Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hộiCác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hội
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HIẾU NGHĨA
CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Ở KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, Năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦNN HIÉU NGHĨA
CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Ở KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
HÀ NỘI – Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả được đề cập trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ
ràng và chính xác
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHẬN THỨC VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TỪ KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 6 1.2 Cơ sở của việc quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 10 1.3 Ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa xã hội của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự từ khía cạnh xã hội 52
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TỪ KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ KHÍA CẠNH XÃ HỘI 58
3.1 Các giải pháp nâng cao hiệu quả của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
từ khía cạnh pháp luật 58 3.2 Nâng cao nhận thức của cơ quan áp dụng pháp luật về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 65
KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường hiện nay, sự gia nhập và tiếp nhận một số hình thức văn hóa xã hội của các nước ngoài thì sự gia tăng và biến đổi của tội phạm cũng ngày càng tăng Đặc biệt phát sinh và hình thành thêm nhiều tội phạm mới, đa dạng, phức tạp, tăng tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Khoản 1 Điều 48 Đồng thời quy định tại khoản 2 là: “Những tình tiết đã
là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng” Đến Bộ luật hình sự 2015, cơ bản các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được giữ nguyên, tuy nhiên đối với một số tình tiết đã được quy định rõ và cụ thể hơn, phù hợp hơn trong quá trình áp dụng để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Tuy nhiên, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 vừa chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2018 quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 có một số tình tiết gây hiểu sai trong cách áp dụng, đòi hỏi cần phải có hướng dẫn áp dụng thống nhất
Quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có những ý nghĩa nhất định về mặt pháp lý và xã hội Đó là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc
áp dụng pháp luật, đồng thời là một trong những dấu hiệu thể hiện sự công bằng khi
xử lý tội phạm, thể hiện tính răn đe, giáo dục cao đối với những cá nhân, pháp nhân phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thể hiện tính phòng ngừa tội phạm
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có vai trò rất quan trọng, là một trong những căn cứ để Tòa án xem xét, quyết định việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Do đó, nếu cách hiểu, cách áp dụng không thống nhất thì sẽ dẫn đến trường hợp quyết định hình phạt không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm
Trang 6cho xã hội của hành vi Việc áp dụng đúng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự trong thực tiễn sẽ góp phần không nhỏ trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo được mục đích trừng trị, răn đe và phòng ngừa tội phạm
Vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh pháp luật và xã hội” làm luận văn thạc sĩ của mình Nhằm làm rõ quy định các tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, những khó khăn, vướng mắc trong áp dụng Và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các tình tiết này trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, việc nghiên cứu những quy định của Bộ luật hình sự nói chung, quy định
về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nói riêng đã được nhiều học giả nghiên cứu ở nhiều mặt và nhiều cấp độ khác nhau Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều chế định khác nhau của pháp luật hình sự cũng được nhắc đến hoặc đề cấp đến trong nhiều nghiên cứu khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ luật học của Tiến sĩ Dương Tuyết Miên (2003) về Quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam; Lê Cảm (2002), Một số vấn đề
lý luận cơ bản Vai trò của các tình tiết tăng nặng & giảm nhẹ thuộc về nhân thân người phạm tội đối với việc cá thể hoá TNHS và hình phạt); Luận văn thạc sĩ “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình” của tác giả Lê Thị Hảo (2017); Luận văn thạc sĩ “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam” của tác giả Trần Thị Thùy Trang (2015); Luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Đức Hồng Hà (1991) về Áp dụng tình tiết định tội, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trong luật hình
sự Việt Nam; Luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Trần Mạnh Toàn (2011) về Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội; Luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Bùi Văn Lam (2002) về Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam; Luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Phan Hồng Thúy (2010)
về Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam - một số
Trang 7vấn đề lý luận và thực tiễn; Luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương về Phạm tội vì động cơ đê hèn với tư cách là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự trong Luật hình sự Việt Nam; Thạc sĩ Lê Văn Luật (2007) về Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với trẻ em”
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (2018), Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân
Những công trình này nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới góc độ tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo nghĩa hẹp, chủ yếu theo khía cạnh pháp luật, chứ chưa có nghiên cứu nào về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cả về khía cạnh pháp luật
và xã hội Tuy nhiên, các bài viết này thực sự là những tài liệu có giá trị tham khảo lớn đối với luận văn tốt nghiệp mà bản thân đang nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là thông qua việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp
lý về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự dựa trên hai khía cạnh, đó là khía cạnh pháp luật và khía cạnh xã hội Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những đề xuất hoàn thiện về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trên hai khía cạnh pháp luật và khía cạnh xã hội, nhất là các quy định chưa rõ ràng, các tình tiết liên quan cần được
bổ sung hoặc việc hướng dẫn áp dụng chưa cụ thể, rõ ràng và thuyết phục
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Trình bày nhận thức đầy đủ và sâu sắc về những vấn đề lý luận cơ bản của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trên khía cạnh pháp luật và xã hội
- Phân tích và đánh giá nội dung các quy định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 ở khía cạnh pháp luật và xã hội Chỉ ra những vướng mắc, bất cập của quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự, các quy định chưa rõ ràng, các tình tiết liên quan cần được bổ sung
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ khía cạnh pháp luật và khía cạnh
xã hội
Trang 84 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, trong đó có sự vận dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn bản pháp luật Việt Nam về tội phạm và hình phạt, kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, logic… Để lý giải các vấn đề
lý luận, đánh giá các quy định của pháp luật cũng như đánh giá các vấn đề thực tiễn
có liên quan, giúp cho việc nghiên cứu được nhìn nhận dưới góc nhìn đa chiều và hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về các tình tiết tăng nặng TNHS theo pháp luật hình sự Việt Nam Phân tích các quy định của Bộ luật hình sự về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự dưới khía cạnh pháp luật và
xã hội Chỉ nghiên cứu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với chủ thể là
cá nhân, không nghiên cứu chủ thể là pháp nhân Phạm vi nghiên cứu trong những năm 2013 đến năm 2019
6 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giúp cho các nhà nghiên cứu có góc nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và việc áp dụng quy định
về các tình tiết này ở khía cạnh pháp luật và xã hội Luận văn cũng bổ sung nguồn tài liệu tham khảo, giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm, nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng quy định này Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật có cách tiếp cận đầy đủ về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định trong pháp Luật hình sự Từ đó, có thể hoàn thiện pháp luật, đưa ra và thực hiện các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong giải quyết các vụ án hình sự Ngoài ra, còn giúp các cán bộ làm công tác thực tiễn nhất là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân hiểu thấu đáo và vận dụng
Trang 9chính xác các quy định của pháp luật hiện hành về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự 2015
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn có bố cục gồm 3 Chương:
Chương 1: Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: khía cạnh pháp luật
Chương 2: Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: khía cạnh xã hội
Chương 3: Các giải pháp tăng cường khía cạnh pháp luật và xã hội của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Trang 10
Chương 1 CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ:
Tội phạm là một hiện tượng xã hội, là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm thực hiện Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà cá nhân, pháp nhân thực hiện để xem xét quyết định đó có phải là tội phạm hay không, nếu hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác
Nếu tính chất và mức độ xâm phạm như nhau thì vẫn có những yếu tố khác nhau như: Nhân thân, không gian, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh lúc phạm tội, v.v Để làm căn cứ xem xét Chính vì vậy, Bộ luật hình sự không quy định mức hình phạt
cụ thể cho từng hành vi phạm tội mà chỉ quy định khung hình phạt cho một nhóm hành vi giống nhau cơ bản về chất nhưng khác nhau về lượng Sự khác nhau về lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố và được nhà làm luật quy định thành hai nhóm tình tiết có nội dung ý nghĩa trái ngược nhau [22, tr.23]
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng về cơ bản, có thể khái quát như sau:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định trong Bộ luật hình
sự với tính chất là tình tiết tăng nặng chung và là một trong những căn cứ để Tòa án
Trang 11quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này
Từ khái niệm trên có thể rút ra được các đặc điểm của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bao gồm:
Thứ nhất, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phải là các tình tiết được quy định
cụ thể trong Bộ luật hình sự Ngoài Bộ luật hình sự, không có văn bản pháp lý nào được quy định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà chỉ có văn bản hướng dẫn việc áp dụng và Tòa án cũng không được quyền quyết định một tình tiết ngoài các tình tiết được quy định trong Bộ luật hình sự là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Thứ hai, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét quyết định hình phạt đối với cá nhân, pháp nhân phạm tội nếu trong vụ án xuất hiện tình tiết này Còn nếu tình tiết tăng nặng xuất hiện nhưng không liên quan đến vụ án thì Tòa án sẽ không xem xét
Thứ ba, trong một vụ án cụ thể và đối với người phạm tội cụ thể thì tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chỉ làm cho tội phạm thay đổi mức độ nguy hiểm theo hướng nghiêm trọng hơn
Thứ tư, khi tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được luật quy định là tình tiết định khung làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và là căn cứ cho phép Tòa án tăng mức hình phạt đối với người phạm tội chuyển sang khung hình phạt khác nặng hơn thì Tòa án không được sử dụng tình tiết đó với tính chất là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung khi quyết định hình phạt Vì như vậy là trái với mục đích và nguyên tắc của Bộ luật hình sự
Thứ năm, khi tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được luật quy định là tình tiết định tội thì nghĩa là tình tiết tăng nặng này đã làm thay đổi tính chất nguy hiểm của tội phạm Trong trường hợp này, Tòa án không được sử dụng tình tiết đó với tính chất là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung khi quyết định hình phạt Thứ sáu, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có tính chất ổn định tương đối về
cả số lượng và chất lượng Tùy theo tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của
Trang 12từng thời kì mà các quy định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được sửa đổi, bổ sung thêm hoặc được bỏ đi sao cho phù hợp
Căn cứ vào tính chất của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể phân loại thành: Tình tiết tăng nặng thuộc về mặt khách quan của tội phạm, tình tiết tăng nặng thuộc mặt về chủ quan của tội phạm, tình tiết tăng nặng thuộc về khách thể của tội phạm, tình tiết tăng nặng thuộc về chủ thể của tội phạm và tình tiết tăng nặng thuộc về nhân thân người phạm tội
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về khách thể của tội phạm Chẳng hạn: Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác và xâm phạm tài sản của nhà nước Đối tượng bị tác động trong khác thể của tội phạm là một trong các căn cứ tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt Khi người phạm tội
có một trong những tình tiết này thì mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự của họ lớn hơn, mức hình phạt của họ sẽ cao hơn so với trường hợp bình thường
số cấu thành tội phạm cụ thể quy định rõ về chủ thể của tội phạm ngoài hai điều kiện về tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự còn phải thoả mãn thêm các dấu hiệu như: Có chức vụ, giới tính, nghề nghiệp, quan hệ gia đình… Những chủ thể này gọi
là chủ thể đặc biệt của tội phạm Dấu hiệu chủ thể đặc biệt có thể quy định là dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung hoặc dấu hiệu tăng nặng trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, chủ thể đặc biệt với tư cách là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự chỉ được áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về mặt khách quan của tội phạm Khách quan của tội phạm bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, thời gian và hoàn cảnh phạm tội Những dấu hiệu này đều có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội ở nhiều mức độ khác nhau Trong các dấu hiệu trên thì dấu hiệu
Trang 13hành vi nguy hiểm được quy định trong tất cả các cấu thành tội phạm với ý nghĩa là dấu hiệu định tội Hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là dấu hiệu có tính chất bắt buộc trong tất cả các cấu thành tội phạm cụ thể, nhưng trong nhiều trường hợp việc xác định hậu quả lại đóng vai trò quyết định
Mặt chủ quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, động cơ, mục đích phạm tội Trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm, còn động cơ, mục đích phạm tội không phải là những dấu hiệu trong tất cả các cấu thành tội phạm cụ thể Tình tiết thể hiện mặt chủ quan của tội phạm như “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” thể hiện tính nguy hiểm cao hơn
so với trường hợp phạm tội bình thường hoặc phạm tội do lỗi vô ý Hoặc trong các động cơ phạm tội, có những động cơ thể hiện sự ích kỷ, xấu xa, bội bạc, phản trắc của người phạm tội được quy định trong pháp Luật hình sự là “động cơ đê hèn” và
là tình tiết tăng nặng mức trách nhiệm hình sự trong phạm vi một khung hình phạt nếu tình tiết này không được quy định là tình tiết định tội hay tình tiết định khung của tội phạm đó [33]
Một số đặc điểm nhân thân người phạm tội còn được xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như phạm tội có tính chất côn đồ, phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm… Các tình tiết này thường được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung và tăng nặng trách nhiệm hình sự chung, có ý nghĩa
và đóng vai trò quan trọng trong việc xem xét quyết định hình phạt
Tóm lại, dù phân loại các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo tiêu chí nào đi nữa thì vai trò và ý nghĩa của các tình tiết tăng nặng này cũng chính là làm tăng mức độ nguy hiểm, hoặc tăng tính chất nguy hiểm của tội phạm
1.2 Cơ sở pháp lý của việc quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được xây dựng dựa trên các
cơ sở pháp lý sau:
Trang 14Thứ nhất, căn cứ vào Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hiện nay là hiến pháp năm 2013 Đây là đạo luật gốc cao nhất, cơ bản nhất của Việt Nam, quy định những nguyên tắc, nội dung tổng quát nhất làm cơ sở cho việc xây dựng các Bộ luật, đạo Luật trong mọi lĩnh vực như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật thương mại, Luật đất đai… Bộ luật hình sự 2015 nói chung, quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nói riêng cũng được các nhà làm luật nghiên cứu xây dựng dựa trên nội dung của Hiến pháp, không được trái với nguyên tắc, nội dung của Hiến pháp
Thứ hai, căn cứ một số Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Pháp luật Việt Nam nói chung, Bộ luật hình sự Việt Nam nói riêng, khi được nghiên cứu xây dựng đều phải cân nhắc, xem xét đến các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên Đối với trường hợp người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của Điều ước quốc tế; Trường hợp Điều ước quốc tế đó không quy định thì được giải quyết bằng con đường ngoại giao, do đó
Thứ ba, quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Bộ luật hình sự
2015 còn được xây dựng mang tính kế thừa từ các Văn bản pháp luật được ban hành trước đó như “Pháp lệnh trừng trị các tội phản Cách Mạng” (ngày 30/10/1967), sau
đó đến “Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN”, “Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân” (ngày 21/10/1970); Bản tổng kết thực tiễn vận dụng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ kèm theo Công văn số 38/NCPL ngày 16/01/1976 của Tòa án nhân dân tối cao (năm 1976); Bộ luật hình sự năm 1985; Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi), bổ sung năm 2009 và nay là Bộ luật hình
sự 2015 [30, tr.12-14]
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã kế thừa, hoàn thiện, bổ sung những điểm mới về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phù hợp với yêu cầu của thực tiễn để đảm
Trang 15bảo việc áp dụng mang tính trừng phạt, răn đe, đồng thời mang tính giáo dục, cảm hóa đối với người phạm tội
Tại Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định 15 (mười lăm) tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 52, và các Điều kiện khi áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Đối với các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự quy định, như: Có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp… Tình tiết có thể là hành vi, chủ thể, động cơ…; Nhưng có tình tiết tăng nặng là một “tổ hợp” các dấu hiệu của cấu thành tội phạm Ví dụ: Điểm n khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: Dùng thủ đoạn (thuộc chủ quan), phương tiện (thuộc khách quan), có khả năng gây nguy hại cho nhiều người (thuộc khách thể bảo vệ của Bộ luật hình sự năm 2015).Trong số các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt trong các Điều luật Bộ luật hình sự năm 2015 có 15 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì đến 9/15 điểm (chín trên mười lăm) quy định trong định tội, định khung hình phạt
So với Bộ luật hình sự năm 1999 là 12/14 (mười hai trên mười bốn) tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là dấu hiệu định tội, định khung trong các tội danh cụ thể Như vậy, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm
2015 đã được quy định chặt chẽ và cụ thể hơn, ít các khoản mang tính “tổ hợp” và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ít lặp lại trong các Điều, khoản định tội hoặc định khung hình phạt so với Bộ luật hình sự năm 1999 [27]
Tại Điều 52, Bộ luật hình sự 2015 Đối với cá nhân phạm tội thì chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội có tổ chức; Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; Phạm tội có tính chất côn đồ; Phạm tội vì động cơ đê hèn; Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên; Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt
Trang 16vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội; Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội; Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội; Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.Và các tình tiết đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng
Đặc biệt, lần đầu tiên Bộ luật hình sự 2015 quy định chủ thể của tội phạm ngoài cá nhân còn có pháp nhân phạm tội, và dành hẳn một chương để quy định truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý hình sự đối với pháp nhân phạm tội Trong đó có quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân tại Điều 85 như sau:
Đối với pháp nhân thương mại thì chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách tnhiệm hình sự: Cấu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội; Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng; Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm
Và cũng như đối với cá nhân phạm tội, các tình tiết đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt đối với pháp nhân thì không được coi là tình tiết tăng nặng
Như vậy, cơ sở pháp lý để xây dựng quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự năm 2015 trước hết chính là Hiến pháp 2013 quy định về những nguyên tắc chung, thẩm quyền của Quốc Hội, cơ quan lập hiến, lập pháp Trên cơ sở Hiến pháp, một số Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và kế thừa các quy định pháp luật về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong các văn bản pháp lý được ban hành trước đó, Bộ luật hình sự 2015 cùng với quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được xây dựng, ban hành Quy định các tình tiết tăng nặng
Trang 17trách nhiệm hình sự không được trái Hiến pháp, không được trái với những nguyên tắc cơ bản bản Bộ luật hình sự
1.3 Ý nghĩa pháp lý của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự có ý nghĩa nhất định về mặt pháp lý Đó sẽ là căn cứ pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền xác định đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội trong trường hợp có thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Và căn cứ vào quy định đối với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Tòa án có thể quyết định đúng, chính xác loại, mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm tội phạm và người phạm tội Việc Tòa án xem xét, cân nhắc và áp dụng chính xác quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong quá trình giải quyết vụ án chính là biểu hiện sự tôn trọng của các cơ quan tư pháp hình sự đối với các nguyên tắc tiến bộ của Luật hình sự Việt Nam như nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bình đẳng trước Luật hình sự, nguyên tắc công minh… Trong thực tiễn áp dụng pháp Luật hình sự Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có mối quan hệ mật thiết với các quy định của Bộ luật hình sự trong việc xác định tội phạm, định tội danh và định khung hình phạt Do đó, việc quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong các Điều luật của Bộ luật hình sự là cần thiết và hợp lý
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm quyền cần phải xác định rõ tội danh, khung hình phạt và các tình tiết tăng nặng (và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự) Các loại tình tiết này có vai trò bổ sung và hỗ trợ cho nhau trong quá trình định tội cũng như lượng hình đối với người phạm tội Vì vậy, khi áp dụng Tòa án cần phân biệt được tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào là tình tiết định tội, là tình tiết định khung hay tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung, mối liên hệ chặt chẽ hữu cơ giữa chúng để có thể đưa ra quyết định hình phạt chính xác, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Đây cũng là một trong những ý nghĩa pháp lý quan trọng của quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà các nhà làm luật xây dựng trong Bộ luật hình sự
Trang 18Đối với một vụ án hình sự cụ thể, chỉ sau khi xác định được tình tiết định tội mới xác định được tình tiết định khung và tình tiết định khung có tác dụng là căn cứ để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội một cách cụ thể, rõ ràng hơn Khi
đã xác định được tội danh và khung hình phạt cụ thể thì mới có cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung (và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự), đây là bước cụ thể hóa tiếp theo để đánh giá mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, giúp Tòa án đưa ra được một biện pháp xử lý đúng
1.4 Quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với cá nhân phạm tội tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015
Muốn xác định đúng và chính xác các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi chứng minh tội phạm và để có căn cứ quyết định hình phạt thì phải nắm rõ và hiểu được đặc điểm, tính chất của từng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ chức
Phạm tội có tổ chức là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm, các đối tượng này có sự cấu kết chặt chẽ với Theo Nghị quyết 02-HĐTP/NQ ngày 16/11/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, sự câu kết này có thể thể hiện dưới các dạng sau đây:
a) Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như: Đảng phái, hội, đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… Có những tên chỉ huy, cầm đầu Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội Ví dụ: Sau khi đã hết hạn tù, một số tên chuyên trộm cắp đã tập hợp nhau lại và thống nhất cùng nhau tiếp tục hoạt động phạm tội
b) Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước Ví dụ: Một số nhân viên nhà nước đã thông đồng với nhau tham ô nhiều lần; Một số tên chuyên cùng nhau đi trộm cắp; Một số tên hoạt động đầu cơ, buôn lậu có tổ chức đường dây để nắm nguồn hàng, vận chuyển, thông tin về giá cả
Trang 19c) Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm Ví dụ: Trong các trường hợp trộm cắp, cướp tài sản của công dân mà có phân công điều tra trước về nơi ở, quy luật sinh hoạt của gia đình chủ nhà, phân công chuẩn bị phương tiện và hoạt động của mỗi người đồng phạm; Tham ô mà có bàn bạc trước về kế hoạch sửa chữa chứng từ sổ sách, hủy chứng từ, tài liệu hoặc làm giả giấy tờ; Giết người mà có bàn bạc hoặc phân công điều tra sinh hoạt của nạn nhân, chuẩn bị phương tiện và kế hoạch che giấu tội phạm
Trong trường hợp phạm tội có tổ chức, mỗi một đối tượng phạm tội đều đóng một vai trò nhất định, có thể là người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức, và những người này được gọi là đồng phạm Tuy nhiên với một số trường hợp, phạm tội có đồng phạm nhưng khi xem xét thì các đồng phạm này không phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng phạm tội có tổ chức vì thuộc trường hợp đồng phạm mang tính chất giản đơn Khi đã xác định được trường hợp cụ thể
đó là phạm tội có tổ chức thì phải áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với tất cả những người cùng thực hiện tội phạm (người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức) Mức độ tăng nặng phụ thuộc vào quy mô tổ chức, vai trò của từng người trong việc tham gia vụ án
Người tổ chức được xác định là kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm Thường là người khởi xướng việc tội phạm; Vạch kế hoạch thực hiện, kế hoạch che giấu tội phạm; Rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm; Phân công trách nhiệm cho những đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm; Điều khiển, chỉ huy hành động của những đồng phạm khác; Đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm [26]
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm Trực tiếp thực hiện tội phạm
là trực tiếp có hành vi thuộc khách quan của cấu thành tội phạm như: Trực tiếp cầm dao chém nạn nhân, cầm súng bắn nạn nhân, trực tiếp chiếm đoạt tài sản, trực tiếp nhận hối lộ Người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiện tội
Trang 20phạm Nếu không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích tội phạm không được thực hiện, hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ra và trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác sẽ được xem xét theo quy định khác của Bộ luật hình sự Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác phụ thuộc rất lớn vào hành vi của người thực hành
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm Người xúi giục chỉ chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ chức khi hành vi xúi giục có liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm trước khi bị xúi giục chưa có ý định tội phạm nhưng vì có người xúi giục nên họ mới nảy sinh ý định tội phạm Tuy nhiên, không phải trường hợp thực hiện hành vi kích động, dụ dỗ nào cũng là người xúi giục Nếu việc xúi giục không liên quan trực tiếp đến hoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm đã có sẵn ý định tội phạm, thì đó không phải là người xúi giục trong vụ án có đồng phạm có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ chức Ví dụ: Như A đi nhậu ở nhà bạn về thấy có hai nhóm thanh niên đang đuổi đánh nhau, mặc dù không biết họ
là ai nhưng thấy có đánh nhau, A liền hô hào “Đánh chết chúng nó đi” Hậu quả là hai nhóm thanh niên đánh nhau dẫn đến một người trong đó bị thương tích nặng phải đi cấp cứu và tử vong Ở đây, hành vi của A hô hào “Đánh chết chúng nó đi” nhưng A không biết họ là ai, không nói là ai đánh chết ai Việc hô hào của A không phải là xúi giục hành vi phạm tội của nhóm thanh niên, vì hai nhóm thanh niên đã đuổi đánh nhau từ trước, dù A có hô hào hay không thì hai nhóm đó vẫn cứ đánh nhau, không từ bỏ ý định phạm tội, do đó A không phải là người xúi giục mặc dù nhìn qua thì nghĩ rằng A xúi giục nhóm thanh niên phạm tội
Trường hợp thực hiện hành vi xúi giục người dưới 18 tuổi, người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện tội phạm, thì hành vi xúi giục được coi là hành vi thực hành thông qua hành vi của người bị xúi giục Nếu xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội thì người xúi giục còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
"xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội"
Trang 21Ở đây, khi xem xét một hành vi xúi giục thì đó phải là hành vi xúi giục phải cụ thể, tức là người xúi giục phải nhằm vào tội phạm cụ thể và người phạm tội cụ thể Còn nếu chỉ có lời nói có tính chất thông báo hoặc gợi ý chung chung thì không phải là người xúi giục và không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tội phạm của người thực hiện tội phạm
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm Trong một vụ án có đồng phạm có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ chức thì vai trò của người giúp sức cũng rất quan trọng, nếu không
có người giúp sức thì người thực hiện tội phạm sẽ gặp khó khăn Ví dụ: A hứa với B
sẽ tiêu thụ toàn bộ số tài sản nếu B trộm cắp được Như vậy, vì có sự hứa hẹn của A nên đã thúc đẩy B quyết tâm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vì đã có nơi nhận tiêu thụ tài sản trộm cắp được
Hành vi tạo điều kiện về tinh thần cho người thực hiện hành vi phạm tội của người giúp sức thường là hứa hẹn sẽ che giấu tội phạm, hứa ban phát cho người phạm tội một lợi ích tinh thần nào đó như đề bạt, thăng cấp, tăng lương cho người phạm tội; Hướng dẫn cung cấp cho người phạm tội những thông tin nhằm tạo sự thuận lợi, dễ dàng để thực hiện hành vi phạm tội như nói cho người phạm tội biết chủ nhà thường vắng nhà vào giờ nào để đến trộm cắp, thói quen sinh hoạt của các bị hại Tạo điều kiện vật chất cho việc thực hiện tội phạm là việc thực hiện hành vi cung cấp phương tiện tội phạm như dao, xe máy, xe ô tô Để người phạm tội thực hiện tội phạm Tuy nhiên, dù là hành vi tạo điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm thì đó cũng chỉ là nhằm giúp người thực hiện tội phạm dễ dàng hơn trong việc thực hiện tội phạm chứ không trực tiếp thực hiện Do đó, hành vi của người giúp sức trong vụ án đồng phạm có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ chức không phải là hành vi đóng vai trò chủ chốt
Đối với một số tội phạm như tổ chức đánh bạc, tổ chức đua xe trái phép… Thì “tổ chức” quy định trong các tội phạm cụ thể nêu ở trên là hành vi phạm tội Tình tiết tăng nặng phạm tội có tổ chức, nhất thiết phải có từ hai người trở lên, là một hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ, có sự phân công trách nhiệm Còn tổ chức
Trang 22đánh bạc, tổ chức đua xe trái phép Có thể chỉ có một người cũng có thể thực hiện được hành vi tổ chức để phạm tội Như vậy, hành vi tổ chức trong các tội phạm này không coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do đó tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tổ chức” vẫn có thể áp dụng đối với các tội này nếu có
đủ dấu hiệu về tình tiết “phạm tội có tổ chức”
Và khi xem xét quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tổ chức” thì cần phải chú ý là: Với vai trò nào thì tất cả những người phạm tội trong vụ án đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "phạm tội có tổ chức" Mức độ tăng nặng nhiều hay ít của từng người tuỳ thuộc vào vai trò của họ trong vụ án Đối với vụ án có nhiều bị can
và bị kết án về nhiều tội khác nhau thì cần phân biệt trường hợp nào là phạm tội có
tổ chức, trường hợp nào không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức và bị cáo nào phạm tội bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tổ chức” (“Phạm tội có tổ chức” không phải là tình tiết định khung hoặc định tội)
Ngoài ra, cần chú ý đối với trường hợp người phạm tội đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội và được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm, nhưng hành vi thực tế đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành một tội phạm khác, thì người đó không phải chịu trách nhiệm về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tổ chức”
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” được quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự 1999, đến Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năn 2017) vẫn giữ nguyên tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Căn cứ theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 thì tình tiết "Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" được áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
Trang 23- Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xoá án tích;
- Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính
Về vấn đề động cơ, mục đích của người có hành vi được coi là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, xoay quanh việc hiểu như thế nào là lấy việc chiếm đoạt tài sản của người khác làm nghề sống chính và lấy tài sản chiếm đoạt được làm nguồn thu nhập chính (hay chủ yếu)
Theo quan điểm cá nhân của tác giả thì khi xác định động cơ, mục đích của người bị coi là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, chúng ta chỉ cần xác định người đó phạm tội vì động cơ vụ lợi, làm giàu bất chính và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn thu nhập chính hoặc chủ yếu, chứ không cần yếu tố người đó lấy việc phạm tội là nghề sống chính Hoặc chúng ta chỉ cần xác định được người đó phạm tội vì
vụ lợi, làm giàu bất chính và lấy việc phạm tội làm nghề sống chính là đủ mà không cần phải chứng minh thêm yếu tố người đó lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn thu nhập chính hoặc chủ yếu Giải quyết vấn đề này vừa có căn cứ khoa học đồng thời cũng không gây khó khăn lớn cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trong việc xác định tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, bảo đảm việc đấu tranh chống tội phạm này
Về thời hiệu thực hiện tội phạm, thì không phân biệt các lần phạm tội đó về cùng một tội phạm (hoặc một số tội phạm) đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích
Về nhân thân người phạm tội, người bị áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp có nhân thân rất xấu, thể hiện tính chống đối xã hội cao Người có nhân thân xấu theo pháp luật hình sự Việt Nam về nguyên tắc chung là người có tiền án, tiền sự (hoặc cả tiền án, tiền sự)
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội
Trang 24Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội là việc người có chức vụ đã lợi dụng vị trí công tác, lợi dụng quyền hạn trong khi thực hiện công vụ để phạm tội
Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công
vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ Chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện tội phạm một cách dễ dàng [11]
Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội được quy định trong một số loại tội phạm
cụ thể, có tính chất đặc thù, đặc biệt là nhóm tội phạm tham nhũng, chức vụ Đây là loại tội phạm dễ dàng gây hậu quả thiệt hại lớn cho xã hội do những người có chức
vụ thực hiện, là những người có điều kiện để thực hiện tội phạm mà những chủ thể không có chức vụ, quyền hạn không thể thực hiện được Mặt khác, việc thực hiện tội phạm của những người có chức vụ, quyền hạn sẽ gây ảnh hưởng xấu đến dư luận
xã hội, làm giảm uy tín của nhà nước, của tổ chức… Đối với các tầng lớp nhân dân loại tội phạm này thường khó phát hiện, xử lý, tỷ lệ tội phạm ẩn là khá cao
Hiện nay, Bộ luật hình sự 2015 quy định tình tiết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” là một tình tiết định khung tăng nặng đồng thời còn được xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự vì nó đã làm tăng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội Tuy nhiên, người phạm tội bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” nếu thật sự
có việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, còn nếu tội phạm được thực hiện nhưng không liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của họ thì không bị coi là có tình tiết tăng nặng này Cũng như một số các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác, tình tiết "lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội" chỉ được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi nó không phải là tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt đã được quy định trong cấu thành cụ thể
Phạm tội có tính chất côn đồ
Tính chất côn đồ là chỉ hành vi của con người khi thực hiện tội phạm Tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ được quy định là tình tiết định khung trong một số tội
Trang 25phạm, và cũng là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 Mặt khác, tại điểm c khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự 2015 về nguyên tắc xử lý có quy định: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội”
Tuy nhiên, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự 2015 là dùng để áp dụng với con người có bản chất côn đồ là kẻ luôn coi thường pháp luật, thích gây
gổ, hành hung xâm phạm tính mạng, danh dự, sức khỏe người khác Còn đối với người “phạm tội có tính chất côn đồ” được pháp Luật hình sự quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, là tình tiết được xem xét khi quyết định hình phạt thì không áp dụng điểm c khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự 2015 Đây là điểm thể hiện
sự nghiêm minh của pháp luật nhưng vẫn bảo đảm tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam
Hiện nay, kể từ khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực pháp luật thì vẫn chưa có Văn bản nào hướng dẫn về việc áp dụng tình tiết “Phạm tội có tính chất côn đồ” quy định trong Bộ luật hình sự 2015 Do đó, để vận dụng đúng và khách quan đối với tình tiết này đòi hỏi cần phải đánh giá dựa trên nhiều yếu tố, như nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội; Thời gian, địa điểm, không gian tội phạm được thực hiện; Nhân thân người phạm tội… Để từ đó đánh giá ý thức thực hiện hành vi phạm tội của họ là có coi thường pháp luật hay không, có thách thức pháp luật hay không
và ở mức độ nào? Động cơ, mục đích, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội là gì? Tương quan lực lượng, hậu quả pháp lý mà tội phạm gây ra Như vậy, việc áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” mới được đúng đắn, đạt được hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Phạm tội vì động cơ đê hèn
Phạm tội vì động cơ đê hèn là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của công dân, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức
Trang 26lỗi cố ý do sự thúc đẩy bởi những động lực mang tính chất xấu xa, ti tiện, thể hiện tính bội bạc, hèn nhát, phản trắc cao và không có tính người [19, tr.25]
Dấu hiệu chủ yếu để xác định tình tiết “phạm tội vì động cơ đê hèn” là dấu hiệu về chủ quan trong cấu thành tội phạm Tình tiết này chỉ áp dụng đối với tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp với động cơ phạm tội xấu xa, ti tiện, đáng khinh nhất thể hiện tính ích kỷ, bội bạc, phản trắc của con người thể hiện thông qua hành động như: Giết vợ hoặc chồng của mình để lấy vợ hoặc chồng khác; Đe dọa giết người, giết chủ nợ để trốn nợ; Phạm tội đối với người là ân nhân của mình; Giết phụ nữ có thai nhằm mục đích trốn tránh trách nhiệm; Giết người nhằm mục đích cướp tài sản… [31, tr.20]
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội vì động cơ đê hèn chỉ có ý nghĩa
áp dụng đối với một hoặc một số hành vi phạm tội chứ không thể áp dụng đối với tất cả các tội phạm Tình tiết này không được quy định là tình tiết định tội nhưng được quy định là tình tiết định khung hình phạt ở phần các tội phạm Do vậy khi đã
áp dụng là tình tiết định khung thì không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Đối với tình tiết “Phạm tội vì động cơ đê hèn” thì hiện nay, pháp luật hình sự Việt Nam không có một Văn bản pháp lý nào kể cả Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn cách áp dụng tình tiết này với tư cách là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà chỉ có những hướng dẫn áp dụng tình tiết này ở những cấu thành tội phạm cụ thể với vai trò là tình tiết tăng nặng định khung Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng tình tiết phạm tội vì động cơ đê hèn với vai trò là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng
Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là quyết tâm thực hiện bằng được ý định phạm tội và hành vi phạm tội, mặc dù có sự can ngăn của người khác hoặc có những trở ngại khác trong quá trình thực hiện tội phạm Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng không phụ thuộc vào việc người phạm tội có đạt được mục đích phạm tội hay không
Trang 27Nếu mục đích của người phạm tội không đạt, nhưng chứng minh được người phạm tội đang tìm mọi cách để thực hiện được tội phạm, đạt được mục đích phạm tội của mình thì vẫn sẽ bị xem xét áp dụng tình tiết này Ví dụ: Hoàng Công T có ý định giao cấu với cháu Nguyễn Thị Đ là con riêng của vợ, T đã nhiều lần dụ dỗ, đe doạ nhưng cháu Đ vẫn phản đối Một hôm chỉ có T và cháu Đ ở nhà, T đòi cháu Đ cho giao cấu, nhưng cháu Đ cương quyết phản ứng và bỏ chạy Thấy vậy, T đi tìm cháu
Đ về nói dối với cháu rằng về nhà mẹ nhờ việc Cháu Đ tưởng thật theo T về nhà Vừa vào trong nhà, T đè cháu Đ ra giường và thực hiện việc giao cấu, nhưng cháu
Đ chống trả quyết liệt, đồng thời hô hoán để mọi người đến cứu Nghe tiếng kêu cứu, mọi người đã đến nên T không thực hiện được hành vi giao cấu với cháu Đ [26]
Nếu người phạm tội có sự lưỡng lự, không dứt khoát khi thực hiện hành vi phạm tội thì không áp dụng tình tiết này Ví dụ: Một người có ý định trộm cắp tài sản của người khác và đã hai lần lén lút đến nhà họ để thực hiện trộm cắp Tuy có điều kiện trộm cắp, nhưng lần đầu lại lưỡng lự vì sợ bị bắt và lần sau lại không thực hiện việc lấy trộm vì nghĩ đến mối quan hệ quen biết Đến lần thứ ba thì người này quyết định trộm tài sản và đem bán Đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp trong trường hợp này không bị coi là cố tình thực hiện tội phạm đến cùng
Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào quyết tâm thực hiện tội phạm và những cản trở mà người phạm tội gặp phải
Phạm tội 02 lần trở lên
Bộ luật hình sự 1999, quy định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này với tên gọi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” được quy định tại Điều 48 Tuy nhiên qua thực tiễn áp dụng nảy sinh một số bất cập, do đó tại Bộ luật hình sự 2015, tình tiết này đã được sửa đổi thành tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội từ 2 lần trở lên” được quy định tại Điều 52 của Bộ luật này Quy định này giúp cho các cơ quan có thẩm quyền thuận lợi và dễ dàng hơn trong việc nhận thức, áp dụng pháp luật, tránh trường hợp một số nhận thức cho
Trang 28rằng phạm tội 2 lần chưa phải là phạm tội nhiều lần, dẫn đến việc đánh giá, xem xét, cân nhắc quyết định hình phạt thiếu chính xác
Có thể hiểu phạm tội 02 lần trở lên là có từ hai lần trở lên phạm cùng một loại tội, trong đó mỗi lần đều đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, nay các lần phạm tội đó được xét xử trong cùng một bản án
Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Theo quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự 2015 thì:
Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý
Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý Với trường hợp này, việc xác định một người là “tái phạm nguy hiểm” phải thỏa mãn các dấu hiệu sau:
- Một là, trước khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội đó đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý Việc xác định dấu hiệu người phạm tội “đã bị kết án” cũng được xác định như trường hợp tái phạm nhưng tội phạm trước mà người phạm tội bị kết án chỉ giới hạn ở tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý
- Hai là, người bị kết án và bản án đã kết án đối với họ chưa được xóa án tích Dấu hiệu này được xác định như trường hợp tái phạm
- Ba là, người phạm tội lại phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng
do cố ý và lần phạm tội này đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập do Bộ luật hình
sự quy định Tội phạm này được thực hiện sau và được xét xử sau
Hoặc tái phạm nguy hiểm là đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý Với trường hợp này thìphải thỏa mãn các dấu hiệu sau:
Trang 29- Một là, người phạm tội đã tái phạm, nghĩa là trước lần bị đưa ra xét xử này, người phạm tội đã 02 lần bị kết án về tội phạm độc lập do Bộ luật hình sự quy định và trong lần bị kết án thứ hai người phạm tội đã bị áp dụng tình tiết “tái phạm”
- Hai là, người bị kết án và bản án đã kết án đối với họ chưa được xóa án tích
- Ba là, người phạm tội lại phạm tội do lỗi cố ý
Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên
Bộ luật hình sự 1999 quy định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già
“Trẻ em” được xác định là người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (tiểu mục 2.2 mục 2 Nghị quyết số 01/2006/NQ- HĐTP)
“Phụ nữ có thai” được xác định bằng các chứng cứ chứng minh là người phụ nữ đó đang mang thai Trường hợp thực tế khó nhận biết được người phụ nữ đó đang có thai hay không hoặc giữa lời khai của bị cáo và người bị hại về việc này có mâu thuẫn với nhau thì để xác định người phụ nữ đó có thai hay không phải căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn y tế hoặc kết luận giám định (tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết số 01/2006/NQ- HĐTP)
“Người già” được xác định là người từ 70 tuổi trở lên (tiểu mục 2.4 mục 2 Nghị quyết số 01/2006/NQ- HĐTP)
Hiện nay, pháp Luật hình sự Việt Nam quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 thì tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được sửa thành Phạm tội với người dưới
16 tuổi, phụ nữ có thai, người từ đủ 70 tuổi trở lên
Người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người từ đủ 70 tuổi trở lên là những đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ đặc biệt Việc phạm tội đối với các đối tượng này là xâm phạm đến chính sách bảo vệ bà mẹ, trẻ em hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến đạo đức xã hội và nguyên tắc nhân đạo trong quan hệ xã hội nên trường hợp phạm tội này có mức độ nguy hiểm cao hơn so với trường hợp phạm tội đối với đối tượng bình thường
Trang 30Tình tiết tăng nặng này chỉ có thể áp dụng đối với các trường hợp phạm tội xâm phạm khách thể loại là quyền nhân thân và khi hội đủ 02 điều kiện:
- Một là, Người thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý;
- Hai là, Đối tượng tác động của tội phạm là con người cụ thể, là việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể là tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự, tự do của người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, và người đủ 70 tuổi trở lên Nếu hành vi phạm vào một tội phạm cụ thể xâm phạm đến nhiều khách thể, thì một trong những khách thể bị hành vi phạm tội xâm hại đến phải là tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, và người đủ 70 tuổi trở lên
Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác
Đây là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm k, Điều 52 Bộ luật hình sự 2015
“Người ở trong tình trạng không tự vệ được” là người trong tình trạng không có hoặc bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; bị bệnh tật; đang ngủ say, đang ở trong tình thế không chống đỡ được, không tự vệ được
“Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức”, là các dạng đối tượng mới được bổ sung vào nhóm đối tượng bị xâm hại trong tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Đây là các đối tượng mà khả năng
tự bảo vệ mình là rất yếu, dễ bị xâm hại bởi các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội, và cần được pháp luật hình sự bảo vệ nhằm đảm bảo tính công bằng trong xã hội Việc thêm các đối tượng này là hết sức phù hợp và cần thiết
“Người lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác” là người có mối quan hệ với người phạm tội, nhưng bị lệ thuộc vào người phạm tội về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác
Trang 31Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự của tình tiết này tùy thuộc vào mối quan hệ
lệ thuộc giữa nạn nhân với bị cáo và vào nghĩa vụ của bị cáo đối với nạn nhân Nếu mối quan hệ càng sâu sắc, nghĩa vụ của bị cáo đối với nạn nhân càng lớn thì mức tăng nặng càng nhiều và ngược lại
Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội
Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm l khoản 1, Điều
52 Bộ luật hình sự 2015
Để áp dụng đúng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này thi phải xác định đúng
là người phạm tội đã có sự lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội mà không đòi hỏi điều kiện lúc phạm tội là đang có chiến tranh, đang trong tình trạng khẩn cấp, đang có thiên tai, dịch bệnh hoặc đang có những khó khăn đặc biệt khác Nếu phạm tội trong hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội nhưng người phạm tội không lợi dụng những việc này để phạm tội thì sẽ không áp dụng tình tiết tăng nặng này Lợi dụng tình trạng khẩn cấp để phạm tội là trường hợp người phạm tội đã lợi dụng tình trạng khẩn cấp trong đời sống xã hội để thực hiện hành vi phạm tội (như lợi dụng việc hoả hoạn để chiếm đoạt tài sản của người khác, lợi dụng người khác đang
bị cấp cứu trên giường bệnh để chiếm đoạt tài sản của họ…) Mức độ tăng nặng của tình tiết này phụ thuộc vào ý thức lợi dụng và tính chất mức độ của hành vi phạm tội khi lợi dụng tình
Lợi dụng hoàn cảnh thiên tai để phạm tội là trường hợp người phạm tội đã lợi dụng thiên tai như bão lũ, lũ lụt, động đất… Để thực hiện tội phạm Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào mức khó khăn nhiều hay ít do thiên tai gây ra và ý thức lợi dụng của người phạm tội đối với khó khăn đó
Lợi dụng dịch bệnh là bệnh truyền nhiễm tràn lan, làm cho nhiều người, nhiều gia súc mắc phải, trong đó có thể có những bệnh nguy hiểm như HIV, dịch hạch, dịch tả nhưng cũng có những bệnh không nguy hiểm như dịch cúm, dịch sốt sét… Để phạm
Trang 32tội là trường hợp người phạm tội đã lợi dụng những khó khăn do dịch bệnh gây nên
để thực hiện tội phạm Mức độ tăng nặng của tình tiết này phụ thuộc vào tính chất
và mức độ của hành vi lợi dụng dịch bệnh để thực hiện hành vi phạm tội của người phạm tội
Lợi dụng hoàn cảnh khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội Những khó khăn này có thể xảy ra ở từng nơi, vào từng lúc, có thể xảy ra ở một địa bàn rộng, nhưng cũng có thể xảy ra ở một làng, một xã, một cơ quan, xí nghiệp trường học… Khó khăn đặc biệt, thể hiện ở mức độ và phạm vi gây thiệt hại đến người và tài sản Người phạm tội phải có ý thức lợi dụng những khó khăn đặc biệt của xã hội để phạm tội thì mới coi là tình tiết tăng nặng Nếu không có sự lợi dụng thì không thuộc tình tiết tặng nặng này Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự ở tình tiết này
là phụ thuộc vào mức độ lợi dụng nhiều hay ít vào khó khăn cụ thể của xã hội lúc
họ thực hiện tội phạm
Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội
Là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm
m khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự 2015
Dùng thủ đoạn xảo quyệt phạm tội là trường hợp khi phạm tội, người phạm tội có những mánh khoé, cách thức gian dối, thâm hiểm làm cho người bị hại hoặc những người khác khó lường thấy trước được để đề phòng
Dùng thủ đoạn tàn ác trong khi phạm tội, là người phạm tội có những mánh khoé, cách thức độc ác một cách tàn nhẫn, hoặc gây tác hại cho hàng loạt người không chút thương xót (như tra tấn cho tới chết…)
Người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phải dùng trong khi thực hiện tội phạm, nếu thủ đoạn này xảy ra sau khi tội phạm đã hoàn thành thì không thuộc trường hợp phạm tội có tình tiết tăng nặng này Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình
sự của tình tiết này tuỳ thuộc vào tính chất mức độ xảo quyệt, tàn ác của thủ đoạn
mà kẻ phạm tội đã thực hiện
Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội
Trang 33Là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm
n khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự 2015
Khi phạm tội người phạm tội dùng thủ đoạn, phương tiện không chỉ nhằm xâm hại một người nào đó mà thủ đoạn phương tiện đó còn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người khác Thủ đoạn mà người phạm tội thực hiện chỉ cần có khả năng gây nguy hại cho nhiều người thì đã bị coi là tình tiết tăng nặng, không cần sự nguy hại
đó có thực sự xảy ra hay không Ví dụ: Để đầu độc một người, kẻ phạm tội đã bỏ thuốc độc xuống giếng nước uống của gia đình người này, nhưng gia đình của nạn nhân đã phát hiện nên không ai bị ngộ độc [26]
Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội
Bộ luật hình sự 1999 quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người chưa thành niên phạm tội”, nhưng Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi thành tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” được quy định tại điểm o Khoản 1, Điều 52
Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội là xui khiến, kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người chưa đủ 18 tuổi thực hiện tội phạm.Người xúi giục có thể tham gia trong một vụ án
có tổ chức hoặc chỉ phạm tội riêng lẻ Ví dụ: Một người muốn giết người khác bằng thuốc độc Họ đã dụ dỗ một em 13 tuổi bỏ thuốc độc vào thức ăn của người mà họ định giết Vì người phạm tội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên người xúi giục được coi như kẻ thực hành tội phạm và hành vi phạm tội của họ vẫn bị coi là tăng nặng trong tình tiết này Nếu người bị xúi giục là người chưa thành niên, nhưng đã đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì tuỳ thuộc vào từng trường hợp có thể là người cầm đầu hoặc chỉ là người xúi giục Nếu người xúi giục lại phạm tội có
tổ chức thì họ phải chịu cả hai tình tiết tăng nặng là phạm tội có tổ chức và xúi giục người chưa thành niên phạm tội Mức tăng nặng của tình tiết này phụ thuộc vào số người bị xúi giục và độ tuổi bị xúi giục
Hiện nay, kể từ khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thì chưa có Văn bản pháp lý nào hướng dẫn về việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này
Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm
Trang 34Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1, Điều
52 Bộ luật hình sự 2015
Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm là hành động thâm hiểm, khó mà lường thấy trước được hoặc là hành động dữ tợn, phá phách, đánh giết người nhằm trốn tránh, tẩu thoát hoặc để che giấu tội phạm
Hành động xảo quyệt hoặc hung hãn của bị cáo là nhằm mục đích trốn tránh, che giấu tội phạm Những hành động này cản trở hoạt động tư pháp của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, làm cho tội phạm mà bị cáo thực hiện khó bị phát hiện hoặc có nguy cơ khó phát hiện Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào tính chất và mức độ xảo quyệt, hung hãn mà bị cáo thực hiện sau khi phạm tội
Để có thể áp dụng đúng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi xem xét quyết định hình phạt đối với người phạm tội thì cần nắm được bản chất của từng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định
là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng
So với Điều 48 của BLHS năm 1999, một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
đã được hủy bỏ hoặc có sự sửa đổi bổ sung và quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự
2015 Cụ thể, tại điểm i, đã sửa cụm từ “phạm tội đối với trẻ em” thành “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi”; sửa “người già” thành “người đủ 70 tuổi trở lên” Sửa tình tiết: “Xúi giục người chưa thành niên phạm tội” thành “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” (điểm o) Việc sửa đổi một số điểm trong các tình tiết tăng nặng đã thể hiện sự rõ ràng, cụ thể hơn về đối tượng bị xâm hại, tạo sự thuận lợi cho các cơ quan áp dụng pháp luật khi đánh giá tội phạm
Các tình tiết phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trong Bộ luật hình sự 1999 đã được xóa bỏ, vì đây là các tình tiết định tội, định khung hình phạt mang tính chất định tính và trừu tượng Các tình tiết này đã được lượng hóa cụ thể trong các tội phạm và khi đã là tình tiết định tội, định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng nữa
Trang 35Tình tiết xâm phạm tài sản của Nhà nước trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của BLHS 1999 cũng được xóa bỏ nhưng với một số tội phạm thì tình tiết này vẫn là tình tiết định tội, định khung hình phạt Ví dụ: Như tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 BLHS năm 2015)
Bộ luật hình sự 2015 cũng đã bổ sung thêm đối tượng bị xâm hại là "người khuyết tật hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức" vào tình tiết tăng nặng quy định tại điểm k khoản 1, Điều 52 Việc bổ sung thêm các đối tượng này là điều cần thiết và hợp lý Bởi lẽ, đây là những đối tượng có khả năng tự bảo
vệ mình rất thấp, dễ bị xâm hại, do đó họ cần phải được bảo vệ, và những đối tượng xâm phạm, gây hại đến "người khuyết tật hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức" cần phải được xử lý nghiêm, thích đáng
Ngoài ra, với một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định ghép trong một điểm của khoản 1, Điều 48 BLHS năm 1999 thì tại Bộ luật hình sự 2015 đã được tách ra và quy định thành các điểm riêng trong khoản 1, Điều 52 của BLHS năm 2015 Ví dụ: Như các tình tiết: Phạm tội 2 lần trở lên (điểm g); Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (điểm h); Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội (điểm m); Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội (điểm n)
Đặc biệt, Bộ luật hình sự 2015 lần đầu tiên quy định về pháp nhân thương mại phạm tội và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội [14]
Tại Điều 85 quy định đối với pháp nhân thương mại thì chỉ các tình tiết sau đây mới
là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Cấu kết với pháp nhân thương mại khác
để phạm tội; Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng; Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm”
Một là, cấu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội
Trang 36Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm a khoản 1, Điều
85 Bộ luật hình sự 2015 Đây là hình thức phạm tội mà theo đó giữa các pháp nhân thương mại đã có sự bàn bạc, thống nhất để cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội Hai là, cố ý thực hiện tội phạm đến cùng
Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1, Điều
85 Bộ luật hình sự 2015
Dấu hiệu của tình tiết này chính là quyết tâm cao ý định thực hiện bằng được tội phạm của pháp nhân thương mại, mặc dù khi chuẩn bị hoặc đang thực hiện hành vi phạm tội có sự can ngăn hoặc có những cản trở khác trong quá trình thực hiện tội phạm
Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng không phụ thuộc vào việc pháp nhân thương mại phạm tội có đạt được mục đích phạm tội hay không Có trường hợp, pháp nhân thương mại phạm tội không đạt được mục đích vẫn có thể bị coi là cố tình thực hiện tội phạm đến cùng Có trường hợp, pháp nhân thương mại phạm tội có quyết tâm phạm tội, nhưng lại không phải là cố tình thực hiện tội phạm đến cùng vì trong quá trình thực hiện tội phạm, pháp nhân thương mại đó không bị sự cản trở nào hoặc sự cản trở đó không đáng kể Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào quyết tâm thực hiện tội phạm và những cản trở mà pháp nhân thương mại phạm tội vấp phải Nếu quyết tâm càng cao, cản trở càng lớn mà pháp nhân thương mại vẫn cố tình thực hiện tội phạm thì mức độ tăng nặng càng nhiều [14]
Ba là, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Phạm tội 02 lần trở lên
Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 1, Điều 85 Bộ luật hình sự 2015 Tình tiết này được áp dụng trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng hoặc nhiều đối tượng khác nhau Nếu tách ra từng hành vi phạm tội riêng
lẽ thì mỗi hành vi đã đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập Tất cả các hành
vi phạm tội đó đều được quy định tại một điều luật cụ thể trong phần riêng Bộ luật hình sự, có thể cùng một khoản, có thể phạm tội ở các khoản khác nhau của cùng một Điều luật
Trang 37Các hành vi phạm tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật (như đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án…) và cùng bị đưa ra xét xử một lần trong cùng một vụ án (được tuyên trong một bản án) Nếu Điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại
về tài sản thì pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại
Bốn là, Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm như đối với cá nhân phạm tội
Là tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm d khoản 1 Điều
85 Bộ luật hình sự 2015 Được hiểu như đối với trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm áp dụng cho cá nhân phạm tội quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự
2015
Năm là, Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội
Là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm
đ khoản 1, Điều 85 Bộ luật hình sự 2015
Đối với tình tiết tăng nặng này, phải xác định được là pháp nhân thương mại phạm tội đã có sự lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội mà không đòi hỏi lúc phạm tội đang có chiến tranh, đang trong tình trạng khẩn cấp, đang có thiên tai, dịch bệnh hoặc đang có những khó khăn đặc biệt khác Nếu pháp nhân thương mại phạm tội trong hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội mà pháp nhân thương mại phạm tội không lợi dụng những sự kiện này để phạm tội thì không áp dụng tình tiết tăng nặng này
Có thể thấy rõ việc áp dụng tình tiết này qua xử lý hình sự đối với vụ án: Công ty
VN Pharma buôn lậu thuốc chữa ung thư
Từ năm 2013, Nguyễn Minh Hùng thông qua môi giới là Võ Mạnh Cường (Giám đốc công ty Hàng hải Quốc tế H&C) đặt mua thuốc tân dược của hãng Helix Pharmaceuticals (Canada) để bán và đấu thầu cung cấp cho các bệnh viện ở Việt Nam Trong đó có thuốc Capicitabine 500mg dùng chữa trị bệnh ung thư