1 BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO “ NHỮNG VẤN ĐỀ GIỚI VÀ GIA ĐÌNH Ở NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA” Cùng với sự phát triển của đất nước, hàng loạt các chính sách kinh tế-xã hội quan trọng
Trang 11
BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO
“ NHỮNG VẤN ĐỀ GIỚI VÀ GIA ĐÌNH Ở NAM BỘ
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA”
Cùng với sự phát triển của đất nước, hàng loạt các chính sách kinh tế-xã hội quan trọng được thi hành như phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, chính sách giao đất lâu dài cho hộ nông dân, giảm biên chế độ hành chính các cấp, xoá bao cấp trong y tế, giáo dục, văn hoáv.v Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực đó lại nảy sinh những khía cạnh tiêu cực như sự hạn chế trong tiếp cận với nguồn lực, không có tiếng nói, ít được hưởng lợi trong phát triển mà phụ nữ và trẻ em thường là những người phải chịu nhiều thiệt thòi Do vậy, giải quyết mối quan hệ xã hội giữa hai giới nam và nữ, tiến tới mục tiêu công bằng và phát triển bền vững đòi hỏi các nhà khoa học, các nhà làm chính sách và các nhà hoạt động thực tế đặc biệt là những cán bộ phát triển cộng đồng và công tác xã hội cần
xem xét, nghiên cứu để có hướng giải quyết hữu hiệu nhất
Kính thưa quý vị!
Chúng ta đang ở trong kỷ nguyên toàn cầu hóa Nó đã đem lại cho mọi người nhiều cơ hội nhưng kèm theo nó cũng nhiều thách thức Cũng chính nó tạo ra nhiều nghịch lý trong sự lựa chọn của con người Không ít cá nhân, gia đình, thậm chí cả quốc gia đang dần thay đổi
để thích nghi với những bối cảnh đang biến đổi mà đôi khi vẫn phải ngoảnh nhìn lại để xem những thay đổi đó có đáng hay không Người ta muốn tồn tại, muốn bắt nhịp được với cuộc sống, muốn theo kịp thời đại nhưng lại ngỡ ngàng trước những thay đổi của mình Một quốc gia vừa muốn tận dụng những cơ hội của sự hội nhập, của toàn cầu hóa để phát triển, vẫn biết
để làm được điều đó cần phải chấp nhận kinh tế thị truờng, chấp nhận sự cạnh tranh…những lại vẫn muốn giữ một xã hội với những giá trị truyền thống, vốn được hình thành trong một
xã hội nông nghiệp, một cộng đồng mà Tonnies (1887, 1988) gọi là cộng đồng gắn bó (Gemeinschaft) Đó chẳng phải là một nghịch lý sao? Và chúng ta sẽ thấy rằng, những nghịch
lý này đã và sẽ còn tiếp tục diễn ra Nó cũng sẽ được thể hiện trong mọi lĩnh vực và trên mọi cấp độ khác nhau: cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội
Hôn nhân và gia đình là thiết chế xã hội bao gồm hệ giá trị và chuẩn mực phù hợp với từng xã hội cụ thể, đáp ứng những nhu cầu của cá nhân và xã hội Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hôn nhân, gia đình là tác nhân hết sức quan trọng cho sư ổn định
và phát triển xã hội, nhưng đồng thời, dù muốn dù không, chúng cũng chịu sự tác động của
những yếu tố biến đổi xã hội đó
Trang 22
Hôm nay chúng ta tập trung ở đây để cùng nhau trao đổi về mặt học thuật và kinh nghiệm nghiên cứu, tư vấn, những vấn đề trong công tác phát triển cộng đồng và tác nghiệp công tác xã hội về lĩnh vực giới và gia đình trong bối cảnh hiện nay Cám ơn các quý vị đã tới tham dự hội thảo rất có ý nghĩa này
Trong cuốn kỷ yếu mà quý vị cầm trên tay là tập hợp 40 báo cáo của các nhà nghiên cứu và các giảng viên của các viện, trung tâm nghiên cứu và các cơ sở đào tạo khác nhau, trong Nam và cả ngoài Bắc, trong đó có 10 bài viết về chủ đề lý luận chung về giới và gia đình, 14 bài viết về chủ đề giới và 16 bài viết về chủ đề gia đình (tất nhiên sự phân định này cũng chỉ mang tính tương đối) Các báo cáo đã đề cập tới các chủ đề liên quan tới các lĩnh vực khác nhau của giới và gia đình Cụ thể, bao gồm: những vấn đề trong giảng dạy về giới (3 bài); về vai trò và sự xung đột vai trò (2 bài); Sự phân công lao động theo giới (7 bài); Nhận thức và thực hành về bình đẳng giới (5 bài); giới và di dân (1 bài); Những vấn đề về văn hóa, lối sống, mức sống của gia đình (6 bài); Những vấn đề chi phí cho giáo dục của gia đình (2 bài); Những vấn đề về quan hệ vợ chồng trong gia đình (1 bài); những vấn đề về gia đình của các nhóm yếu thế (Người cao tuổi, người dân tộc thiểu số, người nhập cư, trẻ chậm phát triển) (5 bài); Những vấn đề về giá trị gia đình (2 bài); Lý luận và phương pháp luận trong nghiên cứu giới và gia đình: (2 bài) … Đặc biệt, có những bài bài đề cập tới vấn đề giới
và gia đình trong công tác xã hội hay những vấn đề phúc lợi xã hội cho các cô dâu trong hôn nhân xuyên quốc gia (2 bài)
Như vậy, những nội dung của các báo cáo đã bao phủ hầu hết các vấn đề đang diễn ra trong gia đình và xã hội Việt Nam hiện nay Những kết quả trong các báo cáo thể hiện tính khoa học và ý nghĩa thực tiễn cao, rất đáng trân trọng Những phát hiện từ các báo cáo có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, những người làm công tác tuyên truyền, đặc biệt là những người trực tiếp thực hiện công tác phổ biến kiến thức, tư vấn, tác nghiệp về phát triển cộng đồng và công tác xã hội hiểu rõ hơn về các nhóm xã hội khác biệt, đặc biệt là các nhóm yếu thế để đưa ra những nội dung và phương pháp làm việc với họ được hiệu quả hơn, khắc phục tình trạng một chính sách, một cách làm rập khuôn cho các nhóm xã hội khác nhau này
Xin phép được nêu lên một số phát hiện được thể hiện trong các báo cáo với một số lưu ý sau:
Thứ nhất, nhìn từ tiếp cận vĩ mô, một số báo cáo chỉ ra những vấn đề giới trong các quyền theo luật định, chẳng hạn nhà nước ta muốn đảm bảo quyền cho người phụ nữ, tuy nhiên, pháp luật thường có xu hướng bảo vệ cho phụ nữ hơn là việc bình đẳng hóa các cơ hội Hay đối với những vấn đề liên quan tới cơ chế thực hiện bình đẳng giới, họ nhấn mạnh, những đề xướng về giới trong lập pháp và hỗ trợ xã hội thường được thực hiện từ trên xuống,
đã làm giảm đi vai trò của nhà nước trong sáng kiến về giới của mình
Thứ hai, một số phát hiện mang tính nghịch lý nhưng rất thực tế là:
Vấn đề xã hội hóa các dịch vụ công trong bối cảnh kinh tế thị trường là đúng, nhưng
nó cũng để lại nhiều hệ quả Chẳng hạn, việc tư nhân hóa các dịch vụ xã hội hay thị trường hóa gia đình, dẫn tới những tình trạng mà nhiều báo cáo cũng phân tích sâu như những khác biệt giới trong lĩnh vực ý tế, giáo dục và đào tạo… trong chừng mực nào đó, có thể được coi
Trang 33
như những nguyên nhân sâu xa của sự bất bình đẳng trong cách đối xử với phụ nữ và trẻ em, (bạo hành trong gia đình, điều kiện làm việc tồi tệ, vị trí thứ yếu của họ trong mối quan hệ với nam giới v.v…) đã gây ra những áp lực xã hội đáng kể
Vai trò của phụ nữ mở rộng hơn trong các hình thức kinh tế gia đình, các hoạt động nghệ thuật, khoa học và quản lý, tuy nhiên điều này lại mâu thuẫn với những chuẩn mực mang tính truyền thống, khiến cho không ít phụ nữ, đặc biệt những người trẻ tuổi bị rơi vào trạng thái mâu thuẫn trong ứng xử xã hội của họ (thể hiện rất rõ trong các bài viết về định hướng và lựa chọn nghề nghiệp, ứng xử trong gia đình giữa vợ và chồng, giữa họ với gia đình
và dòng họ, trong giáo dục con cái…) Hoặc nữa, áp lực của yếu tố truyền thống tới hành vi sinh sản, đặc biệt giá trị của việc sinh con trai vẫn còn tạo áp lực đáng kể đến phụ nữ, khiến
họ phải tiếp tục sinh con trai trong điều kiện gia đình không thể hỗ trợ được
Ở trong gia đình và ngoài xã hội, khuôn mẫu truyền thống còn chiếm ưu thế trong sự phân công thị trường lao động, dẫn tới sự phân tầng nghề nghiệp theo giới Hay vai trò kép
mà người phụ nữ đang đảm nhận đã tạo ra áp lực rất lớn cho người phụ nữ trong xã hội hiện nay.Những đóng góp của phụ nữ vào công việc sản xuất nói lên vai trò của họ đã thay đổi tuy nhiên, xã hội vẫn kỳ vọng phụ nữ phải tiếp tục một mình gánh vác những công việc tái sản xuất trong gia đình Điều này có mối quan hệ nhân quả tới sự hạn chế trong việc tiếp cận với các nguồn lực và quyền ra quyết định của phụ nữ, đồng thời dẫn tới một thực tế mà nhiều báo cáo nhấn mạnh: tỷ lệ gia đình có cơ cấu dân chủ thấp
Những nghịch lý trong hôn nhân được thể hiện rất rõ nét trong quan niệm và thực hành hôn nhân trong bối cảnh chuyển đổi xã hội: Sự khác biệt trong quan niệm người chồng/vợ lý tưởng, về cách làm quen, về quan niệm về giá trị đạo đức, về trách nhiệm và nghĩa vụ; sự cân bằng giữa cái chung và cái riêng của các gia đình hạt nhân và gia đình lớn của họ, về sự chia
sẻ và giữa riêng tư giữa các cặp vợ chồng v.v…
Những điều này khiến ta nhớ lại kết luận của báo báo tóm tắt tình hình giới ở Việt Nam cách đây hơn 15 năm; “việc vật lộn với những mong muốn (đôi lúc mâu thuẫn với nhau)
đã tạo nên sức ép cho thế hệ trẻ nữ ở VN1 Với những phát hiện của các báo cáo, xem ra tình hình hiện nay cũng không khá hơn nhiều
Thứ ba, những phát hiện về sự chuyển đổi ý nghĩa của Hôn nhân và Gia đình theo hướng chú ý đến cá nhân.Nếu trong xã hội truyền thống, ý nghĩa và quyền lực của hôn nhân chủ yếu xoay quanh các nghĩa vụ xã hội thì dưới tác động của những biến đổi xã hội đã theo
xu hướng hiện đại hoá, tức là ý nghĩa của hôn nhân và gia đình Việt Nam dang dịch chuyển sang xu hướng chú ý đến cá nhân Điều này được xem là phù hợp với bối cảnh biến đổi xã hội hiện nay Các tác giả phân tích: định hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá đồng nghĩa với phát triển kinh tế và những biến đổi trong các lĩnh vực khác như quá trình dân chủ hoá, thế tục hoá, sự di động xã hội, nâng cao mức sống và chất lượng dân cư Trong quá trình đó, gia đình là một trong những thiết chế xã hội cơ bản nhất đối với sự tồn tại và phát triển của cá
1Franklin, 1999, trích theo UNDP, “Tóm tắt tình hình giới ở Việt Nam”, 2002
Trang 4từ giai đoạn này đến giai đoạn khác trong các chu kỳ sống của gia đình.Mặt khác, những giá trị gắn với con cái trong bối cảnh chuyển đổi KT-XH ngày nay cũng có sự thay đổi đòi hỏi sự đầu tư nhiều hơn về nguồn lực và thời gian, dẫn đến sự căng thẳng vai trò của người bố và người mẹ trong chức năng xã hội hoá cũng làm tăng khả năng mâu thuẫn giữa vợ và chồng
Ngoài ra, mâu thuẫn vợ chồng cũng liên quan đến quan hệ gia đình, họ hàng Nhiều báo cáo chỉ ra rằng, mâu thuẫn vợ chồng nảy sinh do ảnh hưởng của những quan niệm bất bình đẳng về vai trò giới truyền thống Cụ thể, nhận thức khác nhau giữa vợ và chồng về nghĩa vụ trong quan hệ đối với họ hàng do sự tồn tại đồng thời của những chuẩn mực cũ và mới về ý nghĩa và quyền lực trong hôn nhân có thể là nguồn gốc làm gia tăng mâu thuẫn vợ chồng Hoặc nữa, mâu thuẫn trong giao tiếp giữa vợ và chồng cũng là lĩnh vực xảy ra nhiều nhất trong đời sống hôn nhân Sự đòi hỏi mang tính cá nhân để thỏa mãn các những nhu cầu khác nhau trong giao tiếp vợ chồng không tránh khỏi mâu thuẫn
Thứ tư, Những bất ổn trong gia đình không được giải quyết ổn thỏa, khiến gia đình dễ rơi vào khủng hoảng Một số tác giả nêu lên những nguyên nhân cóthể làm tỷ lệ ly hôn tăng lên, nhưng quan trọng hơn, họ nhấn mạnh tới những hệ quả của những bất ổn trong gia đình không được giải quyết thỏa đáng Chẳng hạn, bạo hành gia đình với mọi hình thức trên cơ sở giới, trong đó có hiện tượng chồng có thể buộc người vợ phải quan hệ tình dục với mình nhưng phải chịu trách nhiệm trong việc tránh thai, hay ép buộc quan hệ tình dục khi người vợ không mong muốn…
Cuối cùng, các báo cáo cũng quan tâm tới những bất cập trong vai trò của nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc hình hành dư luận xã hội chống lại các hiện tượng bạo hành hay
kỳ thị xã hội đối với các nhóm yếu thế Họ cho rằng, những hành động bạo lực do người chồng gây ra thường không tạo ra sự phê phán trong cộng đồng, thay vào đó, được hiểu là sự thất bại của người vợ Hay thái độ kỳ thị của cộng đồng đối với phụ nữ khi có quan hệ tình dục trứơc hôn nhân, thậm chí đối với những người bị xâm hại về tình dục, hay những người
bị hoàn cảnh dẫn tới một số tệ nạn xã hội Đặc biệt, có những báo cáo đặt vấn đề về sự hạn chế trong công tác phổ biến, tuyên truyền về bình đẳng giới hay công tác đào tạo về giới và phát triển trong các trường học ở các cấp
Quý vị đại biểu kính mến!
Tất cả những vấn đề được nêu ra không phải để chứng minh năng lực nghiên cứu khoa học, hay đánh giá mức độ cao thấp của các hiện tượng trong xã hội hoặc phê phán ai đó Từ những kết quả và những phát hiện đó, một câu hỏi lớn đặt ra cho hội thảo của chúng ta là: vậy, với tư cách là những nhà khoa học về xã hội, những người làm công tác phát triển cộng
Trang 55
đồng, những người làm công tác xã hội cần phải có các hoạt động và các phương pháp cụ thể trong từng lĩnh vực chuyên môn của mình như thế nào để có thể giúp hoàn thiện thể chế và thực thi chính sách đặc biệt là các chính sách về phúc lợi và an sinh xã hội, làm thay đổi nhận thức xã hội cho các nhóm cư dân về bình đẳng giới trong gia đình và ngoài xã hội, nâng cao kiến thức và kỹ năng của các bên tham gia….Có như vậy mới có thể vừa thích nghi được với bối cảnh mới mà vẫn giữa được những nét văn hóa truyền thống của dân tộc Đó là những gợi
ý cho các cuộc thảo luận của các quý vị ở các phiên chuyên môn để làm cho mục tiêu của cuộc hội thảo đạt được tốt nhất
Quý vị đại biểu kính mến!
Nhận thức được tầm quan trọng của các vấn đề về giới và gia đình trong bối cảnh xã hội hiện nay, chúng ta đã tề tựu trong hội trường này ngày hôm nay, tuy nhiên việc này sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự chỉ đạo, sự hỗ trợ, động viên của PGS TS Nguyễn Văn Hiệp, hiệu trưởng nhà trường, PGS.TS Hoàng Trọng Quyền, hiệu phó nhà trường, Ban giám hiệu và sự phối hợp chặt chẽ giữa phòng khoa học và khoa Công tác xã hội Nhân đây, xin phép được thay mặt các nhà khoa học, các giảng viên, các cán bộ trong khán phòng này được bày tỏ sự cám ơn sâu sắc tới thầy hiệu trưởng, ban giám hiệu, phòng khoa học và khoa công tác xã hội, đặc biệt là ban tổ chức, những người đã phải làm việc trước chúng ta rất nhiều tháng trời để chúng ta có cơ hội được gặp gỡ, chia sẻ các ý tưởng, những phát hiện và những kinh nghiệm của mình, cũng như có được sản phẩm quý giá như cái các vị có được trong tay Đồng thời, hi vọng những cuộc hội thảo như thế này sẽ tiếp tục được tổ chức
Một lần nữa xin cám ơn quý vị đã lắng nghe và chúc hội thảo thành công tốt đẹp
Trang 66
PHẦN 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIỚI VÀ GIA ĐÌNH
Trang 77
NGHIÊN CỨU BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM: MỘT SỐ
KHÍA CẠNH PHƯƠNG PHÁP CẦN QUAN TÂM
PGS.TS Nguyễn Hữu Minh
Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới
1 Mở đầu
Các nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Namthường rất quan tâm đến hai vấn đề là phân tích về quyền quyết định và phân công lao động trong gia đình giữa vợ và chồng Dù thực hiện ở các quy mô và địa bàn khác nhau, kết luận khá phổ biến từ các nghiên cứu là người chồng thường quyết định những việc được coi là lớn, là quan trọng trong gia đình còn người vợ quyết định những việc thuộc về đời sống hàng ngày Đối với khuôn mẫu
sự phân công lao động thì thông thường người vợ làm các công việc gia đình, sự chia sẻ của người chồng rất ít ỏi (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và cơ quan khác 2008; Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh 2008; Lê Thái Thị Băng Tâm 2008) Kết quả các nghiên cứu cho thấy một bức tranh hiện thực về các khía cạnh liên quan đến bình đẳng giới trong gia đình, tuy nhiên cũng đặt ra một số điểm cần được quan tâm về mặt phương pháp để có những nhận định thuyết phục hơn và điều hết sức quan trọng là chỉ ra những yếu tố thực sự dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới, từ đó có các biện pháp khắc phục Bài viết này đề cập đến một số khía cạnh cần được quan tâm trong việc đo lường bình đẳng giới và phân tích các yếu tố tác động đối với quyền quyết định trong gia đình và sự phân công lao động giữa vợ và chồng
2 Các chỉ báo đo lường về bình đẳng giới
Một trong những vấn đề khó khăn trong nghiên cứu xã hội chính là việc xây dựng các chỉ báo đo lường nhằm có được những thông tin chính xác về câu hỏi nghiên cứu đặt ra Phân tích về quyền quyết định trong gia đình và sự phân công lao động trong gia đình gắn với vấn
đề bình đẳng giới đòi hỏi phải có được những chỉ báo đo lường chính xác tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình
a) Quyền quyết định trong gia đình
Trước hết là về quyền quyết định trong gia đình Trong mối quan hệ giữa vợ và chồng, việc xác định ai là người có quyền quyết định về các vấn đề trong gia đình thường được coi là
cơ sở để đánh giá thực sự có bình đẳng giới trong mối quan hệ gia đình hay không
Phương pháp chủ yếu hiện nay là xác định ai là người có quyền quyết định chủ yếu hay cuối cùng trong một số lĩnh vực như sản xuất/kinh doanh; mua bán/xây sửa nhà đất; chi tiêu hàng ngày; mua sắm đồ đạc đắt tiền; tổ chức giỗ tết; v.v Nhìn chung người chồng có nhiều quyền quyết định hơn đối với các công việc như sản xuất, kinh doanh; vay vốn; xây sửa nhà đất; mua đồ đạc đắt tiền; vay vốn Chỉ có hoạt động chi tiêu gia đình có tỷ lệ người vợ quyết định cao hơn người chồng rõ rệt Ngoài ra, thông thường người vợ quyết định nhiều hơn đối với các hoạt động như chăm sóc con cái, chăm sóc người già (Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch và cơ quan khác 2008; Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới 2014)
Câu hỏi đặt ra là việc đo lường quyền quyết định trong gia đình như hiện nay đã đủ căn cứ để trả lời về tình trạng bất bình đẳng giới trong đời sống gia đình hay chưa Bất bình
Trang 88
đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam và nữ dẫn đến cơ hội khác nhau, sự tham gia khác nhau, tiếp cận và kiểm soát các nguồn khác nhau và sự thụ hưởng khác nhau mà sự khác biệt này là dựa trên giới tính Nói cách khác, cần phải chỉ ra được rằng việc người chồng hay người vợ có quyền quyết định khác nhau là do dựa trên cơ sở giới tính chứ không phải vì một
lý do nào khác
Như vậy, trước hết cần phải có một cách đo lường chính xác đối với quyền quyết định trong từng lĩnh vực, chẳng hạn đối với sản xuất, kinh doanh thì đó phải là công việc chung của cả gia đình Hầu hết các nghiên cứu hiện nay đều đo lường quyền quyết định qua một câu hỏi chung là lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hay vay vốn mà không chỉ rõ đó là hoạt động chung của cả gia đình (ít nhất là của chung của vợ và chồng) hay ứng với 1 người Hơn thế nữa việc ra quyết định về một lĩnh vực nào đó thường gắn với vấn đề là người làm chính về lĩnh vực Cần thiết phải có sự phân tích gắn kết giữa quyền quyết định và công việc làm chính
để xác định chính xác hơn mức độ bình đẳng trong gia đình
Điểm thứ hai là nếu chúng ta coi sự khác biệt về tỷ lệ ra quyết định về các lĩnh vực là chỉ báo về bất bình đẳng giới thì mục tiêu chúng ta phấn đấu trong tương lai là như thế nào?
Sẽ là nâng tỷ lệ phụ nữ có quyền quyết định cuối cùng lên ngang bằng với nam giới hay mục tiêu chính sẽ là mô hình cả hai đều ra quyết định?
Điểm thứ ba, cần có sự phân tích sâu hơn để đánh giá tổng thể về bình đẳng giới trong việc ra quyết định Chẳng hạn, thông thường nam giới quyết định nhiều hơn phụ nữ trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chung hay hôn nhân con cái, còn phụ nữ quyết định nhiều hơn nam giới trong lĩnh vực nuôi con và chi tiêu hàng ngày trong gia đình Như vậy, ngoài việc đánh giá mức độ khác biệt đối với từng lĩnh vực thì cần xây dựng chỉ số đánh giá chung về mức độ bình đẳng giới trong việc ra quyết định
Điểm thứ tư, các nghiên cứu mới nhấn mạnh đến thu thập thông tin định lượng mô tả
tỷ lệ ai là người ra quyết định mà chưa chú ý đến quá trình và sự tương tác giữa vợ và chồng trong việc ra quyết định Thực tế việc ra quyết định là một quá trình phức tạp, đòi hỏi có thời gian cân nhắc, bàn bạc, ra quyết định Có thể quyết định cuối cùng là do người vợ hay người chồng quyết định nhưng sự tham gia dân chủ của người còn lại có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân tích về bình đẳng giới Tuy nhiên, hiện nay, các nghiên cứu mới chỉ chú ý đến kết quả về ra quyết định hơn là quá trình đi đến quyết định đó
b) Về sự phân công lao động theo giới trong gia đình
Khi nghiên cứu về phân công lao động theo giới trong gia đình, tập trung chủ yếu của các tác giả là phân công công việc nội trợ (nấu ăn, đi chợ, giặt giũ, v.v.), một loại hình công việc mà gần như kết quả có thể đoán trước, đó là người phụ nữ làm là chính Sự phân công trong các lọai hình công việc khác như sản xuất, kinh doanh gia đình, giao tiếp, hay sửa chữa các vật dụng trong gia đình, khiêng vác, v.v còn ít được đề cập đến hoặc chỉ được phân tích một cách riêng rẽ Vì vậy việc đánh giá một cách tổng hợp, chính xác về sự tham gia của hai giới vào lao động gia đình có những khó khăn nhất định
Cách đo lường hiện nay về phân công lao động trong gia đình chủ yếu là liệt kê các công việc và hỏi xem ai là người chủ yếu làm những công việc đó mà không chú ý đến sự khác biệt về thời gian dành cho các loại công việc cả trong và ngoài gia đình Nếu chỉ dùng tiêu chí ai là người chủ yếu làm những công việc nhà, thậm chí có phân tích thêm tiêu chí thời gian làm những công việc nhà đó, thì chưa đủ để kết luận chính xác về những lý do gắn liền
Trang 99
với sự phân công lao động theo giới trong gia đình Trong rất nhiều trường hợp, khi người vợ
là người chủ yếu làm những công việc nhà, thì cũng trong thời gian đó người chồng nhọc nhằn với những kiếm sống hàng ngày cho gia đình Nói cách khác, không xác định được thời gian dành cho công việc gia đình và những công việc ngoài gia đình, hiệu quả của nó thì rất khó đánh giá về mức độ bất bình đẳng của phân công lao động trong gia đình
Vấn đề lượng hóa giá trị các công việc gia đình chưa được quan tâm một cách thích đáng Việc xem xét xu hướng thay đổi về phân công lao động trong gia đình cũng gặp khó khăn vì hầu hết là các nghiên cứu được đo tại một thời điểm và không có cơ sở để so sánh giữa các địa bàn khác nhau do không bảo đảm tính chất đại diện, ngoại trừ việc so sánh với khuôn mẫu phân công lao động truyền thống
Vấn đề khó khăn hơn nhiều so với việc chỉ ra thực trạng phân công lao động theo giới trong gia đình chính là mối quan hệ giữa việc phân công lao động theo giới với vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam
Phân công lao động theo giới trả lời câu hỏi "ai làm gì?" và cho phép chỉ ra những khác biệt và bất hợp lý từ góc độ giới trong công việc, lợi ích và địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới Vì vậy, phân tích phân công lao động theo giới là rất quan trọng để tìm hiểu vấn đề bình đẳng giới trong gia đình (Lê Thi 2002, Đỗ Thị Bình và Trần Thị Vân Anh 2003).Tuy nhiên, trong thực tế còn ít người đưa ra các tiêu chí đo lường cụ thể về quan hệ giữa hai vấn
đề này Một yêu cầu quan trọng của việc phân tích bình đẳng giới ở đây là lượng hóa bằng tiền sự đóng góp của người phụ nữ thông qua các công việc nội trợ trong gia đình, hơn thế nữa, phải chỉ ra được mối liên hệ giữa những đóng góp của họ với địa vị còn thấp kém của phụ nữ do bị nhìn nhận không phải là trụ cột kinh tế Nói cách khác, đồng thời với việc lượng hóa đúng giá trị đóng góp của người phụ nữ thông qua lao động trong gia đình, cần phải chỉ
ra được thái độ của những người trong gia đình, đặc biệt là người chồng, đối với người vợ và đóng góp của vợ từ những công việc gia đình Như Đỗ Thị Bình và Trần Thị Vân Anh (2003) nhấn mạnh, sẽ là bất bình đẳng nếu một người vợ/hoặc chồng thực hiện công việc nhà vất vả nhưng người còn lại coi thường những công việc đó, coi đó là những công việc “vặt vãnh”
Trong thực tế, quan niệm của người dân về mức độ công sức và thời gian bỏ ra cho các công việc nội trợ cũng khác nhau Có ý kiến cho rằng công việc này rất tốn thời gian và công sức, có ý kiến thì cho rằng chỉ tốn thời gian mà không tốn công sức và ngược lại Tuy nhiên, nhìn chung dù người trả lời là chồng hay vợ thì cũng đã nhìn thấy được phần nào giá trị và công sức của người thực hiện công việc nội trợ phải bỏ ra (Đặng Thanh Nhàn 2005) Chính
sự phát triển của kinh tế thị trường cùng với việc mở rộng cơ hội việc làm, đặc biệt là cho những người phụ nữ nông thôn ra đô thị tìm kiếm việc làm đã tạo điều kiện để nâng cao giá trị các công việc nội trợ và làm cho người chồng đánh giá ngày càng đúng hơn những đóng góp của người vợ trong các công việc gia đình
Đánh giá cao những đóng góp về thời gian, công sức và tiền bạc của người vợ, người phụ nữ chủ yếu làm công việc nội trợ trong gia đình là một dấu hiệu tốt thể hiện sự trân trọng của các thành viên gia đình đối với những công việc mệt mỏi, buồn tẻ nhưng rất quan trọng này Đó là một chỉ báo cần phân tích khi nghiên cứu về bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình giữa vợ và chồng
Như vậy, ngoài các tiêu chí "người chủ yếu thực hiện các công việc nội trợ", "thời gian thực hiện các công việc nội trợ", cần có thêm tiêu chí "sự đánh giá" của vợ và chồng về việc
Trang 1010
thực hiện công việc nhà Sự đánh giá của mỗi giới cần được xem là vấn đề cốt lõi khi bàn về vấn đề bình đẳng Nếu như người vợ, hoặc người chồng làm công việc nội trợ, trong khi người còn lại đóng vai trò trụ cột về kinh tế, thì điều đó có thể vẫn được coi là bình đẳng nếu như lao động làm công việc nhà được đánh giá như những lao động kiếm sống khác, một lao động với những hao tổn về thời gian, sức lực và đem lại giá trị kinh tế Chính vì thế, không thể bỏ qua tiêu chí này khi xem xét vấn đề bình đẳng giới trong thực hiện công việc nội trợ Tác giả Lê Ngọc Văn cho rằng "Trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế với chính sách lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất, phân công lao động theo giới trong các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam không giảm đi mà có chiều hướng tăng lên Tuy nhiên, phân công lao động theo giới trong gia đình tăng lên không hoàn toàn đồng nghĩa với tăng bất bình đẳng giới" vì "Không có cơ sở để nói rằng phân công lao động theo giới ở nông thôn Việt Namhiện nay dẫn đến sự phụ thuộc hoặc phục tùng của phụ nữ đối với nam giới" (Lê Ngọc Văn, 1999:
159 và 166) Tác giả khẳng định rằng phân công lao động theo giới trong gia đình là một điều tất yếu khách quan, nhằm tăng tối đa thu nhập và phúc lợi của hộ Và "chỉ nên xoá bỏ những hình thức phân công lao động theo giới nào dẫn đến sự phụ thuộc và phục tùng của phụ nữ đối với nam giới Nhưng cũng cần duy trì và phát huy những hình thức phân công lao động tạo nên sự hợp tác giữa hai giới." (Lê Ngọc Văn, 1999: 169) Tuy nhiên, sự phân công lao động nào sẽ dẫn đến sự phục tùng của người phụ nữ đối với nam giới và sự phân công lao động nào dẫn đến sự hợp tác giữa hai giới vẫn còn là một câu hỏi đặt ra đối với các nhà nghiên cứu
Trong thực tế, nhiều nghiên cứu vẫn mặc nhiên coi phân công lao động theo giới trong gia đình là chỉ báo về bất bình đẳng, thay vì có một sự thao tác hóa khái niệm chặt chẽ và phân tích cụ thể về mức độ bất bình đẳng thể hiện như thế nào qua phân công lao động theo giới Đó là chưa kể đến việc gắn một cách đơn giản sự phân công lao động trong gia đình với thực trạng bình đẳng giới mà thiếu sự phân tích toàn diện các yếu tố kinh tế-nhân khẩu-văn hóa khác nhau tác động đến sự phân công đó
Còn có ít nghiên cứu đề cập về hậu quả của sự khác biệt giới trong phân công lao động gia đình hay tác động của nó đến vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình Một ảnh hưởng có thể thấy rõ là hoạt động của người phụ nữ chủ yếu bị giới hạn trong phạm vi gia đình Trong khi đó nam giới được chuẩn bị để tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội ngoài phạm vi gia đình, có cơ hội để thăng tiến trong nghề nghiệp và thu nhập cao Điều này
có thể tạo nên những xung đột về vai trò, trách nhiệm cũng như khác biệt đóng góp thu nhập giữa phụ nữ và nam giới (Lê Ngọc Văn 2002: 55)
Một hệ quả khác là các công việc chăm sóc, nuôi dưỡng, cho đến nay vốn do phụ nữ thực hiện là chính, thường không được lượng hoá bằng tiền Do vậy khi tính đến việc đóng góp kinh tế cho gia đình thì phụ nữ thường bị đánh giá thấp và được coi là có vai trò kém hơn nam giới (Đỗ Thị Bình và Trần Thị Vân Anh 2003: 25) Do đó, cần có sự đánh giá công bằng cho những lao động dường như là nhỏ nhặt, vụn vặt trong gia đình của người phụ nữ so với những lao động dễ định lượng khác của nam giới Chúng ta còn chưa kể đến một việc cực kỳ quan trọng khác, chỉ có một mình phụ nữ “làm”, không thể chia sẻ giữa vợ và chồng, đó là mang thai, sinh đẻ và cho con bú Đây là sự phân công lao động bị quyết định bởi sinh học, nhưng có rất nhiều hàm ý kinh tế-xã hội-văn hóa đối với mối quan hệ giới giữa chồng và vợ trong gia đình Sự phân công này ít được chính các cặp vợ chồng và cả xã hội nhìn nhận là có
Trang 1111
liên quan đến sự công bằng trong phân công lao động nói chung Điều này hầu như bị bỏ quên trong các nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình
3 Phân tích các yếu tố tác động đến bình đẳng giới
Một vấn đề đặt ra là việc vận dụng các lý thuyết trong phân tích quyền quyết định hay
sự phân công lao động theo giới chưa được coi trọng trong các phân tích thực nghiệm Vậy thì cần quan tâm những vấn đề gì khi vận dụng các lý thuyết trong phân tích về quyền quyết định hay phân công lao động ở Việt Nam? Chẳng hạn, theo Lý thuyết phân bổ nguồn lực tương đối (Blood và Wolfe 1978), người có nhiều nguồn lực hơn sẽ bình đẳng với vợ/chồng hơn trong việc quyết định các công việc gia đình Có 3 nguồn lực quan trọng quyết định cán cân quyền lực của vợ và chồng trong gia đình là thu nhập, ưu thế nghề nghiệp và trình độ học vấn Như vậy, giả thuyết có thể rút ra là người có ưu thế nghề nghiệp, học vấn cao hoặc thu nhập cao sẽ có ứng xử bình đẳng hơn trong quan hệ giới với các quyết định trong gia đình Trong hầu hết các nền văn hoá, nam giới thường có lợi thế hơn phụ nữ trong việc tiếp cận 3 nguồn lực này và kết quả là họ thường có quyền hơn trong gia đình (Dẫn theo Phạm Thị Huệ, 2008:370)
Tuy nhiên, vai trò của các yếu tố liên quan đến nguồn lực giới được phát huy tác dụng khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế-xã hội và nền văn hóa Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ở Việt Nam không phải lúc nào cũng có quan hệ tỷ lệ thuận giữa đóng góp thu nhập, ưu thế nghề nghiệp đối với vấn đề quyền quyết định trong gia đình Các tác giả Mai Huy Bích và
Lê Thị Kim Lan (1999) chỉ ra rằng trong khi người vợ là người đảm nhận hầu hết các công việc, thậm chí họ mang lại thu nhập chính cho gia đình, nhưng trong nhiều gia đình, phần lớn quyền quyết định thuộc về người chồng, người vợ chỉ là người thực thi các quyết định đó Ở đây cho thấy, yếu tố văn hoá có ý nghĩa quan trọng tác động đến vai trò của vợ và chồng trong việc ra quyết định Ý thức hệ tư tưởng trọng nam khinh nữ truyền thống ở Việt Namcho rằng, đàn ông có uy quyền trong gia đình và là người lãnh đạo gia đình, do đó là người quyết định các công việc trong gia đình
Như vậy, bên cạnh việc vận dụng lý thuyết về phân bổ nguồn lực tương đối thì việc chú ý đến vai trò của các yếu tố văn hoá là rất quan trọng Cần thiết phải tính đến các cách tiếp cận khác nhau khi đánh giá vai trò của từng yếu tố đối với việc ra quyền quyết định Tương tự như vậy khi đi tìm lý thuyết thích hợp giải thích cho sự phân công lao động theo giới trong gia đình ở Việt Nam Các cách tiếp cận Mác xít, cấu trúc-chức năng hay nữ quyền
đã thành công trong việc cung cấp cách giải thích lý thuyết đối với vấn đề phân công lao động theo giới cho nhiều xã hội và tại nhiều giai đoạn phát triển (Lê Ngọc Văn 2008) Tuy nhiên, việc vận dụng các tiếp cận lý thuyết này để giải thích cho thực tế phân công lao động theo giới trong gia đình ở Việt Namcòn chưa được quan tâm nhiều Ngoài ra, bên cạnh các lý thuyết đó, liệu còn có lý thuyết nào có thể vận dụng để lý giải về sự phân công lao động theo giới hiện nay Chẳng hạn, vận dụng lý thuyết hiện đại hoá của Goode (1963) có thể rút ra giả thuyết là những người có học vấn cao hơn, sống ở khu vực đô thị sẽ có sự phân công lao động trong gia đình một cách bình đẳng hơn giữa vợ và chồng Các phân tích thực nghiệm cần kiểm chứng lại giả thuyết đó
Các yếu tố kinh tế, văn hoá cũng góp phần lý giải cho khuôn mẫu phân công lao động theo giới hiện hành Chẳng hạn, xét về yếu tố kinh tế, một trong những lý do dẫn đến sự phân
Trang 1212
công lao động trong gia đình hiện tại là việc thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi ích của gia đình Lợi ích của gia đình có thể tính theo nhiều chiều cạnh khác nhau nhưng trong trường hợp này chủ yếu là lợi ích kinh tế Việc phân công lao động trong gia đình cần làm sao để bảo đảm gia đình có được lợi ích kinh tế cao nhất Lập luận của người dân là nếu người vợ hay người chồng đã phải vất vả để lao động kiếm tiền thì người còn lại nên chịu trách nhiệm về các công việc trong gia đình (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và cơ quan khác 2008)
Nhiều người dân cho rằng, sự phân công lao động theo giới “đàn ông làm việc nặng, đàn bà làm việc nhẹ” như vậy là hợp lý trong điều kiện lao động kỹ thuật và cơ giới chưa phổ biến ở các vùng nông thôn, miền núi và đặc điểm sinh học của mỗi giới còn có vai trò quan trọng trong sản xuất (TLĐD 2008: 76)
Chính với ý nghĩa để tối đa hoá lợi ích chung của gia đình, trong thực tế, khi người phụ nữ tham gia vào các công việc sản xuất và hoạt động xã hội thì công việc gia đình hầu như được chia sẻ nhiều hơn giữa vợ và chồng Đặc biệt, đối với những hộ gia đình mà người
vợ đóng vai trò trụ cột kinh tế thì sự tham gia của họ đối với việc nội trợ, chăm sóc chồng con giảm đi đáng kể Trong những trường hợp này, vai trò truyền thống của người vợ chăm lo các công việc gia đình được chuyển giao cho người chồng hoặc các thành viên khác trong gia đình hoặc mua dịch vụ (như thuê người giúp việc) Xu hướng trong xã hội hiện đại là ngày càng chuyển sang mua dịch vụ đối với nhiều việc gia đình, kể cả chăm con nhỏ, người cao tuổi, nấu cơm, giặt giũ, dọn nhà, v.v
Đối với yếu tố văn hoá, điểm nổi bật nhất là định kiến giới truyền thống cho rằng đàn ông như cột cái trong nhà, họ phải là người quyết định mọi việc hay chí ít là quyết định những việc lớn Quan niệm truyền thống về vai trò giới còn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ dân cư và có ý nghĩa chi phối rất lớn đối với sự phân công lao động trong gia đình Theo quan niệm này, những công việc gia đình phải do phụ nữ đảm nhiệm, còn nam giới phải làm việc quan trọng Nói cách khác việc nội trợ bị coi là “thiên chức” của phụ nữ! Quan niệm này không chỉ thể hiện ở nam giới mà cả ở phụ nữ (Lê Thái Thị Băng Tâm 2008)
Một định kiến giới truyền thống khác là việc cho rằng nếu một phụ nữ thương chồng, thương con thì phải biểu hiện tình thương đó qua việc dành thời gian và công sức chăm lo cho gia đình Người phụ nữ được dạy như vậy từ nhỏ và tất cả mọi người, cả nam và nữ, đều nhập tâm quan niệm đó và chờ đợi người phụ nữ thể hiện tình thương (nếu có) qua các việc chăm lo cho gia đình Vì vậy, người phụ nữ luôn cố gắng làm mọi việc trong gia đình Họ không quan tâm nhiều tới điều những công việc đó vất vả như thế nào, có ảnh hưởng đến sự phát triển của bản thân họ hay không mà coi đó như là trách nhiệm và niềm hạnh phúc của mình, cho dù người phụ nữ cũng phải gánh vác các công việc xã hội khác Nhiều phụ nữ cho rằng một gia đình hạnh phúc thì không thể thiếu một người vợ đảm đang trong công việc nội trợ, biết thu vén mọi công việc Bị tác động nặng nề của quan niệm văn hóa truyền thống đó, thậm chí, một số phụ nữ cho rằng, không ai ngoài họ có thể làm tốt những công việc nội trợ, gia đình mà thiếu vắng bàn tay chăm sóc của phụ nữ thì sẽ khó mà nề nếp được (Đặng Thanh Nhàn 2005) Như vậy, quan niệm truyền thống được phụ nữ duy trì tiếp tục nuôi dưỡng sự khác biệt vốn có trong phân công lao động gia đình giữa vợ và chồng theo chuẩn mực văn hóa
Chính vì định kiến giới như vậy nên nhiều người cho rằng việc người phụ nữ đảm nhận các công việc nhà là đương nhiên và không có gì là bất công cả Đối với họ, phụ nữ làm
Trang 1313
những công việc này là khá phù hợp Khi được hỏi: “Công việc nội trợ có phải là thiên chức của phụ nữ hay không?” Hầu hết các ý kiến (cả nam lẫn nữ) ở một số cuộc nghiên cứu khác nhau đều trả lời là đúng, thậm chí ý kiến của phụ nữ đồng ý về việc này còn cao hơn so với nam giới (Đặng Thanh Nhàn 2005, Vũ Thị Thanh 2007)
Những thành kiến giới về công việc nội trợ sẽ cản trở sự thay đổi của mô hình phân công lao động truyền thống Chính nhiều người phụ nữ đã tự gắn mình với vai trò người nội trợ trong gia đình
Như vậy cần có các phân tích sâu hơn những logic xã hội ẩn đằng sau sự phân công lao động theo giới trong gia đình ở Việt Namvà tìm ra những điều hợp lý hay bất hợp lý của
sự phân công lao động hiện tại Cần chỉ ra vì sao khuôn mẫu của sự phân công lao động theo giới trong gia đình có thể tồn tại lâu dài như vậy
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm về quyền quyết định và sự phân công lao động theo giới trong gia đình ở Việt Namchủ yếu vẫn chỉ dừng ở các mô tả đơn biến về đặc điểm quyền quyết định, thực trạng sự phân công cũng như phân tích tương quan 2 biến mối quan hệ giữa quyền quyết định, sự phân công lao động theo giới và một số đặc điểm hộ gia đình và cá nhân Những phân tích hai biến hàm chứa khả năng đưa ra nhận định sai lầm về mối quan hệ giữa các yếu tố với quyền quyết định và sự phân công lao động theo giới, bởi lẽ trong mỗi yếu tố đều có đặc điểm của các yếu tố khác mà cách phân tích này không cho phép bóc tách được vai trò của từng yếu tố Ví dụ, trong nhóm dân cư ở đô thị hay nông thôn (yếu tố khu vực sống) có các nhóm với học vấn khác nhau (yếu tố học vấn) hay thu nhập khác nhau (yếu
tố thu nhập) Như vậy trong quan hệ giữa hai biến số khu vực sống và phân công lao động đã
ẩn chứa tác động của yếu tố học vấn hay thu nhập mà cách phân tích này chưa chỉ ra chính xác được
Nếu sử dụng các mô hình phân tích đa biến thì kết luận có thể khác Chẳng hạn, trong cuộc khảo sát về nhận thức và thái độ về gia đình của dân cư Hà Nội 2010, khi phân tích hai biến về mối quan hệ giữa khuôn mẫu việc làm của phụ nữ với mô hình ra quyết định trong gia đình cho thấy các yếu tố nơi ở (đô thị/nông thôn), việc làm của người chồng (được trả công/không được trả công) và mức sống hộ gia đình (khá giả/trung bình/nghèo) đều có mối quan hệ chặt chẽ với việc người vợ có phải là người ra quyết định chính hay không Tuy nhiên, khi đưa các yếu tố này vào mô hình phân tích đa biến cùng với nhiều yếu tố khác thì các yếu tố này không có tác động mạnh đến việc người vợ có là người ra quyết định chính hay không khi giữ các yếu tố khác không đổi (Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới 2014) Vì vậy, mặc dù có những đóng góp nhất định mô tả bức tranh chung về quyền quyết định hay sự phân công lao động theo giới ở Việt Namhiện nay, việc dừng lại ở các phân tích hai biến chưa giúp ích nhiều cho việc xác định các nguyên nhân tác động, trên cơ sở đó nhìn nhận rõ hơn bản chất của vấn đề ra quyết định hay phân công lao động theo giới và có những đề xuất thích hợp đối với công tác hoạch định chính sách
Như vậy, việc vận dụng các lý thuyết có liên quan hoặc học hỏi từ những gợi ý của các nghiên cứu đi trước để tạo thêm những biến số phân tích mới nhằm chỉ ra những mối quan hệ thực sự giữa khuôn mẫu quyền quyết định hay sự phân công lao động trong gia đình và các yếu tố kinh tế-xã hội là rất cần thiết Chẳng hạn, để tính đến vai trò của yếu tố chu trình sống của gia đình, một số tác giả đã không chỉ dừng lại ở việc phân tích về phân công lao động theo giới trong gia đình vào thời điểm hiện tại mà còn phân tích quá trình thay đổi sự phân
Trang 1414
công lao động đó theo chu trình sống của gia đình, cho dù cách chia mốc thời gian còn đơn giản là so sánh lúc mới kết hôn và thời điểm hiện tại (Đỗ Thiên Kính 2007, Vũ Thị Thanh 2007) Các tác giả Vũ Tuấn Huy và Deborah (2004), khi phân tích các yếu tố tác động đến việc thực hiện công việc nội trợ, thấy rằng sự tham gia của người chồng có thể phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố nghề nghiệp (đo lường bằng việc người chồng có đi làm ăn xa hay không) Điều đó gợi ra ý tưởng phân tích thêm vai trò của yếu tố nghề nghiệp và sự chuyển đổi nghề nghiệp ở nông thôn hiện nay khi tìm kiếm nguyên nhân của thực trạng phân công lao động theo giới trong gia đình Cũng như vậy, việc phân công lao động trong gia đình phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố cơ cấu nhân khẩu và nghề nghiệp của hộ gia đình, trong khi những yếu tố này còn ít được các nghiên cứu đề cập Nếu gia đình có nhiều người thì khả năng công việc gia đình được các thành viên khác thực hiện chứ không phải người vợ sẽ cao hơn Những người chồng hay đi công tác xa sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ người vợ đảm nhiệm công việc gia đình v.v (xem thêm Trần Quý Long 2007)
Điều đó gợi ý rằng cần phải quan tâm đến nhiều yếu tố hơn trong phân tích, đồng thời
áp dụng những phương pháp thích hợp nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các đặc điểm cá nhân
và hộ gia đình với phân công lao động theo giới Những công cụ phân tích thống kê hiện đại
có thể giúp ích nhiều cho các nhà nghiên cứu trong việc đi tìm đặc trưng sự phân công lao động theo giới trong gia đình và bản chất các mối quan hệ giữa khuôn mẫu phân công lao động đó với các yếu tố kinh tế-xã hội ở Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Blood, Robert B.; Wolfe, Donald M 1978 Husbands & Wives: the Dynamics of Married
Living Westport: Greenwood Press
2 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Tổng cục Thống kê, Viện Gia đình và Giới, và Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc 2008 Kết quả điều tra Gia đình Việt Namnăm 2006 Hà Nội 6-2008
3 Đỗ Thị Bình, Trần Thị Vân Anh (2003), Giới và công tác giảm nghèo, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội
4 Đỗ Thiên Kính 2007 Mẫu hình việc làm và nghề nghiệp của hai vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam Tạp chí Xã hội học, số 3 (99) Tr 37-46
5 Lê Ngọc Văn 1999 Xoá bỏ phân công lao động theo giới: thực tiễn trong các gia đình
nông thôn Việt Nam Trong Nguyễn Linh Khiếu (chủ biên): Nghiên cứu và đào tạo giới ở
Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 155-169
6 Lê Ngọc Văn 2008 Vài nét về lịch sử và các phân tích lý thuyết về phân công lao động
theo giới trong gia đình Báo cáo tại Hội thảo công bố kết quả nghiên cứu khoa học của Viện
Gia đình và Giới năm 2007 Hà Nội 2008
7 Lê Thái Thị Băng Tâm 2008 Phân công lao động và ra quyết định trong gia đình Chương
5 trong Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh (chủ biên) 2008 Viện Khoa học xã hội Việt Nam 2007 Bình đẳng giới ở Việt Nam(Phân tích số liệu điều tra) Nhà xuất bản Khoa học xã
Trang 1515
hội Hà Nội Trang 142-173
8 Lê Thi 2002 Gia đình Việt Namtrong bối cảnh đất nước đổi mới, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội
9 Mai Huy Bích, Lê Thị Kim Lan, 1999 “Địa vị phụ nữ ngư dân ở một số làng đánh cá miền
Trung” Tạp chí Xã hội học, Số 3&4 Hà Nội
10 Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh (chủ biên) 2009 Bạo lực gia đình đối với phụ
nữ ở Việt Nam-Thực trạng, Diễn tiến và Nguyên nhân NXB KHXH Hà Nội
11 Nguyễn Hữu Minh, & Trần Thị Hồng (2011) Tình hình bạo lực trong quan hệ giữa vợ và chồng In trong Chuyên khảo của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Unicef & Viện Nghiên
cứu Gia đình và Giới: Các mối quan hệ trong gia đình Việt Nam(Một số kết quả phân tích sâu
Điều tra gia đình Việt Namnăm 2006) Hà Nội
12 Phạm Thị Huệ (2008) Quan hệ quyền lực vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp Yên Bái, Tiền Giang và Thừa Thiên Huế In Trịnh Duy Luân (Ed.),
Gia đình nông thôn Việt Namtrong chuyển đổi (tr.369-398) Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội
13 Tổng Cục Thống Kê (TCTK) 2010 “Im lặng là chết”: Kết quả nghiên cứu quốc gia về
bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam, Hà Nội: 2010
14 Trần Quý Long 2007 Lao động nội trợ của phụ nữ trong gia đình nông thôn Tạp chí Xã
hội học, số 4 (100), 2007 Trang 82-89
15 Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh (chủ biên) 2008 Bình đẳng giới ở Việt
Nam(Phân tích số liệu điều tra) Nhà xuất bản Khoa học xã hội
16 Vũ Tuấn Huy và Deborah S Carr 2000 Phân công lao động nội trợ trong gia đình Tạp
chí Xã hội học, số 4-2000 Tr 43-52
17 Vũ Thị Thanh 2007 Bất bình đẳng giới trong quan hệ giữa vợ - chồng ở gia đình nông
thôn Việt Nam hiện nay Báo cáo điền dã, Lớp Liên ngành KHXH khóa 5
Trang 16Tham luận đề cập đến thực trạng về việc thực thi chính sách về giới và gia đình ở Việt Nam thông qua một cuộc điều tra của tổ chức ISEE năm 2015 Nhân viên xã hội còn có thể tham khảo những thông tin về Đề án “ Giảm thiểu bạo lực gia đình ở các vùng nông thôn giai đoạn 2015-2020”
Cuối cùng, tham luận bàn luận về sự đóng góp của xã hội vào việc thay đổi nhận thức
về giới và gia đình Đây là một việc làm không phải dễ dàng đối với nhân viên xã hội, vì vậy
họ phải huy động nguồn lực bên trong và bên ngoài mới mong góp phần vào kết quả chung Ngoài ra việc đào tạo công tác xã hội cũng rất cần thiết, tuy nhiên cần vận dụng quan điểm
về giới và gia đình trong giáo dục một thế hệ nhân viên xã hội biết áp dụng các phương pháp công tác xã hội một cách hài hòa, hiệu quả
-
1 Dẫn nhập
Thế giới loài người đã bước vào thiên niên kỷ thứ ba được mười lăm năm, gần đây (7/2015) con tàu vũ trụ của NASA (Mỹ) mang tên New Horizons (Những chân trời mới) thực hiện chuyến thám hiểm Diêm Vương Tinh (Pluto) cách trái đất đến 4,8 tỷ km từ trước tới nay chưa hề “đặt chân” tới Ngoài ra, con người còn đạt được nhiều thành tựu lớn khác trong nhiều lĩnh vực khác nữa, nhưng con người ở nơi này nơi kia vẫn còn chật vật trong việc thoát
Trang 17Ngày nay, tình hình có nhiều thay đổi đáng kể nhất là sau khi nước ta thực hiện chính sách Đổi Mới, ban hành nhiều chính sách nhằm khẳng định quan điểm bình đẳng giới, xây dựng gia đình hạnh phúc Khoa học công tác xã hội cũng đưa giới vào quan điểm, đạo đức nghề nghiệp để nhân viên xã hội thực thi công việc giải quyết vấn đề xã hội của thân chủ Bài viết này chỉ nêu lên và bàn luận một số điểm tích cực và những cản trở trong quá trình đưa vấn đề giới vào cuộc sống dựa theo cách tiếp cận của công tác xã hội
2 Vị trí của Giới và Gia đình trong Công tác Xã hội
Công tác xã hội từ lâu đã khẳng định quan điểm tôn trọng nhân phẩm con người, thừa nhận sự đa dạng của các nhóm dân cư khác nhau Giá trị này thừa nhận một thực tế là nhân viên xã hội thực hiện công việc của mình với các loại hình dân cư như những nhóm dân tộc khác nhau; nhóm dân thiểu số, văn hóa, giai cấp, giới, khuynh hướng tình dục, tôn giáo, khả năng thể chất và tinh thần, tuổi tác và nguồn gốc dân tộc khác nhau
Tinh thần ấy còn được nêu lên trong Tuyên bố về Đạo đức nghề nghiệp công tác xã hội của hai tổ chức quốc tế ngành công tác xã hội là Liên đoàn quốc tế nhân viên xã hội (IFSW – International Federation of Social Workers) và Hiệp hội Quốc tế các trường công tác
xã hội (IASSW – International Association of Schools of Social Work) Trong tuyên bố này,
ở phần nói về Công bằng xã hội nhấn mạnh đến việc nhân viên xã hội có trách nhiệm đấu tranh với sự phân biệt đối xử về năng lực, tuổi tác, văn hóa, giới hoặc giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế-xã hội, chính kiến, màu da hay những đặc điểm thể chất khác, khuynh hướng tình dục hay niềm tin tinh thần2
Khi tham gia giải quyết vấn đề cho cá nhân, nhóm hay cộng đồng, nhân viên xã hội áp dụng nhiều cách tiếp cận phù hợp Gia đình là một yếu tố không thể thiếu trong khi xem xét điểm mạnh và hạn chế của hệ thống sinh thái Con-người-trong-môi trường (PIE) là cách tiếp cận nghiên cứu bối cảnh sống của thân chủ trong môi trường trong đó gia đình có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi của các thành viên
Gần đây, trong Chương trình nghị sự toàn cầu về công tác xã hội và phát triển xã hội (Global Agenda for Social Work and Social Development) được đưa ra ở hội nghị quốc tế về công tác xã hội ở Hồng Kong năm 2010 có đề cập đến vấn đề những vấn đề gia đình và mối quan hệ nhân sự và những thách thức có liên quan đến sự chuyển biến của thế giới như: trẻ
em và gia đình, người khuyết tật, người cần dịch vụ sức khỏe và sức khỏe tâm thần, người đang già hóa, người có vấn đề nghiện ma túy và các chất gây nghiện, người bị bạo hành trong gia đình và có vấn đề trong quan hệ thân thuộc
2
Lê Chí An, Công tác xã hội nhập môn, Đại học Mở-Bán công TP.HCM, 2006
Trang 18Trong giai đoạn 2012 – 2020, ngành công tác xã hội thế giới tiếp tục với những cam kết sau đây đã được nêu trong Chương trình nghị sự toàn cầu về công tác xã hội và phát triển
xã hội với các chủ đề :
- Thúc đẩy công bằng xã hội và công bằng kinh tế
- Thúc đẩy và đề cao phẩm giá và giá trị của con người
- Làm việc cho sự bền vững môi trường
- Tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của mối quan hệ nhân sự
Một cách tiếp cận mới góp phần giải quyết vấn đề giới và gia đình là Sáng kiến Sàn
An sinh Xã hội (Social Protection Floors) do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) đưa ra trong đó nêu lên một số đóng góp của Sàn An sinh Xã hội ở mỗi nước :
- Ngăn ngừa và giảm nghèo khó, thúc đẩy sự cố kết xã hội và nhân phẩm của nhóm người dễ bị thương tổn
- Góp phần cải thiện kinh tế hộ gia đình
- Bảo vệ cá nhân và gia đình trước những mất mát do gặp thiên tai, dịch bệnh, suy thoái kinh tế
- Tạo lập ổn định xã hội và hòa bình, giảm bất bình đẳng và căng thẳng xã hội
- Đảm bảo quyền con người cho trẻ em, các bà mẹ, người khuyết tật, công nhân, người cao tuổi, người di cư, dân bản địa và người thiểu số
Trong cuộc họp Đại hội đồng Liên đoàn Quốc tế Nhân viên Xã hội năm 2014 đưa ra chính sách liên quan đến “Khuynh hướng tình dục và Biểu lộ về giới”3 Nội dung chính sách này phân tích một số vấn đề sau đây :
Người có bản sắc tình dục, khuynh hướng tình dục hay biểu lộ giới tính khác với quy định thường bị tổn thương bởi sự áp bức và bị đẩy ra bên lề với các mức độ khác nhau ở tất
cả quốc gia trên thế giới
Nhân viên xã hội phải cam kết tăng cường an sinh cho những người có bản sắc tình dục, khuynh hướng tình dục hay biểu lộ giới tính khác với quy định như là một khía cạnh quan trọng của đạo đức nghề nghiệp và thực hành nghề nghiệp phù hợp với các quyền con người Cam kết đặc biệt này đối với con người đủ mọi lứa tuổi là những người là hoặc nhận
3 http://ifsw.org/policies/sexual-orientation-and-gender-expression/,- truy cập 2/8/2015
Trang 194 Thực tiễn Việt Nam và Nam Bộ: nhận thức và thực thi chính sách về Giới và Gia đình
Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường ISEE, các gia đình Việt Namđang đối mặt với một số vấn đề như xung đột, bất hòa giữa các thành viên chiếm 27,5%, ngoại tình 16%, nợ quá khả năng chi trả 9,9%…
Kết quả trên được đưa ra sau khi khảo sát trên 1.500 người ở độ tuổi từ 16 trở lên ở cả nông thôn và thành thị trong tháng 5-6/2015 Đáng chú ý, tình trạng ngoại tình được nữ cảm nhận nghiêm trọng hơn nam, với 19,6% nữ so với 10,1% nam Trong khi đó, cùng vấn đề này, nhóm nữ chia sẻ nhiều hơn là 22,5%, còn nam ít hơn chỉ có 10,1% Kết quả khảo sát cũng cho thấy, tỷ lệ nữ cảm thấy không bình yên khi sống cùng gia đình cao hơn hẳn so với nam giới Có tới 30,1% nữ giới được hỏi cho biết cảm thấy không bình yên khi sống cùng gia đình, trong khi đó nam giới là 22,3% “Loại hình gia đình được ủng hộ nhiều nhất có bố mẹ
và con chiếm 93,4%; vợ, chồng là người nước ngoài chiếm 49% Loại gia đình ít được ủng hộ nhất là sống chung không kết hôn là 12,4%, đơn thân do không kết hôn 13,6%, không có con 14,2% Khuôn mẫu giới “đàn ông là trụ cột gia đình” hay “cha là nóc nhà” vẫn còn tồn tại khá phổ biến, dẫn đến áp lực kiếm tiền nuôi gia đình chiếm 54,2% đã đặt nặng lên vai người đàn ông4
Việt Nam đã thực hiện khá thành công một số mục tiêu trong các Mục tiêu Thiên niên
kỷ (MDGs) Đối với mục tiêu 3 : Bình đẳng giới và nâng cao vị thế người phụ nữ, trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 17 tháng 4 năm 2015 cho thấy Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ về bình đẳng giới, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, việc làm và các hoạt động chính trị Việt Nam đã xóa bỏ bất bình đẳng giới trong việc tiếp cận giáo dục tiểu học và có tỷ
lệ nữ giới tham gia vào lực lượng lao động và tỷ lệ đại diện nữ giới trong Quốc hội khá cao Việt Nam có chỉ số về giới cao hơn so với các nước khác trên thế giới có cùng mức độ phát triển Mặc dù Việt Nam đã đạt phổ cập giáo dục tiểu học và xóa bỏ bất bình đẳng giới ở cấp trung học cơ sở nhưng tỷ lệ nhập học của nữ giới ở giáo dục bậc cao tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và của nhóm dân tộc thiểu số thường thấp hơn rất nhiều so với nam giới Lao động nam tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động và họ có tiếp cận tốt hơn đến công việc bền vững Một bộ phận lớn nữ giới vẫn làm những công việc dễ bị tổn thương, đặc biệt trong khu vực phi chính thức Bạo lực gia đình đang trở thành một vấn đề nổi cộm trong xã hội Việt Nam, tạo ra những trở ngại trong việc phát triển gia đình và xã hội Tư tưởng trọng nam khinh nữ (định kiến về giới) vẫn còn phổ biến Phân biệt giới dẫn đến việc nam giới được tôn trọng hơn và có được các đặc quyền hơn nữ giới trong gia đình và xã hội Sở thích sinh con trai vẫn còn tồn ta ̣i trong rất nhiều gia đình Viê ̣t Nam, đă ̣c biê ̣t ở khu vực nông thôn, vùng dân
4
http://genic.molisa.gov.Việt Nam/news/detail/tabid/75/newsid/54473/language/vi-VIệT yen-khi-o-cung-gia-dinh# , truy cập 6/7/2015.
Trang 20Mục tiêu chung: Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trong việc thực hiện pháp
luật phòng, chống bạo lực gia đình, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng bạo lực gia đình tại khu vực nông thôn
Mục tiêu cụ thể: Nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật, chuyển đổi hành vi bạo lực
gia đình của Hội viên nông dân góp phần giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình tại khu vực nông thôn 80% cán bộ Hội Nông dân các cấp được đào tạo nâng cao năng lực về giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi, các kỹ năng vận động, tư vấn người gây bạo lực gia đình tại cộng đồng 80% Hội viên nông dân cam kết nói không với bạo lực gia đình Như vậy nhân viên làm công tác xã hội ở nông thôn sẽ có cơ hội phối hợp với chính quyền địa phương triển khai, lồng ghép công tác chuyên môn vào các mục tiêu của đề án góp phần giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình
5 Công tác Xã hội góp phần thúc đẩy sự thay đổi nhận thức liên quan đến Giới và Gia đình
Sứ mạng, mục đích và chức năng cũng như đạo đức nghề nghiệp công tác xã hội nhắm tới phục vụ con người và công bằng xã hội Điều này thể hiện rõ trong Tuyên ngôn về đạo đức công tác xã hội của Liên đoàn quốc tế nhân viên xã hội (IFSW – International Federation
of Social Workers) và trong các chủ đề của Chương trình nghị sự toàn cầu (Global Agenda) của IFSW6
Trong Chương trình nghị sự toàn cầu năm 2012 có phần nói đến trách nhiệm của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế đối với các vấn đề sau:
Chúng ta thực hiện các công ước quốc tế và những văn bản khác về các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội cho mọi người trong đó có quyền trẻ em; người cao tuổi; phụ nữ; người khuyết tật và các dân tộc bản địa, và chấm dứt sự phân biệt chủng tộc và phân biệt các khuynh hướng tình dục
Chúng ta thúc đẩy những chiến lược xã hội để xây dựng những xã hội có tính cố kết cao và loại trừ những mầm mống xung đột Chúng ta tìm kiếm những cam kết mới trong ngăn ngừa và giải quyết xung đột một cách hòa bình và trung thành với những thỏa thuận quốc tế nhằm giảm thiểu bạo lực và tác hại của nó Chúng ta ủng hộ những biện pháp giảm thiểu và loại trừ nạn buôn bán người.7
Mục đích chính của công tác xã hội đã được hai tổ chức Hiệp hội quốc tế các trường công tác xã hội (IASSW) và Liên đoàn quốc tế nhân viên xã hội đưa ra trong đó có điểm nhấn mạnh :
5
http://www.Việt development-goals-building-on-viet-nam-s-success-for-the-post-2015-development-agenda.html truy cập 1/8/2015
Nam.undp.org/content/vietnam/vi/home/presscenter/pressreleases/2015/04/17/from-millennium-development-goals-to-sustainable-6
http://www.Việt development-goals-building-on-viet-nam-s-success-for-the-post-2015-development-agenda.html , truy cập 1/8/2015
Nam.undp.org/content/vietnam/vi/home/presscenter/pressreleases/2015/04/17/from-millennium-development-goals-to-sustainable-7Trích tham luận của Lê Chí An tại hội thảo khoa học nhân ngày CTXH thế giới 2012 tại TPHCM, phần nói về Chương trình nghị sự toàn cầu 2012,
Mục IV – Vai trò của chúng ta trong việc đảm bảo phẩm giá và giá trị con người
Trang 2121
Tạo điều kiện thuận lợi cho sự hòa nhập những người bị bỏ rơi bên lề, bị loại trừ xã hội, người không có quyền sở hữu, những nhóm người dễ bị thương tổn và nhóm nguy cơ Chỉ rõ và đấu tranh với những rào cản, sự bất bình đẳng và bất công còn tồn tại trong xã hội Hình thành mối quan hệ làm việc trong ngắn hạn và dài hạn với cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức và cộng đồng và huy động họ nâng cao cuộc sống và tăng cường năng lực giải quyết vấn đề8
Ngoài ra, hàng năm có ngày CTXH thế giới của quốc tế (tổ chức vào tháng 3), như ngày CTXH thế giới năm 2015 có những khẩu hiệu (slogan) kêu gọi mọi người quan tâm đến những vấn đề của xã hội như :
- Nâng cao quyền của công dân (quyền của phụ nữ, trẻ em…)
- Chuyên nghiệp hóa Công tác xã hội
- Tôn trọng Cộng đồng = Tương lai bền vững
- Liên kết các nguồn lực – Lắng nghe tiếng nói của người dân
6 Kết luận
Công tác xã hội ngày nay gắn liền với phát triển xã hội, trong đó đề cao giá trị nhân phẩm con người nói chung và phụ nữ nói riêng Các cách tiếp cận của công tác xã hội luôn gắn với gia đình và cộng đồng trong giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao an sinh cho mọi người Vì thế có thể thấy được có sự giao thoa giữa công tác xã hội và vấn đề giới, gia đình vì giải quyết vấn đề của cá nhân không thể tách khỏi gia đình ở đó nhân viên xã hội sử dụng cách vẽ sơ đồ thế hệ (phả hệ) – genogram - để phân tích mối quan hệ qua lại giữa các thành viên nam, nữ giữa thế hệ này với thế hệ khác
Đối với nước ta nói chung, đặc biệt vùng Đông Nam bộ nói riêng, sự bất bình đẳng giới từ trong gia đình ra ngoài xã hội là một vấn đề phổ biến đến nỗi mọi người không nhận
ra hoặc âm thầm chấp nhận Sự bất bình đẳng giới gắn liền với nạn nghèo đói, khủng hoảng hôn nhân, nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ lang thang, trẻ bỏ học, trẻ lao động sớm và bạo hành gia đình Nhiệm vụ của công tác xã hội là tham gia giải quyết vấn đề xã hội, đấu tranh cho công bằng xã hội, công bằng kinh tế, xóa bỏ những tập tục và định kiến lạc hậu, bất công
Để thực hiện nhiệm vụ trên không hề dễ dàng mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như chính sách, sự tác động từ dư luận tiến bộ trong nước và quốc tế, sự hỗ trợ và phối hợp đắc lực của các cấp chính quyền đặc biệt cấp cơ sở Ngoài ra, việc đào tạo đội ngũ nhân viên xã hội chuyên nghiệp đảm trách bổ sung cho cơ sở xã hội và cộng đồng là trọng trách của các trường công tác xã hội
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt
1 Lê Chí An, Công tác xã hội nhập môn, Đại học Mở-bán công TP HCM, 2006
2 Nguyễn Thị Oanh, Công tác xã hội đại cương, Đại học Mở-Bán công TP.HCM, 2000
3 Thái Thị Ngọc Dư, Giới và phát triển, Đại học Mở-bán công TP HCM, 2006
4 Đề án “Giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình tại khu vực nông thôn Việt Namgiai đoạn
Trang 2212 ILO and World Bank, A SHARED MISSION FOR UNIVERSAL SOCIAL PROTECTION, Concept Note,
http://www.ilo.org/global/topics/social-security/WCMS_378991/lang en/index.htm, truy cập 29/8/2015
Trang 23đề
-
Trong khoảng vài thập niên gần đây, vấn đề bình đẳng nam-nữ đã và đang thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều quốc gia và cả cộng đồng quốc tế Nhiều hội nghị quốc tế, điển hình là Hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ Tư ở Bắc Kinh( Trung Quốc), đã đặc biệt quan tâm
tới vấn đề bình đẳng nam-nữ, được gọi chung bằng cụm từ bình đẳng giới Ở Việt Nam, từ
sau khi có chính quyền cách mạng, vấn đề bình đẳng giới cũng rất được quan tâm Đặc biệt, lần đầu tiên Quốc Hội đã thông qua Luật bình đẳng giới, có hiệu lực từ năm 2007, thuật ngữ bình đẳng giới được sử dụng nhiều trong các văn kiện, trong nghiên cứu và trong sinh hoạt hàng ngày
Vậy tại sao chúng ta phải bàn đến bình đẳng giới, vì sao lại có những vi phạm sự bình đẳng này để gây ra nhiều vấn đề bức xúc cho những người trong cuộc và cả xã hội? Và, cần phải nhìn nhận các vấn đề về bình đẳng giới như thế nào để có thể tìm ra tiếng nói chung giữa các cá nhân và cả cộng đồng xã hội, nhằm góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội trong bình đẳng giới? Đó là những câu hỏi lớn, khá phức tạp, mà việc trả lời chưa hẳn sẽ có ngay sự thống nhất giữa các cộng đồng khác nhau Ở đây, chúng tôi xuất phát từ cách tiếp cận văn hóa và văn minh, hai sản phẩm chỉ có ở loài người, mà trong đó bình đẳng giới là một nội hàm quan trọng, để góp phần làm rõ thêm một số khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, góp phần khắc phục những hạn chế về mặt nhận thức đối với vấn đề quan tâm
1 Khái quát quan niệm về giới và bình đẳng giới
Trong tiếng Việt, Nam và Nữ (đàn ông và đàn bà) là những từ chỉ sự khác biệt giữa hai con người, hai phái về mặt sinh học Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến chức năng tái
sản xuất ra con người và di truyền nòi giống Thuật ngữ chuyên môn sinh học gọi đó là giới
tính và đại đa số con người khi sinh ra đã có sự phân biệt này rồi Còn thuật ngữ giới là khái
niệm của một số ngành khoa học nhân văn, chỉ sự khác biệt giữa người nam và người nữ về
mặt xã hội Giới chính là vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hoặc quy
Trang 2424
định cho nam và nữ Khi sinh ra con người chưa có trong mình những đặc tính về giới, mà để
có nó, họ phải tiếp thu từ nền nếp gia đình, từ nền giáo dục, bởi quy ước của xã hội và các chuẩn mực văn hóa xã hội
Như vậy, khi nói đến giới tính là nói đến đặc điểm tự nhiên của con người, được phân biệt qua hệ các hooc-môn, bộ máy sinh dục, chức năng sinh sản, thường được gọi chung là thiên chức Nó có tính ổn định và hầu như ít biến đổi với cả hai giới, xét cả về không gian và
một thời gian dài trong đời người( chỉ thay đổi do tuổi tác cao dần lên) Còn khi nói đến giới
là nói đến địa vị xã hội, thái độ và hành vi ứng xử giữa nam và nữ, do hoàn cảnh, điều kiện xã hội, văn hóa cộng đồng tạo nên Địa vị, thái độ và hành vi đó không bất biến mà thay đổi tùy vào từng hoàn cảnh, điều kiện, văn hóa xã hội cụ thể Theo đó, trong những xã hội cụ thể, giới này hoặc giới kia (nam hoặc nữ) có địa vị xã hội khác hơn, có ảnh hưởng khác nhau tới giới còn lại Những ảnh hưởng này thậm chí có thể rất thiên lệch, dẫn tới sự lấn lướt các quyền cơ bản của một giới nào đó, trong từng xã hội cụ thể Từ đó mà ở những xã hội, những quốc gia tiến bộ người ta mới luôn tìm cách giảm bớt sự thiên lệch, cố gắng đạt đến sự cân
bằng xã hội giữa hai giới, còn được gọi là bình đẳng giới
Vì vậy, chúng ta cần thống nhất lại quan niệm về bình đẳng giới và cách nhìn nhận vấn
đề này trên thực tế hiện nay Từ đó, có thể tìm cách cắt nghĩa nguyên nhân của những sai lệch trong nhận thức và hành động đang tồn tại ở nhiều vùng, nhiều quốc gia trên thế giới, còn được gọi chung là bất bình đẳng giới
Bình đẳng giới giữa nam và nữ là sự ngang nhau về vai trò, trách nhiệm, quyền lợi và
cơ hội trong đóng góp, được khẳng định mình theo giới của mình, mà một xã hội mang lại cho họ Theo như đã chỉ rõ ở trên, đây là sự bình đẳng giới, chứ hòan toàn không thể và
không phải là bình đẳng giới tính Thật đáng tiếc là trong thực tế việc hiểu, phân biệt một cách rạch ròi giữa bình đẳng giới và bình đẳng giới tính không phải lúc nào cũng được người
ta chú ý đúng mức và xem xét trên những chuẩn giá trị cụ thể, tiến bộ Sự nhầm lẫn, dù là do chưa có hiểu biết thấu đáo, sẽ làm cho mỗi giới không được thể hiện đúng mình và cũng là sự góp phần làm tăng thêm bất bình đẳng giới
2 Bình đẳng giới dưới các góc nhìn văn hóa và văn minh
Có một số vấn đề được đặt ra là: Tại sao hiện nay ta lại phải quan tâm giải quyết vấn đề bình đẳng giới? Ảnh hưởng của chế độ xã hội đến vấn đề bình đẳng giới như thế nào? Và, bình đẳng giới là sản phẩm của văn minh ở trình độ cao, hay là sự kết tinh của các giá trị văn hóa? Văn minh, văn hóa và bình đẳng giới có quan hệ với nhau như thế nào? Việc xem xét các nội dung sau sẽ góp phần trả lời những câu hỏi lớn nêu trên
2.1 Tiếp cận vấn đề từ góc độ văn minh
Tính đến nay, chúng ta đã bước sang thế kỉ XXI được mười lăm năm với nhiều thành tựu văn minh hết sức rực rỡ và hứa hẹn sẽ còn nhiều triển vọng huy hoàng Để bước tới một thời kì văn minh mới và để có những thành tựu hôm nay, nhân loại phải chấp nhận mất đi nhiều giá trị, theo quy luật phủ định của phủ định, trong đó có những cái ra đời sau, nhưng xét theo một khía cạnh nào đó, chưa hẳn tốt hơn cái đã bị nó phủ định Điển hình như vấn đề địa vị xã hội giữa nam giới và nữ giới, đã có nhiều thay đổi tuỳ vào từng xã hội cụ thể và hiện nay luôn còn những tồn tại đáng quan tâm Rất nhiều sự khác biệt trong đối xử, sự bất bình đẳng giới đang tồn tại khá phổ biến, thậm chí ở cả những quốc gia được coi là phát triển nhất
Trang 25mẹ, duy trì đời sống ở thế hệ sau của người phụ nữ trở nên là việc hệ trọng và quyết định nhiều hơn so với các hoạt động khác Do vậy, trình độ văn minh thấp là sự đảm bảo cho chế
độ mẫu hệ tồn tại, kéo theo nó là sự phụ thuộc của nam giới về mọi mặt, từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội Ở đây đã có sự bất bình đẳng, nhưng cơ sở của nó thì chưa có sự phân biệt
rạch ròi giữa giới và giới tính Bằng thực tế khảo sát tại các tộc người còn duy trì chế độ mẫu
hệ cho đến nay chúng tôi ít thấy có sự áp bức, hành hạ giới nam, so với việc giới nam áp bức giới nữ từng có trong các xã hội phụ quyền Có chăng chỉ là quyền quyết định trong hôn nhân, một số vấn đề trong tổ chức đời sống gia đình thuộc về người nữ và nhất là vai trò rất lớn của ông cậu bên họ vợ, mà người nam phải lệ thuộc vào mà thôi Khi lực lượng sản xuất
xã hội ngày càng phát triển, cho phép loài người chuyển từ nền kinh tế chiếm đoạt sang hình thái sản xuất dựa vào tự nhiên, mà nền văn minh đầu tiên là văn minh nông nghiệp, thì vai trò chủ đạo trong sản xuất chuyển sang tay người đàn ông, và từ đó chế độ phụ quyền ra đời thay thế chế độ mẫu quyền Người nữ chuyển sang vị trí phụ thuộc về nhiều mặt Người nam giới, nhờ vai trò chủ đạo trong sản xuất, mà đã nắm luôn vai trò chủ đạo trong đời sống gia đình(gia trưởng), và các quan hệ gia trưởng, độc đoán này đã chuyển từ gia đình thành ra quan hệ xã hội Người phụ nữ phải chịu địa vị phụ thuộc, thậm chí bị áp bức suốt nhiều thế
kỉ, cho đến hết chế độ Phong kiến, trong khi họ vẫn phải thực hiện các chức năng giới tính Tức là bất bình đẳng giới đã xuất hiện một cách rõ nét
Sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, Chủ nghĩa tư bản thắng thế, giai cấp tư sản lên ngôi thống trị xã hội, nền văn minh công nghiệp đã làm thay đổi căn bản bộ mặt thế giới Trước yêu cầu bức bách về lao động, nhằm bóc lột được nhiều hơn, giai cấp tư sản đã kéo người phụ nữ ra khỏi “mái hiên, góc bếp” và đặt lên vai họ một trách nhiệm xã hội hạn chế - người lao động Việc đó được thực hiện với những mĩ từ như “giải phóng phụ nữ”, “tôn trọng nữ quyền”.v.v Tuy nhiên, trên thực tế những lao động nữ bị bóc lột tàn khốc, bị phân biệt đối xử và chịu nhiều bất công không kém gì ở các chế độ trước đó Nếu coi đó là thành tựu bình đẳng giới, thì có chăng nữ giới, mới được “giải phóng” trong các nền văn minh công nghiệp này, đã đạt được sự bình đẳng với nam giới về “sự bị bóc lột xã hội rộng rãi” hơn mà thôi Ngày nay, dù đã bước sang thời đại văn minh hậu công nghiệp, với những thành tựu văn minh cao hơn trước rất nhiều, song ở nhiều quốc gia, kể cả những nước phát triển, vẫn tồn tại bất bình đẳng giới trên nhiều mặt
Xin đơn cử một vài số liệu để chứng minh Theo báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc năm 1995, lần đầu tiên công bố chỉ số phát triển giới(GDI): có tới 45/130 nước có chỉ số phát triển giới dưới 0,5(trị số tuyệt đối là 1, nước đạt cao nhất -Thụy Điển là 0,919); phụ nữ chiếm 70% trong tổng số 1,3 tỉ người nghèo đói, chiếm 70% số người mù chữ; lao động nữ ở khu vực phi nông nghiệp chỉ được hưởng mức lương bằng ¾ lương của nam giới;
Trang 2626
có 55 nước không có đại biểu nữ trong quốc hội…Và đến năm 2007, báo cáo phát triển con người của UNDP cho thấy, nước đạt GDI cao nhất - Aixơlen là 0,962, tức là không có nước nào đạt trị số tuyệt đối; đặc biệt, vẫn còn 25 nước có chỉ số GDI dưới 0,5 Vào năm 2012, thứ
tự xếp hạng trong Báo cáo khoảng cách Giới Toàn cầu cho thấy, 10 nước đầu trong bảng xếp hạng là: Iceland, Phần Lan, Na Uy, Thuỵ Điển, Ireland, New Zealand, Đan Mạch, Philippines, Nicaragua và Thuỵ Điển 10 nước cuối trong bảng xếp hạng là:Yemen, Pakistan, Chad, Syria, Ả rập Xê-út, Bờ biển Ngà, Ma rốc, Ma Li, I ran, Ai Cập Các nước ASEAN được xếp hạng: Philippines (thứ 8), Singapore (thứ 55), Thái Lan (thứ 65), Việt Nam (thứ 66), Timor Leste (thứ 68), Brunei (thứ 75), Indonesia (thứ 97), Malaysia (thứ 100), Campuchia (thứ 103) Việt Nam tự hào khi được đứng ở vị trí thứ 66 trong bảng xếp hạng của Báo cáo, cao hơn Trung Quốc (69) và Nhật Bản (101) Chỉ số Khoảng cách giới năm 2012 của Việt Nam là 0,678… Tóm lại là, có nền văn minh cao, có nền kinh tế phát triển, giàu mạnh, chưa phải là cơ sở để giải quyết triệt để vấn đề bình đẳng giới
2.2 Tiếp cận vấn đề từ góc nhìn văn hoá
Khi văn minh gắn liền với những tiến bộ xã hội, với những giá trị tích cực ở từng chế độ, dân tộc cụ thể sẽ tạo ra các giá trị văn hóa Các giá trị văn hoá này trầm tích qua thời gian thì tạo ra nền văn hoá, phông văn hoá của một cộng đồng nào đó Lịch sử loài người đã chứng tỏ rằng không thể có tiến bộ xã hội nếu để một bộ phận người của xã hội bị hạn chế về quyền lợi, hoặc bị loại ra khỏi những hoạt động chính của xã hội đó Điều đó có nghĩa là, nếu xem xét từ góc độ giới, thì chỉ có thể đạt được tiến bộ xã hội khi mà thực sự đạt được bình đẳng giới và người phụ nữ phải vừa được là chủ thể của mọi hoạt động trong gia đình, ngoài xã hội
vì sự tiến bộ chung, vừa là người thụ hưởng mọi thành quả của sự tiến bộ đó
Trước hết, chúng ta bắt đầu từ lịch sử phát triển của gia đình, một thiết chế xã hội đặc thù, một tiến bộ văn hoá nhân loại, luôn gắn chặt với vấn đề giới, để xem xét các vấn đề về
vai trò của giới tính, sự hình thành, vai trò của vấn đề giới Ngay từ khi hình thành , mô ̣t gia
đình đầy đủ luôn có 2 quan hê ̣ cơ bản là : Quan hê ̣ hôn nhân và quan hê ̣ huyết thốn g; đồng thời nó là kết quả của 2 hành vi có chủ đích của 2 con người khác giới , trưởng thành ở mức cần thiết, đó là: tính giao và kết hôn Gia đình li ̣ch sử ban đầu theo chế đô ̣ mẫu hê ̣ , về sau là chế đô ̣ phu ̣ hê ̣ và tồn tại cho đến ngày nay Vấn đề đặt ra là, vì cái gì và ai là người tiên phong
đã gây ra sự thay đổi cho chế độ gia đình ấy? Nếu xét từ nguồn gốc chủ quan, tức hành vi tính giao và kết hôn , thì sự thay đổi chế độ gia đình từ mẫu hệ sang p hụ hệ luôn gắn chă ̣t với vai
trò của giới, mà sự chủ động và mở đầu lại thuộc về nữ giới Về vấn đề này, Ph Ăngghen đã
từng chỉ rõ: “Mâ ̣t đô ̣ dân số ngày càng tăng , thì những quan hệ tình dục cổ truyền mất đi tính chất ngây thơ nguyên thuỷ của nó và càng tỏ ra là nhu ̣c nhã và nă ̣ng nề đối với đàn bà , nên ho ̣ mong muốn ngày càng nồng nhiê ̣t , đa ̣t được quyền được giữ trinh tiết , kết hôn nhất thời hay lâu dài với chỉ mô ̣t người đàn ông , coi đó là được giải phóng… Chỉ sau khi phu ̣ nữ đã gây ra bước chuyển sang chế đô ̣ hôn nhân că ̣p đôi , thì đàn ông mới có thể thực hành một cách chặt chẽ chế độ một vợ, mô ̣t chồng”(1) Đây chính là hành vi mang tính tự giải phóng đầu t iên của nữ giới, nó góp phần tích cực vào việc đưa gia đình tiến tới văn minh , hiê ̣n đa ̣i như ngày nay Nhưng, nguồn cội của hành vi tự giải phóng ấy chính là yếu tố văn hoá Chính sự mặc cảm có tính xã hội, một khía cạnh của văn hoá giao tiếp, đã giúp nữ giới vượt lên trên những thôi thúc thuần tuý bản năng để kiếm tìm, xác lập sự tôn trọng xã hội cho chính những nhu cầu tự
Trang 27Thứ nhất, bình đẳng giới là nội dung cơ bản của truyền thống văn hoá tốt đẹp ở những
cộng đồng, dân tộc cụ thể Ở một xã hội có truyền thống văn hóa, dù trình độ văn minh chưa thật cao, vẫn có thể đạt được bình đẳng giới ở những mức độ nhất định nào đó Nước Việt Nam là một điển hình của tình trạng này Ngay ở chế độ phong kiến, dưới ảnh hưởng khá nặng của Nho giáo - hệ tư tưởng vốn không coi trọng phụ nữ, với những nguyên tắc kiểu “ phu xướng, phụ tùy”, thì trong nhân dân ta vẫn tồn tại quan niệm như là những nguyên tắc và
sự phân công khá bình đẳng như: “Thuận vợ thuận chồng bể đông tát cạn”, “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”,.v.v
Thứ hai, bình đẳng giới là sự biểu hiện văn hoá chính trị cao của xã hội, nhất là với các
chính thể cầm quyền, là thước đo mức tiến bộ của nền dân chủ Ở vào thời kì hiện đại, nhất là
từ khi có Đảng lãnh đạo, Việt Nam chúng ta cũng là trường hợp điển hình trong giải quyết các vấn đề về giới và bình đẳng giới Ngay sau khi vừa thành lập, Đảng ta đã rất chú trọng vận động, giải phóng phụ nữ, điển hình nhất là việc thành lập Hội Phụ nữ vào ngày 20/10/1930 Trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp và Mĩ, Phụ nữ Việt Nam luôn được quan tâm tạo điều kiện để có bình đẳng, và họ đã thực sự đóng góp rất nhiều, cả công sức, xương máu và tinh thần cho những thắng lợi vẻ vang của toàn dân tộc Do được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chăm sóc, tạo điều kiện về mọi mặt, trong đó có việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức văn hóa và khoa học, phụ nữ Việt Nam đã thực sự trở thành những người chủ của công cuộc kiến thiết, mở mang đất nước Từ các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học, y tế, nghệ thuật, cho đến quản lí xã hội…đều có nhiều gương mặt phụ nữ xuất sắc đã làm nên những thành tích rất đáng trận trọng Phụ nữ đã và đang là lực lượng quan trọng đóng góp vào thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước
Xin minh chứng cho các nhận định trên bằng một số số liệu thực tế về vấn đề bình đẳng giới ở các nước, nhất là của Việt Nam, do các tổ chức quốc tế bình xếp Năm 1995, ngay lần đầu xếp loại, Việt Nam đã đạt GDI là 0,537, đứng thứ 74/130 nước; đến năm 2007, nước ta đạt chỉ số GDI là 0,732, xếp thứ 91/177 nước; năm 2012 GDI của Việt Nam xếp thứ 47/187 nước Hiện nay, tỷ lệ lao động có việc làm là nữ giới chiếm 49% Tính đến hết năm 2011, tỷ
lệ phụ nữ biết chữ là 92%; khoảng 80% trẻ em gái ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số được đi học đúng tuổi Tỷ lệ nữ sinh viên chiếm trên 50%, tỷ lệ Thạc sỹ là nữ chiếm hơn 30% và có 17,1% người có bằng Tiến sỹ là nữ giới.Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội khóa XIII (2011-2016) đạt 24,4%, đưa Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới (đứng thứ 43/143 nước trên thế giới và thứ 2 trong ASEAN) Phụ
nữ đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của đất nước như Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng; 14/30 Bộ hoặc cơ quan trực thuộc Chính phủ có Thứ trưởng là nữ
Ở các địa phương, nhiều phụ nữ giữ vai trò chủ chốt ở các cấp, các ngành, góp phần giải quyết các vấn đề quan trọng Toàn bộ những bằng chứng đó xác nhận một cách hùng hồn sự thật về tác động của các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong việc
Trang 2828
thực hiện vấn đề bình đẳng giới Tổ chức Phát triển của Liên Hợp quốc đã từng đánh giá:
“Việt Nam có thể tự hào về những thành quả của mình trên bước đường tiến tới sự bình đẳng
về giới Những thành quả này, một phần nhờ sự cam kết về chính trị của Chính phủ Việt Nam, mở đầu bằng việc chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò và tiềm năng của phụ nữ Mặc
dù là một nước rất nghèo, Việt Nam đã đạt được sự bình đẳng gần như hoàn toàn về giới nếu xét về phương diện giáo dục tiểu học, tỉ lệ biết chữ người lớn, chăm sóc sức khỏe và sự tham gia vào lực lượng lao động” (UNDP: Việt Nam qua lăng kính giới, 1995)
Qua các phân tích khái quát nói trên, rõ ràng văn hóa là cơ sở quan trọng, là sự bảo đảm chắc chắn cho các quan hệ tốt đẹp về giới phát triển, tức là tiến tới bình đẳng giới nhanh nhất Tất nhiên các giá trị văn hoá ấy luôn cần thiết được đảm bảo bởi những chỉ số cao của văn minh, nhất là về vật chất
3 Kết luận
Dưới các góc nhìn văn hoá và văn minh, các vấn đề về giới và bình đẳng giới thể hiện ra
là không đồng nhất, điều hiển nhiên như sự không tương đồng của văn hoá và văn minh vậy
Có văn minh cao chưa chắc đảm bảo có được sự tiến bộ trong các vấn đề về giới Mặc dù cần nhấn mạnh thêm rằng, sở dĩ ở những nền văn minh khác nhau trong lịch sử, thậm chí phát triển cao, vẫn luôn có sự bất bình đẳng về giới, ngoài các nguyên nhân khách quan của chế độ
xã hội, của văn hoá ra, thì cũng còn có phần nguyên nhân bắt nguồn từ chính sự khác biệt về giới tính (với những khác biệt về thể chất và khí chất đi kèm) khi con người tham gia vào hoạt động xã hội Sự khác biệt này là tự nhiên, nên dù văn minh có cao đến mấy cũng khó mà tránh khỏi những phân biệt nào đó Vì thế, chỉ có cách nhìn văn hóa mới cho phép chúng ta vượt qua rào cản là sự khác biệt tự nhiên về giới tính Dưới lăng kính văn hóa quyền con người thực sự được tôn trọng, các thiên chức gắn với con người được tôn trọng và phát huy đúng mức Do vậy, chức năng xã hội của mỗi giới được hình thành và phát huy bao hàm cả các yếu tố tự ý thức về mình và các giá trị tiến bộ xã hội Dưới lăng kính văn hoá, sự khác biệt tự nhiên của mỗi giới luôn được nhìn nhận theo quan điểm “cân bằng động”; bình đẳng giới không chỉ dựa trên các chỉ số số học, mà còn dựa trên tính ước lệ nhân văn Và chỉ dưới góc nhìn đó mới hứa hẹn đạt được bình đẳng giới một cách thực sự trên thực tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 (1) C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 35, tr87 Nxb CTQG, Hà Nội 1995,
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2007, tập…
4 Phạm Hạnh Sâm, Trưởng ban TG, TƯHLH PNVN, “Bình đẳng giới - điểm sáng về nhân
quyền ở Việt Nam”, QPTD điện tử -Thứ Tư, 07/03/2012, 16:14;
5 Nguyễn Hữu Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, “Bảo đảm quyền bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, TCCSĐT, 22:55' 4/8/2014;
6 Bùi trung Hưng, Mấy khía cạnh lý luận trong xây dựng gia đình Viê ̣t Nam
hiê ̣n đại tiến bộ và hạnh phúc, Tạp chí Thông tin KHXH, Số 7(367), 7/2013
Trang 2929
CĂN TÍNH GIỚI TÍNH VÀ CĂN TÍNH GIỚI TRONG THUYẾT NỮ QUYỀN DUY VẬT PHÁP
ThS Đinh Hồng Phúc
Ban Biên dịch – Đại học Thủ Dầu Một
1 Mục đích của bài tham luận này là cung cấp những thông tin về sự thảo luận lý thuyết về
vấn đề giới trong các tài liệu nước ngoài cho phiên hội thảo của chúng ta thêm rộng đường thảo luận Chúng tôi cố gắng lược thuật lại nội dung chương 2, có nhan đề là “Sexual and Gendered Identities / Căn tính giới tính và căn tính giới”, trong sách French Feminist Theory:
An Introduction / Dẫn nhập Lý thuyết nữ quyền Pháp của Dani Cavallaro (Continuum, 2003)
Về đại thể, nội dung chương sách này bàn luận xoay quanh về các chiến lược qua đó giới, tình dục và các vai trò, vị trí có liên quan được kiểm soát Phần đầu chương, tác giả bàn
về những lối tiếp cận tự nhiên luận của truyền thống về hai khái niệm giới tính và giới, theo
đó giới tính được quan niệm như là biểu hiện của một bản chất tự nhiên thuần túy, đối lập với giới như là biểu hiện được xã hội hóa của sự khác biệt sinh học Các nhà nữ quyền Pháp tra vấn và giải tự nhiên hóa những lối tiếp cận này bằng cách cho thấy tính được kiến tạo của tất
cả mọi cấp độ của căn tính giới và giới tính Các quan hệ quyền lực mang tính áp bức và bóc lột trong vấn đề giới tính và giới được nghiên cứu sâu hơn ở những phần tiếp theo của chương qua hai lập trường lý thuyết là duy vật và phân tâm học Bài tham luận của chúng tôi chỉ lược thuật lại lập trường lý thuyết duy vật qua các nhà tư tưởng tiêu biểu trong phong trào
nữ quyền là Monique Wittig, Christine Delphy, Colette Guilaumin và Paola Tabet
2 Theo từ điển The New Oxrford Dictionary of English (1998), giới tính (sex) quy chiếu đến
“một trong hai phạm trù chính (nam và nữ hay đực và cái) theo đó con người và hầu hết các vật sống khác được phân chia ra trên cơ sở của các chức năng sinh sản của chúng”, trong khi
đó giới (gender) chỉ “trạng thái là nam hoặc nữ (thường được dùng để chỉ các khác biệt xã hội
và văn hóa, chứ không phải các khác biệt sinh học)”
Từ điển bách khoa The Cambridge Encyclopedia, ấn bản lần thứ bốn (2000), cũng định nghĩa giới là “sự biểu hiện xã hội của sự khác biệt sinh lý học cơ bản giữa đàn ông và đàn bà – các hành vi xã hội được cho là phù hợp với các vai trò “nam” hay “nữ” và được học hỏi qua quá trình xã hội hóa Vì thế, thuật ngữ giới tính được quy chiếu đến sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà về mặt sinh học, và nói rộng ra, về hoạt động dẫn đến việc sinh sản, còn thuật ngữ giới (gender) vượt lên trên lối giải thích quy giản luận coi tính nữ và tính nam đồng nghĩa với giới tính sinh học của cá nhân, bằng cách nhấn mạnh sự quy định xã hội-chính trị của chúng
Vì thế, giới giữ vai trò chủ chốt trong nhiều quá trình khác nhau của sự phân loại và tổ chức văn hóa Quả thực, các phạm trù tính nam (masculinity) và tính nữ (femininity) là những hình thái xã hội tiên khởi, và xoay quanh chúng là sự khai triển các mối quan hệ giữa nam và
nữ và sự nảy sinh các thực tiễn thống trị và lệ thuộc Chúng diễn ra một cách khách quan trong các quan hệ quyền lực vật chất, như gán các vai trò văn hóa và phân công lao động, cũng như một cách chủ quan, tùy vào cách các chủ thể nam và nữ nhận biết họ và nội tâm hóa các tập hợp biểu trưng và các chuẩn mực ứng xử như thế nào
Trang 3030
3 Về vấn đề này, sự bàn luận của các nhà nữ quyền duy vật cho thấy có ba mục tiêu chính:
(1) chứng minh rằng giới tính tự nó là một phạm trù giả tạo có gốc từ việc lập luật cho các vị trí giới; (2) nêu bật phạm vi tác động của các căn tính không phải tình dục khác giới tính và các thực tiễn trong các hình thức khác nhau của cả quá trình củng cố và vi phạm hiện trạng chế độ gia trưởng; (3) tra vấn các ý niệm được tự nhiên hóa về tính nam và tính nữ vốn đã từng tạo điều kiện thuận lợi cho sự tước đoạt và bóc lột thân xác người nữ của chế độ chế độ gia trưởng Tâm điểm của việc theo đuổi các mục tiêu này là giả định cho rằng các căn tính giới tính và giới được ấn địnhtheo một trật tự vật chất và do đó hiện thân cho các mối ưu tiên
về hệ tư tưởng có thể tương ứng với các mối quan tâm của giai cấp thống trị
4 Monique Wittig (1935-2003) cho rằng tính nam và tính nữ là các giai cấp giả tạo, được tự
nhiên hóa bởi hệ thống chế độ gia trưởng để xóa bỏ tính cách hiện thực của sự khác biệt giới tính với tính cách là xung đột xã hội Trong tiểu luận “The Category of Sex / Phạm trù giới tính”, bà viết: “Hệ tư tưởng của sự khác biệt giới tính giữ chức năng như là sự kiểm duyệt trong nền văn hóa của chúng ta bằng cách che đậy, trên cơ sở tự nhiên, sự đối lập xã hội giữa nam và nữ
Giới nam/giới nữ, nam/nữ là các phạm trù dùng để che đậy thực tế là sự khác biệt xã hội luôn gắn liền với một trật tự kinh tế, chính trị và ý thức hệ” (tr 24) Chống lại tiền giả định tự nhiên luận coi giới là cái được quy định về mặt xã hội và giới tính thuộc về sinh học, Wittig đặt giới tính và giới cùng phục tùng quá trình giải tự nhiên hóa triệt để và thiết định sự thống trị của chế độ gia trưởng như là kẻ sáng chế ra chúng: “Không có giới tính nói chung Chỉ có giới tính bị áp bức và giới tính áp bức Chính sự áp bức này tạo ra giới tính chứ không phải ngược lại Nếu ngược lại thì ắt phải nói rằng giới tính tạo ra sự áp bức, hay nói rằng nguyên nhân (nguồn gốc) của sự áp bức nằm ở chính giới tính, nằm ở sự phân công tự nhiên của các giới tính trước khi có (và ở bên ngoài) xã hội” (tr 25)
Các cấu trúc của sự thống trị được nâng đỡ bởi phạm trù này được dựa trên sự ca ngợi quan hệ tính giao khác giới tính đồng nghĩa với sự bình thường, và như là sự biện minh cho việc gán cho phụ nữ vai trò sinh sản: phụ nữ phải phục tùng nền kinh tế quan hệ tính giao khác giới tính (heterosexual economy), họ phải có bổn phận tái sản sinh ra „loài‟, tức là tái sản sinh ra xã hội quan hệ tính giao khác giới tính Chế độ gia trưởng chỉ có thể bị lật đổ nếu nền kinh tế quan hệ tính giao khác giới tính làm chỗ dựa cho nó bị phá bỏ Lập trường này mang lại cho những người đồng tính nữ một vai trò chính trị được ưu ái, và trên thực tế, Wittig thiết định thuyết nữ quyền duy vật đồng tính nữ như là phong trào duy nhất về cơ bản
có khả năng xóa bỏ các phạm trù giới tính giả tạo có tác dụng duy trì các huyền thoại về người nam và người nữ như là những cái được mang lại về mặt siêu hình học Vì người nữ được coi là chỉ tồn tại trong quan hệ với người nam, nên người đồng tính nữ không thể được coi là người nữ do sự hiện hữu của họ không phụ thuộc vào sự hiện hữu của người nam Theo Wittig, nói rằng những người đồng tính nữ kết giao, làm tình, sống với phụ nữ là sai, vì “phụ nữ” chỉ có nghĩa trong các hệ thống tư tưởng và các hệ thống kinh tế của quan hệ tính giao khác giới tính Người đồng tính nữ không phải là phụ nữ (Wittig [1981] 2000a: 143)
5 Christine Delphy cố gắng giải tự nhiên hóa giới tính, tình dục và sự khác biệt giới tính
bằng lập luận rằng giới đi trước giới tính: nghĩa là tính chất được kiến tạo, chứ không phải tự nhiên, cấu tạo nên cơ sở của tổ chức xã hội và của các quan hệ kinh tế và chính trị Vì thế giới
có thể được coi là có trước giới tính bao lâu nó vạch trần một cách dứt khoát hơn tính giả tạo
Trang 3131
của chính các nền tảng của xã hội con người Hơn nữa, bản thân sinh học lại được quan niệm trong các tham số của các hình thái văn hóa riêng biệt phần lớn bị quy định bởi các quan hệ thứ bậc giữa các giới tính Trong “Rethinking Sex and Gender / Tư duy lại giới tính và giới”, Delphytóm tắt tuyên ngôn của bà như sau: “Cho đến nay, hầu hết các công trình về giới, kể cả hầu hết các công trình nữ quyền về giới, đã dựa trên một tiền giả định chưa được tra xét: giới tính đi trước giới Tuy nhiên, dù tiền giả định này có thể giải thích được về mặt lịch sử, nó không thể biện minh được về mặt lý thuyết, và sự tồn tại liên tục của nó đang cản trở tư duy của chúng ta về giới”
Delphy tin rằng “các giá trị nói chung đều có tính thứ bậc” (tr 38) và việc định nghĩa lại cho triệt để về giới từ quan điểm duy vật chỉ có thể hình dung được nếu sự xóa bỏ các hệ thống thứ bậc được xem như là mục đích tiên khởi Tìm cách thiết kế một hoàn cảnh trong đó tính nữ và tính nam cùng tồn tại hài hòa là một nỗ lực lầm lạc, vì “các giá trị nam và nữ” bao giờ cũng được củng cố “trong, và bởi, trật tự thứ bậc” Sự tự trị cho cả đàn ông và đàn bà đòi hỏi phải có một “xã hội không có thứ bậc” (tr 40) như là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại trong đó giới thoát ly khỏi các cấu trúc thống trị và ngăn chặn: “ta chỉ thực sự có thể nghĩ về giới vào cái ngày ta có thể hình dung ra sự không có giới (non-gender)” (tr 41)
6 Nhà dân tộc học Nicole-Claude Mathiew (1937-2014) tăng cường sức mạnh cho luận đề
khái niệm giới tính cũng giả tạo không kém gì khái niệm giới, và bà còn đi xa hơn nữa khi cho rằng cả giới tính lẫn giới đều góp phần then chốt vào sự kiến tạo văn hóa của các diễn ngôn để gán các vai trò và các căn tính đặc thù cho đàn bà và đàn ông thuộc các định hướng khác nhau Theo Mathiew, có ba phương thức quan hệ giữa giới tính và giới:
Phương thức đồng tính thiết định giới tính như là nền tảng cơ bản của sự hiện hữu văn hóa và
“sự khác biệt giới tính” như là “cơ sở của căn tính cá nhân, trật tự xã hội và trật tự biểu trưng” (tr 45) Giới tính cấu tạo nên số phận thân xác và căn tính giới phục tùng giới tính ấy là kết quả tự nhiên của nó; vì thế, sinh ra đã là đàn ông hay đàn bà về mặt sinh học ở cấp độ giới tính sẽ tự động quy định tính nam hay tính nữ của chúng ta ở cấp độ giới Phương thức này được triết học phái duy tự nhiên ưa thích
Phương thức tương tự vẫn thừa nhận tầm quan trọng của sinh học nhưng dành ưu tiên cho sự biểu hiện cộng đồng của các căn tính giới trong các nhóm văn hóa đặc thù: “Ở đây, người ta không xác định mình chỉ về mặt giới tính sinh học của họ; căn tính cá nhân của họ cũng được gắn chặt với một hình thái ý thức nhóm” và “giới tính được kinh nghiệm như là một lối sống tập thể” (tr 49) Giới biểu trưng cho giới tính, nghĩa là các hình thức của hành vi
do các thành viên của nhóm thể hiện trên cơ sở ý thức giới của họ có thể được coi là các biểu tượng tượng trưng của các đặc điểm sinh học của họ Tiêu biểu cho lối tiếp cận phương thức này là thuyết dụng hành
Phương thức dị tính cho rằng sự nối kết giữa giới tính và giới là một kiến tạo về cơ bản
là có tính xã hội-logic và chính trị dùng để duy trì sự thống trị của đàn ông, và vì thế phải bị tra hỏi triệt để qua “lối phân tích duy vật về các quan hệ xã hội của giới tính” Giới tính không cấu tạo nên cơ chất tự nhiên mà từ đó giới nảy sinh như là một phát minh văn hóa: trên thực tế, giới tính là do giới cấu tạo nên Phương thức này bao gồm cảm thức của thuyết phản-
tự nhiên trong việc chủ trương cần thiết phải chuyển sự chú ý từ “sự kiến tạo văn hóa của giới sang sự kiến tạo văn hóa của giới tính, và đặc biệt là của tính dục” (tr 59)
Trang 3232
Ba phương thức này tương ứng với ba khái niệm Mathiew đề ra: sexual identity, sexed identity và sex-class identity Phương thức thứ nhất tương ứng với khái niệm „sexual‟ identity, tức là căn tính dựa trên ý thức cá nhân về giới tính Nó dựa trên giả định rằng “các đặc điểm tâm lý-xã hội cá nhân nên phù hợp với các đặc điểm sinh học (và nếu không hợp thì
sẽ có vấn đề)” (tr 45) Trong logic này, “giới thường được điều chỉnh theo giới tính” (tr 46) Tuy nhiên, cũng có phạm vi cho “những sự chuyển đổi giới bởi giới tính” là những cái có thể Phương thức thứ hai gắn với khái niệm „sexed‟ identity, tức là căn tính dựa trên ý thức nhóm
về giới tính Trong trường hợp sexual identity, giới tính được cho là có thể chuyển sang lĩnh vực của giới, trong trường hợp này chúng ta phát hiện thấy khả thể của “những sự chuyển đổi giới tính bởi giới” là nguyên nhân của “xu hướng dị biến” của giới tính và giới (tr 63) Ta có thể quan sát thấy chúng, chẳng hạn, trong bối cảnh “đồng tính luyến ái như là một văn hóa nhóm”, cái khẳng định “sự ưu trội của giới đối với giới tính Quyền uy giả định của thân thể cũng bị những người đồng tính luyến ái khinh miệt: không một người đồng tính nam nào muốn gắn với đàn ông và không một người đồng tính nữ nào là hoàn toàn muốn sống chung với phụ nữ Mathieu dẫn ra một ví dụ về „người đàn ông ăn mặc như phụ nữ và tự gọi mình là
„gã đồng tính nữ”, cố tìm cách hòa mình vào nhóm những người đồng tính nữ và không chịu gia nhập nhóm những người đồng tính nam” (tr 51)
Phương thức thứ ba làm nảy sinh nguyên tắc sex-class identity, tức là một căn tính
„dựa trên ý thức giai cấp về giới‟ (tr 44) Trong kịch bản này, không có những nỗ lực bù đắp nào để giải quyết “những sự bất đối ứng giữa giới tính và giới” (tr 63) của các loại hình nằm trong hai phạm trù trước Quan trọng hơn hết trong trường hợp căn tính giai cấp-giới là sự chú trọng đến hai phương diện chính của mối quan hệ giữa cái sinh học và cái xã hội, cụ thể là: (1) các xã hội sử dụng hệ tư tưởng của định nghĩa sinh học về giới tính để kiến tạo nên
“trật tự thứ bậc” của giới, đến lượt nó trật tự này được dựa trên sự áp bức của giới này đối với giới khác, như thế nào; (2) các xã hội nhào nặn thực tại sinh học của giới tính để phục vụ cho quá trình phân hóa xã hội này như thế nào
7 Colette Guilaumin và Paola Tabet đặc biệt quan tâm tới các vấn đề này Người trước chú
trọng đến sự chiếm hữu thân xác và lao động nữ cũng như quá trình biến chúng thành các đồ vật, trên cơ sở của những sự khác biệt giới tính thuần túy mang tính tự nhiên, như là phương tiện để duy trì hệ thống giai cấp theo thứ bậc vốn là nền tảng phát triển của chế độ gia trưởng Người sau thì lại đặc biệt chú trọng đến việc tổ chức các năng lực sinh sản và quản lý các điều kiện sinh sản bằng cách chứng minh cách hoạt động của những thứ này không chỉ để bảo đảm cho sự tiếp tục của giống loài người mà còn thuần hóa tính dục nữ và tách các thuộc tính hóc-môn ra khỏi sự ham muốn và khoái lạc
Trong “Thực tiễn quyền lực và lòng tin vào tự nhiên”, Guillaumine cho rằng nền chính trị dựa trên giới nhất định đòi hỏi phải có sự chiếm đoạn thân xác phụ nữ cả ở cấp độ vĩ mô của các cấu trúc văn hóa phổ biến lẫn ở cấp độ vi mô của các quan hệ cá nhân với đàn ông
Bà nhấn mạnh rằng việc xem phụ nữ như là “tài sản chung” vừa là “quan hệ quyền lực” vừa
là “kết quả tư tưởng hệ”: cái trước biểu thị quyền lực của giai cấp đàn ông trong việc chiếm đoạt phụ nữ, trong khi cái sau chỉ đến việc sử dụng “ý niệm về tự nhiên” như là một thực tại nền tảng được coi là cái giải thích cho cái nhìn của đàn ông về phụ nữ Sự sở hữu với tư cách
là quan hệ quyền lực coi việc diễn tuồng “các quan hệ xã hội trong đó các diễn viên bị quy giản thành vị thế của các đơn vị vật chất bị chiếm đoạt”, với tư cách là kết quả tư tưởng hệ,
Trang 3333
nó dựa trên uy thế của “sự kiến tạo tinh thần” là cái “biến chính các diễn viên ấy thành các yếu tố của tự nhiên, tức thành “các sự vật” (tr 74) Sự quy giản tư tưởng hệ các chủ thể nữ thành vị thế các đồ vật có hai tác động chính: thứ nhất, nó dẫn đến sự phi nhân hóa phụ nữ, coi họ như là thứ hoàn toàn mang tính vật, tức như là một sinh vật phi lý tính, thất thường, trực quan và chỉ đơn thuần theo bản năng; thứ hai, “sự chiếm đoạt thân thể trực tiếp trong các quan hệ dựa trên giới tính … bao gồm việc chiếm tiên cơ sức lao động”: cái bị xóa bỏ không chỉ là tình trạng công việc nhà với tư cách là lao động, mà còn là năng lực để phụ nữ thực hiện bất cứ hoạt động nào xứng với tên gọi ấy
Cả việc quy giản người nữ về cấp độ vật chất thô thiển lẫn việc họ phải phục tùng sexage – thuật ngữ do Guillaumin đề xuất để chỉ quan hệ quyền lực trong đó phụ nữ và sức lao động của họ bị chiếm đoạt9 – xuất phát từ xu hướng giả định tự nhiên luận rằng “vị thế của một nhóm người, giống như trật tự của thế giới đã làm cho nó trở nên đúng như nó đang
là, được lập trình từ bên trong vật chất sống” Vì thế, tính nữ được coi là hậu quả không thể nghi ngờ của một “tự nhiên” được lập trình một cách nội tại cố hữu không chỉ đối với phụ nữ với tư cách là một nhóm mà còn đối với chính trật tự của sự vật (tr 92) Khuynh hướng tự nhiên hóa đã ăn sâu vào trí não ấy rõ ràng là điều mà các nhà nữ quyền duy vật, trong đó có Guillaumin, tìm cách tháo dở để hiện ra ý thức giai cấp chống lại bất cứ “lòng tin tự khởi nào
ở [phụ nữ] với tư cách là một loài tự nhiên” (tr 104)
Khảo sát động lực học văn hóa của sự sở hữu thân xác với sự nhấn mạnh đến cả chiến lược nghi lễ lẫn chiến lược công nghệ của sự chiếm đoạt các năng lực sinh sản của phụ nữ, và đồng thời, của sự thuần hóa sự gợi dục nữ Bà viết “Trong nhân học, sự tái sản xuất ra con người và khả năng sinh sản của phụ nữ được đòi hỏi phải giải thích, thậm chí là biện minh, tình trạng lệ thuộc của phụ nữ và những sự bất công giữa các giới tính… Rốt cuộc, vị trí lệ thuộc của phụ nữ được cho là do “những sự cưỡng chế sinh học, tự nhiên” đang đè nặng họ.” Tuy nhiên, sinh sản không phải đơn thuần là một “sự kiện sinh học”: nếu nó được trình bày một cách nhất quán như thế, thì đây là theo truyền thống, nó đã nằm trong mối quan tâm của giai cấp và giới thống trị để che đậy “đặc điểm lịch sử và xã hội của các quan hệ sinh sản” (tr 109) Trái lại, điều mà Tabet ủng hộ là việc triệt để tách ra khỏi sinh học tất cả các phương diện của quá trình sinh sản, từ giao hợp, qua thụ thai và mang thai, đến sinh nở và tiết sữa Điều này đòi hỏi chúng ta phải phản bác khái niệm về khả năng sinh sản tự nhiên bằng cách tập trung vào nhiều hình thức “can thiệp trong sinh học”, các hình thức này một mặt sử dụng theo cách thường nghiệm các dữ kiện sinh học và, mặt khác, “biến đổi bản thân các dữ kiện sinh học” (tr 12)
Đồng thời, chúng ta phải thừa nhận vị trí của sự sinh sản là lao động bị bóc lột và là phương tiện tạo ra cơ thể nữ chuyên việc mang thai, qua đó sự sinh sản được thiết định như là cái biểu nghĩa tiên khởi của tính nữ và như là phần nào không liên quan, nếu không nói là xa
lạ với, bản thể của tính nam: “Thay vì … là kết quả của quá trình cần đến cả hai giới tính, nó trở thành bản chất, chính cái tự nhiên, của “phụ nữ” (tr 111) Thủ đoạn này không chỉ dùng
để xóa bỏ trách nhiệm của người đàn ông trong việc đồ vật hóa thân thể người nữ; nó cũng nâng đỡ cho hai mục tiêu xa hơn Một là, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tách tính nam ra khỏi tự nhiên và bất cứ thứ gì biểu trưng cho tự nhiên đều tương phản với văn hóa Thứ hai,
9
Theo Linda Murgatroyd, thuật ngữ sexage của Guillaumin phái sinh từ sự trộn lẫn các từ “esclavage (nô lệ) và servage (nô dịch)”
Trang 3434
nó cho phép người ta tách sự sinh sản ra khỏi các quan hệ xã hội giữa các giới tính bằng cách phịa rằng các chức năng sinh sản chỉ thuộc về một giới tính
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Wittig, M (1996), „The Category of Sex‟, trans M Wittig, in L Adkins andD Leonard
(eds), Sex in Question: French Materialist Feminism, London:Taylor & Francis
2 Wittig, M (2000a), „The Straight Mind‟, in K Oliver (ed.), French FeminismReader,
Oxford and New York: Rowman & Littlefield
3 Delphy, C (1996), „Rethinking Sex and Gender‟, trans D Leonard, in L.Adkins and D Leonard (eds), Sex in Question: French MaterialistFeminism, London: Taylor & Francis
4 Mathieu, N.-C (1996), „Sexual, Sexed and Sex-Class Identities: Three Waysof Conceptualizing the Relationship Between Sex and Gender‟, trans D.Leonard, in L Adkins
and D Leonard (eds), Sex in Question: FrenchMaterialist Feminism, London: Taylor &
Francis
5 Guillaumin, C (1996), „The Practice of Power and Belief in Nature‟, trans.L Murgatroyd,
in L Adkins and D Leonard (eds), Sex in Question:French Materialist Feminism, London:
Taylor & Francis
6 Tabet, P (1996), „Natural Fertility, Forced Reproduction‟, trans D.Leonard, in L Adkins
and D Leonard (eds), Sex in Question: FrenchMaterialist Feminism, London: Taylor &
Francis
Trang 3535
BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ GIÁ TRỊ GIỚI
TS Nguyễn Hữu Nguyên
Trung tâm nghiên cứu chiến lược và chính sách quốc gia Đại học Khoa học xã hội nhân văn Tp Hồ Chí Minh TÓM TẮT
Bình đẳng giới trong gia đình còn nhiều tiêu cực: ở nông thôn còn khá nhiều gia đình
ba đến 4 thế hệ, ở thành phố: phần nhiều là gia đình hai thế hệ Xung đột giới ở gia đình đô thị nhiều hơn ở nông thôn Bình đẳng giới trong xã hội: kinh tế thị trường đã nâng cao vị thế của phụ nữ trên nhiều lĩnh vực nhưng phụ nữ vẫn thiệt thòi hơn nam giới-thể hiện qua chỉ số hài lòng của nam cao hơn nữ Tìm hiểu khái niệm “nam nữ bình quyền” của Việt Nam và
“bình đẳng giới” của Phương Tây: Hầu như không khác nhau về các quyền bình đẳng trong luật pháp-nhưng có sự khác nhau về văn hóa- thể hiện qua hành vi và lối sống Việt Namtiếp thu chương trình “bình đẳng giới” như thế nào ? bất bình đẳng nam nữ ở Việt Nam còn khá phổ biến nhưng không phải do thiếu quy định trong pháp luật mà do thực thi vì trình độ hiểu biết luật pháp của cán bộ và người dân Việt Nam còn hạn chế Nếu thực hiện “bình đẳng giới” theo văn hóa phương tây tình hình bất bình đẳng không tốt hơn-thậm chí có thể tệ hơn
Xu hướng nghiên cứu về giới ở Việt Nam hiện nay nặng về áp dụng lý thuyết Phương Tây, chưa quan tâm đúng mức đến sự khác biệt văn hóa Giải pháp cơ bản của Việt Nam là giáo dục “giá trị giới” và thực thi pháp luật thay vì áp dụng chương trình “bình đẳng giới”
Từ khóa: bình đẳng giới, giá trị giới, nam nữ bình quyền, lý thuyết, bạo hành, gia
đình, xã hội
-
1 Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình và xã hội ở Việt Nam ngày nay
Ở nông thôn: mô hình gia đình ba, bốn thế hệ vẫn khá phổ biến và vẫn nặng về văn hóa truyền thống: kính trên, nhường dưới, trọng nam hơn nữ…Các thành viên trong gia đình chấp nhận trật tự này một cách khá bình thường, không cảm thấy quá áp lực hay bất công, thiệt thòi…Nhìn chung trật tự này vẫn khá ổn định mặc dù một số thành viên trong gia đình
đã đi kiếm sống bằng những ngành nghề phi nông nghiệp ở các địa phương khác Gia đình nhiều thế hệ ở nông thôn rất ít khi phải nhờ đến pháp luật vì vấn đề bất bình đẳng giới, nếu có thì thường là tranh chấp đất đai
Ở các thành thành phố lớn: gia đình 2 thế hệ là phổ biến và có các đặc điểm liên quan đến giới như sau:
-Tính độc lập của nam và nữ cao hơn so với gia đình nông thôn-nhưng mô hình gia đình kinh tế riêng như ở phương tây đã có nhưng chưa phổ biến
-Tính bình đẳng cũng cao hơn- nhưng tâm lý trọng nam và gia trưởng vẫn còn khá phổ biến
- Đàn ông vẫn ít tham gia việc nhà và nuôi dạy con cái-tuy nhiên tâm lý sĩ diện khi làm việc nhà đã giảm nhiều
Trang 3636
Nhìn chung, vị thế đàn ông trong gia đình và xã hội vẫn được thiên vị so với nữ chứng minh bằng chỉ số hài lòng của đàn ông Việt Nam cao hơn nhiều so với Phụ nữ (theo kết quả điều tra của một tổ chức nước ngoài- truyền thông đại chúng đưa tin) Giải pháp nâng cao bất bình đẳng giới trong gia đình hiện nay: nên tăng mức phạt tiền và lao động công ích
giới-đủ mức răn đe đối với hành vi bạo hành phụ nữ Đồng thời các tổ chức quần chúng cấp cơ sở phường, xã nên thành lập những tổ (nhóm) hỗ trợ pháp lý cho phụ nữ bị bạo hành 2 Bình đẳng giới trong xã hội Việt Nam ngày nay
Kinh tế thị trường và tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo điều kiện để nâng cao đáng kể vị thế nữ giới trong xã hội Phụ nữ đã có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của kinh tế, xã hội như: hoạt động chính trị, quản lý kinh tế, nhà khoa học, nhà giáo, doanh nhân, cảnh sát, quân đội, hoạt động văn học nghệ thuật…và đều có những tài năng nổi bật không thua kém nam giới và không có sự phân biệt đối xử Tuy nhiên có những lĩnh vực nữ giới ít hơn nam giới và ngược lại do yêu cầu của tính chất công việc-như công an, bộ đội, cơ giới giao thông
Tuy nhiên về yếu tố văn hóa, tâm lý chung của xã hội chưa thoát khỏi sự thiên vị
giới-cụ thể như thích sinh con trai hơn, dư luận khắt khe hơn đối với những sai lầm, khuyết điểm
về lối sống của phụ nữ…ngay cả trong thể thao, bóng đá nữ lập thành tích cao nhưng số cổ động viên và mức thưởng cũng thấp hơn đội nam…
Ngày nay Việt Nam cũng bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều bộ phận giới tính thứ ba nhưng xã hội còn chưa hiểu nhiều về vấn đề này nên còn kỳ thị nhưng nhà nước đã không ngăn cấm hôn nhân đồng giới-điều đó chứng tỏ vấn đề bình đẳng giới đã được nhìn nhận từ góc độ luật pháp và lý trí
2 Tìm hiểu khái niệm “Nam Nữ bình quyền” trong hiến pháp Việt Nam và “bình đẳng giới” của phương Tây
Từ năm 1946, trong hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi:
“Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Đến hiến pháp năm 1959 (điều 24) ghi rõ hơn: Phụ nữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” Sau đó, các hiến pháp 1980, 1992,
2001, 2013- đã cụ thể hóa, chi tiết hóa quan điểm “nam nữ bình quyền”(về tiền lương, thai sản, hôn nhân, bảo vệ bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình…) Như vậy khái niệm “bình quyền” thuộc phạm trù luật pháp-nhìn từ văn bản pháp luật thì phụ nữ Việt Nam không thiếu bất cứ quyền nào mà nam giới có
Quan niệm “Bình đẳng giới” của phương Tây cũng không khác Việt Nam về các quyền ghi trong hiến pháp- nhưng quan niệm về văn hóa, lối sống thì có sự khác biệt khá rõ-phản ánh những sắc thái văn hoá khác nhau:
- Văn hóa Việt Nam thiên về cảm tính nhưng lại phân biệt khá rạch ròi về giá trị của Nam giới và Nữ giới-điều đó thể hiện rất rõ trong ca dao tục ngữ, thành ngữ: “làm trai cho đáng nên trai-Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng tường… “Công dung, ngôn, hạnh”…”Trai tài, gái sắc”… “ công Cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”…Trai khôn kén vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân” … Qua đó cho thấy, quan niệm về giá trị đặc trưng của nam giới là “phái mạnh”- là người phải gánh vác các công việc nặng nhọc, là trụ cột nuôi sống và bảo vệ gia đình, là lực lượng chủ yếu bảo vệ tổ quốc Giá trị đặc trưng của nữ giới là “phái yếu, phái đẹp”- “công, dung, ngôn, hạnh” là những phẩm chất không thể lẫn với Nam giới Phụ nữ làm được những việc đòi hỏi sự khéo léo, nhẹ
Trang 3737
nhàng, tinh tế, thiên về Mỹ thuật hơn hẳn nam giới như: dệt vải, đan lát, thêu thùa, may vá-và đặc biệt là có kỹ năng thiên phú về nuôi dạy con trẻ
- Văn hóa phương Tây thiên về lý tính, đề cao tự do cá nhân nhưng lại không phân biệt
về giá trị và lối sống của từng giới Có lẽ họ coi bình đẳng là sự “bằng nhau” về kỹ năng và
“giống nhau” về hành vi và lối sống (trong nội dung của chương trình Bình đẳng giới mà Việt Nam được tài trợ)
Nếu hỏi “nữ quyền” là gì thì có lẽ phương tây và Việt Nam sẽ có câu trả lời giống nhau về luật pháp nhưng khác nhau về văn hóa-một bên không cần phân biệt về lối sống- một bên đề cao giá trị của nữ giới
3 Việt Nam tiếp thu quan niệm “bình đẳng giới” nhƣ thế nào?
Về vấn đề này có thể đặt ra giả thuyết: phải chăng “Nam Nữ bình quyền” ở Việt Nam chưa thực hiện tốt vì lạc hậu về lý luận nên cần tiếp thu chương trình “bình đẳng giới” của phương Tây?
Trên thực tế, ở Việt Nam còn rất nhiều biểu hiện bất bình đẳng giới Cụ thể là phụ nữ vẫn còn nhiều mặt thiệt thòi hơn nam giới như: cơ hội việc làm ít hơn, lương bổng thấp hơn,
cơ hội thăng tiến ít hơn, nạn bạo hành gia đình còn khá phổ biến, Phụ nữ vất vả hơn vì vừa phải gánh vác công việc xã hội, vừa phải chu toàn việc nhà điều kiện học tập, hưởng thụ văn hóa cũng ít hơn…Đã có một cuộc điều tra xã hội do tổ chức nước ngoài tiến hành cho biết: chỉ số hài lòng của phụ nữ Việt Namthấp hơn khá nhiều so với nam giới (VTV 1) Điều đó phản ánh rất khách quan tình hình bất bình đẳng giới ở Việt Nam Vậy nguyên nhân nằm ở đâu?
Như trên đã trình bày, các quyền bình đẳng được ghi trong hiến pháp của Việt Nam không thiếu so với các nước phát triển -như vậy vấn đề nằm ở khả năng thi hành luật pháp và chấp hành pháp luật
Về phía thực thi pháp luật: tòa án chỉ xét xử tội bạo hành gia đình khi có đơn tố cáo, còn vấn đề giáo dục, cảnh báo, ngăn chặn bạo hành phải do các cấp chính quyền địa phương
và các cơ quan chức năng về văn hóa, trật tự xã hội đảm nhiệm-nhưng thực tế cho thấy trình
độ hiểu biết luật pháp của cán bộ chính quyền cơ sở rất hạn chế Cụ thể như trường hợp ở Quảng Ngãi-những người con đã đem cha mình nhốt vào một căn lều, nhưng chính quyền địa phương không can thiệp vì cho rằng đó là “chuyện riêng của gia đình họ…”
Về phía chấp hành luật pháp: người bị bạo hành là phụ nữ còn nặng về quan niệm
“xuất giá tòng phu” và tâm lý “xấu chàng hổ ai” nên không tố cáo-thậm chí còn bao che cho hành vi bạo hành để giữ “thể diện gia đình” Đối với người vi phạm là nam giới: thường không bị trừng phạt, hoặc chỉ bị “phạt lấy lệ”, nếu có quan hệ quen biết với công an khu vực thì chỉ bị “nhắc nhở”… Cụ thê như trường hợp một chị ở Đồng Nai được mời đến một cuộc hội thảo để làm nhân chứng về bạo hành gia đình nhưng người chồng đe dọa “nếu nói gì thì
sẽ bị đánh tiếp…”
Từ thực tế trên, vấn đề được đặt ra là nếu đưa chương trình “bình đẳng giới” của nước ngoài vào môi trường văn hóa Việt Nam thì khả năng thay đổi tình trạng bất bình đẳng sẽ diễn ra theo chiều hướng nào ? Liệu những người phụ nữ Việt Nam có muốn thể hiện quyền bình đẳng bằng cách cũng đi uống rượu như đàn ông, và có cảm thấy hạnh phúc không khi có người chồng ở nhà làm nội trợ và đi mỹ viện… Mặt khác, những người đàn ông vốn tính gia
Trang 384 Kết luận
Lĩnh vực nghiên cứu về giới ở Việt Nam hiện nay có xu hướng đi tìm các lý thuyết về giới của các học giả phương tây-điều đó là cần thiết nhưng dường như cho rằng ở Việt Nam chưa hề có lý luận về giới nên coi những gì của phương tây là khuôn mẫu để thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay Nhưng như phần trên đã trình bày quan niệm bình đẳng giới của phương tây và của Việt Nam tuy không khác nhau về luật pháp, nhưng rất khác về văn hóa: một bên muốn đạt đến sự “bằng nhau và giống nhau” về hành vi và lối sống, một bên đề cao những giá trị tinh thần của từng giới Do đó Việt Nam nên đi theo hướng mà phương tây còn bỏ trống là nghiên cứu về “giá trị giới” “tố chất giới”, “năng lực giới”, “tính cách giới”,
“thị hiếu giới”…và nhiều khía cạnh khác nhau giữa hai giới được ẩn chứa trong văn hóa truyền thống phương đông và Việt Nam Nghiên cứu sự khác biệt giới không phải để biện minh cho những quan niệm bất bình đẳng hay đi tìm mâu thuẫn giới cho chủ trương đấu tranh giành “nữ quyền”-mà trái lại để chứng minh tính bổ xung và tính ràng buộc rất chặt chẽ về giá trị giới mà tạo hóa đã ban cho loài người để hình thành sự thống nhất mang tên “cuộc sống”
Nhìn chung, xã hội Việt Nam chưa chịu ảnh hưởng nhiều của “chương trình bình đẳng giới” theo kiểu phương tây Điều đó cũng có mặt tích là: góp phần gìn giữ những “giá trị giới” trong văn hóa truyền thống như “trai anh hùng-gái đảm đang” Tuy nhiên phải thừa nhận thực tế là ở Việt Nam còn nhiều biểu hiện bất bình đẳng giới nhưng không phải vì chưa tiếp thu tốt quan niệm bình đẳng giới kiểu phương tây mà do sự hạn chế về trình độ nhận thức luật pháp của cơ quan chức năng và một bộ phận quần chúng
Giải pháp nâng cao bình đẳng giới hiện nay và cho các thế hệ sau có lẽ không phải là đẩy mạnh thực hiện chương trình bình đẳng giới kiểu phương tây mà là thực thi nghiêm túc các điều luật về “nam nữ bình quyền” trong hiến pháp Việt Nam và trang bị kiến thức về “giá trị giới” và tôn trọng sự khác biệt giới Nói cách khác, bình đẳng giới tùy thuộc vào mức độ ý thức về giá trị giới và sự bảo vệ của luật pháp
Trang 3939
CHẶNG ĐƯỜNG 30 NĂM PHÁT TRIỂN CỦA BẢO TÀNG PHỤ NỮ NAM BỘ, GÓP PHẦN GIỮ GÌN, GIÁO DỤC LÕNG YÊU NƯỚC, TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA
PHỤ NỮ MIỀN NAM
TS Nguyễn Hoàng Huế
Khoa Sử - Đại học Thủ Dầu Một TÓM TẮT
Ba mươi năm hình thành và phát triển, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ đã trở thành điểm đến – nơi họp mặt truyền thống, giao lưu, sinh hoạt văn hóa,… của các thế hệ phụ nữ Việt Nam, góp phần giữ gìn, giáo dục lòng yêu nước, truyền thống tốt đẹp của phụ nữ miền Nam Bài viết của chúng tôi sẽ tập trung vào quá trình hình thành và phát triển, các hoạt động chính và vai trò giáo dục của Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ
Từ khóa: Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ, giới, phụ nữ, truyền thống
-
1 Quá trình hình thành và phát triển
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công và tiếp sau đó là thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là thiên anh hùng ca bất hủ trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Thắng lợi này là minh chứng hùng hồn truyền thống yêu nước quật cường, trí thông minh, sáng tạo và tài thao lược của dân tộc Việt Nam, trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại Những chiến công vang dội trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, toàn dân, toàn diện của cả dân tộc có sự đóng góp to lớn của những người phụ nữ Việt Nam anh hùng
Kế thừa những truyền thống yêu nước quý báu của dân tộc, phụ nữ Việt Nam và phụ
nữ Nam bộ nói riêng rất thuỷ chung, gan dạ, anh dũng trong chiến đấu Có biết bao những tấm gương tiêu biểu của phụ nữ Nam bộ trong đấu tranh, mặc dù bị địch bắt bớ, tù đày, tra tấn dã man nhưng các mẹ, các chị vẫn giữ trọn khí tiết của người cán bộ cách mạng
Ý tưởng thành lập bảo tàng dành riêng cho giới nữ được khơi gợi vào ngày 20/12/1982, hơn
200 cán bộ Hội Liên Hiệp Phụ nữ TP.HCM gồm nhiều thế hệ đồng loạt ủng hộ và biểu thị sự nhất trí là cần phải tổng kết Lịch sử phong trào Phụ nữ Nam bộ, đánh giá những cống hiến của phụ nữ qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, hình thành nên những bài học lịch
sử, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ sau [1]
Tiền thân của Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ là Nhà truyền thống phụ nữ Nam bộ được xây dựng theo tâm nguyện và ý chí của các thế hệ phụ nữ đi trước nhằm giữ gìn, giáo dục lòng yêu nước, truyền thống tốt đẹp của Phụ nữ Việt Nam cho các thế hệ mai sau
Được sự chấp thuận của Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng, tháng 1 năm
1983, Tổ nghiên cứu lịch sử phụ nữ Nam bộ (gọi tắt là Tổ Sử Phụ nữ Nam bộ) được thành lập Tổ Sử Phụ nữ gồm 13 nữ cán bộ lão thành, đa số đã nghỉ hưu, tự nguyện tham gia công tác tổng kết lịch sử phong trào phụ nữ Nam bộ, do bà Nguyễn Thị Thập – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa 2,3,4, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (từ năm 1956 đến năm 1974) phụ trách Với tinh thần làm việc khẩn trương
Trang 4040
của Tổ Sử Phụ nữ Nam bộ, ngày 29/4/1985, nhân kỷ niệm 10 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nhà truyền thống Phụ nữ Nam bộ được khánh thành với diện tích 200m2 gồm 6 phòng trưng bày chuyên đề Hoạt động chưa đầy 1 năm, Nhà truyền thống Phụ nữ Nam bộ đã đón cả 100.000 lượt khách tham quan trong và ngoài nước, đặc biệt là ở các tỉnh thành phía Nam [2]
Ngày 8/3/1986, được Trung Ương Đảng và Nhà nước cho phép, Tổ sử Phụ nữ Nam bộ khởi công xây dựng bảo tàng mới có diện tích 3.000m2 với sự ủng hộ tích cực về tiền bạc, vật
tư của của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, các cá nhân, kiều bào, …Theo thời gian, hiện vật cùng tư liệu hình ảnh ngày càng nhiều, nhu cầu cần phải phát triển nhà truyền thống lớn mạnh thành bảo tàng được đặt ra 5 năm chuẩn bị nội dung và tiến hành cuộc vận động quy
mô kêu gọi quyên góp từ tư liệu, hình ảnh, hiện vật quý đến vật chất của hàng triệu phụ nữ và các cơ quan đoàn thể khắp các tỉnh thành Nam bộ tự nguyện hiến tặng với mong muốn nâng cấp Nhà truyền thống thành Bảo tàng Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ chính thức cắt băng khánh thành vào ngày 30/4/1990 trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 431/QĐ-UBND, ngày 28/2/1990
Ngày 18/05/1990, lễ khánh thành Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ được tổ chức trọng thể trong không khí tưng bừng cả nước kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Bác Hồ Bảo tàng có diện tích sử dụng 5.410,5m2, một hội trường có sức chứa gần 1.000 người, hệ thống kho bảo quản trên 700m2 Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo của Ủy Ban Nhân Dân TP.HCM, Sở Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch) và sự hỗ trợ của Cục Di sản Văn hóa,
tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, đồng bào ở các địa phương, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ
đã từng bước trưởng thành và khẳng định được vị trí trong hệ thống bảo tàng cả nước
Hiện nay, Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ có địa chỉ tại số 202 Võ Thị Sáu, phường 7, quận
3, Thành phố Hồ Chí Minh, đã trở thành một địa chỉ quen thuộc với khách tham quan trong nước, nhất là các tầng lớp phụ nữ và khách nước ngoài đến tham quan
Ba mươi năm hoạt động, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ có nhiều nỗ lực chủ động sáng tạo trong các mặt công tác chuyên môn nhằm giáo dục truyền thống của Phụ nữ Việt Namcho công chúng và trở thành điểm đến – nơi họp mặt truyền thống, giao lưu, sinh hoạt văn hóa,
…của các thế hệ phụ nữ Việt Nam
2 Những hoạt động chủ yếu của bảo tàng
2.1 Giáo dục công chúng
Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ thực hiện công tác giáo dục và phổ biến tri thức khoa học bằng nhiều hình thức khác nhau: hướng dẫn tham quan tại Bảo tàng, tổ chức trưng bày chuyên đề, tổ chức những cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học, giao lưu, họp mặt; xây dựng các chương trình sân khấu hoá, trình diễn trang phục phụ nữ qua các thời kỳ, giới thiệu hoạt động Bảo tàng qua các phương tiện thông tin khác nhau: sách báo, truyền hình, truyền thanh, trực tiếp vận động khách tham quan đến với Bảo tàng [4]
2.2 Công tác nghiên cứu khoa học
Đối tượng nghiên cứu của Bảo tàng: người phụ nữ Việt Namtrong lịch sử dựng nước
và giữ nước trên các lĩnh vực kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội – quân sự v.v… trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ cũng như trong thời kỳ đổi mới, xây dựng đất nước, vai trò của họ trong gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc