MỞ BÀI Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản được ứng dụng rộng rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại. Ngày nay, nguyên tắc suy đoán vô tội được nhiều Nhà nước coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự, đưuóc đánh giá là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người. Nguyên tắc này đã được công nhận trong tuyên ngôn nhân quyền 1948 và công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc, đó là: “bất kỳ người bị buộ tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó đưuọc xác định theo một trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sự đảm bảo đầy đủ khả năng bào chữa của người đó”. Pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận nguyên tắc trên và coi nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc tố tụng hình sự của quốc gia mình. Vậy ở quốc gia Việt Nam chúng ta đã thừa nhận, vận dụng cũng như thực hiện nguyên tắc “suy đoán vô tội” như thế nào? Để hiểu hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài số 5 làm bài tập lớn của mình: “: Nguyên tắc “suy đoán vô tội” của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”. NỘI DUNG I. Những vấn đề chung và nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015. 1. Sơ lược về nguyên tắc suy đoán vô tội. Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản, được ứng dụng rộng rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại. Ngày nay, nguyên tắc suy đoán vô tội được nhiều Nhà nước coi là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, được đánh giá là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người. Trước đây, tại Điều 72 của Hiến pháp năm 1992 có quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Điều 9 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã cụ thể hóa quy định trên và coi nội dung này là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nước ta. Tuy nhiên, nguyên tắc ở Điều 72 Hiến pháp năm 1992 cũng như tại Điều 9 của Bộ luật tố tụng hinh sự năm 2003 so với nguyên tắc suy đoán vô tội là hoàn toàn khác nhau về ý nghĩa của chúng. Nội dung của Điều 9 Luật TTHS 2003 là suy diễn về sự có tội. Còn nguyên tắc suy đoán vô tội chủ thể được đặt ra là người bị buộc tội và sự suy đoán được đặt theo hướng suy diễn về sự vô tội của người bị buộc tội. Thực tiễn của các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử cho thấy, có một khuynh hướng nhìn nhận bị can, bị cáo như là người đã được coi là phạm tội, dù tội trạng của họ chưa được chứng minh. Trong tâm lý học, khuynh hướng đó được gọi là khuynh hướng buộc tội, còn luật học thì gọi đó là “suy đoán có tội”. Đó chính là một trong những nguyên nhân của vấn đề án oan, sai hiện nay. Lần đầu tiên trong lịch sử lập Hiến của Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đặt ra quy định tại Chương II – “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” cụ thể tại Khoản 1 Điều 31 quy định như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Đó mới chính là nội dung đầy đủ của một nguyên tắc pháp lý quan trọng: Nguyên tắc suy đoán vô tội. Để thi hành Hiến pháp, bảo đảm sự phù hợp của pháp luật tố tụng hình sự với Hiến pháp, BLTTHS tại Điều 13 đã quy định một nguyên tắc hoàn toàn mới của tố tụng hình sự Việt Nam, đó là “nguyên tắc suy đoán vô tội” Từ đó có thể hiểu nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc của một loại hình tố tụng lấy các giá trị công bằng, bình đẳng làm nền tảng; là lá chắn quan trọng và hữu hiệu cho việc tôn trọng bảo vệ và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự. 2. Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Theo điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.” Quy định của BLTTHS năm 2015 có thể hiểu nguyên tắc suy đoán vô tội gồm bốn nội dung, những nội dung đó đồng thời cũng chính là những đòi hỏi, điều kiện cần và đủ để có thể tuyên một người có tội hay không có tội. Thứ nhất, là yêu cầu trình tự, thủ tục của việc chứng minh tội và lỗi của người bị buộc tội. Yêu cầu này là hợp phần đầu tiên của nguyên tắc suy đoán vô tội. Người bị buộc tội được coi là vô tội cho tới khi tội và lỗi của người đó được chứng minh. Nói khác đi, đây là nguyên tắc “lỗi không được chứng minh, đồng nghĩa với sự vô tội được chứng minh”. Yêu cầu này đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho người bị buộc tội trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự Việc điều tra, truy tố và xét xử một người phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Nội dung này nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó, thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện. Theo tinh thần đó, tại nhiều điều luật cụ thể, BLTTHS năm 2015 đã nhấn mạnh các yêu cầu nghiêm ngặt về trình tự, thủ tục, coi đó cũng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự. Điều 7 của BLTTHS xác định: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”. Chứng cứ sẽ vô hiệu (Điều 86 và Khoản 2 Điều 87), hồ sơ phải được trả lại để điều tra bổ sung (Điều 280 ), bản án bị hủy để điều tra lại hoặc xét xử lại khi xét xử phúc thẩm (Điều 358) và trong thủ tục giám đốc thẩm (khoản 3 Điều 371, Điều 388) nếu phát hiện có vi phạm thủ tục tố tụng. Dưới áp lực của đòi hỏi về tính thủ tục chặt chẽ, BLTTHS năm 2013 đã quy định trong một chương riêng về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Các biện pháp đó bao gồm: Ghi âm bí mật, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử (Điều 233). Trong những trường hợp đó, Bộ luật đã xác định chặt chẽ nhưng đảm bảo cho việc giữ bí mật nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp công nhận, bảo đảm và bảo vệ (Điều 21 Hiến pháp năm 2013). Theo đúng yêu cầu: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013). Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định nghiêm ngặt việc sử dụng các thông tin, tài liệu thu thập từ các biện pháp này. Yêu cầu này được quy định tại Điều 10 của BLTTHS 2015. Những yêu cầu đó nhằm bảo đảm xác định và xem xét các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ các căn cứ xác định có tội và những căn cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Thứ hai, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình, Yêu cầu về chứng minh tội và lỗi của người bị buộc tội cũng đặt ra vấn đề trách nhiệm chứng minh. Tại đoạn 1 Điều 15 BLTTHS 2015 quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Điều đó có nghĩa rằng, cơ quan tiến hành tố tụng không được bắt buộc bị can, bị cáo thực hiện trách nhiệm đó dưới bất kỳ hình thức nào. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Các cơ quan của Bộ đội biên phòng, các cơ quan của Hải quan; các cơ quan của Kiểm lâm, các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan của Kiểm ngư, các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Ngược lại, để xác định một người là người phạm tội, trên cơ sở đó truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được người đó là người thực hiện hành vi bị Luật hình sự coi là tội phạm. Nếu không chứng minh được một người đã thực hiện tội phạm thì không thể kết tội người đó. Trên thực tế, có thể một người đã thực hiện tội phạm. Về khách quan, họ là người phạm tội, nhưng nếu không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi được Luật hình sự coi là tội phạm, thì các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó. Chứng minh tội phạm là một quá trình. Qúa trình đó diễn ra ở cả giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Quyền và trách nhiệm chứng minh tội phạm không chỉ thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn thuộc về cả Tòa án Việc người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội, có nghĩa:
Trang 1MỞ BÀI
Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản được ứng dụng rộng rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại Ngày nay, nguyên tắc suy đoán vô tội được nhiều Nhà nước coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự, đưuóc đánh giá là thành tựu
vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người Nguyên tắc này đã được công nhận trong tuyên ngôn nhân quyền 1948 và công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc, đó là: “bất kỳ người bị buộ tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó đưuọc xác định theo một trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sự đảm bảo đầy đủ khả năng bào chữa của người đó” Pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận nguyên tắc trên và coi nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc tố tụng hình sự của quốc gia mình Vậy ở quốc gia Việt Nam chúng ta đã thừa nhận, vận dụng cũng như thực hiện nguyên tắc “suy đoán vô tội” như thế nào? Để hiểu hơn về vấn đề
này, em xin chọn đề tài số 5 làm bài tập lớn của mình: “: Nguyên tắc “suy đoán vô tội” của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”.
NỘI DUNG
I Những vấn đề chung và nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015
1 Sơ lược về nguyên tắc suy đoán vô tội.
Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản, được ứng dụng rộng rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại Ngày nay, nguyên tắc suy đoán vô tội được nhiều Nhà nước coi là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, được đánh giá là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người
Trang 2Trước đây, tại Điều 72 của Hiến pháp năm 1992 có quy định: “Không ai bị coi là
có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Điều 9 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã cụ thể hóa quy định
trên và coi nội dung này là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nước ta Tuy nhiên, nguyên tắc ở Điều 72 Hiến pháp năm 1992 cũng như tại Điều 9 của Bộ luật
tố tụng hinh sự năm 2003 so với nguyên tắc suy đoán vô tội là hoàn toàn khác nhau
về ý nghĩa của chúng Nội dung của Điều 9 Luật TTHS 2003 là suy diễn về sự có tội Còn nguyên tắc suy đoán vô tội chủ thể được đặt ra là người bị buộc tội và sự suy đoán được đặt theo hướng suy diễn về sự vô tội của người bị buộc tội
Thực tiễn của các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử cho thấy, có một khuynh hướng nhìn nhận bị can, bị cáo như là người đã được coi là phạm tội, dù tội trạng của họ chưa được chứng minh Trong tâm lý học, khuynh hướng đó được gọi là khuynh hướng buộc tội, còn luật học thì gọi đó là “suy đoán có tội” Đó chính là một trong những nguyên nhân của vấn đề án oan, sai hiện nay
Lần đầu tiên trong lịch sử lập Hiến của Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đặt ra quy định tại Chương II – “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”
cụ thể tại Khoản 1 Điều 31 quy định như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Đó mới chính là nội dung đầy đủ của
một nguyên tắc pháp lý quan trọng: Nguyên tắc suy đoán vô tội
Để thi hành Hiến pháp, bảo đảm sự phù hợp của pháp luật tố tụng hình sự với Hiến pháp, BLTTHS tại Điều 13 đã quy định một nguyên tắc hoàn toàn mới của tố tụng hình sự Việt Nam, đó là “nguyên tắc suy đoán vô tội”
Từ đó có thể hiểu nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc của một loại hình tố tụng lấy các giá trị công bằng, bình đẳng làm nền tảng; là lá chắn quan trọng và
Trang 3hữu hiệu cho việc tôn trọng bảo vệ và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
2 Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Theo điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.”
Quy định của BLTTHS năm 2015 có thể hiểu nguyên tắc suy đoán vô tội gồm bốn nội dung, những nội dung đó đồng thời cũng chính là những đòi hỏi, điều kiện cần
và đủ để có thể tuyên một người có tội hay không có tội
Thứ nhất, là yêu cầu trình tự, thủ tục của việc chứng minh tội và lỗi của người bị
buộc tội Yêu cầu này là hợp phần đầu tiên của nguyên tắc suy đoán vô tội
Người bị buộc tội được coi là vô tội cho tới khi tội và lỗi của người đó được chứng minh Nói khác đi, đây là nguyên tắc “lỗi không được chứng minh, đồng nghĩa với
sự vô tội được chứng minh” Yêu cầu này đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho người bị buộc tội trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự
Việc điều tra, truy tố và xét xử một người phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Nội dung này nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó, thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện
Trang 4Theo tinh thần đó, tại nhiều điều luật cụ thể, BLTTHS năm 2015 đã nhấn mạnh các yêu cầu nghiêm ngặt về trình tự, thủ tục, coi đó cũng là một nguyên tắc của tố tụng
hình sự Điều 7 của BLTTHS xác định: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do
Bộ luật này quy định” Chứng cứ sẽ vô hiệu (Điều 86 và Khoản 2 Điều 87), hồ sơ
phải được trả lại để điều tra bổ sung (Điều 280 ), bản án bị hủy để điều tra lại hoặc xét xử lại khi xét xử phúc thẩm (Điều 358) và trong thủ tục giám đốc thẩm (khoản
3 Điều 371, Điều 388) nếu phát hiện có vi phạm thủ tục tố tụng
Dưới áp lực của đòi hỏi về tính thủ tục chặt chẽ, BLTTHS năm 2013 đã quy định trong một chương riêng về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt Các biện pháp
đó bao gồm: Ghi âm bí mật, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử (Điều 233) Trong những trường hợp đó, Bộ luật đã xác định chặt chẽ nhưng đảm bảo cho việc giữ bí mật nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp công nhận, bảo đảm và bảo vệ (Điều 21 Hiến
pháp năm 2013) Theo đúng yêu cầu: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013) Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy
định nghiêm ngặt việc sử dụng các thông tin, tài liệu thu thập từ các biện pháp này Yêu cầu này được quy định tại Điều 10 của BLTTHS 2015
Những yêu cầu đó nhằm bảo đảm xác định và xem xét các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ các căn cứ xác định có tội và những căn
cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo
Trang 5Thứ hai, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình,
Yêu cầu về chứng minh tội và lỗi của người bị buộc tội cũng đặt ra vấn đề trách
nhiệm chứng minh Tại đoạn 1 Điều 15 BLTTHS 2015 quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Điều đó có
nghĩa rằng, cơ quan tiến hành tố tụng không được bắt buộc bị can, bị cáo thực hiện trách nhiệm đó dưới bất kỳ hình thức nào Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm
rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội
Theo đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Các cơ quan của Bộ đội biên phòng, các cơ quan của Hải quan; các cơ quan của Kiểm lâm, các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan của Kiểm ngư, các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Ngược lại, để xác định một người là người phạm tội, trên cơ sở đó truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được người đó là người thực hiện hành vi bị Luật hình sự coi là tội phạm Nếu không
Trang 6chứng minh được một người đã thực hiện tội phạm thì không thể kết tội người đó Trên thực tế, có thể một người đã thực hiện tội phạm Về khách quan, họ là người phạm tội, nhưng nếu không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi được Luật hình sự coi là tội phạm, thì các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó Chứng minh tội phạm là một quá trình Qúa trình đó diễn ra ở cả giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Quyền và trách nhiệm chứng minh tội phạm không chỉ thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn thuộc về cả Tòa án
Việc người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội, có nghĩa:
- Người buộc tội có quyền chứng minh là mình vô tội
Người bị buộc tội luôn luôn được quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa như Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự đã xác định và thực hiện quyền đó bằng mọi biện pháp hợp pháp, trong đó có việc đưa ra chứng cứ chứng minh sự vô tội của mình
Quyền chứng minh của người bị buộc tội thể hiện tính công bằng và minh bạch của
tố tụng hình sự nhằm bảo đảm và bảo vệ công lý Theo BLTTHS năm 2015, những người tham gia tố tụng như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có quyền đưa ra chứng cứ mà không chỉ là đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu Đồng thời, những người này cũng có quyền trình bày ý kiến của mình về chứng cứ do các chủ thể tố tụng khác đưa ra, yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá chứng cứ đó Người bào chữa ngoài các quyền kể trên còn có quyền thu thập chứng cứ, đưa ra chứng cứ, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, đề nghị cơ
Trang 7quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản (khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015)
- Họ không bị buộc phải đưa ra lời khai hoặc phải nêu về những chứng cứ mà
họ có
Để bảo đảm cho yêu cầu này, Bộ luật Tố tụng hình sự đã đặt ra quy định: “Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người” Nội dung này được quy định
tại Điều 10 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định chi tiết cụ thể về quyền của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ và người bị bắt khẩn cấp tại các Điểm e) Khoản 1 Điều 58; Điểm c) Khoản 2 Điều 59; Điểm d) Khoản 1 Điều 60, Hiểm h) khoản 2 điều 61 Theo đó, các điều khoản này lần lượt ghi nhận: người bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp,
người bị tạm giữ, bị can và bị cáo đều có quyền “trình bày ý kiến, trình bày lời khai, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”.
Người buộc tội cũng có quyền không trả lời các câu hỏi của cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng mà nhiều người còn gọi ngắn gọn là “quyền im lặng” của người bị buộc tội Nội dung này bắt nguồn từ quyền không buộc phải chứng minh của bị can, bị cáo và trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan và người buộc tội, nhằm bảo đảm tự do và an toàn cá nhân cho người bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự Chúng ta đều biết rằng xuất phát từ yêu cầu này mà trong quá trình tiến hành các biện pháp điều tra như bắt, tạm giữ, tạm giam, nội dung về quyền của người bị buộc tội không khai báo chống lại mình đã được coi là một trong những thủ tục tố tụng bắt buộc Chẳng hạn ở Mỹ có thủ tục “cảnh báo Miranda”
Như vậy, có thể hiểu người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự chủ
về việc khai báo Những gì bất lợi, họ có thể không buộc phải khai báo cũng như
Trang 8không buộc phải nhận mình có tội hay đưa ra những chứng cứ chứng minh vô tội
mà họ có trước cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự
- Việc họ nhận tội không được coi là chứng cứ duy nhất để dùng làm căn cứ buộc tội, chỉ khi được khẳng định bằng hệ thống những chứng cứ trong vụ án
“Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án; không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội” (khoản 2 Điều 98, BLTTHS năm
2015)
Như vậy cho dù bị can, bị cáo nhận tội, nhưng nếu lời nhận tội đó không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án hoặc Cơ quan Điều tra không chứng minh được một cách đầy đủ hành vi phạm tội của họ, thì Tòa án phải kiên quyết tuyên bố bị can, bị cáo không phạm tội
- Việc từ chối không tham gia vào việc chứng minh không dẫn đến những hậu quả tiêu cực, cũng như xác định biện pháp hay trách nhiệm hình sự bất lợi đối với
họ
Pháp luật tố tụng hình sự nước ta không quy định cụ thể nhưng đã mặc nhiên thừa nhận quyền im lặng của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo Do đó họ có quyền
từ chối không tham gia vào việc chứng minh mình vô tội Trong trường hợp bị can,
bị cáo thành khẩn khai báo thì sẽ được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, thậm chí trong giai đoạn điều tra họ không khai báo hoặc khai báo gian dối nhưng tại phiên tòa lại thành khẩn khai báo thì họ vẫn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo” theo quy định tại Điểm s) Khoản
1 Điều 51 của BLHS 2017
Thứ ba, Tội và lỗi của người bị buộc tội chỉ có thể được xác định bởi một bản án
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Trang 9Yêu cầu này tạo thành hợp phần thứ hai của nguyên tắc suy đoán vô tội và kết hợp với hợp phần thứ nhất vừa nêu tạo nên nội dung tổng thể của nguyên tắc suy đoán
vô tội Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 cũng đã xác
định: “Bất cứ người nào do bị bắt hoặc bị giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu xét xử trước Tòa án nhằm mục đích để Tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và trả lại tự do nếu việc giam giữ là trái pháp luật” “Bất kỳ người nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội trong vụ án hình sự.” (các Điều
9.1, 9.2, 9.3, 14.1 Công ước)
Bản án kết tội phải dựa trên các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, chứng minh bị cáo có tội Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác nêu ra nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó Những yêu cầu trên đây được quy định tại các điều từ 91 –
94, 98 của BLTTHS 2015 khi nói về chứng cứ, về lời khai của người làm chứng, của người bị hại, của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án
Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định Quá trình chứng minh tội phạm được thực hiện từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm và thông qua các thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành các hoạt động điều tra, kết thúc điều tra đề nghị truy tố, truy tố bằng bản cáo trạng và tiến hành xét xử, điều tra công khai tại phiên tòa
Nếu có căn cứ để kết tội thì Tòa án sẽ ra bản án kết tội Một người chỉ có thể bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tức là bản án của tòa án đã tuyên đối với người này là có tội và bản án đó không bị kháng cáo khàng nghị, không có căn cứ để giá đốc thẩm hay tái thẩm bản án Trong trường
Trang 10hợp, bản án kết tội không bị kháng cáo, kháng nghị thì bản án đó có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Trong trường hợp bản án kết tội có kháng cáo hoặc kháng nghị thì bản án đó chưa có hiệu lực pháp luật và vụ án bắt buộc phải được xét xử theo thủ tục phúc thẩm Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng xét xử tuyên án
Thứ tư, mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị tình nghi,
bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo
Tại Điều 13 BLTTHS năm 2015 diễn đạt yêu cầu đó như sau: “Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.
Quy định này xuất phát từ tình huống của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, khi có
sự không rõ ràng trong việc xác định căn cứ của trách nhiệm hình sự, các tình tiết liên quan đến tội và lỗi của người bị buộc tội mà cả quá trình tố tụng và các nỗ lực của các cơ quan tiến hành tố tụng đã không thể làm rõ, dẫn đến tình huống hoài nghi, có mâu thuẫn giữa các hướng giải quyết mà chính các cơ quan đó không thể khắc phục được Để chống khuynh hướng buộc tội theo kiểu tư duy: “thà làm oan còn hơn bỏ lọt”, BLTTHS năm 2015 khẳng định rõ: những hoài nghi đó nhất thiết phải được giải quyết theo hướng có lợi cho người bị buộc tội Rõ ràng, đây là một nội dung quan trọng và trọng tâm của nguyên tắc suy đoán vô tội, phản ánh bản chất nhân đạo của Tố tụng hình sự dân chủ và pháp quyền, tạo ra lá chắn hữu hiệu cho sự an toàn pháp lý của người bị buộc tội
3 Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội.