1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết lặng yên dưới vực sâu của đỗ bích thúy nhìn từ phạm trù thẩm mỹ cái bi kịch (2018)

67 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 756,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con người trong văn học hôm nay khác với con người trong văn học trước đây, vì nó được nhìn ở nhiều vị thế, ở mối quan hệ đa chiều: con người với xã hội, con người với gia đình, và với c

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả khóa luận xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ Văn - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lí luận văn học đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận!

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Nguyễn Thị Vân Anh - người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã giúp

đỡ, động viên, chia sẻ trong suốt thời gian tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp!

Hà Nội, Ngày 10 tháng 5 năm 2018

Tác giả khóa luận

Từ Thị Tuyết Trinh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Tiểu thuyết Lặng yên dưới vực

sâu của Đỗ Bích Thúy nhìn từ phạm trù thẩm mỹ cái bi kịch” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu được trình bày trong khóa luận

là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào Tác giả khóa luận chịu trách nhiệm trước lời cam đoan trên

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018

Tác giả khóa luận

Từ Thị Tuyết Trinh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của khóa luận 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 7

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁI BI KỊCH 7

1.1 Khái niệm cái bi kịch 7

1.2 Phân loại bi kịch 7

1.3 Đặc trưng thẩm mĩ của cái bi kịch 9

1.4 Cái bi kịch trong văn học 14

Chương 2: CÁC DẠNG THỨC BI KỊCHTRONG TIỂU THUYẾT LẶNG YÊN DƯỚI VỰC SÂU 16

2.1 Bi kịch từ hủ tục cướp vợ 16

2.2 Bi kịch bởi hoàn cảnh 19

2.2.1 Cuộc sống nghèo khổ, thiếu túng 19

2.2.2 Sinh ra đã kém may mắn 22

2.3 Bi kịch của những khát vọng không thực hiện được 28

2.3.1 Khát vọng yêu và được yêu 28

2.3.2 Khát vọng một cuộc hôn nhân hạnh phúc 31

2.4 Bi kịch của sự mông muội 36

2.4.1 Bi kịch do nhận thức lệch lạc về vấn đề giới tính 36

Trang 6

2.4.4 Bi kịch của hủ tục tảo hôn 40

2.5 Bi kịch của kẻ bản năng 41

Chương 3: Ý NGHĨA GIÁO DỤC THẨM MĨ TỪ CÁI BI KỊCH TRONG LẶNG YÊN DƯỚI VỰC SÂU 46

3.1 Bồi đắp và phát triển ý thức thẩm mỹ 46

3.1.1 Trau dồi và phát triển tình cảm thẩm mỹ 46

3.1.2 Thỏa mãn và phát triển nhu cầu thẩm mỹ 49

3.1.3 Nâng cao thị hiếu thẩm mỹ 51

3.1.4 Định hướng và phát triển lý tưởng thẩm mỹ 53

3.2 Bồi đắp các năng lực thẩm mỹ 54

3.2.1 Phát triển năng lực nhận thức 54

3.2.2 Phát triển năng lực đánh giá thẩm mỹ 55

3.2.3 Phát triển năng lực sáng tạo thẩm mỹ 56

KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học Việt Nam hiện đại phát triển qua nhiều giai đoạn Mỗi giai đoạn để lại những thành tựu riêng Văn học thời kì đổi mới, hòa trong công cuộc đổi mới đất nước, đã có những đổi mới về tư duy nghệ thuật, đạt được những thành tựu bước đầu Trên con đường đổi mới văn học ấy, đặc biệt là đổi mới về đề tài, Đỗ Bích Thúy là một trong những tác giả đặt chân nhiều nhất về đề tài miền núi, gặt hái nhiều thành công bằng cái nhìn mới mẻ và để lại những dấu ấn trong lòng người đọc.Tính đến nay, nhà văn Đỗ Bích Thúy

đã sở hữu gia tài 13 tập sách phong phú về thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn… Cùng nhiều giải thưởng giá trị: Giải Nhất truyện ngắn Văn nghệ quân đội 1999; Giải Nhất tiểu thuyết Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam 2013; Giải Nhất Văn học Nghệ thuật Thủ đô 2014 Trong

số những sáng tác thành công đó, những cuốn tiểu thuyết của nữ nhà văn thành công hơn cả Đọc những tiểu thuyết ấy của Đỗ Bích Thúy, qua giọng kể khi hài hước bông lơn, khi xót xa thương cảm, khi khắc khoải yêu thương, khi chìm sâu trong suy ngẫm, triết lý của nhà văn, người đọc không khỏi băn khoăn trước số phận con người, trước tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc của con

người Tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu là cuốn tiểu thuyết thứ năm và cuốn sách thứ 17 của Đỗ Bích Thúy nhưng Lặng yên dưới vực sâu ngay khi

mới ra đời đã gây được tiếng vang mạnh mẽ trong giới văn chương và chuyển

thể thành phim sau hai truyện ngắn xuất sắc Tiếng đàn môi sau bờ rào

đá và Sau những mùa trăng Lặng yên dưới vực sâu vốn là một truyện dài

được đăng nhiều kỳ trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội cách đây vài năm Đây

là câu chuyện về một cộng đồng thiểu số gai góc, dữ đội, đầy rẫy bất hạnh nhưng luôn kiêu hãnh làm người

Trang 8

Từ nền văn học mang cảm hứng sử thi, văn học đã chuyển sự quan tâm chủ yếu sang vấn đề thời sự và đời tư Sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới mẻ Thời kì này, văn học đã đi tới một quan niệm toàn vẹn sâu sắc về con người, về những suy nghĩ trăn trở trước cuộc sống Con người vừa là xuất phát điểm, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học Con người trong văn học hôm nay khác với con người trong văn học trước đây, vì nó được nhìn ở nhiều vị thế, ở mối quan hệ đa chiều: con người với xã hội, con người với gia đình, và với chính mình, bên cạnh đó mặt trái của cơ chế thị trường với bao ngổn ngang, hỗn độn đã đẩy cuộc sống, số phận của con người đến trước những bi kịch không ai giống ai Đây là những vấn đề cần nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc

Đỗ Bích Thúy là một trong những nhà văn khai thác một cách toàn diện

và sâu sắc về những bi kịch của con người trên những vùng núi cao Ngay từ những sáng tác đầu tay, Đỗ Bích Thúy đã rất thành công, thể hiện sâu sắc trong nhiều tác phẩm của mình là bi kịch trong tình yêu và hôn nhân, bi kịch hoàn cảnh, bi kịch của những khát vọng không thực hiện được hay bi kịch của

sự mông muội

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Lặng yên dưới

vực sâu của Đỗ Bích Thúy nhìn từ phạm trù thẩm mĩ cái bi kịch” Có thể nói,

đây là một hướng tiếp cận mới đối với tác phẩm này đồng thời cũng hứa hẹn mang lại kết quả nghiên cứu thực sự có ý nghĩa Sở dĩ như vậy là bởi, mối quan hệ giữa văn học với hiện thực là mối quan hệ thẩm mĩ Văn học tác động đến cộng đồng văn hóa bằng con đường thẩm mĩ Do đó, tiếp nhận văn học từ các phạm trù thẩm mĩ là một phương thức tiếp nhận, lí giải văn học mang cả ý

nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn Chúng tôi hy vọng, qua góc nhìn này, Lặng

yên dưới vực sâu của Đỗ Bích Thúy sẽ có thêm một diện mạo mới, góp phần

làm phong phú thêm đời sống văn học đương đại Việt Nam

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhìn chung, các bài viết về tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu mới chủ

yếu được in trên các bài báo, các tạp chí, trên các diễn đàn và báo mạng như:

Bài viết “Lặng yên dưới vực sâu - Bi kịch hôn nhân không tình yêu” trên tờ

tình tay ba của ba nhân vật Vừ, Súa, Phống với hành động cướp vợ của Phống

đã dẫn đến một cuộc hôn nhân không có tình yêu Hay trên trang báo Thế giới

điện ảnh của tác giả Kim Anh đã có đăng tải một bài viết “Lặng yên dưới vực sâu: Bi kịch tình yêu trên cao nguyên đá” Bài viết tóm gọn một cách khái

quát về nội dung của tiểu thuyết, trong đó có nêu bật được mối tình đẹp giữa

Vừ và Súa trên cao nguyên đá Họ yêu nhau nhưng không đến được với nhau Chuyện tình đó tuy đẹp nhưng đầy bi kịch Hay một bài viết trên diễn đàn

Dân trí Việt Nam của tác giả Hà Tùng Long có tựa đề: “Những biến tướng

của tục bắt vợ” Bài viết xoay quanh về phong tục của dân tộc vùng cao “bắt vợ” vốn dĩ nó là nét văn hóa đẹp nhưng một số người lợi dụng nét đẹp đó để đạt những mục đích không lành mạnh Tác giả cũng dẫn dắt phong tục ấy để

người H’Mông này bị ngăn trở bởi nhà Vừ nghèo, không có tiền cưới vợ Còn Súa - bị Phống- một thanh niên nhà giàu lêu lổng cướp về làm vợ” Hay một

bài viết ở báo Tuổi trẻ online của tác giả Hoàng Thu Phố có giới thiệu đôi nét

về tiểu thuyết: “Sau Chúa đất, nhà văn Đỗ Bích Thúy vừa ra mắt tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu Hơn 200 trang sách dẫn người đọc dõi theo câu chuyện của những chàng trai, cô gái Mông ở U Khố Sủ của mảnh đất địa đầu

Tổ quốc: Hà Giang” Bên cạnh các bài viết được đăng tải trên các bài báo mạng, các diễn đàn thì còn có một số nhận định của các nhà phê bình viết về

tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu Theo nhà văn Phạm Ngọc Tiến, đó là “một

câu chuyện hấp dẫn, lạ lẫm, đầy hình ảnh về người Mông lạ kỳ, kiêu hãnh

Trang 10

lời nhận định của nhà phê bình Nguyễn Hải Nam: “Xung đột trong tác phẩm khởi đi từ một vụ cướp vợ Nhưng tác giả không có ý lên án, phá bỏ một cổ tục Chị chỉ mượn nó như cái cớ để nói về những quẩn quanh bế tắc mang

tính phổ quát của thanh niên nam nữ người miền núi Lặng yên dưới vực sâu,

đó là một nỗ lực “giải miền núi” trong cái viết của chính tác giả đã thành danh

ở mảng đề tài này.” Hay nhà phê bình Phùng Gia Thế đã nhận định: “Một thế giới nhân vật ám ảnh, một cộng đồng thiểu số gai góc, dữ dội, đầy rẫy bất

hạnh khổ đau nhưng luôn kiêu hãnh làm người Lặng yên dưới vực sâu như

một điệu khèn hoang dã, u sầu nhưng chất chứa khát khao yêu thương nhân

bản.” Đa số các bài viết về tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu chưa thực sự

phong phú về số lượng và chiều sâu về mức độ khảo sát Các bài viết mới chỉ nghiên cứu nhìn nhận một cách tổng quát tiểu thuyết mà chưa có công trình nghiên nào đi sâu vào các bi kịch của tác phẩm, nhìn nhận tiểu thuyết từ phạm trù thẩm mỹ của cái bi kịch Do vậy, tôi mạnh dạn đặt bút nghiên cứu về mảng đề tài này, hi vọng sẽ mở ra một hướng tiếp cận mới cho tác phẩm

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của khóa luận

3.1 Mục tiêu của khóa luận

Mục đích nghiên cứu chủ yếu của khóa luận được tác giả xác định như sau:

- Chỉ ra các dạng thức bi kịch trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu

của Đỗ Bích Thúy

- Trên cơ sở phân tích, khái quát các kiểu loại bi kịch trong tiểu thuyết

Lặng yên dưới vực sâu, chúng tôi nêu lên ý nghĩa giáo dục thẩm mĩ của tác

phẩm đối với người đọc

3.2 Nhiệm vụ của khóa luận

- Xác định các vấn đề lí thuyết nền tảng về phạm thẩm mĩ cái bi kịch, xem đó như là công cụ quan trọng giúp tác giả khóa luận giải quyết vấn đề đặt

ra trong đề tài nghiên cứu

Trang 11

- Vận dụng lý thuyết mỹ học về cái bi kịch vào việc phân tích, lí giải tác phẩm nói trên nhằm thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là phạm trù thẩm mĩ cái bi kịch

được nhà văn kiến tạo thông qua thế giới nhân vật trong tác phẩm Lặng yên

dưới vực sâu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu chính của khóa luận là tập trung khảo sát tiểu

thuyết Lặng yên dưới vực sâu của Đỗ Bích Thúy Bên cạnh đó, chúng tôi

cũng bao quát thêm một số tác phẩm văn học hiện đại khác, phục vụ cho thao tác so sánh nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu ở một phương diện nào đó

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

- Vận dụng kiến thức mỹ học, đặc biệt là lí thuyết về phạm trù thẩm mỹ

cái bi kịch để phân tích, lí giải tác phẩm Lặng yên dưới vực sâu

6 Đóng góp của khóa luận

Đề tài nghiên cứu đi sâu khám phá tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu

từ phương diện phạm trù thẩm mỹ cái bi kịch Qua đó, chúng tôi mong muốn góp thêm một cách đọc, một lối diễn giải mới về tác phẩm Từ đó, chỉ ra các dạng thức bi kịch đồng thời nêu lên ý nghĩa giáo dục thẩm mỹ của tác phẩm đối với đời sống

7 Bố cục của khóa luận

Khóa luận bao gồm các phần: mở đầu, nội dung và kết luận

Phần nội dung của khóa luận được chia thành ba chương:

Trang 12

Chương 1: Khái quát về cái bi kịch

Chương 2: Các dạng thức bi kịch trong Lặng yên dưới vực sâu

Chương 3: Ý nghĩa giáo dục thẩm mỹ từ phạm trù cái bi kịch trong tiểu

thuyết Lặng yên dưới vực sâu

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁI BI KỊCH

1.1 Khái niệm cái bi kịch

Cái bi trong tiếng Anh là the tragic, tiếng Pháp là La tragicque, tiếng Đức là Das Tragisch, đều có nghĩa là cái chết, nỗi thống khổ.[23]

Cái bi là phạm trù mỹ học cơ bản chỉ sự thất bại hay cái chết của cái đẹp trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với lực lượng đối lập; là thắng lợi của lực lượng phản động, lạc hậu trước các lực lượng cách mạng, tiến bộ;

là những hy sinh, tổn thất mà phía cách mạng phải gánh chịu trong cuộc đấu tranh với giai cấp lạc hậu [12, tr.13]

1.2 Phân loại bi kịch

Theo các nhà Mỹ học, bi kịch được chia thành các loại chủ yếu sau đây:

1.2.1 Bi kịch cái mới trong thế yếu

Ðây là loại bi kịch có tính chất lịch sử “Bản chất thẩm mĩ của cái bi

trong loại bi kịch này là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử và tình trạng không thể thực hiện được trong thực tế” (C Mác) Cái mới, cái cách mạng đang trong thế yếu, chết, hoặc thất bại Nhân vật của cái bi này chết một cách vĩ đại vì họ đang đại diện cho trào lưu lịch sử Họ trở nên anh hùng vì động cơ, hành động, do trách nhiệm trước lịch sử Lịch sử mãi mãi ca ngợi sự thất bại của nghĩa quân Yên Thế với cái chết của Hoàng Hoa Thám Hoặc lịch sử sẽ ghi nhớ mãi mãi Phạm Hồng Thái với tiếng bom Sa Ðiện

1.2.2 Bi kịch của cái mới trong hoàn cảnh trớ trêu

Ðây cũng là cái bi lịch sử, bi kịch lịch sử Cái mới cách mạng đã ở thế thắng trên toàn cục Nhưng một bộ phận nào đó lâm vào hoàn cảnh trớ trêu, khiến người anh hùng sa cơ Chẳng hạn, Chiến bại, Ðội cận vệ thanh niên của Phađêép; Hùng & Rin trong Bài ca con chim Chơrao; Võ Thị Sáu trong Mùa

Trang 14

1.2.3 Bi kịch sự lầm lạc của cái cũ

Cái cũ muốn trở thành cái bi, theo Mác, phải xét theo 3 tiêu chí: 1, Cái

cũ chưa mất hết vai trò lịch sử, chưa trở thành cái xấu 2, Bản thân cái cũ còn tin vào tính chất hợp lý của mình 3, Những con người đứng về phía chế độ cũ không phải là sự lầm lạc có tính chất cá nhân, mà là sự lầm lạc có tính chất lịch sử toàn thế giới Chính vì vậy, cái chết của nó là bi kịch (Mác) Bản chất cái bi của sự lầm lạc của cái cũ là do chưa nhận ra được tính tất yếu về mặt lịch sử Chẳng hạn, Ðônkihôtê Ông ta có lý tưởng nhưng lý tưởng lạc hậu, đấu tranh cho lí tưởng nhưng không ý thức được rõ ràng nó mà chỉ hành động theo thói quen Nhưng người như Ðônkihôtê thất bại là tất yếu Vì, đơn phương độc mã Sự thất bại của vua Duy Tân và việc bị Pháp bắt đày đến trọn đời, cũng là một ví dụ

1.2.4 Bi kịch của cái xấu

Ðây là bi kịch của chính tội ác, chứ không phải bi kịch của cái đẹp, cái tốt hay sự lầm lạc Ở đây người ta không lấy nước mắt răn đời, không lấy xót thương làm luyến tiếc Mà lấy sự khủng khiếp để nhắc nhở con người chớ làm điều khủng khiếp Aristốt nói về đặc trưng thẩm mĩ của loại bi kịch này: Bi

kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sự

thương xót và khủng khiếp Chẳng hạn bi kịch của cái xấu qua vở kịch Macbét Ở bi kịch này, lòng tham và tội ác bị trừng trị Ðây là một bi kịch chính trị- xã hội Tác giả lên án chế độ tập quyền chuyên chế triều Giêm I, tên vua bạo tàn Anh quốc đầu TK XVII

1.2.5 Bi kịch của sự lầm lạc, kém hiểu biết, ngu dốt

Bi kịch này được nêu ra như là bài học xương máu trên đường đời để nhắc nhở cảnh tỉnh Bi kịch về sự kém hiểu biết liên quan đến sự ngu dốt của

con người Sự ngu dốt là con quỷ mà chúng ta e rằng nó còn gây ra nhiều bi

kịch Chẳng hạn, câu chuyện An Dương Vương; bi kịch Othello; bi kịch Êđíp làm vua; Truyện Người con gái Nam Xương

Trang 15

Thuộc về cái bi này còn có bi kịch do tai nạn, sức mạnh mù quáng của

tự nhiên Ví dụ, cái chết của người đi thám hiểm

1.2.6 Bi kịch của những khát vọng cá nhân chính đáng

Ðây là bi kịch những nỗi đau đời thường tình (lẽ sống, tình yêu, sứ mệnh con người, nói chung) Ở bi kịch này, xung đột gay gắt giữa khát vọng chính đáng của con người và khả năng của bản thân không thể thực hiện

được Ví dụ bi kịch của Thị Kính trong chèo Quan âm Thị Kính; của Maxlôva trong tiểu thuyết Phục sinh của L.Tônxtôi, của Thúy Kiều trong Truyện Kiều

của Nguyễn Du

1.3 Đặc trƣng thẩm mĩ của cái bi kịch

1.3.1 Cái bi là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc không đủ khả năng thực hiện được yêu cầu đó trong thực tiễn

Bản chất thẩm mĩ của cái bi là sự xung đột dẫn đến mất mát đau

thương Song, không phải mọi sự xung đột dẫn đến mất mát đau thương đều

là cái bi Cơ sở để xem xét việc nảy sinh cái bi là sự xung đột giữa yêu cầu tất

yếu về mặt lịch sử với việc không đủ khả năng thực hiện được yêu cầu đó

trong thực tiễn (C Mác) Như vậy, những xung đột thông thường của đời sống không phải cơ sở nảy sinh cái bi Chẳng hạn, những xung đột giữa những anh chàng nghiện rượu, tranh giành đất đai để rồi chém giết nhau Do

đó, những chết chóc đau khổ thường tình không nằm trong phạm trù cái bi của mỹ học Nghệ sĩ Anh thế kỷ XIX, John Ruskin phân biệt: “Thơ chỉ có thể lên tiếng với nỗi buồn của cô gái khóc cho tình yêu trong trắng bị tan vỡ, chứ không thể viết về giọt nước mắt của kẻ hà tiện đánh mất tiền” Ở đây có hai loại nước mắt, nước mắt cúa cái bi (nước mắt của cô gái) và nước mắt của cái hài (nước mắt của anh chàng hà tiện) Chỉ thuộc về cái bi những hy sinh tổn thất có ý nghĩa xã hội mang tính quy luật trong sự phát triển lịch sử

Bi kịch cá nhân xảy ra trong tình yêu, trong gia đình, ngoài xã hội cũng

có thể là cái bi, nếu đằng sau nó cũng chứa những xung đột xã hội, mang tầm

Trang 16

vóc lịch sử Chẳng hạn bi kịch số phận Chí Phèo (trong Chí Phèo), Hămlét (trong Hămlét), Mácbet (trong Mácbét), Lỗ Thị Phượng (trong Lôi vũ) Các

bi kịch xã hội như thoái trào cách mạng, tổn thất lớn lao của cuộc chiến đấu của quần chúng cách mạng cũng thuộc về cái bi Chẳng hạn, phong trào Công

xã Pari, 1871 ở Pháp

1.3.2 Bi kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc

Bi kịch có tác dụng to lớn trong việc thanh khiết hóa tâm hồn con người Aristốt, nhà triết học, mĩ học thời Hy Lạp cổ đại cho rằng: Bi kịch là sự

bắt chước các hành động nghiêm túc và cao thượng, hành động này có một quy

mô nhất định, Bi kịch nhằm miêu tả những con người tốt nhất Nhân vật và lực lượng bi kịch có sức mạnh lớn lao, có ý chí mạnh mẽ, có lý tưởng đẹp đẽ, có khát vọng chân chính Nhân vật bi kịch thất bại thậm chí bị tiêu diệt Nhưng đặc trưng thẩm mĩ của cái bi lại không bi Aristốt cũng đã từng khẳng định: “Bi kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc thông qua sự khêu gợi sự xót thương

và khủng khiếp Cảm xúc thẩm mĩ đối với cái bi vẫn là tình cảm tích cực, vẫn

là vui, phấn chấn Chứ không phải là cảm xúc bi quan, tiêu cực”

Mỹ học tôn giáo nhấn mạnh tính chất công bằng của việc trừng phạt con người và những tội lỗi muốn mưu toan chống lại thế giới Cách giải thích này tạo ra ở con người trạng thái nhẫn nhục, chịu đựng, phục tùng số mệnh, định mệnh Mỹ học tư sản quan niệm cái bi như là sự bi đát của con người trước cuộc đời; như là sự xung đột vĩnh hằng giữa thân phận nhỏ nhoi của con người và sự vĩnh hằng bất tận của tạo hóa Mĩ học phong kiến phương Ðông, cũng bị chi phối khá nặng nề của tư tưởng định mệnh Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều từng giải thích về tiếng khóc chào đời của con người lúc sơ sinh:

Thảo nào khi mới chôn rau

Ðã mang tiếng khóc ban đầu mà ra

Thực ra, xung đột bi kịch dấy lên ở con người những rung động thẩm

mĩ sâu sắc Nó khơi dậy ở con người tình cảm cao cả, lành mạnh, kích thích

Trang 17

những hành động mãnh liệt, thúc đẩy con người đấu tranh vì hạnh phúc, tôi luyện con người

1.3.3 Cảm xúc thẩm mĩ của cái bi là cảm xúc vui

Tại sao cảm xúc thẩm mĩ trong bi kịch lại là cảm xúc vui? Khi nhìn những diễn viên trình diễn những bi kịch, ta nhỏ lệ biểu lộ sự đồng tình hay lòng trắc ẩn, mà mặt mày như tươi tỉnh sáng lạn, tâm tư dàn trải thoải mái Máu và nước mắt thường đem lại cho ta những ý nghĩ ngọt ngào tươi mát hơn

là những nụ cười hoan hỉ Vậy cảm xúc vui tươi trong bi kịch do đâu mà có? Phương Tây có nhiều cách giải thích khác nhau

Platon, với quan điểm của mình là xuất phát điểm cho thuyết Vui cười

trước tai họa của thiên hạ, ông cho rằng nỗi sầu muộn là những đức tính yếu kém

của con người, cần phải vứt bỏ Ấy vậy mà bi kịch lại kích thích nó lên Như thế

là không đạo đức J J Rousseau tiếp tục thuyết này, cho rằng bi kịch là biểu lộ niềm hân hoan khoái lạc trước tai họa Cho nên, ông khuyến cáo người ta chớ nên mở kịch trường Sau này E Faguet khai triển tư tưởng của J J Rousseau, cho rằng: con người là một mãnh thú, tìm khóai lạc trước đau khổ của kẻ khác Ông chứng minh điều đó ơ: những cuộc thi đấu giữa người và thú trong thời Lamã; những cuộc đấu bò rừng ở Tâyban nha, những vụ hành hình tàn khốc đối với kẻ khác tôn giáo thời Trung cổ; người ta thích đọc báo về những tin tức các

vụ đâm chém nhau Thực ra, nếu đúng như vậy thì việc gì phải bỏ tiền ra xem những cảnh tưởng tượng mà không tìm đến những cảnh thực

E Burker (Anh quốc thế kỉ XVIII) đưa ra thuyết ngược lại với thuyết tính ác, là thuyết tính thiện Cảm giác vui trong bi kịch là do lòng trắc ẩn, hay đồng tình tâm Chính những sự rủi ro bất hạnh ấy cũng khiến ta cảm thấy khoan khoái Con người ta thích pháp trường hơn kịch trường Nghĩa là, chúng ta thương xót cho Hămlét, nên rất vui khi thấy nhân vật này chết một cách bi thảm

Trang 18

Dubos (Pháp quốc, thế kỉ XVII), Thomas (đại học Colombia) lại giải thích bằng nguyên nhân tâm lí Theo họ, bản tính con người vốn hiếu động, thích những cảm giác mạnh Sự kích thích càng mạnh thì cảm xúc vui càng đậm Bi kịch là liều thuốc công hiệu giúp con người vui Bi kịch lấy chết chóc làm đề tài Mà, chết là tai họa khủng khiếp Do đó, bi kịch là đá nam châm mạnh nhất gây kích động cho óc tưởng tượng Nhưng thế thì, tại sao tai họa thực ngoài đời không làm cho con người thích Nhưng tai họa tưởng tượng trong nghệ thuật lại làm người ta thích Fontenelle cho rằng khoái lạc

và đau khổ tuy khác nhau nhưng nguyên nhân chỉ là một Giống như sự gãi cào ngoài da, gãi cào mạnh thì đau, nhẹ thì thích thú Bi kịch là đem những sự đau khổ thực lên sân khấu Tuy đó là thực tại, nhưng lại không phải là thực tại Những cảm giác đau khổ khi đứng trước những nạn nhân vô cớ bị tai họa giảm bớt đi, thành ra những nỗi vui thích

Schiller & Hegel (Ðức quốc thế kỉ XVIII) dùng quan điểm triết học để giải thích Sự xung đột vũ trụ là điều tất yếu Có xung đột thì có đấu tranh, đấu tranh mới có ý thức đạo đức, có ý thức đạo đức mới tìm thấy khoái lạc

Nguồn vui lớn nhất sẽ đạt được từ sự phấn đấu cam go với nghịch cảnh, trong đó chứa đựng đau khổ Vũ trụ là một khối lý tính vừa xung đột, vừa hài hòa Ví dụ sự xung đột của con người vừa muốn làm trung thần, vừa muốn làm người con hiếu thảo Mâu thuẫn này không thể dung hoà, trở thành

bi kịch Ðứng trên quan điểm vũ trụ thì bi kịch là luật của tạo hóa, là công lý

vĩnh cửu Khi xem kịch ta thấy được tính chất công lý vĩnh cửu, do đó ta

khoái Những người này viện dẫn vở bi kịch Ăngtigôn của Sôphốcl: Polinice con của quốc vương xứ Thèbes sau khi cha chết, mượn lính nước địch để giành ngôi vua Tân vương Créon giết kẻ phản bội, cho cho phơi thây, cấm mai táng Antigon, em ruột của Polinice, cháu ruột Créon không nỡ nhìn thi hài anh ruột phơi, nên tìm cách che đậy Nàng đính hôn với con trai Creon là

Trang 19

Hemon Antigon bi xử chém Hemon tự treo cổ cho vẹn tình Theo Hegel, Créon đại diện cho lý tưởng pháp luật, Antigon đại diện cho lí tưởng anh em Hai lý tưởng đều chính đáng nhưng trên quan điểm vũ trụ thì mâu thuẫn Schopenhauer lại cho rằng đời là bể khổ, con người ngụp lặn trong tai họa nghiệp chướng nhưng không chịu khước từ bởi doý dục sinh tồn kiềm chế Bi kịch dạy cho con người biết ý thức tất cả đều hư không để thoạt nhiên đại ngộ Nhân vật bi kịch khác người ta ở chỗ biết rõ tình thế mà buông tay đầu hàng, biết khước từ (Còn ta bị dục vọng kìm hãm) Nhưng chính khước từ là thắng lợi Quả là nhiều nhân vật bi kịch trước khi hấp hối đã khước từ Nhưng không phải mọi nhân vật bi kịch đều khước từ Macbeth chết than trời, Othello trong khi tự sát cũng hận người (không khước từ) Triết gia Ðức thế

kỉ XIX, Nietzsche cho rằng thế giới đầy tai họa nghiệp chướng nhưng nếu ta vứt bỏ được những ràng buộc, bủa vây của thế giới thực tại đầy hẹp hòi để đứng trên cao nhìn lại, thì lại thấy nó là một bức tranh kỳ vĩ, đẹp lạ lùng Cũng như Thượng đế sau khi sáng tạo ra vũ trụ, tự mình nhìn lại, nó như một tác phẩm nghệ thuật

Freud với lí luận về mặc cảm Oedipus, cho rằng văn minh là cái vỏ che đậy tâm địa dã man của con người Tâm địa chứa chất dục vọng, mà mãnh liệt nhất là tính dục Nhưng dục vọng và đạo đức, pháp luật mâu thuẫn dẫn đến dục vọng bị dồn ép thành mặc cảm Mặc cảm không phát tiết được có thể phát sinh bệnh thần kinh hay thác loạn Có lúc dục vọng có thể hóa trang để có thể vượt khỏi sự kiểm soát của ý thức Bi kịch là một hiện tượng, một biểu hiện Mặc cảm này được gọi mặc cảm Oedipus Mỗi người đều có mặc cảm Oedipus Khi xem vở kịch này dục vọng ta được thỏa mãn một cách gián tiếp, cho nên ta phát sinh niềm vui trong khi xem kịch

Tất cả những kiến giải vừa nêu đều không giả thích được một cách đúng đắn nguyên nhân cái vui trong bi kịch Vậy nguyên nhân đúng đắn là ở

Trang 20

đâu? Bi kịch là một thứ tác phẩm nghệ thuật, xem bi kịch là một thứ kinh nghiệm mĩ cảm Kinh nghiệm mĩ cảm xuất hiện khi ta trực giác hình tướng sự vật Trong lúc thưởng ngoạn ta quên hẳn lợi hại của thực tế mà đứng ở địa vị khách quan để quan sát, coi vũ trụ và đời sống là một bức tranh Tai họa thực trong đời sống khiến ta thương xót và lo sợ, nhưng tai họa trong kịch, sau giây phút lo sợ là nguồn vui Sở dĩ như vậy là vì, khoảng cách tâm ly.ï Giữa người xem và những cảnh trên sân khấu có một khoảng cách không quá xa, không quá gần Không quá xa, để thấy rằng sự kiện trên sân khấu là hợp lý, hợp tình Không quá gần, để xem không ngộ nhận bi kịch trên sân khấu là cuộc sống thực tế Phàm bi kịch chân chính thì không được tả thực Phàm khán giả kịch chân chính thì không cho tình cảm thực dụng xen lấn vào mĩ cảm Những tình cảm phát tán trong bi kịch khác tình cảm phát tiết trong thực

tế Trong tâm tư khán giả, thế giới kịch là biệt lập, không liên can đến lợi hại thực tế Khi thưởng ngoạn kịch, khán giả hội tụ tinh thần, bị sức lôi cuốn của sân khấu, do đó cũng sống hăng say, cũng hoạt động phát tán tình cảm Nhưng phát tán này kèm theo sự sảng khoái, khác kinh nghiệm thường nhật là đèo bòng phiền lụy, bực bội, lo âu

Hơn nữa, cảm xúc vui trong bi kịch, xuất phát từ chỗ, không phải cái chất, hay sự thất bại của con người Mà là, ở chỗ con người dám chấp nhận thất bại, dám hi sinh vì những lí tưởng cao cả

1.4 Cái bi kịch trong văn học

Cái bi tạo ra một cảm xúc thẩm mĩ phức hợp bao hàm cả nỗi xót đau, niềm hân hoan lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp Cái bi thường đi liền với nỗi đau

và cái chết, song bản thân nỗi đau và cái chết chưa phải là cái bi Chúng chỉ trở thành cái bi khi hướng tới và khẳng định cái bất tử về mặt tinh thần của con người Cái bi là cơ sở quy định đặc trưng của xung đột nghệ thuật trong thể loại bi kịch Đó là loại xung đột được tạo nên bởi hành động tự do của

Trang 21

nhân vật trong việc thực hiện cái tất yếu mà nó tự thấy trước là không tránh khỏi bị giết chết như nhân vật trong bi kịch anh hùng hoặc không thấy trước như trong bi kịch về sự lầm lạc

Bi kịch, về bản chất ca ngợi, khẳng định sự bất tử của con người và phát hiện những phẩm chất cao đẹp, anh hùng của nó Hê-ghen cho rằng, trong bi kịch cái chết không chỉ là sự hủy diệt Nó còn có nghĩa là sự bảo tồn dưới hình thức biến dạng cái mà trong hình thức có sẵn cần phải bị tiêu vong Ăng-ghen thì cho rằng cội nguồn của cái bi là “xung đột giữa đòi hỏi tất yếu

về mặt lịch sử với tình trạng không thể thực hiện được nó trong thực tiễn”

Trong văn học - nghệ thuật, cái bi qua mỗi thời đại vừa không thay đổi (ví dụ cảm hứng duy nhất về mặt loại hình), lại vừa dễ thay đổi (về mặt bản chất xã hội - lịch sử thể hiện ở tính chất, hình thái xung đột)

Chẳng hạn trong bi kịch của Sếch-xpia, cái bi là cái xung đột giữa ý thức cá nhân của con người với thời đại và thiết chế xã hội cũng như chính bản thân mình Còn trong bi kịch của chủ nghĩa cổ điển thì nó lại là xung đột giữa dục vọng, khát vọng cá nhân với tinh thần nghĩa vụ quốc gia

Trong văn học - nghệ thuật ngày nay, cái bi được khám phá và thể hiện trên nhiều khía cạnh và từ trong cội nguồn lịch sử - xã hội của nó Ở đây, cái bất tử của nhân vật được thực hiện trong cái bất tử của nhân dân, vì thế cái bi mang tính chất lạc quan lịch sử

Trang 22

Chương 2: CÁC DẠNG THỨC BI KỊCH

TRONG TIỂU THUYẾT LẶNG YÊN DƯỚI VỰC SÂU

Trong cuộc sống, ẩn chứa muôn vàn những điều hay, những điều tốt đẹp Nhưng song song với nó lại là những điều tồi tệ, những bi ai, sầu muộn Cũng giống như một bức tranh cuộc sống, có mảng tối, mảng sáng, có những mảng loang lổ cả sáng cả tối, nó tạo nên bức tranh cuộc sống muôn màu muôn vẻ Có tốt, có xấu, có vui, có hạnh phúc, có bi kịch Con người trong bức tranh cuộc sống cũng không tránh khỏi những lẽ tự nhiên ấy, khi con người tác động vào lẽ tự nhiên cũng tạo nên bi kịch Trong các loại bi kịch, hầu hết lại bắt nguồn từ các mâu thuẫn, đối kháng giai cấp, đấu tranh giai cấp đối kháng về lí tưởng xã hội, dẫn đến những cuộc cách mạng do điều kiện về mọi mặt chưa chín muồi đã rơi vào tình huống bi kịch Đôi khi bi kịch lại nối tiếp bi kịch, bi kịch của cá nhân, bi kịch của xã hội, bi kịch của xung đột, bi kịch của mâu thuẫn trong các mối quan hệ giữa người và người, giữa tự nhiên

và xã hội Cái bi với tư cách là một phạm trù mỹ học cũng tồn tại trong cuộc sống và trong nghệ thuật, song chúng tồn tại dưới các dạng thức khác nhau Trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu của nhà văn Đỗ Bích Thúy cũng được chia thành các dạng thức khác nhau nhìn từ phạm trù mỹ học

2.1 Bi kịch từ hủ tục cướp vợ

Cộng đồng người H’Mông có rất nhiều phong tục tập quán đẹp như lễ hội, tang ma, cưới xin, đặc biệt là tục “bắt vợ” Phong tục đó được nhắc đến

trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu của nhà văn Đỗ Bích Thúy Để tạo

được “chất miền núi”như vậy là nhờ nhà văn Đỗ Bích Thúy sinh ra ở Hà Giang, đã từng làm việc nhiều năm ở đây và phần lớn tác phẩm viết về người H'Mông cho biết: "Người H'Mông không gọi là "cướp vợ", đó là ngôn ngữ của người Kinh, mà họ gọi là "kéo vợ" Đây là một phong tục đẹp, xuất phát

Trang 23

từ thực tế có những chú rể nghèo không thể đáp ứng được yêu cầu thách cưới Gia đình hai bên bàn cách chọn một ngày nào đó cho chú rể "kéo" cô dâu về Tục kéo vợ này không chỉ người H'Mông mới có mà còn có nhiều dân tộc khác Theo thời gian phong tục đã bị biến tướng, ở một số nơi lợi dụng điều này để cướp vợ Tiểu thuyết này có đề cập đến chuyện đó"

Bắt vợ trong đời sống của người Mông vốn là một tục lệ mang ý nghĩa nhân văn khi nó là một giải pháp để những đôi trai gái yêu nhau mà bị ngăn trở bởi gia đình và những thủ tục thách cưới đắt đỏ có thể đến được với nhau Nhưng khi tập tục ấy bị lợi dụng sẽ trở thành hủ tục gây những hệ lụy không

hề nhỏ, đặc biệt là với thân phận người phụ nữ Vừ và Súa, đôi trai gái có một mối tình đẹp đẽ nhất U Khố Sủ nhưng hoàn cảnh ngăn cản họ đến với nhau Nhà Súa nghèo, nhà Vừ còn nghèo hơn, bố Vừ mất sớm, mẹ đi lấy chồng, Vừ

ở với ông bà nội làm nghề rèn Tính ra cái nghề đó cũng sống tốt được nhưng

vì cái nợ hai con bò từ đám ma bố Vừ để lại nặng quá trả mãi không hết Súa thương Vừ đồng ý cho Vừ bắt về và đỡ cho Vừ một ít bạc trắng, chỉ còn cách

đó để hai người có thể thành vợ chồng đó là thực hiện thủ tục bắt vợ Nhưng dưới đêm trăng hẹn hò ấy, người cõng Súa về giường của mình không phải là

Vừ mà là Phống Trong thời khắc quan trọng khi Vừ đang trên đường đến chỗ hẹn với Súa thì một bóng người lạ mặt thông báo là ông nội có chuyện, không suy nghĩ gì Vừ chạy một mạch về thẳng nhà nhưng về đến nhà mới biết mình

đã bị lừa Mặc cho tiếng gọi thất thanh của ông bà, Vừ băng băng đến chỗ hẹn nhưng Súa không ở đó để đợi Vừ nữa rồi, Súa đã bị bắt về nhà Tráng A Phống Phống đã dùng thủ đoạn, sơ hở của Vừ để cướp Súa

Cũng từ biến cố này các nhân vật của Lặng yên dưới vực sâu như

những tảng đá trên cao nguyên lăn lông lốc vào một vòng yêu hận tình thù đầy bi ai Hai con người yêu nhau có mối tình đẹp nhất khu cao nguyên nhưng lại không có một cái kết viên mãn Rào cản của hủ tục, của sự bóp méo

Trang 24

cái văn hóa tưởng chừng là đặc trưng đẹp nơi xứ sở Đồng Văn đã khiến những kiếp người đi vào những bi kịch, ngày một lún dưới vực sâu

Phống là người lên kế hoạch hoàn hảo cho việc cướp vợ, và Phống đã đạt được mục đích ấy Tưởng chừng Phống sẽ hạnh phúc nhưng cuộc hôn nhân ép buộc đó khiến một con người làm mưa làm gió ở khu U Khố Sủ, không sợ một ai mà giờ đây Phống đã rơi nước mắt vì người con gái mà Phống đã cướp về Suy cho cùng, hủ tục “cướp vợ” là phương tiện để Phống

có được Súa nhưng cũng vì nó mà cuộc đời chàng trai ấy từ đó về sau cứ luẩn quẩn trong cái khổ, và dần dần đến gần hơn bên vực thẳm

Bằng sự nhạy cảm và lòng trắc ẩn của một người nghệ sĩ, Đỗ Bích Thúy muốn người đọc, người xem cảm nhận phong tục này dưới một góc nhìn khác, đầy nhân văn Có nhiều đôi nam nữ Mông yêu nhau nhưng vì tiền thách cưới quá cao mà họ có thể sẽ chẳng thành vợ, thành chồng Nên để được ở bên nhau trọn đời, các chàng trai Mông đành phải cướp vợ Như vậy, cướp vợ không chỉ là một hủ tục như mọi người vẫn nghĩ Tục lệ này đã gián

tiếp tác thành cho nhiều đôi lứa nên duyên Lặng yên dưới vực sâu cũng đem

tới cho công chúng bức tranh hoàn toàn mới về cuộc sống của đồng bào dân tộc trong thời buổi kinh tế thị trường Sức mạnh của đồng tiền đã làm những tâm hồn vốn hoang sơ, hồn nhiên như cây tam giác mạch chịu nhiều chấn động Xung đột trong tác phẩm được khởi lên bởi một vụ cướp vợ trong đêm khuya, phá vỡ tất cả hi vọng và cuộc đời tươi đẹp của đôi bạn trẻ người Mông

Vừ và Súa Thay vào đó là cuộc hôn nhân cưỡng bức và tăm tối của Phống và Súa để kiếm tìm hạnh phúc và sự thừa nhận Xây dựng xung đột này, Đỗ Bích Thúy không cố ý lên án, phá bỏ một hủ tục Nữ nhà văn chỉ mượn nó như là cái cớ để nói về những quẩn quanh, bế tắc mang tính phổ quát của thanh niên nam nữ miền núi

Trang 25

2.2 Bi kịch bởi hoàn cảnh

2.2.1 Cuộc sống nghèo khổ, thiếu túng

Lặng yên dưới vực sâu cho người đọc tìm đến chốn núi rừng phía Bắc Người đọc cảm thấy mình như đi lạc vào một thế giới khác với những đỉnh núi sương giăng cao chót vót, những vực sâu hun hút gió gào, những nương rẫy đầy đá tai mèo, Tuy nhiên, bên cạnh những điều tươi đẹp như cuộc sống hài hòa với thiên nhiên, giản dị chất phác đôn hậu là sự đói nghèo thiếu thốn

về vật chất khiến con người phải lao động quần quật suốt ngày, nhất là những người phụ nữ, làm họ luẩn quẩn trong tăm tối của cuộc đời không tìm được lối thoát khi vướng vào những rắc rối chấp nhất

Vừ - chàng trai người Mông tài giỏi, tốt bụng đem lòng yêu Súa - cô gái Mông xinh đẹp, mạnh mẽ Nhưng tình yêu của họ bị ngăn trở bởi nhà Vừ nghèo, không có tiền cưới vợ Vừ sống với ông bà nội đã già yếu trong căn nhà nhỏ đơn sơ, tạm bợ trên vách núi cao Cả gia đình tài sản lớn nhất là cái búa gia truyền làm nghề rèn Tính ra cái nghề đó cũng sống tốt được ở khu rừng U Khố Sủ nhưng vì cái nợ hai con bò từ đám ma bố Vừ để lại nặng quá trả mãi không hết, lãi mẹ sinh lãi con Nợ từ lúc Vừ còn bé tí nay Vừ đã thành một chàng trai cường tráng vẫn chưa trả hết nợ Cái nghèo cái khổ từ gia cảnh của Vừ khiến chàng trai ấy tuột mất người con gái mà chàng yêu bằng cả trái tim mình Nếu có chút tiền thì Vừ đã đường đường chính chính đến hỏi Súa thì đã không có chuyện thằng Phống nó cướp mất vợ và hàng loạt bi kịch đau khổ cho cả ba đằng sau đó

Cuộc sống nghèo khổ nơi núi rừng hẻo lánh khiến con người nơi đây nhận thức còn kém cỏi, trong đó có Vừ Về nhân vật Vừ thì điều ấn tượng nhất là tình cảm của Vừ với ông bà nội và chất “hoang dã” đã ăn sâu trong bản chất không thể xóa bỏ, cho dù được gửi đến trường nội trú cho học hành

tử tế “Không chỉ Vừ mà cả ông cũng nhận thấy, đây không phải là nơi dành

Trang 26

cho Vừ Phải trả Vừ về với U Khố Sủ mới được Thằng trai Mông này phải ở trên U Khố Sủ mới thành trai Mông được” Khi đọc về con người Tây Nguyên cũng mang tính cách đặc trưng này, không thể xa lìa rừng núi Nét văn hóa đã

ăn sâu trong máu thịt cả ngàn năm, truyền thừa qua biết bao thế hệ tộc người không thể thay đổi

Việc xảy ra với Vừ ở trường làm tôi nghĩ đến những chính sách văn hóa dành cho dân tộc thiểu số, đôi khi lố bịch và ngớ ngẩn đến buồn cười, mặc dù xuất phát từ tâm lý muốn giúp người dân tộc nâng cao đời sống vật chất tinh thần, nhưng quá chủ quan duy ý chí và không hiểu được văn hóa tộc người, như một kẻ ở trên nhìn xuống người thấp kém hơn, nên đã biến những

ý tưởng tốt thành việc làm xấu gây hậu quả nghiêm trọng Tuy nhiên, chính người dân tộc cũng phải thay đổi để chính mình có thể phát triển, sự thiếu hiểu biết sẽ làm cho con người mãi sống trong tăm tối

Nạn nhân tiếp theo của sự nghèo khổ, túng thiếu nữa là mẹ ruột của Phống - bà Xây Vì đồng tiền bà đã chấp nhận bán danh dự của một người đàn

bà bằng giá một con bò Bà đã ngủ với ông Tráng như theo đề nghị của ông là phải có một thằng con nối dõi cho dòng họ tại vợ của ông không có khả năng sinh con Không tình yêu cũng không tình nghĩa, nó trở thành như một cuộc giao dịch, một bên có tiền và một bên có con Vì thiếu túng bà đã phải nhẫn nhịn suốt những ngày mang thai Phống, sống như những ngày trong địa ngục, người ta cho ăn gì thì ăn đấy Sinh con xong, bà chưa được một lần làm trọn thiên chức của một người mẹ Đứa con mà ngay từ đầu nó là cuộc giao dịch nhưng dù gì thì đó là đứa con mà bà đã mang nặng đẻ đau Thế nhưng đứa con còn đỏ hỏn đã phải trao tay cho người khác, hoàn toàn không thuộc về mình, từ đó trở đi bà không được một lần gặp lại con của mình nữa Một phần

là thằng Phống nó không xem bà là mẹ, với Phống chỉ có bà Mây (mẹ nuôi,

vợ của ông Tráng) mới là mẹ thực sự của nó Cả cuộc đời này nó chỉ yêu

Trang 27

thương bà Mây mà thôi, không có người đàn bà nào khác được Phống công nhận với hai từ là “mẹ” nữa Hơn nữa nó đã biết về sự tích sinh ra của nó từ

vụ giao dịch một con bò nên nó càng nghĩ bà Xây không xứng đáng là mẹ nó, làm mẹ thì cho dù thế nào cũng không thể bỏ con mình như thế được Cho đến khi bà đang ở ranh giới của cõi chết, sự van xin, năn nỉ được một lần gặp lại con trai thì thằng Phống nó miễn cưỡng đi nhưng trong lòng bực tức và không có cảm xúc mẫu tử tràn về Đó là bi kịch quặn thắt lòng của một người đàn bà, của một người mẹ

Nghèo khổ bủa vây dai dẳng với những kiếp người như Vừ, mẹ ruột Phống,… dẫn đến bao bi kịch đau lòng Trong số đó ta cần một nốt lặng khi chứng kiến hệ quả của sự nghèo đói, tình người vùng cao qua cái chết của ông nội của Vừ Một tai nạn bị rơi ở vách núi khiến ông nội Vừ cùng con ngựa đều lật ngả sang thế giới khác Ông nội được tìm thấy khi hơi thở đã yếu dần, xương chân đã lòi ra, khắp người mềm như cành cây bị gãy, ông cố nói những câu cuối cùng với đứa cháu nội nhưng cũng không thành lời.Khi ông nghe đề nghị của đứa cháu là mang ông lên bệnh viện thì ông lập tức thều thào yếu ớt, xua tay: “Ông hỏng rồi cho ông về nhà” Một phần chắc ông không muốn bà

và Vừ gánh vác cái nợ sau khi ông mất, bởi gia đình đã quá khó khăn sau cái đám tang của bố Vừ Thật tội nghiệp! Cả một đời người sống nhưng đến những phút cuối cái nghèo, cái khổ cũng cướp đi tia hi vọng níu lấy mạng sống Vì nếu có cứu chữa có thể sống lại thì cũng không biết lúc nào mới trả hết nợ, còn nếu đến đó cũng không cứu vãn được thì càng bi kịch hơn, cuộc sông của Vừ và người bà già sẽ sống cả phần đời còn lại để trả số nợ đó Vậy nên ông nội Vừ đã chọn cách muốn về nhà, ông đã trút hơi thở cuối trên lưng đứa cháu nội yêu quý của mình Theo phong tục người Mông, người sống ăn

gì, uống gì cũng được nhưng người chết phải được ma chay một cách tử tế và đàng hoàng Gia đình Vừ đã khó khăn nên đến lúc ông nội chết thì cũng

Trang 28

không có gì để tổ chức Mọi người trong dòng họ đóng góp một ít giúp nhà

Vừ gọi thầy cúng vì họ không muốn nhà Vừ phải nợ thêm hai con bò nữa như

từ đam tang của bố Vừ

Bi kịch từ cuộc sống nghèo khổ, thiếu túng của những con người nhỏ

bé, thấp hèn trên khu rừng U Khổ Sú thật tội nghiệp Từ cuộc sống chật vật đó đưa những số phận của họ đến với những bi kịch khác nhau nhưng suy cho cùng chúng đều nghiệt ngã, như những hòn đá lăn lông lốc trên vách núi, rồi

từ từ nó rơi xuống vực thẳm sâu

2.2.2 Sinh ra đã kém may mắn

Như một quy luật tất yếu của cuộc sống, không ai có thể chọn nơi mình sinh ra và lớn lên cũng như không có quyền sắp đặt cho mình những điều may mắn và tốt đẹp nhất Không ai mong mình bất hạnh, chả ai muốn mình là trẻ lang thang, mồ côi hay khiếm khuyết Đó đều là những con người như chúng ta nhưng chỉ có điều là thiếu may mắn hơn chúng ta Muốn về nơi tổ ấm lắm, ước

ao mẹ kể chuyện Ước ao được đánh đòn, rồi được cho âu yếm Nhưng các em

đã không có quyền đựợc lựa chọn tương lai của mình sẽ ra sao, sẽ đi về đâu

Một lúc nào đó, ta dừng lại, nép vào một góc để quan sát xung quanh…

ta giật mình khi thấy vẫn còn đó những mảnh đời bất hạnh biết bao Những đứa trẻ lang thang cơ nhở, bị bỏ rơi ngay từ những ngày tháng đầu tiên của cuộc đời mình, những ngày tháng cuộc sống không êm đềm như những người

có ba có cha, có mẹ, có mái ấm gia đình, hay cơ thể không lành lặn, khiếm khuyết… trên con đường mưu sinh, vật lộn với bao cãm bẫy, bao cái xấu, cái

ác, chúng không chỉ có mồ hôi mà còn là nước mắt và nỗi đau về thể xác cũng

như tâm hồn Trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu cũng có những mảnh

đời kém may mắn Sinh ra họ đã khiếm khuyết về cơ thể như nhân vật Nhí, hay bà Mây Hay những mảnh đời khi sinh ra chưa cảm nhận trọn vẹn tình yêu thương của người cha người mẹ ruột bên cạnh mình như Vừ, Súa, Phống

Trang 29

Nhân vật nữ phụ là Chía, cô là em dâu họ của Phống, bị câm bẩm sinh Giống như trời già rất công bằng, cho cô tất cả những thứ con gái Mông mơ ước, xinh đẹp nhà giàu được cha và anh trai nâng niu nhưng không nói được, nên cũng không chàng trai nào để ý Chía trong liên tưởng của tôi giống như một giọt sương trong suốt đọng trên đóa hoa mai trắng giữa núi đồi Một cô gái với ánh nhìn trìu mến, nhẹ nhàng, đáng yêu nhưng không thể nói được Cô gái chắc tầm mười ba, mười bốn Mặt tròn, hai má căng đỏ như hai quả đào chín Theo lời Súa “mặt nó xinh thật là xinh nhưng sao cứ buồn buồn như bông hoa không nở được” nó không nói được nhưng ánh mắt nụ cười của nó nói lên mọi thứ, có lẽ chỉ có nó mới hiểu và thương Súa hơn cả Một cô bé bị câm bẩm sinh nhưng rất biết điều, cô kém may mắn về cơ thể và bị giam lỏng trong một cuộc hôn nhân không mấy vui vẻ nên cô càng ngày như bông hoa không thể nở được

Nếu Chía là cô gái bị câm thì Dính là chàng trai bị điếc và cả câm

“Thằng Dính là chồng Chía gọi Phống bằng anh họ Dính bị điếc sau một trận

ốm suýt chết lúc ba tuổi Vì bị điếc lúc đang tập nói nên dần dần Dính chả nói được luôn Dính lại hơi ngốc Cả nhà có mỗi thằng con trai, người thì lại như thế nên ai cũng chiều Dính chẳng phải làm gì hết, cũng không đi học Việc của Dính là ăn với chơi Nhưng kế cả ăn với chơi cũng không làm cho tử tế được Dính không ăn thịt, chỉ ăn cơm rau, người càng khó mà lớn Chơi thì toàn chơi dại Thường bị bọn trẻ cùng lứa bắt nạt, xúi bậy Chả biết làm thế nào cho yên tâm.” [17, tr.60] Dính là một đứa trẻ hồn nhiên, không biết gì, lại mang trong mình dị tật bẩm sinh và bị cuốn vào vòng xoay của một cuộc hôn nhân mà chính Dính trong cuộc cũng không biết nên làm gì Đầy bi kịch

Nhân vật kém may mắn tiếp theo là Vừ Vừ chưa cứng cáp thì cha mất sớm, mẹ bỏ Vừ đi lấy chồng khác Từ nhỏ Vừ chưa cảm nhận được thế nào là gia đình có bố, mẹ, được ôm ấp, chăm sóc, vỗ về ấm áp từ hơi thở của mẹ, bờ

Trang 30

vai vững chãi của bố Vừ đã lớn lên mà không có mẹ, lớn lên đẫm trong nước mắt, lúc nào Vừ cũng khóc Khóc vì tủi thân, khóc vì nhớ mẹ… Đã có lúc Vừ

tự hỏi: “Nếu có mẹ bên cạnh thì hôm nay Vừ thế nào? Vừ có vui hơn không?” Hàng loạt câu hỏi của một đứa con đang đau khổ dằn vặt như sự trách móc mẹ? Tại sao lại bỏ con đi? Nhưng trong sâu thẳm trái tim Vừ vẫn thương mẹ

vô cùng, hiểu và cảm thông cho hoàn cảnh của mẹ, chỉ là bỗng chốc tia ích kỉ của một đứa con về mẹ của mình trỗi dậy mà thôi Lúc mẹ mới đi lấy chồng, đêm nào Vừ cũng khóc, đêm nào cũng rúc vào nách bà, thấm nước mắt lên áo

bà Vừ giận mẹ, càng nhớ thì càng giận Từ lúc mẹ đi lấy chồng là khi Vừ còn nhỏ cho đến khi Vừ trở thành một chàng trai tuấn tú mẹ vẫn chưa một lần quay trở về nói được với Vừ một câu Vừ nghĩ: “Mẹ chỉ biết vui cho mẹ thôi,

Vừ sống thế nào? Ông bà sống thế nào? Mẹ có cần biết gì đâu” Với một người con không có mẹ ở bên từ lúc bé cho đến khi trưởng thành là một điều kém may mắn và tội nghiệp Vừ không có mẹ ở bên Vừ vẫn lớn lên, không có

mẹ Vừ vẫn có người yêu và không có mẹ Vừ cũng vẫn mất người yêu Mẹ chẳng liên quan gì đến Vừ Nhưng tại sao nghĩ đến mẹ, giận mẹ Vừ lại buồn đến thế? Từ nhỏ Vừ cứ mong ngóng được mẹ về thăm, và lớn lên tí nữa biết trách móc mẹ nhưng đến khi trưởng thành mẹ có trở lại và có nhắc đến chuyện cưới vợ với thằng Lữ (em cùng mẹ khác cha của Vừ) thì tỏ vẻ ra khó chịu Khó chịu với mẹ vì mẹ không cần phải biết về việc Vừ sắp lấy vợ vì chuyện đó không có liên quan gì đến mẹ Có lẽ đó là sự phản xạ của một đứa con đang còn giận dỗi mẹ, quá khứ mẹ bỏ rơi đi lấy chồng vẫn còn chồng chất trong lòng Vừ Nghĩ đến mẹ, Vừ thấy đau ở đâu đó không biết rõ, rất khó chịu Cũng hiểu thôi vì Vừ đã trải qua rất nhiều năm liền chỉ biết khóc: ngủ cũng khóc, ăn cơm cũng khóc, thức cũng khóc Nhiều lúc Vừ tự hỏi: “Nước mắt ở đâu ra mà lắm thế chảy suốt ngày, cứ nghĩ đến mẹ lại khóc” Nhiều lúc nhìn lên bầu trời cao nhìn thấy cánh chim bay, Vừ ước được một lần là nó để

Trang 31

bay đi tìm mẹ, tìm được mẹ rồi dù mẹ có về với Vừ hay không thì cũng phải trả lời cho Vừ một câu: “Tại sao mẹ bỏ Vừ mà đi? Mẹ không thương Vừ hay sao?” Nhưng Vừ chẳng bay được cũng chẳng biết mẹ đã đi đến đâu Vừ tự nhủ sau này lớn lên mình không cần bay cũng tự đi được, không cần hỏi cũng biết mẹ ở nơi nào Thế nhưng khi đã đủ điều kiện để làm những việc ấy thì

Vừ lại không muốn làm nữa, bao nhiêu năm tháng không có mẹ Vừ đã có ông

bà nội Xưa kia cần thì mẹ không có, bây giờ thì không cần, sau này cũng không cần Có lẽ, chúng ta không thể trách bất cứ ai trong hành xử của mẹ và thái độ của Vừ, bởi đứng ở một góc cạnh nào đó chúng đều có lí cả, đều đáng thông cảm và chấp nhận Mẹ Vừ vì hoàn cảnh gia đình nhà chồng quá khó khăn, chồng lại mất, mình vẫn đang còn trẻ nên phải đi tìm con đường mới cho riêng bản thân, bà dám đi vì bà biết bên Vừ đã có ông bà nội yêu thương

Vừ sẽ hết mực dạy bảo và nuôi lớn Vừ một cách chân thành Còn phản kháng của Vừ là điều có thể hiểu, Vừ chưa tìm được câu trả lời cho câu hỏi: “Tại sao

mẹ lại bỏ Vừ? Mẹ không còn thương Vừ nữa đúng không?” Cho tới bây giờ chàng trai đến tuổi lấy vợ và đã gặp lại mẹ vẫn chưa tìm được đáp án, trong lòng Vừ vẫn luôn nặng nề và ác cảm Đó là sự giận dỗi có lí và tội nghiệp của một đứa con

Nhân vật kém may mắn tiếp theo là Súa - cô nàng có vẻ đẹp xinh nhất khu U Khố Sủ nhưng trên khuôn mặt xinh xắn ấy có nét hơi đượm buồn Súa may mắn hơn Vừ là còn bố bên cạnh Hơn ai hết Súa là người yêu mẹ của mình nhất, không có từ nào có thể diễn đạt được Nhưng may mắn, hạnh phúc không đến với Súa khi người mẹ mà Súa yêu quý lại qua đời sớm Con gái mới lớn rất cần mẹ ở bên để dễ dàng chia sẻ và tâm sự Mẹ ra đi, một mình bố nuôi Súa khôn lớn cho đến cái tuổi lấy được chồng thì bố đi bước nữa Súa chưa bao giờ chấp nhận một người mẹ thứ hai để thay thế, bởi tình cảm của Súa là không thể gượng ép được Từ bấy năm kể từ khi mẹ mất, Súa vất vả

Trang 32

hơn, buồn tủi nhiều hơn bởi bố cũng là đàn ông không thể thủ thỉ nhỏ nhẹ ở bên để chia sẻ, ôm ấp vỗ về gánh nặng cho Súa, Súa một mình làm tất cả các việc bé nhỏ trong nhà vì bố cũng hay ốm đau, suốt ngày ho đến người nghe cũng phải khó chịu Thế nhưng Súa vẫn chấp nhận được, Súa vẫn cảm thấy hài lòng, hạnh phúc khi bên bố, vẫn hi vọng mẹ vẫn ở bên cô, theo dõi cô và ủng hộ cô thế là đủ rồi Súa xinh đẹp hết phần nhưng kém may mắn hơn khi không có mẹ ở bên, Súa chấp nhận với số phận an bài, mãnh liệt lớn lên, giỏi giang, mạnh mẽ

Khác với nỗi bất hạnh của Súa hay Vừ, đó là một người phụ nữ, nhìn bên ngoài theo con mắt của người Mông sẽ thấy ngưỡng mộ và ước mình có một cuộc sống như bà là bà Mây - vợ của ông Tráng Bà được chồng hết mực yêu thương, sống trong gia đình đầy đủ vật chất, giàu nhất khu U Khố Sủ không cần phải chật vật lo nghĩ về cái đói, cái rét nơi vùng cao khắc nghiệt Thế nhưng đằng sau đó là cả nổi buồn sâu thẳm trong tâm bà Một người phụ

nữ, khát khao lớn nhất là có một mái ấm gia đình trong đó có chồng và sinh những đứa con bụ bẫm gọi mình hai chữ thiêng liêng “mẹ” Song, trời đã không cho bà làm thiên chức đó, bà không có khả năng sinh con, không sinh được cho người đàn ông mà mình yêu thương người nối dõi Đó là bi kịch lớn của người phụ nữ Hạnh phúc gia đình chỉ trọn vẹn khi có tiếng khóc của đứa trẻ, mà giờ đây bà không khả năng để tạo được hạnh phúc ấy Vì điều kém may mắn đến một cách bất hạnh với bà mà kéo theo đó cả chuỗi nỗi đau mà

bà đã trải qua đầy bi kịch Thương cho thân phận mình không làm tròn bổn phận của một người vợ, bà ngậm đắng nuốt cay để chồng mình đổi lấy con bò ngủ với người đàn bà khác để có con Với bà Mấy, nỗi bất hạnh của bà là không sinh được con trai cho ông Tráng, đã có lúc bà nhìn cuộc đời mình như chiếc lá rơi vô định, con không, nhà giờ đã là của người ta, chồng mình thì lại

đi ngủ với người đàn bà khác để có con, thế nhưng sau đống bếp tro tàn vẫn lóe lên trong cuộc đời bà một tia sáng đó là sự thương yêu vô bờ bến của

Trang 33

người chồng, đứa con rơi rớt của người đàn bà khác mà bà xem hơn cả con ruột mình, chiều chuộng, yêu nó nhất khu đồi núi cao nguyên đó

Ai đã từng đọc các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy, từng bị ám ảnh những cái viết của chị, chắc hẳn đồng ý điều này: nhân vật thống lĩnh trong các tác phẩm của Thúy toàn là đàn bà đa phần thuộc tộc người Mông, và cái không gian cho các nhân vật sinh sống sinh sự trong đó toàn là núi rừng sông suối thổ nhưỡng vùng cao, cụ thể hơn - cao nguyên đá Hà Giang, nơi quê hương tuổi thơ của chị Hãy nhìn vào thế giới nhân vật người nữ: đầu tiên là người

mẹ - mẹ đẻ và mẹ kế; sau nữa là những người vợ, và rất nhiều những người con gái tuổi mới lớn chẳng mấy chốc lại bước vào cái vòng đời làm vợ, làm

mẹ, làm bà… Nhân vật nữ trong các sáng tác của nhà văn Đỗ Bích Thúy luôn được ưu ái cho dù số phận của họ có bi ai bao nhiêu thì họ vẫn toát lên vẻ đẹp chân chất như những bông đào bông lê trên núi đá

Có lẽ không ai có thể lựa chọn cho mình được cách sinh ra Phống cũng thế Phống kém may mắn khi Phống ra đời là từ một cuộc giao dịch hai bên cùng có lợi Phống chỉ đáng giá đánh đổi bằng một con bò không hơn không kém Phống được sinh ra từ một người đàn bà khác nhưng bú sữa, nuôi lớn từ một người khác Phống bị lừa dối từ nhỏ là con ruột của bố mẹ hiện tại cho đến lúc nhận thức được bị lũ trẻ quanh xóm suốt ngày trêu thì Phống giả vờ không để ý nhưng thực ra Phống cảm thấy đau khổ và bất hạnh.Phống sinh ra

là sự sắp đặt lựa chọn của người lớn, Phống không hề sai chỉ có Phống chỉ kém may mắn mà thôi

Mỗi nhân vật trong câu chuyện Lặng yên dưới vực sâu hiện ra như từng

mảnh ghép với từng nét cá tính riêng, họ gắn chặt với nhau bởi sự đau đớn và tủi nhục, có cả bất hạnh Bi kịch từ hoàn cảnh đẩy họ đến những bi kịch khác nhau.Cuộc sống nghèo khổ thiếu túng hay những thân phận côi cút, tội nghiệp sinh ra kém may mắn, họ đều là những nốt lặng trong bản nhạc buồn, thế nhưng bản nhạc đó lại da diết, cuốn trái tim người nghe muốn dõi theo từng

Ngày đăng: 23/06/2019, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w