức năng Tuy nhiên, nếu DS tuân thủ theo quy định thì chắc chắn thu nhập của nhà thuốc bị ảnh hưởng [24]

Lợi ích thương mại của dược sĩ

Kết quả nghiên cứu ở Sudan chỉ ra rằng, lợi ích thương mai của dược sĩ đóng một vai trò quan trọng đằng sau việc bán kháng sinh không có đơn Một số dược sĩ, đặc biệt là người chủ luôn tìm cách để tăng doanh thu cho nhà thuốc, bất chấp việc thực hành là không đúng quy định [29] Ở Ethiopia, NBT cho biết kỳ vọng của người chủ là một trong những lý do làm gia tăng việc bán kháng sinh không đơn

Trang 14

Chính vì vậy, NBT luôn có xu hướng thu hút nhiều khách hàng nhiều nhất có thể

để tối đa hóa lợi nhuận và duy trì chỗ đứng trong nhà thuốc Tương tự như ở Alexandria Ai Cập, 100% dược sĩ tham gia phỏng vấn đều đồng ý rằng, ảnh hưởng của người chủ là lý do chính họ bán kháng sinh không có đơn Người chủ không cho phép họ không cung cấp KS khi không có đơn cho khách hàng [21]

 Thực hành của người dược sĩ khác

Lý do lớn nhất các dược sĩ ở Saudi bán kháng sinh không đơn cho khách hàng bởi vì nếu họ không bán, thì dược sĩ ở cửa hàng dược phẩm khác cũng bán[10] Nhiều nghiên cứu khác ở trên thế giới chỉ ra rằng, lý do NBT không từ chối bán KSKĐ cho khách hàng bởi vì khách hàng sẽ dễ dàng mua được kháng sinh ở một cửa hàng dược phẩm khác [24],[18], [20]

 Thiếu giám sát của cơ quan quản lý

Các dược sĩ ở Ethiopia, Sudan, Ai Cập đều thừa nhận rằng, cơ chế quản lý yếu kém, thiếu sự thanh tra kiểm tra của cơ quan quản lý như là một trong những lý do thúc đẩy cho hành vi bán kháng sinh mà không có đơn [18],[21],[29]

 Thiếu kiến thức về kháng sinh và đề kháng kháng sinh

Theo kết quả nghiên cứu ở Haryana, Ấn Độ cho biết, 2/3 NBT chưa từng nghe về kháng kháng sinh và chỉ có 1/6 số NBT định nghĩa đúng về kháng sinh 50% số NBT nghĩ rằng kháng sinh được sử dụng để điều trị cảm lạnh, 80% số NBT nghĩ rằng KS để điều trị nhiễm virus và 66,7% điều trị ho và 70,8% đề điều trị viêm họng [13] Trong nghiên cứu ở Việt Nam, kết quả cho thấy người bán thuốc ở khu vực nông thôn có hiểu biết còn hạn chế về đề kháng kháng sinh Họ cho rằng kháng thuốc chỉ xảy ra với những ai lạm dụng nó, nếu họ không lạm dụng thì không có gì phải lo lắng cả [24]

 Thiếu nhận thức về quy định bán kháng sinh phải có đơn

2/3 dược sĩ tham gia nghiên cứu ở Ả rập xê út không nhận thức được rằng bán KSKĐ là bất hợp pháp [19] Người bán thuốc ở khu vực nông thôn ở Việt Nam cho thấy họ có sự nhầm lẫn về quy định liên quan đến bán kháng sinh, họ cho rằng một

số kháng sinh nhẹ như amoxicillin và ampicillin có thể bán trong khi không có đơn của bác sĩ [24]

Trang 15

tố: thái độ của một ngườ

quả của hai yếu tố này h

thuyết này tỏ ra rất hiệu qu

ý chí con người

Lý thuyết hành vi có d

phục hạn chế trong việ

thuyết này đã được Ajzen b

thức kiểm soát hành vi như là l

hành vi khó hay dễ như th

càng có ít cản trở và việc ki

soát này có thể xuất phát t

hiện…) hay bên ngoài đố

Các yếu tố cấu thành nên mô hình hành vi có d

ời về hành vi và chuẩn chủ quan liên quan đnày hình thành nên ý định thực hiện hành vi Trên th

u quả khi dự báo những hành vi nằm trong t

hành vi có dự định (TPB) là sự mở rộng của lý thuy

ệc giải thích về những hành vi nằm ngoài ki

c Ajzen bổ sung từ năm 1991 bằng việc đề ra thêm y

m soát hành vi như là lòng tin của cá nhân liên quan đến kh

như thế nào [9] Càng nhiều nguồn lực và cơ h

c kiểm soát nhận thức đối với hành vi sẽ càng l

t phát từ bên trong của từng cá nhân (sự quyế

ối với cá nhân (thời gian, cơ hội, điều kiện

u thành nên mô hình hành vi có dự định như sau:

.1: Mô hình lý thuyết hành vi có dự định (TPB)

(Theory of Planned Behaviour-TPB)

c Fishbein và Ajzen đưa ra từ năm

ết tâm, năng lực thực

n kinh tế…)

nh như sau:

nh (TPB)[9]

Trang 16

Giải thích các yếu tố cấu thành mô hình hành vi có dự định (TPB):

- Ý định thực hiện hành vi (Intention): là nhận thức về khả năng cá nhân thực hiện hành vi, là yếu tố quan trọng nhất để dự đoán việc thực hiện hành vi

- Thái độ hướng đến hành vi (Attitude):là cảm nhận chung tích cực hay tiêu cực về hành vi sức khỏe Đo lường gián tiếp qua 2 yếu tố niềm tin về hành vi (behavior belief): đánh giá việc thực hiện hành vi sẽ mang lại những kết quả nhất định và những kết quả hành vi mang lại (behavioural outcomes): đánh giá về kết quả của hành vi là có lợi hay không

- Chuẩn chủ quan (Subjective norm) liên quan đến hành vi là: Nhận thức về những người có ảnh hưởng sẽ phản đối hay tán thành hành vi Đo lường gián tiếp qua 2 yếu tố: Niềm tin theo chuẩn mực chung (Normative beliefs): nhận thức liệu những người ảnh hưởng có thực hiện hành vi hay không và động cơ tuân thủ (motivation to comply): động cơ của các nhân làm theo những mong muốn của người khác

- Nhận sức kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control): Có thể xuất phát

từ bên trong của từng cá nhân (Control beliefs): niềm tin về khả năng thực hiên, kiểm soát được hành vi từ các yếu tố bên trong (ví dụ: Quyết tâm, năng lực); hay niềm tin về khả năng thực hiện, kiểm soát được hành vi từ các yếu tố bên ngoài (Perceived power): ví dụ điều kiện kinh tế, thời gian, ảnh hưởng quyền lực từ người khác, cơ may, định mệnh…

Dựa trên các khái niệm của lý thuyết hành vi có dự định, con người có xu hướng thực hiện hành vi khi họ đánh giá hành vi là tốt, mọi người trong xã hội đều làm chúng và họ có những nguồn lực và cơ hội để có thể làm việc đó

1.4.2 Một số nghiên cứu ứng dụng mô hình dự định hành vi (Theory of Planned Behavior-TPB) trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới, TRA và TPB đã được sử dụng thành công để dự đoán và giải

thích một loạt các hành vi và ý định về sức khỏe, bao gồm hút thuốc lá, uống rượu,

sử dụng dịch vụ y tế, tập thể dục, chống nắng, cho con bú, ngăn ngừa HIV và sử dụng biện pháp tránh thai, chụp nhũ ảnh, mũ bảo hiểm và dây an toàn Những phát hiện

Trang 17

của nghiên cứu TPB đã được sử dụng để phát triển rất nhiều can thiệp thay đổi hành vi

có hiệu quả [23]

Trong thực hành Dược, mô hình TPB được sử dụng rộng rãi như là một khung lý thuyết để hiểu về các hành vi của người bán thuốc Ví dụ, mô hình về ý định bán kháng sinh để điều trị viêm đường hô hấp trên (URI) của các dược sĩ cộng đồng ở Thái Lan [28], tìm hiểu về niềm tin và ý định của dược sĩ về việc bán thuốc chống nấm không kê đơn để điều trị nhiễm nấm Canida ở Scotland [32] hay là hành vi bán kháng sinh không đủ liều của người bán thuốc ở Alexandria, Ai Cập [12]

Cụ thể, mô hình TPB đã được sử dụng để dự đoán các yếu tố tác động đến ý định của dược sĩ cộng đồng đối với việc bán kháng sinh cho bệnh nhân nhiễm trùng đường hô hấp trên (URI) Tổng cộng 862 dược sĩ được khảo sát, kết quả thu được 656 (78,8%) phản hồi.Mô hình TPB đã thành công cho thấy các dược

sĩ Thái Lan có ý định thấp trong việc bán kháng sinh không kê đơn cho bệnh nhân URI do thái độ của họ về những bất lợi của thuốc kháng sinh( tác dụng phụ hoặc là kháng thuốc) để điều trị URI Chuẩn chủ quan bao gồm niềm tin và thực hành của các bác sĩ, dược sĩ khác, người bán thuốc và giảng viên, có ảnh hưởng yếu đến ý định của họ làm việc đó Nhận thức kiểm soát hành vi bao gồm thu nhập, hướng dẫn thực hành chuẩn, nhu cầu bệnh nhân, và đặc điểm kinh tế xã hội của bệnh nhân cũng không có ảnh hưởng đáng kể lên ý định bán kháng sinh cho bệnh nhân Xét các yết tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi (thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi), thái độ có ảnh hưởng lớn nhất, tiếp theo là chuẩn chủ quan Nhận thức kiểm soát hành vi tác động không đáng

kể đến ý định trong nghiên cứu [28]

Trang 18

người không đủ tiền để

tình trạng kinh tế của ngư

thuốc thực hiện hành vi này

điều trị cảm cúm Nếu NBT

tốn nhiều tiền hơn Niềm tin

đối với nhà thuốc còn nhi

sẽ đem lại lợi nhuận béo b

cầu cao Họ bán vỉ kháng sinh giá r

cúm thì nó sẽ có giá cao hơn Áp l

nh hưởng của các yếu tố lên ý định thực hiện hành vi bán kháng sinh

m trùng đường hô hấp trên (URI) của người bán thu

u định tính khác ở Ai Cập đã áp dụng thành công mô hình

ếu tố liên quan đến hành vi bán thuốc kháng sinh không đkhi KH yêu cầu hoặc là thành phần trong gói thu

t quả cho thấy: Thái độ của người bán thu

ọ bán thuốc như vậy là đem lại lợi ích cho b mua những vỉ thuốc đắt tiền hay là cả

a người dân ở khu vực này là lý do chính khi

n hành vi này Một số NBT có nhận thức rằng KS

NBT không cho kháng sinh, bệnh nhân s

m tin của người bán thuốc về lợi ích của vi

c còn nhiều tranh cãi, tuy nhiên có ý kiến cho r

n béo bở cho nhà thuốc ở những nơi mà gói thukháng sinh giá rẻ, khi họ cắt ra và bán nó theo t

có giá cao hơn Áp lực về sự kỳ vọng và nhu cầu c

n hành vi bán kháng sinh

i bán thuốc ở Thái Lan

ng thành công mô hình

c kháng sinh không đủ trong gói thuốc trị cảm

i bán thuốc đối với hành vi

Trang 19

đối với chia sẻ tri thức (β=0,446)

Nghiên cứu của tác gi

dụng mô hình TPB trong

mà không có đơncủa ngư

đối với hành vi bán thu

n hành vi của người bán thuốc, đồng thời vi

là một thực hành rất phổ biến và thành thói quen trong cNBT không bán thì người bệnh cũng dễ

c khác Cơ quan quản lý thiếu giám sát, sự vắng m

ững yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện hành vi này

: Mô hình lý thuyết hành vi có dự định về hành vi bán kháng sinh không đ

ủa người bán thuốc ở Alexandria, Ai Cập

mô hình TPB cũng được ứng dụng rất nhiề

ằm nghiên cứu hành vi các nhân Ví như ngh

n sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội c, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tàu đi] TPB ứng dụng trong việc nghiên cứu hành vi c

n hành phỏng vấn 210 bác sĩ ở Tp Hồ Chí Minh

n việc chia sẻ tri thức của họ trong bệnh viạnh mẽ nhất đến ý định chia sẻ tri thức cβ=0,446) [7]

a tác giả Nguyễn Hải An và nhóm nghiên ctrong tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng về hành vi

a người bán thuốc.Kết quả cho thấy, yếu tố

i hành vi bán thuốc kê đơn mà không có đơn của ngườ

hành vi bán kháng sinh không đủ liều

ều trong nghiên cứu Ví như nghiên cứu về các

của người buôn bán

ng tàu điện ngầm Metro

u hành vi của cán bộ y Chí Minh để xác định

nh viện [7] Kết quả cho

c của bác sĩ là thái độ

và nhóm nghiên cứu năm 2016đã áp

hành vi bán thuốc kê đơn

có tỷ lệ đồng ý cao

ời bán thuốc là các

Trang 20

thuốc kê đơn mà nhà thuốc cung cấp khi không có đơn giúp người bệnh cải thiện tình trạng sức khỏe (3,8±0,7/5,0) Nếu tôi không bán các thuốc kê đơn khi không

có đơn thì nhà thuốc khác cũng bán (62,8% người bán thuốc đồng ý với số điểm trung bình là (3,7±1,0)) Nhà thuốc giúp khách hàng nhanh chóng có được thuốc

để điều trị(3,7±1,0) Phần lớn khách hàng khi có vấn đề sức khỏe đến mua thuốc đều không có đơn (3,6±1,0) Trong nhóm yếu tố (thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi) ảnh hưởng đến hành vi bán thuốc kê đơn mà không có đơn, thành phần thái độ và chuẩn chủ quan giữ vai trò quan trọng hơn [1]

Tại Việt Nam, bán kháng sinh không đơn tại các cơ sở bán lẻ thuốc là một hành vi phổ biến và tồn tại trong nhiều năm Qua tổng quan tài liệu cho thấy, có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập và tìm hiểu về lý do dẫn đến hành vi bán kháng sinh không đơn của người bán thuốc thông qua phương pháp nghiên cứu định tính Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam trong tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng đến mức báo động [6], cần phải có biện pháp kiểm soát, quản lý bán kháng sinh tại các cơ sở bán lẻ thuốc giảm tình trạng lạm dụng, tự ý sử dụng kháng sinh không có đơn của bác sĩ Chính vì vậy tìm hiểu lý do bán kháng sinh không đơn tại các cơ sở bán lẻ thuốc là vô cùng cấp thiết Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng nghiên cứu định tính, sử dụng

mô hình TPB để giải thích cho hành vi người bán thuốc bán kháng sinh không

có đơn

Trang 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Người bán thuốc tại nhà thuốc GPP

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu:

 Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/2017 đến tháng 3/2018

- Địa điểm nghiên cứu: Hà Nội, Thanh Hóa

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu định tính

Hình 2.1: Sơ đồ tiến trình nghiên cứu

2.3.2 Cách lấy mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu

Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu được lựa chọn có mục đích, dựa trên nguyên tắc đa dạng hóa mẫu Nghiên cứu không có mục tiêu cỡ mẫu, số lượng người được lựa chọn vào phỏng vấn sâu sẽ tiếp tục lựa chọn cho đến khi bão hòa

dữ liệu Quá trình phân tích dữ liệu sơ bộ được tiến hành trong khi thu thập dữ liệu Lẫy mẫu được dừng lại cho đến khi quá trình phân tích sơ bộ chỉ ra rằng thông tin được cung cấp lặp lại và không có chủ đề mới nào được nổi lên

Tổng quan tài liệu

Trang 22

Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu tổng 17 người bán thuốc và 6 cán bộ tại cơ quan quản lý Đặc điểm đối tượng phỏng vấn sâu đa dạng về số năm kinh nghiệm làm việc tại nhà thuốc, tuổi, giới, trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp dược, vị trí công việc tại nhà thuốc (dược sĩ phụ trách chuyên môn, nhân viên, “chủ đầu tư”)

- Với đặc thù và mô hình hoạt động của các nhà thuốc hiện nay, nghiên cứu lựa chọn chủ đích các đối tượng PVS bao gồm đặc điểm như sau: Dược sĩ phụ trách chuyên môn của nhà thuốc, “Chủ đầu tư nhà thuốc” tốt nghiệp trung học Dược, trực tiếp đứng bán thuốc; chủ nhà thuốc là DSĐH, không trực tiếp bán thuốc, chỉ điều hành quản lý chung

- Cán bộ y tế công tác tại Sở Y Tế Hà Nội, Sở Y Tế Thanh Hóa, Phòng Y Tế

Hà Nội, Phòng y tế Thanh Hóa

Thông tin cụ thể về đối tượng phỏng vấn sâu được trình bày tại Phụ lục 3

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu

Trước khi phỏng vấn sâu, nghiên cứu viên liên hệ với người được lựa chọn tham gia phỏng vấn sâu để có sự đồng ý Nội dung phỏng vấn sâu được thông báo tới người tham gia Thời gian mỗi cuộc phỏng vấn sâu kéo dài từ 40-60 phút và được ghi âm dưới sự cho phép của người tham gia

Hướng dẫn phỏng vấn sâu được xây dựng sau khi tổng quan các tài liệu trên thế giới Dựa trên lý thuyết của TPB để nhằm khám phá tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định bán kháng sinh không có đơn của người bán thuốc bao gồm lợi ích và hậu quả của hành vi bán kháng sinh không đơn, hành vi của người khác và các yếu tố thuận lợi/thúc đẩy đối với hành vi bán kháng sinh không đơn (Phụ lục2)

Mô tả nghiên cứu viên thu thập dữ liệu định tính: gồm nhóm các Giảng viên

công tác tại Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược – Trường đại học Dược Hà Nội với nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu trên nhà thuốcvà một người là sinh viên năm cuối đã được trang bị kiến thức cơ bản về nghiên cứu định tính

Trang 23

2.3.4 Xử lý và phân tích dữ liệu

Hình 2.2: Các bước tiến hành trong quá trình phân tích định tính[15]

2.3.4.1 Tập hợp, sắp xếp và chuẩn bị dữ liệu phân tích

Trong quá trình thực hiện thu thập số liệu, các thông tin liên quan được ghi chép (field notes) trong mỗi phỏng vấn sâu Các nội dung ghi chép, băng ghi âm được kiểm tra kĩ, tập hợp cho quá trình phân tích Các băng ghi âm được gỡ băng (chính xác từ ngữ ghi âm) Việc kiểm tra đối chiếu chất lượng gỡ băng được tiến hành ngẫu nhiên ở các băng bởi nghiên cứu viên chính

2.3.4.2 Đọc dữ liệu

Nghiên cứu viên sẽ đọc toàn bộ dữ liệu để có được khái quát chungvề thông tin và suy nghĩ về ý nghĩa Sau đó, nghiên cứu viên sẽ tiến hành mã hóa (coding), viết ghi chú bên lề, tạo thành các “code child”, “code parent”, ghi chép những suy nghĩ chung về dữ liệu

2.3.4.3 Mã hóa và liên kết các dữ liệu

- Quá trình mã hóa sử dụng phần mềm Nvivo 7

Sắp xếp và chuẩn bị dữ liệu phân tích

Đọc dữ liệu

Mã hóa dữ liệu Liên hệ các chủ đề Phân tích theo mô hình

Dữ liệu gốc (văn bản phỏng vấn) Thẩm định

thông tin

Trang 24

-Khung chủ đề chính (theme) và nhánh (sub theme) dựa theo khung lý thuyết của mô hình TPB được phát triển trước khi tiến hành thu thập dữ liệu, khi tiến hành phân tích các chủ đề nhánh (sub-theme) tiếp tục được phát triển theo thông tin thu thập được Quá trình mã hóa bằng phần mềm Nvivo 7 bao gồm các bước:

+ Xây dựng tree note bao gồm các chủ đề chính và chủ đề nhánh trong Nvivo7 + Đọc từng dòng dữ liệu để đưa dữ liệu vào các chủ đề phù hợp Dữ liệu nhỏ hơn được đưa vào chủ đề dưới nhánh Chủ đề mới được nổi lên sẽ được xếp vào free node, sau đó sắp xếp lại cho phù hợp

+ Đọc lại dữ liệu để kết nối các chủ đề với nhau

+ Đọc lại toàn bộ dữ liệu để xem còn chủ đề mới nào nổi lên không

- Dữ liệu được mã hóa độc bởi nhóm nghiên cứu gồm nghiên cứu viên chính là giảng viên có kinh nghiệm và tác giả đề tài, trong quá trình mã hóa có thảo luận và thống nhất để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu

Hình 2.3: Mô hình xoắn ốc trong nghiên cứu định tính[16]

Quản lý và tổ chức dữ liệu Đọc và ghi nhớ các chủ đề nổi lên

Mô tả và phân loại các mã hóa vào trong chủ đề Phát triển và phân tích dữ liệu

Tái hiện lại và hình dung dữ liệu

Dữ liệu đầu vào

Kết quả phân tích

Trang 25

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh mà không có đơn tại cơ

sở bán lẻ thuốc

3.1.1 Thái độ (Attitude)

3.1.1.1 Niềm tin về lợi ích của hành vi bán kháng sinh không đơn

Niềm tin về lợi ích của hành vi bán kháng sinh không đơn đem lại cho người bệnh

Bán kháng sinh không đơn giúp người bệnhđiều trị triệu chứng bệnh hiện tại

Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, hầu hếtNBT cho rằng “bán kháng sinh thì

phải bán theo đơn” Tuy nhiên trên thực tế, kháng sinh là nhóm thuốc được bán

phổ biến ở nhà thuốc khi không có đơn Hầu hết người bán thuốc cho rằng kháng sinh là thuốc cần thiết và quan trọng để giúp điều trị khỏi bệnh cho người bệnh

“Bán thuốc kháng sinh mà không có đơn thì vẫn phổ biến, hầu như các nhà thuốc lẻ, nhà thuốc tư nhân trong các địa bàn dân cư.”-(QL3)

“Quan trọng là bệnh của người bệnh bây giờ vẫn cần phải kháng sinh, uống kháng sinh để cho khỏi”-(CĐD4)

Theo quan điểm của NBT, khi người bệnh ra nhà thuốc, họ sẽ cung cấp các loại thuốc phù hợp, trong đó bao gồm cả kháng sinh để điều trị khỏi hoặc giảm nhẹ triệu chứng bệnh cho KH trong cả trường hợp không có đơn

“Khi em bán kháng sinh không đơn, thì em sẽ bán những loại kháng sinh có lợi cho bệnh đó, vẫn chữa được bệnh đấy, chắc chắn là chữa được bệnh đấy Nó sẽ phù hợp với mặt bệnh của người ta”- (CĐD5)

Kháng sinh giúp bệnh khỏi nhanh hơn, nếu không dùng kháng sinh sau này điều trị sẽ khó khăn hơn

Ngoài ra, người bán thuốc cho rằng kháng sinh là nhóm thuốc có vai trò quan trọng trong điều trị để bệnh khỏi nhanh hơn Khi mức độ bệnh của KH cần phải sử dụng kháng sinh, thì họ sẽ tự điều trị KS cho người bệnh Bởi vì nếu không sử dụng kháng sinh thì triệu chững bệnh của khách hàng sẽ lâu khỏi, thậm chí không khỏi

mà còn “nặng hơn”, lần sau người bệnh mắc phải sẽ điều trị khó khăn hơn Chính vì có

niềm tin như vậy nên thúc đẩy người bán thuốc thường lựa chọn KS để điều trị

Trang 26

“Trong trường hợp tùy theo mức độ bệnh nếu mà không dùng kháng sinh thì

sẽ lâu khỏi hơn và thứ nữa là nếu không dùng kháng sinh … thì bệnh sẽ càng nặng hơn và lần sau khó điều trị hơn”-( CĐD4)

Ngoài ra, một số người còn quan niệm rằng do người bệnh đã quen sử dụng kháng sinh để điều trị, nên nếu không có kháng sinh bệnh sẽ không khỏi được và có

thể dẫn đến nguy cơ bệnh trầm trọng hơn

“Bệnh nhân bây giờ họ uống rất nhiều lần, thế nên họ đã quen với cái kháng sinh đấy thì họ không có kháng sinh không giải quyết được vấn đề, sẽ không điều trị được bệnh và bệnh sẽ không thuyên giảm mà còn tăng lên”- (TCD2)

Bán kháng sinh không đơn giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí

Theo quan niệm của người bán thuốc, việc người bệnh đi khám bác sĩ sẽ mất nhiều thời gian, chi phí nên việc họ cung cấp thuốc kháng sinh sẽ giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, tiền bạc

“Mình tiết kiệm cho bệnh nhân từ tiền xét nghiệm rồi đến tiền công đi khám

và cả thời gian đi khám”– (DSĐH2)

Đối với những bệnh nhẹ “viêm họng”, NBT cho rằng bệnh nhân đi khám sẽ là tốn thời gian để có được đơn bác sĩ

“Người ta bị viêm họng chờ cả từ buổi sáng đến buổi chiều có một cái kết luận với một cái đơn đấy, nên là thời gian nó cũng lâu.”-

Trong khi đó, với mật độ nhà thuốc ngày càng gia tăng như hiện nay, theo quan điểm NBT đối với những bệnh cần thiết phải điều trị KS, thì họ sẽ bán KSKĐ cho khách hàng với mục đích điều trị khỏi bệnh Điều này sẽ giúp cho người bệnh tiết kiệm thời gian chờ đợi, thời gian chụp chiếu và xét nghiệm

“Thời gian để người ta đưa đi khám, rồi chụp chiếu người ta thấy bất tiện, mất thời gian… mấy bước chân là ra đến hiệu thuốc, có thể lấy thuốc này điều trị bệnh này vẫn khỏi.”– (TCD3)

Hơn nữa, NBTquyết định sử dụng KS khi không có đơn sẽ giúp khách hàng tiết kiệm chi phí NBT lựa chọn thuốc cho KH được cho là đỡ tốn kém hơn so với khi KH mua theo đơn của bác sĩ

“Thông thường mình cắt 3-5 ngày ý thì thoảng 50-100 nghìn Bác sĩ bây giờ

kê đơn ít nhất vào hiệu thuốc cũng phải 400-500 nghìn” –(TCD3)

Trang 27

Thêm vào đó, NBT cảm thông với người bệnh nghèo không có khả năng chi

trả phí thăm khám bác sĩ Do đó, để giúp việc điều trị bệnh/triệu chứng, họ sẵn sàng cung cấp KSKĐ cho người bệnh Khi đó, người bệnh không đi khám vẫn có được thuốc để điều trị Nếu NBT không cung cấp thuốc để điều trị thì triệu chứng bệnh

KS cộng kháng viêm liều cao Nếu NBT không cung cấp KS để điều trị, KH sẽ phải đi khám bác sĩ thường kê KS mạnh như vậy là không phù hợp NBT tại nhà thuốc thì sẽ lựa chọn loại KS “nhẹ” hơn để điều trị, như vậy sẽan toàn hơn cho KH

“[Bác sĩ kê]liều cao, liều nặng, hai loại kháng sinh kết hợp, hai loại kháng viêm liều cao kết hợp Bởi vì họ muốn khách đến với họ là phải khỏi, khỏi ngay lập tức, họ kê rất nặng.” –(TCD2)

“Nhiều bác sĩ khi bệnh nhân chưa dùng kháng sinh bao giờ đã dùng hai kháng sinh kết hợp hoặc là kháng sinh dòng cao Khi mà đến với mình thì mình sẽ

tư vấn cho khách hàng là dùng kháng sinh dòng thấp ví dụ như dòng betalactam hoặc là cephalosporin.” –( CĐD3)

 Niềm tin về lợi ích của hành vi bán KSKĐ đem lại cho nhà thuốc

Bán kháng sinh không đơn giúp nhà thuốc không bị mất khách hàng

Mối quan hệ giữa người bán thuốc và khách hàng bản chất là mối quan hệ cung cầu, KH có nhu cầu thì người bán thuốc sẽ cung cấp Khi NBT đáp ứng được nhu cầu của KH thì họ sẽ quay lại Nếu như NBT từ chối không cung cấp thì nhà thuốc sẽ bị mất khách

“Mình sẽ giữ được khách Khách sẽ đến nhà mình thường xuyên, mình đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.”-(DSĐH1)

Trang 28

“Nếu như người ta từ chối bán, khách hàng sẽ không quay lại với họ nữa….Kinh doanh nếu như không phục vụ khách chu đáo thì sẽ mất khách.”–(QL3)

Ngoài ra, theo quan niệm của NBT, đối với những bệnh cần sử dụng KS mà NBT không dùng, thì khách hàng sẽ không khỏi được bệnh Khách hàng không khỏi họ sẽ sang nhà khác mua Chính vì vậy, bán KS để điều trị khỏi cho KH còn là một yếu tố giúp nhà thuốc tăng tính cạnh tranh với NT khác

“Mình bán thuốc thông thường, nhiều khi không có kháng sinh nó không khỏi nên là cái đấybán nó giảm cái tính cạnh tranh đi.”- (DSĐH3)

Bán kháng sinh không đơn đem lại lợi nhuận cho nhà thuốc

Xét về lợi nhuận của nhóm kháng sinh đem lại cho nhà thuốc, thì quan điểm còn khá trái chiều Trong khi, một số NBT cho biết, KS là nhóm đem lại lợi nhuận cao cho nhà thuốc và lợi nhuận sẽ khác nhau giữa các mặt hàng kháng sinh Lợi nhuận của hàng sản xuất trong nước sẽ là cao hơn so với hàng sản xuất ở các hãng nước ngoài (hàng ngoại) Khi người bán thuốc bán theo đơn thì lợi nhuận sẽ ít, bởi vì đa số bác sĩ sẽ kê “hàng ngoại” cho khách hàng Còn thì họ tự chỉ định KS cho KH thì họ sẽ kê hàng trong nước và lợi nhuận thu được sẽ cao hơn

“Lợi nhuận kháng sinh sẽ cao hơn khá nhiều”- (TCD2)

“Nếu bán theo đơn của bác sĩ thì số lượng lợi nhuận rất ít Bởi vì bác sĩ cứ kê hàng ngoại thì số lượng lãi nó rất ít.”(TCD2)

Còn theo quan điểm của một sốNBT khác, KS là nhóm thuốc được bán nhiều

ở nhà thuốc, tuy nhiên lợi nhuận của kháng sinh là không cao, không bằng các mặt hàng khác như thực phẩm chức năng hoặc là thuốc đông dược, xương khớp

“Em thấy như là kháng sinh thì bán được nhiều nhưng lợi nhuận của kháng sinh không cao như các thuốc chữa các bệnh khác.”-( CĐD5)

“Bán kháng sinh không lãi Bán kháng sinh lợi nhuận không thể bằng thực phẩm chức năng.”- (CĐD1)

Có nhiều ý kiến khác nhau như vậy, nhưng đa số NBT cho rằng bán KSKĐ, nhà thuốcsẽ có thêm thu nhập, không nhiều thì ít cũng đóng góp vào một phần lợi nhuận của nhà thuốc Ngoài ra, khi bán kháng sinh để điều trị bệnh họ còn có thể bán thêm những thuốc khác Chính vì nhìn thấy lợi ích như vậy, nên thúc đẩy NBT cung cấp KSKĐ cho khách hàng

Trang 29

“Khi bán thì chắc chắn nhà thuốc vẫn có thu nhập”-( CĐD5)

“Để tính lãi suất của kháng sinh thì không được lãi nhiều 1 tháng em có thể bán được 30-40 triệu tiền kháng sinh, lãi được khoảng 10%, 10% của 30-40 triệu

nó cũng là vấn đề rồi.” –(DSĐH4)

“Người ta mua kháng sinh để điều trị ho người ta còn có thể mua những cái khác ví dụ như thuốc bổ hoặc là thực phẩm chức năng Tăng doanh thu chẳng hạn nên là cứ bán thôi.”- (CĐD2)

3.1.1.2 Nhận thức về hậu quả tác động của hành vi bán kháng sinh không đơn

 Nhận thức về tác dụng phụ của thuốc kháng sinh trong điều trị

Thuốc kháng sinh là an toàn và ít tác dụng phụ

Việc dễ dàng cung cấp kháng sinh mà không có đơn cho người bệnh cũng xuất phát từ kinh nghiệm của người bán thuốc cho rằng thuốc kháng sinh là an toàn, ít gặp tác dụng phụ khi điều trị cho người bệnh Nếu có gặp thì tần suấtlà rất hiếm

“Kháng sinh mà dùng lâu dài về sau thì em chưa biết, nhưng về hiện tại thì

em thấy là em chưa gặp trường hợp nào bị dị ứng.”-( CĐD6)

“Ít thôi, rất ít thôi Vì mình cũng không biết, trước khi mình bán mình cứ đặt

sự an toàn lên hàng đầu, nên mình hay hỏi khách, ví dụ cái trường hợp người ta bị

là rất ít.”-(NBT4)

Hoặc người bán thuốc cho rằng khi họ lựa chọn những kháng sinh “nhẹ” như

“amox” hoặc “cepha” thì sẽ an toàn và ít tác dụng phụ Bên cạnh đó, NBT đang quan niệm rằng kháng sinh mà bị tác dụng phụ là do cơ địa người bệnh, và tỷ lệ này

là ít Thậm chí có người bán thuốc khi PVS còn nhầm lẫn giữa phổ tác dụng và khả năng gây ra tác dụng phụ của thuốc KS

“Những kháng sinh nhẹ, ít tác dụng phụ [Tỉ lệ gặp ADR là] 1/1000 ấy tức là chỉ có 1 trên 1000 người uống bị Cái này cũng là theo cơ địa, cũng ít người bị Mình bán những dòng nhẹ như là amox hoặc là cepha ý thì em thấy là hầu như chưa có ai gặp mấy, bán mấy năm rồi cũng chẳng thấy có.”-(TCD5)

Tác dụng phụ nghiêm trọng không thể xảy ra khi người bán thuốc kết hợp kháng sinh hợp lý

Bên cạnh đó, một số NBT cho rằng tác dụng phụ nghiêm trọng chỉxảy ra khi người bán thuốc dùng sai hoặc kết hợp bữa bãi Còn nếu họ lựa chọn KS và kết hợp đúng thì khách hàng không thể xảy ra tác dụng phụ nghiêm trọng, nếu có chỉ là những biểu hiện nhẹ

Trang 30

“Thường chỉ gặp những cái tác dụng phụ…buồn nôn hoặc là bồn chồn Những cái biểu hiện như là suy hô hấp, ngất, tim đập nhanh hoặc là những cái rối loạn …thì chưa gặp Trong trường hợp mình dùng sai thuốc, hoặc mình kết hợp linh tinh thì những trường hợp đấy xảy ra Bình thường thì mình kết hợp thì tác dụng phụ của nó cũng không thể mạnh như thế được.”-(TCD3)

Chính niềm tin của người bán thuốc về tác dụng phụ của KS là ít gặp, an toàn khi sử dụng kháng sinh “nhẹ” và hoàn toàn tránh đượctác dụng phụnghiêm trọngkhi họ biết lựa chọn KS “hợp lý” đã thúc đẩy NBT bán kháng sinh khi không

có đơn cho KH

Nhận thức về kháng kháng sinh còn hạn chế

Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, tất cả người bán thuốc đều biết hậu quả khi

họ bán kháng sinh không đơn là gây ra kháng thuốc, “nhờn thuốc” Họ lý giải rằng nguyên nhân để gia tăng mức độ đề kháng kháng sinh có thể là người bán thuốc lạm dụng kháng sinh, sử dụng ngay trong những trường hợp chưa thiết; hoặc do người dân sử dụng nhiều loại kháng sinh khác nhau khi điều trị do mua tự do ở các

Mức độ kháng kháng sinh còn “nhẹ” và chưa phổ biến

Tuy nhiên, một số NBT chưa nhận thức được về tình trạng đề kháng kháng sinh trong cộng đồng, nên họ cho rằng hiện tượng nàycòn“nhẹ” và chưa phổ biến Kháng kháng sinh có thể xảy ra ở khu vực khác, chứ chưa xảy ra với khách hàng

Trang 31

không sử dụng, KKS không phải là một bệnh có thể lây truyền từ người này sang người khác

“Chứ còn người ta kháng kháng thuốc kháng sinh thì cũng không liên quan gì đến mình Nó cũng không phải một cái bệnh lây truyền hay di truyền gì”- (TCD3)

“Mình ảnh hưởng gì, mình có uống đâu mà mình ảnh hưởng Mình chỉ là người bán thôi mà.”-(TCD2)

Hơn nữa, người bán thuốc còn cho rằng họ có thể chủ động giảm bớt kháng thuốc bằng cách thay đổi kháng sinh giữa các lần sử dụng Người bán thuốc có được kinh nghiệm này qua thực tế áp dụng cho KH và thấy có hiệu quả, nên họ đúc rút được và tiếp tục thực hành như vậy

“Khách quen thì em không bao giờ cho dùng một loại kháng sinh, em thay đổi kháng sinh … Mình thay đổi kháng sinh như thế, kháng sinh cũ mình đã dùng thì nó

sẽ không bị kháng thuốc hay là nhờnthuốc, dùng lại thì nó vẫn hiệu quả Cái đấy thì em bán hàng nhiều thì em rút ra kinh nghiệm như thế.”- (TCD3)

Mặc dù người bán thuốc đã nhận thức được nguy cơ của hành vi bán KSKĐ góp phần gia tăng kháng kháng sinh, tuy nhiên họ cho rằng mức độ còn “nhẹ”, KKS không ảnh hưởng đến sức khỏe của NBT Có thể giảm kháng thuốc bằng cách thay đổi kháng sinh giữa các lần sử dụng Chính những nhận thức này tạo điều kiện cho người bán thuốc tiếp tục bán kháng sinh không đơn cho khách hàng

3.1.2 Chuẩn chủ quan (Subjective norm)

3.1.2.1 Yếu tố ảnh hưởng từ thói quen, nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng

Khách hàng có thói quen tự điều trị với thuốc kháng sinh

Theo phản ánh của NBT và CQQL, từ nhiều năm nay người dân thường có thói quen ra nhà thuốc mua kháng sinh không đơn để điều trị bệnh thông thườngnhư “mũi họng”, chỉ đi khám khi bệnh nặng Chính thói quen của người dân như vậy, nên nhu cầu của họ lớn, mong muốn đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng chính là yếu tố thúc đẩy NBT bán kháng sinh không đơn

“Bao nhiêu năm nay mọi người đều quen ra hiệu thuốc người ta có thể mua được kháng sinh, nên là những cái bệnh thông thường, nặng thì không nói, người

ta vẫn quyết định ra nhà thuốc mua chứ không đi viện.”- (CĐD2)

Ngày đăng: 23/06/2019, 14:24

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm