1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đánh giá cách thức xử lý đối với việc kết hôn không đúng thẩm quyền và các trường hợp chung sống như vợ chồng”

15 162 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 44,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ BÀI Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách. Sự kiện đăng ký kết hôn được coi là sự kiện pháp lý quan trọng nhất đánh dấu sự hình thành của một gia đình hợp. Tuy nhiên, thời gian qua, việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đang xuất hiện ngày càng nhiều, ảnh hưởng rất nhiều tới xã hội, phát sinh rất nhiều các hệ lụy liên quan như các vấn đề về tranh chấp về tài sản, quyền nuôi con... Bởi, theo quy định của pháp luật, việc kết hôn không đúng thẩm quyền và việc chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sẽ không được pháp luật thừa nhận. Do đó, các quyền và nghĩa vụ của họ cũng không được nhà nước bảo đảm thực hiện. Vì lý do đó, em xin trình bày đề tài số 3 làm bài tập nhóm của mình, đề bài như sau: “Phân tích và đánh giá cách thức xử lý đối với việc kết hôn không đúng thẩm quyền và các trường hợp chung sống như vợ chồng” NỘI DUNG I. Khái quát chung về việc kết hôn không đúng thẩm quyền và các trường hợp chung sống như vợ chồng. 1) Kết hôn không đúng thẩm quyền. “Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” (khoản 5 Điều 3 Luật HNGĐ 2014). Như vậy có thể hiểu rằng khi cả hai bên nam và nữ đáp ứng được đủ các điều kiện về kết hôn theo luật Hôn nhân và gia đình, và đăng ký kết hôn thì sẽ được công nhận là vợ chồng. Do đó, “đăng ký kết hôn” là sự kiện pháp lý rất quan trọng trong việc có hay không có quan hệ vợ chồng. Đây là sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng để từ đó Nhà nước có biện phải bảo hộ quyền lợi cho vợ và chồng. Trong xã hội trước đây, ở nước ta, chỉ cần tuân thủ theo lễ cưới truyền thống mà không cần đăng ký kết hôn là pháp luật đã công nhận việc kết hôn đó. Nhưng hiện nay, đăng ký kết hôn được coi là một thủ tục pháp lý bắt buộc trong việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng, đảm bảo xây dựng một trật tự pháp lý ổn định, xóa bỏ tư tưởng lạc hậu đã tồn tại lâu đời, đảm bảo chế độ hôn nhân tự nguyện và tiến bộ. Nam nữ kết hôn bên cạnh việc tuân thủ đầy đủ các điều kiện đăng ký kết hôn thì họ cũng cần đăng ký kết hôn đúng cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo cuộc hôn nhân của họ là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Về thẩm quyền đăng ký kết hôn: hiện nay, thẩm quyền đăng ký kết hôn được quy định tại Luật Hộ tịch năm 2014, theo đó thì: Về thẩm quyền đăng ký kết hôn trong nước. Căn cứ khoản 1 Điều 17 Luật hộ tịch 2014: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn.”. Theo như quy định trên, thẩm quyền đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau sẽ thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã cư trú của một trong các bên thực hiện đăng ký kết hôn. Về thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài: Theo Điều 37 Luật Hộ tịch 2014 quy định:“1.UBND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân trong nước với người nước ngoài, giữa công dân trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau, giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài. 2. Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn.” Khoản 1 Điều 18 Nghị định 1232015NĐCP: “1. Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú.” Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, nếu việc đăng ký đó không trái với pháp luật của nước sở tại. Trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài kết hôn với nhau thì Cơ quan đại diện thực hiện đăng ký kết hôn, nếu có yêu cầu . Theo Điều 19 Nghị định 1262014NĐ – CP quy định về thẩm quyền đăng ký kết hôn đối với người nước ngoài thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, theo quy định tại Luật hộ tịch 2014 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01012016 thì thẩm quyền đăng ký kết hôn với người nước ngoài sẽ thuộc về UBND cấp huyện. Như vậy, thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài đã được chuyển từ Sở tư pháp sang Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Sự thay đổi này sẽ giúp giảm bớt được chi phí, thời gian cho công dân trong việc đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài. Việc đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới được giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với thực tiễn, giảm được chi phí đi lại cho người dân, đỡ tốn kém hơn và phù hợp với điều kiện dân trí nơi đây. Thông qua các quy định trên cho thấy, tùy từng trường hợp kết hôn mà có cơ quan đăng ký kết hôn khác nhau. Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì việc đăng ký kết hôn đó không có giá trị pháp lý Như vậy, kết hôn không đúng thẩm quyền là việc hai bên nam, nữ đã đáp ứng được đủ các điều kiện về kết hôn theo luật Hôn nhân và gia đình, thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước không có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. 2) Chung sống như vợ chồng. Chưa có văn bản nào quy định cụ thể như thế nào là chung sống như vợ chồng. Theo khoản 7 Điều 3 Luật HNGĐ 2014 thì “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”. Do đó có thể hiểu chung sống như vợ chồng mà pháp luật thừa nhận chỉ tồn tại giữa nam và nữ. Điều này đã vô tình làm thiếu đi một nhóm chủ thể khác. “Tổ chức cuộc sống chung” có thể hiều là việc cùng sống chung dưới một mái nhà một cách công khai hoặc không công khai, thường xuyên, có quan hệ tình dục vói nhau hoặc không, quan hệ được họ hàng, làng xóm biết và họ coi hai người là vợ chồng. “Coi nhau là vợ chồng” có thể hiểu là cách hai bên chung sống, đối xử với nhau trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng, yêu thương, vun đắp cuộc sống chung như những cặp đôi đã đăng ký kết hôn. Chung sống như vợ chồng có thể chia làm hai dạng: chung sống như vợ chồng không trái pháp luật và chung sống như vợ chồng trái luật. Chung sống như vợ chồng không trái pháp luật là việc nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn mặc dù có đủ điều kiện kết hôn. Những trường hợp này bao gồm: Giữa nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo ý chí của họ hoặc hoặc vì một lý do chủ quan, khách quan nào đó không thực hiện được việc đăng ký. Giữa những người cùng giới tính. Họ không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo ý chí của họ hoặc mong muốn được đăng ký kết hôn nhưng không thể đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền do vi phạm điều kiện về giới tính. Giữa người chuyển giới với người khác hoặc giữa những người chuyển giới với nhau. Họ không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo ý chí của họ hoặc họ mong muốn được đăng ký nhưng không thể đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì việc chuyển giới của họ chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ khi một bên hoặc cả hai bên mất năng lực hành vi dân sự. Theo quy định tại điều 8 Luật HNGĐ 2014 quy định về điều kiện kết hôn, trong đó nam nữ phải không thuộc các trường hợp mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên đối với chung sống như vợ chồng, thì chưa có quy định nào đề cập tới trường hợp này. Chung sống như vợ chồng trái pháp luật là việc nam nữ chung sống với nhau vi phạm một trong các điều kiện kết hôn. Họ không thực hiện việc đăng ký theo ý chí của họ hoặc họ mong muốn được đăng ký nhưng không thể đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm: Chung sống như vợ chồng khi một bên hoặc cả hai bên dưới tuổi luật định; Chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ mà một hoặc cả hai bên đang có vợ có chồng, điều này được quy định tại điểm c khoản 2 điều 5 Luật HNGĐ 2014; Chung sống như vợ chồng giữa những cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (khoản 2 Điều 5 LHNGĐ 2014). Chung sống như vợ chồng trái pháp luật là nhóm có chế tài xử lý. Chung sống như vợ chồng trái pháp luật không những có ảnh hưởng tới lợi ích của người thứ ba và những người trong mối quan hệ hợp pháp được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng tới nhà nước, xã hội. II. Cách thức xử lý đối với việc kết hôn không đúng thẩm quyền và các trường hợp chung sống như vợ chồng. 1) Kết hôn không đúng thẩm quyền. a) cách thức xử lý đối với viêc kết hôn không đúng thẩm quyền Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật HNGĐ năm 2014: “1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”. Do đó, việc kết hôn không đúng thẩm quyền thì sẽ không có giá trị pháp lý. Vậy cách thứ xử lý đối với trường hợp này như thế nào? Cách thức xử lý đối với việc kết hôn không đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: “Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước.” Theo quy định của Điều luật này thì khi có yêu cầu, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ gải quyết như sau: Thứ nhất, phải thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật hộ tịch. Khác với hủy kết hôn trái pháp luật, cơ quan có thẩm quyền xử lý việc kết hôn không đúng thẩm quyền không phải là Tòa án nhân dân, mà thuộc về Ủy ban nhân dân. Cụ thể, theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 69 Luật Hộ tịch 2014:‘‘ 1. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: e) Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trái quy định của Luật này, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật’’ Và điểm h khoản 1 Điều 70 Luật Hộ tịch 2014 quy định UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái quy định của pháp luật. Có thể thấy, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận kết hôn cấp trên mới có quyền thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền của cơ quan cấp dưới. Chứ không phải là chính cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền sẽ tự thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền đó. Quy định này là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ, khi cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền tức là họ đã làm sai về quyền hạn của mình. Thứ hai, yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Để xử lý linh hoạt đối với việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, sau khi thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền thì phải yêu cầu hai bên đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kết hôn lại là cần thiết. Vì giấy kết hôn của cơ quan không có thẩm quyền cấp sẽ không có hiệu lực pháp lý do đó quy định này nhằm bảo vệ quyền, lợi ích cho người kết hôn. Khi đăng ký kết hôn lại thì quan hệ hôn nhân này vẫn được tính kể từ ngày đăng ký kết hôn trước. Bởi lẽ, việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền này chủ yếu do lỗi của cơ quan cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Chính vì vậy, để không làm ảnh hưởng đến quan hệ hôn nhân v

Trang 1

MỞ BÀI

Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam được coi là một thành tố quan trọng trong hệ thống pháp luật kinh tế – tài chính Nhà nước sử dụng công cụ thuế nhằm tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ hiệu quả cho hoạt động của Nhà nước và xã hội Vậy thuế là gì và nó có đặc trưng gì?

Thuế, phí và lệ phí là các thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong thị trường Nhưng thực tế vẫn còn không ít người sử dụng các sai thuật ngữ thuế và lệ phí Họ chỉ quan tâm đến việc họ phải nộp cho nhà nước những khoản nào và nộp bao nhiêu mà ít để ý đến việc mục đích của việc thu các loại thuế, phí và lệ phí Vậy thuế với lệ phí có điểm giống và khác nhau như thế nào? Mỗi sắc thuế được ban hành nhằm đáp ứng các mục tiêu riêng và phù hợp với đối tượng mà Nhà nước cần quản lý và điều tiết Tuy không phải là một trong những sắc thuế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu của Ngân sách Nhà nước Nhưng sắc thuế này có vai trò quan trọng trong việc phân loại quy mô các cơ sở kinh doanh nhằm thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế của Nhà nước – Thuế môn bài Vậy thuế môn bài có mang bản chất là lệ phí hay không?

Để trả lời cho các câu hỏi trên em xin chọn đề số 10 làm bài tập lớn của mình: “Phân tích các

đặc trưng của thuế và liên hệ với thực tiễn Từ những đặc trưng của thuế, hãy so sánh thuế với lệ phí Chứng minh là thuế môn bài (trước đây) có bản chất là lệ phí (theo Luật Phí và lệ phí hiện hành)”

Trang 2

NỘI DUNG

I Thuế, đặc trưng của thuế và liên hệ với thực tiễn

1 Khái niệm

Thuế là phạm trù lịch sử, là một tất yếu khách quan xuất hiện từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nước Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa vê thuế khác nhau

Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối lại tổng sản phầm xã hội thu nhập quốc dân nhằm hình thành các qúy tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”

Trên góc độ người nộp thuế.: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộ mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định đẻ đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”

Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm phục thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của nhà nước”

Ở khía cạnh nghiên cứu thuế với tư cách là một nội dung điều chỉnh của luật pháp, các chuyên gia về luật thuế cũng đa nhận định “Thuế là một trật tự đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp và ngân sách Thuế không có bất kỳ sự phân biệt đổi xử nào giữa các bang hay vũng lãnh thổ”

Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng chúng ta có để nhận thấy nét chung sau

“Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước

khi có đủ những điều kiện nhất định 1 ”.

Thuế phải có những đặc tính nhất định để phân biệt với các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp tự nguyện khác, để hiểu rõ bản chất của thuế, nghiên cứu những đặc trưng của thuế là điều cần thiết Trên phương diện điều chỉnh pháp luật, việc nghiên cứu đặc tính của thuế giúp nhà lam luật lựa chọn sự điều chinh pháp luật một cách phù hợp đối với thuế; mặt khác, giúp cho chủ thể khác có liên quan thực hiện đầy đủ chức trách của mình

2 Đặc trưng của thuế

Từ định nghĩa trên, thuế có những đặc trưng sau:

Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách.

Tính bắt buộc thể hiện ở chố, đối với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong trường hợp đồng hay ngoài hợp đồng Còn đối với cơ quan thu thuế, khi thay mặt nhà nước thực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép lựa chọn thực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế, có sự phân biệt đổi xử với người nộp thuế

Tính bắt buộc của thuế có mối quan hệ mật thiết với tính không hoàn trả Do thuế không có tính hoàn trả, về lý thuyết khó tìm thấy sự tự nguyện khi nộp thuế - hành vi chuyển giao một khối lượng tài sản cho nhà nước và chắn chắn sẽ không nhận lại một cách trực tiếp trong tương lai Vì

1 Trường đại học Luật Hà Nội, “ Giáo trình Luật thuế Việt Nam” Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2018 tr10

Trang 3

vậy thực hiện thu thuế ổn định, phải sử dụng biện pháp bắt buộc như là một thuộc tính cơ bản của thuế

Tính bắt buộc để đảm bảo rằng mọi công dân phải đóng thuế Tính bắt buộc xuất phát từ việc nhà nước là người cung ứng phần lớn hàng hóa công cộng cho xã hội Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng ấy, nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để nhân dân phải nộp thu Đây là nghĩa vụ của công dân và đã được ghi nhận trong hiến pháp1

Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt với hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước

Thứ hai, thuế gắn với yếu tố quyền lực

Theo quy định của pháp luật, thuế được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế hành chính hoặc cưỡng chế hình sự Qua đó nhà nước đã gián tiếp đảm bảo tính ổn định trong việc xác định nguồn thu nhập tài chính của nhà nước và đảm bảo tính ổn định của thuế Tính quyền lực cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu thuế một cách tùy tiện mà phải dựa trên cơ sở pháp luật nhất định đã được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành

Tính quyền lực của thuế được xuất phát bởi lí do xuất hiện các khoản thu về thuế của nhà nước Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, thực hiện việc cung cấp cơ sở vật chất cho nhà nước thực hiện việc cung cấp cơ sở vật chất cho nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình Các nhà kinh tế, chính trị đều thống nhất cho rằng thuế là biện pháp can thiệp vào nền kinh tế Bằng quyền lực chính trị, nhà nước tạo ra cho thuế tính cố định, sự tuân thủ của đổi tượng nộp thuế Chỉ gắn với yếu tố quyền lực, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho nhà nước

Để gắn với yếu tố quyền lực nhà nước cho thuế, thuế được ghi nhận ở văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất Thuế do quốc hội lập ra dưới hình thức là một đạo luật- là hình thức văn bản có tính pháp lý cao nhất do cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan lập pháp đặt ra

Thứ ba, thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp.

Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế Bất kỳ “ai” khi đủ điều kiện đều phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, không phân biệt họ đã nhận được những lợi ích công cộng nào

Thuế xuất hiện do nhu cầu chi tiêu của nhà nước, của các chủ thể quản lí xã hội Kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công (những lợi ích không thể xác định chính xác được theo giá trị vật chất) Điều đó lý giải vì sao thuế phải là các khoản thu không có tính hoàn trả

Người nộp thuế ít hay người nộp thuế nhiều đều được hưởng lợi ích như nhau Có thể thấy, nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước

1 Điều 47 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013

Trang 4

Người nộp thuế nhiều và người nộp thuế ít đều được hưởng lợi ích như nhau Được hoàn trả một cách gián tiếp những khoản tiền nộp cho nhà nước, đó là sự bình yên xã hội, sự phát triển và thịnh vượng, chế độ phúc lợi công cộng,…

Thứ tư, thuế có phạm vi áp dụng rộng

Phạm vi áp dụng của thuế không có giới hạn, khác biệt giữa các địa phương, vùng lãnh thổ

Áp dụng đối với hầu hết mọi đối tượng hàng hóa, dịch vụ (được phép lưu thông và hợp pháp) Mọi tổ chức, cá nhân (có tư cách chủ thể) đều chịu sự điều chỉnh của thuế Bởi vì thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc đối với tất cả các tổ chức, cá nhân kho có đủ những điều kiện nhất định

3 Liên hệ với thực tiễn

“Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế”1 Thuế là hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với các hiện tượng kinh tế xã hội khác Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nền tài chính vững chắc và lành mạnh dựa vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, trong đó thuế nội địa phải trở thành nguồn thu chính góp phần tăng thu ngân sách Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối điều tiết lợi tức quốc dân, thuế là công cụ quan trọng để góp phần tích cực vào giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội và chuẩn bị đIều kiện cho phát triển kinh tế lâu dài

Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, ước thực hiện thu năm 2017 do cơ quan thuế quản lý đạt 1.001.600 tỷ đồng (không bao gồm khoản thu từ bán cổ phần của Nhà nước tại các doanh nghiệp), bằng 103,4% dự toán, tăng 9,6%2

Thu nội địa ước đạt 951.600 tỷ đồng, bằng 102,3% dự toán, tăng 8,9% Trong đó, thu từ cổ tức được chia và lợi nhuận còn lại ước đạt 70.700 tỷ đồng, bằng 117,8% dự toán, bằng 95,3% năm 2016; thu tiền sử dụng đất ước đạt 121.000 tỷ đồng, bằng 190% dự toán, tăng 22,5%; số thu không kể tiền sử dụng đất, cổ tức, lợi nhuận còn lại và xổ số ước đạt 732.250 tỷ đồng, bằng 93,6% dự toán, tăng 8,3%

Cùng với đó là chỉ số nộp thuế của Việt Nam năm 2017 tăng 81 bậc, từ thứ hạng 167 lên

86, đứng thứ 4 trong nhóm nước ASEAN

Năm 2018, ngành thuế được giao dự toán thu ngân sách 1.070.200 tỷ đồng Ông Bùi Văn Nam – Tổng cục trưởng Tổng cục thuế phát biểu tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác thuế năm 2018 do Tổng cục Thuế tổ chức tháng 3/2018, rằng ngành thuế sẽ phấn đấu thu vượt tối thiểu 3% so với dự toán được giao, tỷ lệ nợ đọng thuế dưới 5% tổng thu ngân sách Ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm 2018, ngành thuế đã và đang tập trung triển khai 4 nhóm giải pháp và 20 biện pháp cụ thể để thực hiện

Khâu quản lý thuế đã ngày càng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nộp thuế thông qua thực hiện rộng rãi việc khai, nộp thuế điện tử, hoàn thuế điện tử… Đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế đã có bước trưởng thành, phát triển cả về bề rộng và chiều sâu Cơ sở vật chất ngành thuế đã được tăng cường, thích ứng với yêu cầu của quá trình đổi mới, hội nhập… Những kết quả tích cực của ngành thuế đạt được đã đóng góp quan trọng vào những thành tựu phát triển chung của đất nước trong thời gian vừa qua

1 Lời tuyên bố của B.Franklin (1706-1990) – một trong những tác giả của Tuyên ngôn độc lập của nước mỹ.

http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/nhip-song-tai-chinh/2018-01-08/nam-2018-nganh-thue-tiep-tuc-nhieu-giai-phap-chong-that-thu-52381.aspx

Trang 5

Bên cạnh thành quả đạt được đó, trên thực tế thực hiện còn một số vướng mắc, bất cập kiến việc thu thuế trở nên khó khăn

Thứ nhất, Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp

cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định Tuy nhiên, do các lợi ích nhận được của nhà nước không cụ thẻ, nên đối với một số chủ thể nộp thuế, những thiệt hại vật chất cụ thể dường như lớn hơn so với những giá trị vô hình mà nhà nước đem lại Chính vì vậy, thay vì hợp tác, nhiều chủ thể nộp thuế có những hành vi trốn thuế, gian lận thuế

Các hành vi gian trốn thuế, gian lận thuế ngày càng diễn ra phức tạp, phạm vi rộng khắp, quy mô lớn với những thủ đoạn tinh vi Hện nay thường gặp những hành vi trốn thuế, gian lận thuế của các chủ thê nộp thuế như:

Bỏ ngoài sổ sách kế toán tức là người nộp thuế thường sử dụng đồng thời hai hệ thống sổ sách kế toán, một hệ thống sổ kế toán nội bộ phản ánh đầy đủ các giao dịch kinh tế, hệ thống kế toán còn lại chỉ phản ánh một phần các giao dịch kinh tế để khai thuế;

Tạo giao dịch bán hàng giả mạo mục tiêu của thủ đoạn này là chiếm đoạt tiền ngân sách nhà nước thông qua hoàn thuế hoặc tiếp tay chi hành vi tham nhũng ngân sách nhà nước của một bộ phân công chức được giao nhiệm vụ mua sắm tài sản, hàng hóa dịch vụ cho cơ quan nhà nước;“tạo giao dịch mua bán hàng giả mạo”;

Công ty “ma” đối tượng lợi dụng kẽ hở trong đăng ký và thay đổi đại diện pháp luật và chuyển nhượng thành công ty mới nhằm trốn tránh việc kiểm tra của cơ quan Thuế sau đó xuất bán hóa đơn bất hợp pháp cho các đối tượng có nhu cầu

Ghi giá bán thấp hơn giá thực tế - hành vi này được gọi là “down” giá Đây là hành vi ghi giá bán trên hóa đơn và kê khai doanh thu tính thuế thấp hơn giá khách hàng thực tế thanh toán Hạch toán sai nhằm tăng chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ

Và còn một số hành vi gian lận khác Những hành vi trốn thuế, gian lận này làm giảm thuế mà chủ thể nộp thuế đáng nhẽ phải nộp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến số thu ngân sách hàng năm

Thứ hai, Chính sách thuế hiện vẫn tư duy theo quan điểm có lợi cho cơ quan quản lý nhà

nước mà chưa hướng đến bảo vệ quyền lợi ích của người nộp thuế Công tác hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, vẫn chuyển biến còn chậm

Chính sách thuế thay đổi quá nhanh và quá nhiều, dẫn đến nhiều hệ lụy cho người dân và doanh nghiệp Có nhiều Nghị định, Thông tư về thuế vừa ra đã chỉnh sửa bổ sung; văn bản ra lúc nào người nộp thuế cũng không biết Bên cạnh đó, do quy định, hướng dẫn về các loại thuế còn dàn trải ở nhiều Thông tư, Nghị định của các năm khác nhau, trong khi đó, một số lĩnh vực lại chưa rõ ràng cụ thể hoặc lại chồng chéo dẫn đến khó thực hiện cho chủ thể nộp thuế Để áp dụng cho một tình huống cụ thể, chủ thể phải tìm hiểu quá nhiều Thông tư, Nghị định để biết những quy định về thuế hiện tại

Trong công tác quản lý thuế còn có những biểu hiện tiêu cực như nhận hối lộ, tham nhũng, Những tiêu cực này dẫn đến những quyết định trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác nên thường gây ra tình trạng kiếu kiện tố cáo và thất thoát cho ngân sách nhà nước

Trang 6

Về thanh tra, kiểm tra thuế, các chủ thể nộp thuế luôn mong muốn khâu thanh tra, kiểm tra nên nhanh chóng, gọn nhẹ và đúng mục đích, tuy nhiên trên thực tế lại không được như vậy

Thứ ba, về phạm vi áp dụng của thuế Hiện nay, chính sách thuế chỉ tư duy theo hướng coi

trọng việc tăng thuế suất hơn là mở rộng cơ sở thuế, trong khi đó hoàn toàn có thể mở rộng cơ sở thuế sang các hình thức kinh tế, thương mại, dịch vụ mới như kinh tế liên kết toàn cầu, kinh tế chia sẽ, thương mại điện tử, dịch vụ điện tử, du lịch trực tuyến, bán hàng qua mạng,

Em xin đề xuất một số giải pháp sau:

Cần rà soát lại, hoàn thiện thể chế, chính sách về thuế và quản lý thuế đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập Bảo đảm chính sách được xây dựng ổn định, toàn diện, có sức sống tránh tình trạng thay đổi quá nhanh, gây khó khắn cho doanh nghiệp và người dân và phải tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh

Xây dựng chính sách phải lấy người nộp thuế làm trung tâm, đối tượng phục vụ, quan tâm bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế

Nâng cao hiệu lực pháp lý và hiệu quả của chính sách thuế Áp dụng nghiêm minh hình thức phạt trong thuế, loại bỏ các khoản thu thuế không hiệu quả do chí phí để thu lớn hơn cả số tiền thu thuế được

Kiên quyết chống thất thu, nâng cao trình độ nghiệp vụ và nhận thực của mỗi cán bộ thu thuế, mặc khác cũng tăng cướng thanh tra kiểm tra để phát hiện và xử lý ngay sai phạm

Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, thường xuyên trong mọi tổ chức và dân cư về các luật thuế và các văn bản dưới luật để họ hiểu rõ, nhận thức trách nhiệm, nghĩa vụ của người nộp thuế và tổ chức thực hiện tốt Tạo điều kiện cho dân biết, dân làm, dân kiểm tra, đây là một sức mạnh

to lớn để thực hiện chính sách trốn thuế, lậu thuế,

II So sánh giữa thuế với lệ phí

Thuế và lệ phí đều được quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tuy chúng có những

điểm giống nhau nhưng bên cạnh đó cũng có những điểm khác biệt căn bản Trước tiên, ta đưa ra hai khái niệm về thuế và lệ phí như sau:

- Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp vào ngân

sách nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định

- Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật phí và lệ phí 20151

1 Điểm giống.

Thuế và lệ phí có những điểm giống nhau sau: Thuế mang tính bắt buộc và là một bộ phận hình thành nên ngân sách nhà nước Với lệ phí, đây là khoản tiền mà những người cần sử dụng thủ tục hành chính đóng cho cơ quan để cơ quan này thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật Những cơ quan này lại chuyển khoản tiền lệ phí này về ngân sách nhà nước chứ không giữ lại cơ quan mình, mặc dù sau đó ngân sách nhà nước vẫn rút ra một khoản để trả tiền lương quay trở lại cho chính những người thực hiện thủ tục đó Như vậy có thể thấy lệ phí cũng

1 Khoản 2 Điều 3 Luật phí và lệ phí 2015.

Trang 7

hình thành nguồn thu ngân sách nhà nước Đồng thời, lệ phí cũng là khoản tiền bắt buộc mà người dân phải trả khi thực hiện các dịch vụ công tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Như vậy thuế và lệ phí có sự giống nhau cơ bản sau:

- Là khoản thu mang tính bắt buộc, hình thành nguồn thu cho quỹ ngân sách nhà nước

- Do các cơ quan quản lý tài chính tiến hành

- Căn cứ để tiến hành thu đều là văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

2 Điểm khác.

Từ những đặc trưng của thuế, thuế với lệ phí có sự khác nhau cơ bản sau:

Thứ nhất, về cơ sở pháp lí để thực hiện các khoản thu từ thuế, lệ phí.

Các khoản thu từ thuế được quy định trong các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp luật cao được ban hành bởi Quốc hội hay Ủy ban thường vụ quốc hội như Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết, Còn lệ phí được thực hiện dựa theo các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý thấp hơn như nghị định, thông tư, quyết định do Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ hay Hội đồng nhân dân các cấp ban hành Mặc dù từ 1/1/2017, Quốc hội đã ban hành Luật phí và lệ phí nhưng xét trên tổng thể theo thời gian, lệ phí vẫn chỉ được xuất hiện nhiều nhất ở các văn bản dưới luật

Có sự khác biệt này vì tầm quan trọng của thuế được xem là cao hơn so với lệ phí Thuế được áp dụng rất nhiệu trong cuộc sống, là khoản thu chủ yếu của ngân nhà nước Còn lệ phí bị đánh giá thấp hơn, do chỉ phát sinh khi người dân sử dụng dịch vụ công của nhà nước

Thứ hai, về vị trí của các khoản thu từ thuế, lệ phí trong tổng các khoản thu ngân sách nhà nước.

Thuế luôn là khoản thu chủ yếu, quan trọng, chiếm trên 90% các khoản thu cho Ngân sách nhà nước, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước Thuế nhằm điều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và định hướng phát triển kinh tế và đảm bảo sự bình đẳng giữa những chủ thể kinh doanh và công bằng xã hội Tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triển kinh tế -xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính quốc gia

Trong khi đó lệ phí, phí không có vị trí như thuế, nó chỉ có tác dụng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Hơn nữa, việc tạo nguồn này không phải dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà chỉ nhằm mục đích quản lý, kiểm soát của Nhà nước việc thu lệ phí không nhằm mục tiêu đối giá mà chỉ nhằm mục tiêu giảm bớt chi phí, để cung cấp dịch vụ công và hướng tới phục vụ mọi chủ thể trong xã hội và mục tiêu quản lý nhà nước là tiên quyết

Thứ ba, về tính đối giá, hoàn trả trực tiếp.

Thuế không mang tính đối giá, hoàn trả trực tiếp Như đã phân tích ở phần đặc trưng của thuế, thì thuế không mang tính đối giá, hoàn trả trực tiếp mà mang tính hoàn trả gián tiếp

Còn lệ phí mang tính đối giá rõ ràng và hoàn trả trực tiếp cho người nộp Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất của thuế và lệ phí, đó là khác biệt về bản chất của hai khoản thu của ngân sách nhà nước này Người nộp lệ phí sẽ được nhận lại một dịch vụ công của nhà nước khi nộp lệ phí

Có nghĩa là, khi người dân bỏ ra một khoản tiền, họ sẽ được cung cấp một dịch vụ công đến từ Nhà nước, khoản tiền này được coi như là tiền công của bộ máy quản lý nhà nước khi thực hiện một dịch vụ công cho người dân

Trang 8

Chẳng hạn như, muốn Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì người có yêu cầu đó phải nộp một khoản lệ phí tức là Lệ phí giải quyết việc dân sự

Tuy nhiên, việc lệ phí có mang tính đối giá hay không thì còn phải xem xét trên nhiều khía cạnh Bởi dịch vụ công của Nhà nước không thể quy đổi ra giá trị vật chất được, bên cạnh đó lệ phí cũng mang tính chất động viên sự đóng góp cho ngân sách Nhà nước, do đó về khía cạnh ngang giá, em xin không bình luận

Như vậy, về bản chất, lệ phí khác với thuế ở tính hoàn trả trực tiếp

Thứ tư, về tính bắt buộc.

Như đã phân tích ở trên thì Thuế mang tính bắt buộc đối với cả người nộp, bất kỳ ai cũng phải nộp thuế khi đủ các điều kiện và cơ quan thu thuế

Còn lệ phí chỉ bắt buộc đối với chủ thể nộp thừa hưởng trực tiếp những dịch vụ công do cơ quan Nhà nước cung cấp.1

Thứ năm, về phạm vi áp dụng.

Phạm vi áp dụng của thuế không có giới hạn, không có sự khác biệt giữa các đối tượng, các vùng lãnh thổ mà áp dụng hầu hết đối với các cá nhân, tổ chức Thuế thu về dựa trên các điều kiện luật định như thu nhập, hàng hóa xuất nhập khẩu do đó chúng không phụ thuộc vào trình độ phát triển của địa phương

Còn lệ phí mang tính địa phương, địa bàn Việc này xuất phát từ việc các địa phương khác nhau có thể có sự phát triển về kinh tế khác nhau, do đó ở những nơi có nền kinh tế phát triển hơn thường có lệ phí dịch vụ công cao hơn so với những địa phương có kinh tế phát triển kém hơn Lệ phí là chi phí dịch vụ công, khoản tiền chi trả cho dịch vụ nên có thể biến động qua các địa phương khác nhau nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật quy định

Ngoài ra còn có sự khác nhau ở tên gọi và mục đích của tên gọi Mỗi luật thuế đề có mục đích riêng, tuy nhiên đa số các sắc thuế tên gọi không phản ánh đúng mục đích sử dụng, mà thường phản ánh đối tượng tính thuế ví dụ: Thuế môi trường – Không nhằm mục đích 100% là cải tạo môi trường; Còn mục đích của từng loại phí, lệ phí rất rõ ràng, tên gọi của loại lệ phí phản ánh đầy đủ mục đích sử dụng của loại lệ phí đó Ví dụ: Phí công chứng – vì sử dụng dịch vụ công chứng, phí trước bạ - vì thực hiện thủ tục trước bạ

III Thuế môn bài (trước đây)có bản chất là lệ phí (theo Luật Phí và lệ phí hiện hành).

1 Khái quát chung về thuế môn bài trước đây.

Trước đây, thuế môn bài là loại thuế đánh vào khai trương nghề nghiệp trong một năm, được tính vào đầu năm đối với các thể nhân, pháp nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh Sở dĩ gọi là thuế môn bài vì từ thời xưa, khi đóng thuế, các cơ sở được cấp một thẻ bài treo ở cửa tiệm, nên người dân quen gọi theo chữ Hán “môn” là cửa, “bài” là thẻ, lâu ngày quen gọi là thuế môn bài vì loại thuế này có từ lâu2

Mục đích của thuế môn bài là đảm bảo cho nguồn thu ngân sách Nhà nước; đảm bảo sự công bằng cho việc kinh doanh của tất cả các thành phần tham gia và đảm bảo lệ phí cho các cơ quan Nhà nước được ủy quyền quản lý để hoạt động thực hiện chức năng quản lý đó

1 Điều 6 Luật phí và lệ phí 2015.

2 Hồ Ngọc Cẩn, “Tìm hiểu pháp luật thuế hiện hành đối với các thành phần kinh tế và dân cư”, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội 2002, tr620.

Trang 9

Đối tượng nộp thuế môn bài bao gồm:

- Các tổ chức kinh tế bao gồm: Các Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức và cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam, các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, các tổ chức, đơn vị sự nghiệp khác và tổ chức kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập khác; Các Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã và các Quỹ tín dụng nhân dân (gọi chung là các HTX); Các cơ sở kinh doanh là chi nhánh, cửa hàng, cửa hiệu (thuộc công ty hoặc thuộc chi nhánh) hạch toán phụ thuộc hoặc báo sổ được cấp giấy chứng nhận (đăng ký kinh doanh), có đăng ký nộp thuế, và được cấp mã số thuế (loại 13 số)

- Các đối tượng khác, hộ kinh doanh cá thể nộp thuế Môn bài theo 6 mức bao gồm: Hộ sản xuất kinh doanh cá thể; Người lao động trong các Doanh nghiệp (Doanh nghiệp NQD, Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp hoạt động theo Luật ĐTNN ) nhận khoán tự trang trải mọi khoản chi phí, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh; Nhóm người lao động thuộc các Doanh nghiệp nhận khoán cùng kinh doanh chung thì nộp chung thuế Môn bài theo quy định tại điểm 1.d nêu trên Trường hợp nhóm cán bộ công nhân viên, nhóm người lao động nhận khoán nhưng từng cá nhân trong nhóm nhận khoán lại kinh doanh riêng rẽ thì từng cá nhân trong nhóm còn phải nộp thuế môn bài riêng Các cơ sở kinh doanh trên danh nghĩa là Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp hoạt động theo Luật ĐTNN, các Công ty cổ phần, Công ty TNHH nhưng từng thành viên của đơn vị vẫn kinh doanh độc lập, chỉ nộp một khoản tiền nhất định cho đơn vị để phục vụ yêu cầu quản lý chung thì thuế Môn bài thu theo từng thành viên

Mức thu:

Đối với đối với tổ chức kinh tế nêu trên nộp thuế Môn bài căn cứ vào vốn đăng ký ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư Theo đó chia làm 4 mức như sau: 3.000.000 đồng, 2.000.000 đồng, 1.500.000 đồng, 1.000.000 đồng

 Hộ cá thể kinh doanh nộp thuế môn bài theo 6 mức: 1.000.000 đồng, 750.000 đồng, 500.000 đồng, 300.000 đồng, 100.000 đồng, 50.000 đồng

Quy định việc xác định bậc thuế Môn bài đối với một số trường hợp cụ thể như sau:

- Đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập căn cứ vào vốn đăng ký ghi trong ĐKKD năm thành lập để xác định mức thuế Môn bài

- Các doanh nghiệp thành viên tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của các Doanh nghiệp hạch toán toàn ngành nộp thuế Môn bài theo mức thống nhất 2.000.000 đồng/năm Các doanh nghiệp thành viên nêu trên nếu có các chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã và các điểm kinh doanh khác nộp thuế Môn bài theo mức thống nhất 1.000.000 đồng/năm

- Các cơ sở kinh doanh là chi nhánh hạch toán phụ thuộc hoặc báo sổ, các tổ chức kinh tế khác không có giấy chứng nhận ĐKKD hoặc có giấy chứng nhận ĐKKD nhưng không có vốn đăng ký thì thống nhất thu thuế Môn bài theo mức 1.000.000 đồng/năm

Trang 10

- Các trường hợp sau đây áp dụng mức thuế Môn bài 6 bậc theo mức đối với hộ kinh doanh

cá thể:Các cửa hàng, quầy hàng, cửa hiệu kinh doanh trực thuộc cơ sở kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập hoặc trực thuộc chi nhánh hạch toán phụ thuộc; Nhóm người lao động thuộc các

cơ sở kinh doanh nhận khoán kinh doanh

2 Thuế môn bài (trước đây) có bản chất là lệ phí (theo luật phí và lệ phí hiện hành).

Như đã phân tích ở phần trước thì thuế và phí đều là khoản thu ngân sách nhà nước tuy nhiên về bản chất có sự khác nhau rõ rệt Tuy nhiên, không phải mọi loại thuế đều có bản chất khác với Lệ phí Khác với các loại thuế khác, Thuế môn bài (trước đây) có bản chất là Lệ phí

Thứ nhất, Về cơ sở pháp lí để thực hiện các khoản thu từ thuế môn bài (trước đây).

Trước đây, thuế môn bài chỉ được thực hiện bới các văn bản dưới luật và không có Luật riêng điều chỉnh như các loại thuế khác Các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 75/2002/NĐ-CP ngày 22/07/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật quản lý thuế và luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật quản lý thuế; Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 và Thông tư số 113/2002/TT-96/2002/TT-BTC ngày 16/12/2002 của Bộ Tài chính về thuế môn bài; Thông tư số 42/2003/TT-BTC ngày 07/05/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung, sửa đổi thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002;…

Cũng giống như Lệ phí, mặc dù từ 1/1/2017, Quốc hội đã ban hành Luật phí và lệ phí nhưng xét trên tổng thể theo thời gian, lệ phí vẫn chỉ được xuất hiện nhiều nhất ở các văn bản dưới luật

Thứ hai, về vị trí của các khoản thu từ thuế môn bài (trước đây) trong trong các khoản thu ngân sách nhà nước.

Thuế môn bài cũng là một phần trong ngân sách nhà nước nhưng không có vị trí như các loại thuế khác Việc tạo nguồn thu từ thuế môn bài này không phải dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước Bởi mục đích chính của việc kê khai và thu, nộp thuế môn bài là giúp Nhà nước kiểm kê, kiểm soát và quản lý các cơ sở kinh doanh trong nền kinh tế Thông qua việc thu thuế môn bài hằng năm, Nhà nước thống kê được hiện tại có bao nhiêu cơ sở kinh doanh, loại hình kinh doanh, ở từng địa phương, ở từng địa phương và trong cả nước đang hoạt động, để từ

đó Nhà nước quản lý, kiểm soát đối với cơ sở kinh doanh đó Nếu dựa vào đăng ký kinh doanh thì không thể biết chính xác có bao nhiêu cơ sở kinh doanh thực tế đang hoạt động, vì thuế môn bài đánh vào cả chủ thể kinh doanh có hoặc không đăng ký kinh doanh Như vậy đúng với bản chất của lệ phí, mục đích chính của Lệ phí là quản lý, kiểm soát của Nhà nước

Hơn nữa thuế môn bài có số thu thấp, và hằng năm thu một lần vào đầu năm đối với các cơ sở kinh doanh Nên thuế môn bài không thể hiện vai trò và mục tiêu quan trọng như các loại thuế khác là tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước, điều tiết sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng và điều hòa thu nhập xã hội

Thứ ba, về tính đối giá, tính hoàn trả của thuế môn bài (trước đây)

Thuế môn bài mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp Tính đối giá của thuế môn bài thể hiện ở chỗ, tổ chức, cá nhân phải trả một khoản tiền, khi nhận được sự phục vụ của Nhà nước

Ngày đăng: 22/06/2019, 01:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w