1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ ở nông thôn

74 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 157,08 KB
File đính kèm kế hoạch hóa gia đình.rar (128 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn cho thấy tầm quan trọng của công tác DSKHHGĐ là vô cùng to lớn. Đặc biệt, đối với địa bàn nông thôn, nơi mức sinh còn khá cao. Để đạt được mức sinh hợp lý và ổn định, bền vững là một việc khó khăn đòi hỏi tăng cường sự quan tâm chỉ đạo tập chung sát sao của cấp ủy đảng, chính quyền, ban nghành nhằm phối kết hợp chặt chẽ với các ban nghành đoàn thể nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác dân số kế hoạch hóa gia đình. Xã Phú Thành tuy là một xã khu vực miền núi đặc biệt khó khăn, thêm vào đó dân số người dân tộc mường chiếm 63% dân số. Trong toàn xã có 11 thôn và 2 thôn theo đạo thiên chúa. Vì vậy xã Phú Thành được đánh giá là một xã khá phức tạp nhưng trong những năm vừa qua, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã đạt được những thành tựu đáng khen ngợi. Trong năm 2013, tỉ lệ phụ nữ 1549 tuổi có chồng đang áp dụng biện pháp tránh thai đạt tỉ lệ 78%, duy trì được mức sinh hợp lý, giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên, đảm bảo mức sinh thay thế, từng bước nâng cao chất lượng DSKHHGĐ. Trong năm 2013 toàn xã với tổng số hộ dân là 1985 hộ nhưng chỉ có 14 trường hợp sinh con thứ 3 trong gia đình, ý thức trong toàn dân ngày càng được nâng cao và cải thiện hơn về công tác dân số kế hoạch hóa gia đình.( Đoàn Thị Thủy, 2013) Đề tài “ Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ ở nông thôn” ( Nghiên cứu trường hợp tại xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình) được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi vấn đề kế hoạch hóa gia đình tại xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy được thực hiện như thế nào? những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ ở nông thôn ?

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này được thực hiện một cách nghiêm túc, trung thực bằng nỗ lực nghiên cứu của chính bản thân, không gian lận, không sao chép từ các tài liệu khác.

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của toàn bộ nội dung khóa luận tốt nghiệp

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đinh Công Oanh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu, điều tra số liệu và hoàn thành khóa luận tốtnghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhântrong và ngoài trường

Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu HàGiảng viên bộ môn Xã Hội Học – Khoa Lý Luận Chính Trị Và Xã Hội đãtrực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Tôixin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong khoa Lý Luận Chính Trị Và XãHội đã dạy dỗ trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tạitrường

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Phú Thành, cácphòng, ban nghành trong xã đã tạo điều kiện cho tôi trong việc triển khai thựchiện và hoàn thành đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong giađình đã quan tâm, động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trìnhhoàn thiện đề tài

Hà Nội, năm 2015Người thực hiện

Đinh Công Oanh

Trang 3

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Đề tài nghiên cứu: “Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện kế hoạchhóa gia đình của phụ nữ ở nông thôn (Nghiên cứu được tiến hành tại xã PhúThành – huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình)”

Đề tài đã sử dụng cả số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp để nghiên cứu,tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch hóa gia đìnhcủa phụ nữ

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Phụ nữ tại địa phương ngày càng được tuyên truyền rộng dãi hơn về kếhoạch hóa gia đình, thông qua các buổi tọa đàm và các kênh truyền thông đạichúng Do đó chị em phụ nữ ở địa phương đã hiểu và thấm nhuần, thực hiệntốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình

Tình trạng sinh con thứ 3 tại địa phương đang có xu hướng giảmxuống, đây là một tín hiệu tích cực cho thấy công tác kế hoạch hóa gia đìnhđang có những hiệu quả nhất định

Trang 4

1.3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

2.2 Các nghiên cứu liên quan

2.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ BẢNG

Trang 6

BIỂU ĐỒ

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI

Trang 8

1 PHẦN 1: GIỚI THIỆU1.1 Đặt vấn đề

Dân số - kế hoạch hoá gia đình luôn được xác định là một bộ phận quan trọngcủa chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầucủa quốc gia Thực hiện tốt công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình là giải pháp cơbản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xãhội Vì vậy trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủtrương, chính sách, luật pháp, chiến lược thể hiện sự quan tâm toàn diện đến côngtác dân số - kế hoạch hoá gia đình

Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, công tác DS-KHHGĐ Việt Nam đãđạt được những thành tựu, kết quả to lớn Từ năm 1961 đến 2001, dân số Việt Namtăng gần gấp ba lần từ 30,2 triệu lên 87,8 triệu, thấp hơn nhiều so với các dự báotrước đây Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã từ 6,3 conxuống 1,99 con Tỷ lệ tăng dân số giảm từ 3,5% xuống 1,04% Tuổi thọ bình quânkhá cao, đạt 73 tuổi năm 2011 Mức sinh giảm đã tiết kiệm các khoản chi cho cácdịch vụ xã hội để dành vốn đầu tư cho các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội nhằmthực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân Công tácDS-KHHGĐ đã trực tiếp làm tăng 0,38 lần GDP bình quân đầu người, tăng khoảng2% mỗi năm Việt Nam là một trong những nước được thế giới đánh giá cao vềxoá đói giảm nghèo, trong đó có đóng góp to lớn của công tác DS-KHHGĐ (PhạmMinh Sơn, 2011)

Thập niên đầu của thế kỷ 21 đã đánh dấu sự trưởng thành của ngành KHHGĐ Tỷ lệ tăng dân số đã giảm từ 1,28% năm 2001 xuống còn 1,05% năm

DS-2010, vượt mục tiêu đề ra 1,14% vào năm 2010; tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại tăng

từ 61,1% năm 2001 lên 67,5 % năm 2010; tổng tỷ suất sinh từ 2,28 con giảmxuống 2,09 con năm 2006 (đạt mức sinh thay thế) và 2,0 con năm 2010 Quy mô

Trang 9

dân số đạt 86,9 triệu người năm 2010, thấp hơn so với mục tiêu Chiến lược đề ra làdưới 89 triệu người Trong 10 năm gần đây (2001-2010), thành công của công tácDS-KHHGĐ đã góp phần đạt và về đích trước thời hạn các Mục tiêu phát triểnthiên niên kỷ về nâng cao sức khỏe bà mẹ và giảm tử vong ở trẻ em Bình quânhàng năm hiện nay cả nước giảm mỗi năm khoảng 900 nghìn phụ nữ không thamgia vào sinh đẻ, tránh được nguy cơ tử vong do thai sản, góp phần tăng cường bìnhđẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ do đẻ muộn, đẻ thưa, đẻ ít làmcho mẹ khỏe, con khỏe, làm cho người phụ nữ có nhiều cơ hội để học tập văn hoá,khoa học và tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, nâng cao vị thếcủa phụ nữ trong gia đình và xã hội (Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình.2011)

Bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, công tác DS-KHHGĐ vẫnđang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân

số và phân bố dân cư, tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước.Tuy Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế, nhưng mức sinh vẫn có thể tăng trở lại bất

kỳ thời điểm nào

Thực tiễn cho thấy tầm quan trọng của công tác DS-KHHGĐ là vô cùng tolớn Đặc biệt, đối với địa bàn nông thôn, nơi mức sinh còn khá cao Để đạt đượcmức sinh hợp lý và ổn định, bền vững là một việc khó khăn đòi hỏi tăng cường sựquan tâm chỉ đạo tập chung sát sao của cấp ủy đảng, chính quyền, ban nghànhnhằm phối kết hợp chặt chẽ với các ban nghành đoàn thể nhằm đạt hiệu quả caotrong công tác dân số kế hoạch hóa gia đình

Xã Phú Thành tuy là một xã khu vực miền núi đặc biệt khó khăn, thêm vào

đó dân số người dân tộc mường chiếm 63% dân số Trong toàn xã có 11 thôn và 2thôn theo đạo thiên chúa Vì vậy xã Phú Thành được đánh giá là một xã khá phứctạp nhưng trong những năm vừa qua, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã đạt

Trang 10

được những thành tựu đáng khen ngợi Trong năm 2013, tỉ lệ phụ nữ 15-49 tuổi cóchồng đang áp dụng biện pháp tránh thai đạt tỉ lệ 78%, duy trì được mức sinh hợp

lý, giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên, đảm bảo mức sinh thay thế, từng bướcnâng cao chất lượng DS-KHHGĐ Trong năm 2013 toàn xã với tổng số hộ dân là

1985 hộ nhưng chỉ có 14 trường hợp sinh con thứ 3 trong gia đình, ý thức trongtoàn dân ngày càng được nâng cao và cải thiện hơn về công tác dân số kế hoạchhóa gia đình.( Đoàn Thị Thủy, 2013)

Đề tài “ Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện kế hoạch hóa gia đình củaphụ nữ ở nông thôn” ( Nghiên cứu trường hợp tại xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy,tỉnh Hòa Bình) được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi vấn đề kế hoạch hóa gia đìnhtại xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy được thực hiện như thế nào? những yếu tố nàoảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ ở nông thôn ?

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 11

1.1 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

1.2.1Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạchhóa gia đình của phụ nữ ở xã Phú Thành – huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình

Trang 12

2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN2.1 Tổng quan tài liệu

2.1.1 Các nghiên cứu liên quan

Dân số kế hoạch hóa gia đình luôn được xác định là một bộ phận quan trọngcủa chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầucủa quốc gia Chính vì vậy dân số kế hoạch hóa gia đình là một vấn đề thu hútđược sự chú ý quan tâm và nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Bởi dân số kếhoạch hóa gia đình là giải pháp cơ bản để nâng cao và ổn định chất lượng cuộcsống thì gia đình mới hạnh phúc, xã hội mới phát triển, đảm bảo chất lượng cuộcsống của gia đình nói chung và toàn xã hội nói riêng

Theo Trương Xuân Trường (2014), hai lĩnh vực chính của hoạt động dân số

- kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam hiện nay là dịch vụ KHHGĐ, chăm sóc sứckhỏe bà mẹ - trẻ em và công tác truyền thông dân số Ngoài các yếu tố kinh tế xãhội, con đường dẫn đến biến đổi dân số theo chiều hướng tích cực về cơ bản vẫn làtác động vào nhận thức và năng cao tầm hiểu biết của họ Do đó, vấn đề cung cấp

và truyền tải thông tin, phản hồi và xử lý thông tin về dân số - kế hoạch hóa giađình phải được xem là vấn đề có ý nghĩa quan trọng Hiệu quả của hoạt động này

sẽ đo lường bằng các hành vi ứng xử dân số Nói cách khác, thực trạng tình hình kếhoạch hóa gia đình chủ yếu sẽ là tỷ lệ thuận với chiều hướng hoạt động của dịch vụthông tin – giáo dục và tuyên truyền dân số Và một khi theo chiều hướng tích cựcthì thành quả của nó là chắc chắn, lâu dài và hoàn toàn đáng tin cậy

Một trong những thành tựu y học có ý nghĩa quan trọng của thế kỉ XX làviệc phát minh và phổ biến rộng rãi các phương tiện và biện pháp kỹ thuật tránhthai và kiểm soát thông qua cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, thực hiện mỗi cặp

vợ chồng chỉ có từ 1 đến 2 con và khoảng cách sinh giữa hai lần sinh là 5 năm.Việc sinh đẻ trong xã hội hiện đại do đó trở thành một quá trình xã hôi - tự giác:

Trang 13

con người chủ động trong sinh đẻ - chủ động về số con và thời điểm sinh con Tính

tự giác trong hành vi sinh đẻ còn thể hiện ở chỗ hành vi sinh đẻ của cá nhân luôn bịđiều chỉnh bởi ý chí xã hội - xã hội khuyến khích hoặc hạn chế sinh đẻ Thànhcông của cuộc vận động sinh đẻ có kế khoạch và các chương trình dân số khác đãgiúp Việt Nam tránh được nguy cơ bùng nổ dân số sau chiến tranh, kiểm soát được

sự gia tăng dân số (Lê Ngọc Văn, 2012)

Trước đây, trong các gia đình truyền thống, việc sinh đẻ của người phụ nữhoàn toàn do chồng và gia đình quyết định thì ngày nay người phụ nữ đã có nhữngquyền quyết định riêng của mình trong việc sinh đẻ qua đó có thể thấy địa vị củangười phụ nữ đã được nâng cao, hầu như phụ nữ hoàn toàn đồng ý về kế hoạch hóagia đình, phần đông là phụ nữ đã thỏa mãn nhu cầu về giới của con cái Việc nângcao địa vị của người phụ nữ thông qua các hoạt động tăng thu nhập đã có tác độngtốt đến sự bình đẳng vợ chồng, đặc biệt là trong kế hoạch hóa gia đình (Đoàn KimThắng, 1989)

Dân số có vai trò chặt chẽ, cùng với sự phát triển và tương tác đối với kinh

tế chính trị văn hóa xã hội Do vậy cần nhấn mạnh duy trì mức sinh hợp lý, khốngchế tốc độ tăng nhanh của tỉ số giới tính khi sinh, lồng ghép tuyên truyền các vănbản hướng dẫn các văn bản, các tin bài, các điển hình tiêu biểu trong chiến lượctriển khai công tác dân số kế hoạch hóa gia đình Tổ chức triển khai thực hiệnchương trình truyền thông về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, giảiquyết cân bằng giới khi sinh Tổ chức các hoạt động gắn với cung cấp dịch vụ sứckhỏe sinh sản Hướng dẫn chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng dân số,chủ động điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số, đảm bảo duy trì cơ cấu dân số vànghiện nay Phù hợp với sự phát triển toàn diện của đất nước Tổng cục Thống kêDân số - kế hoạch hóa gia đình (2014)

Trang 14

Chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản là mối quan tâm chung của mọi cấp,mọi nghành, những năm vừa qua nước ta đã có nhiều chính sách dân số kế hoạchhóa gia đình hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, cơ sở hạ tầng, bổ sungtrang thiết bị đào tạo lại cán bộ nhằm kiểm soát một cách hiệu quả nhất gia tăngdân số Võ Thanh Hiền (2003) cho rằng cần có các chính sách giúp kiểm soát vànâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản như: Tư vấn, phòng ngừa

và phát hiện sớm tai biến sản khoa, chăm sóc trẻ sơ sinh, kế hoạch hóa gia đình,sức khỏe sinh sản vị thành niên, bạo lực gia đình, giới trong sức khỏe sinh sản…nhằm tăng chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản,nâng cao phát triển kinh tế, trình

độ văn hóa của trẻ em và phụ nữ, cải thiện cà nâng cao vị thế của người phụ nữ.Giáo dục mọi đối tượng có nhận thức tốt, chuyển đổi hành vi có lợi cho sức khỏecủa họ Giúp duy trì và phát huy vai trò điều phối của Ủy ban dân số - Gia đình vàtrẻ em trong công tác truyền thông dân số - kế hoạch hóa gia đình

Theo Mai Quỳnh Nam (1994), với mục tiêu quan trọng nhất của cuộc vậnđộng dân số và kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình chỉ có 1 đến 2 con, đề cập đến

dư luận xã hội của những người trong độ tuổi sinh đẻ, đã nói lên sự đánh giá xã hộiđối với mục tiêu quan trọng nhất của cuộc vận động dân số kế hoạch hóa gia đìnhđối với toàn xã hội, nhóm xã hội, phản ánh quyền lợi chung của toàn xã hội, thấyđược tính ổn định của dư luận xã hội về số con trong gia đình Dư luận xã hội,mang tính nhiều chiều, nó mang ý nghĩa quyết định đến số con không chỉ là sựphản ánh nguyện vọng sinh con của các gia đình, nó là kết quả tổng hợp của việcđánh giá các điều kiện kinh tế xã hội, các yếu tố tâm lý, các quan niệm truyềnthống đối với việc sinh con và sau nữa là khả năng thực hiện hành vi dân số củacác cặp vợ chồng Các chức năng của dư luận xã hội có ý nghĩa quan trọng và toàndiện trong việc quyết định số con trong gia đình

Trang 15

Chức năng sinh đẻ và chăm sóc sức khỏe của gia đình một mặt đáp ứng nhucầu tái sản xuất sinh học về xã hội (duy trì và phát triển dân số), mặt khác đáp ứngnhu cầu của cá nhân là thỏa mãn nhu cầu có con Hành vi sinh đẻ của cặp vợ chồng

do đó chịu sự chi phối của các nhân tố kinh tế xã hội và động cơ cá nhân Số con,nguyện vọng sinh con, các biện pháp chăm sóc bà mẹ mang thai, hình thức tổ chứcbữa ăn, phương pháp chữa bệnh khi có người ốm đau của gia đình là những khíacạnh phản ánh chức năng sinh đẻ và chăm sóc sức khỏe gia đình (Đỗ Thị Bình –

Lê Ngọc Văn - Nguyễn Linh Khiếu, 2002)

Theo Lê Thị Quý (2011), việc sinh con đẻ cái luôn được xem là một nhiệm

vụ cơ bản và quan trọng nhất của gia đình Ở bất cứ xã hội nào, quan điểm về việcsinh sản luôn là chuẩn mực để các gia đình hướng đến Xã hội Việt Nam đã trảiqua rất nhiều thời kỳ lịch sử, quan niệm về chức năng sinh sản của gia đình vì thếcũng đã có sự thay đổi Điều đó được thể hiện trong quan niệm truyền thống thìviệc đẻ nhiều xuất phát từ phong tục muốn “Đông con nhiều cháu” của Việt Nam.Khi ấy, “đông con có phúc”, “đông con hơn nhiều của”, “con đàn cháu đống”…luôn được xem là chuẩn mực hàng đầu để các gia đình hướng đến Họ luôn tâmniệm “Trời sinh voi, trời sinh cỏ”, ý nói 1 con người ra đời đồng nghĩa với việcnhững nhu cầu về đời sống để cung cấp cho con người đó sống và phát triển sẽ tựđộng có Thế nhưng, một thực tại mà ai cũng thấy đó là càng đẻ nhiều, gia đìnhđông con dẫn tới hậu quả là nghèo đói hơn Quan niệm đẻ nhiều khiến cho các giađình càng nghèo khó hơn, con cái không được nuôi dưỡng đầu đủ, không được họchành là nguyên nhân tiên quyết của đói nghèo Việc đẻ nhiều, một phần cũng dotình trạng “Hữu sinh vô dưỡng” của nhiều gia đình nên họ có xu hướng sinh nhiềucon để lỡ có đứa chết vẫn còn con để nuôi Quan niệm truyền thống của Việt Nam

về sinh sản của gia đình ngoài đẻ nhiều còn có quan niệm về giới tính, đó là

“Trọng nam khinh nữ” Việc quan niệm phải có con trai để nối dõi cũng bắt nguồnsâu xa từ những phong tục, tập quán, từ truyền thống chứ hoàn toàn không dựa trên

Trang 16

cơ sở khoa học nào Những gia đình không có con cháu nối dõi có thể bị liệt vàohàng ngũ những gia đình kém may mắn nhất Đối với người chồng, hôn nhân đánhdấu sự gia nhập địa vị người lớn nhưng chưa hoàn toàn trọn vẹn, chỉ khi sinh contrai, anh ta mới hoàn thành nghĩa vụ, địa vị anh ta mới trở nên trọn vẹn Còn vớingười vợ, khi sinh con trai, họ đã tiến một bước dài, từ địa vị “người ngoài”, hòanhập hoàn toàn với gia đình, được an toàn trong gia đình chồng vì đã tạo ra đượcphương tiện tiếp nối gia đình Nếu không có con trai, họ phải một mình chịu hoàntoàn trách nhiệm, số phận của họ trở nên bấp bênh, bất kể họ thực hiện tốt các vaitrò khác trong gia đình nhà chồng như thế nào Một số nghiên cứu khác cũng chorằng có con trai là điều quan trọng tất yếu, mặc dù dân gian luôn truyền tụng câunói: “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng” và nhiều người thường

“chấm điểm 10” về thành tích sinh con cho những cặp vợ chồng nào sinh con gáitrước, rồi sau sinh con trai Trong khi đó, những cặp sinh trai trước, rồi sinh gái chỉđược điểm 9 Nguyên nhân là do con gái đầu lòng từ nhỏ đã là người giúp việc nhàđặc lực cho cha mẹ Nhưng bao nhiêu con gái đi nữa cũng sẽ không bằng một contrai Đây cũng là một trong những nguyên nhân đẻ nhiều ở Việt Nam, đẻ cho bằngđược con trai dù đã rất đông con (Mai Huy Bích, 1991.)

Như vậy có thể nói các nghiên cứu trên đã đề cập đến công tác nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản và thực hiện công tác dân số kế hoạch hóa gia đình Kết quả đạt được của các nghiên cứu đã góp phần thúc đẩy quá trình triển khai và thực hiện công tác kế hoạch hóa gia đình và là cơ sở lý luận quan trọng gópphần thúc đẩy quá trình thực hiện kế hoạch nghiên cứu đề tài “Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện kế hoạch hóa gia đình ở nông thôn”- (Nghiên cứu trường hợp tại xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình)

1.2 Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu

2.2.1 Lý thuyết động lực sinh học của Malthus về sinh sản

Trang 17

Năm 1798, Thomas Robert Malthus viết cuốn sách “ Những hiểu biết về quyluật dân số và tác động của nó đến việc nâng cao đời sống xã hội” với quan điểm:Sinh sản của con người mang bản chất sinh vật Động lực của nó là sự đam mê giớitính Bản chất cơ bản nhất của sinh vật là sự sinh sản, đây là một chức năng chính,

vì thế dù môi trường có thuận lợi hay không thì việc sinh sản vẫn diễn ra theo cấp

số nhân Điều này đúng cả với con người Ta thấy ham muốn tình dục của conngười là rất lớn đó là hệ quả của vấn đề sinh sản

Với đề tài này lý thuyết của Malthus được vận dụng về khả năng sinh sảncủa con người Theo quan điểm của ông thì càng nghèo càng đẻ khỏe, tức là mặc

dù kinh tế khó khăn, đời sống vật chất còn thiếu thốn nhưng người phụ nữ vẫnmuốn sinh thêm con, những người phụ nữ phụ nữ kết hôn sớm thì khả năng sinhcon nhiều lần hơn so với phụ nữ kết hôn muộn Mong muốn của họn sinh nhiềucon với quan niệm “ đông con hơn nhiều của” bởi đó vừa là quy luật của giới tựnhiên, vừa là nhu cầu tất yếu của các cặp vợ chồng

2.2.2 Lý thuyết lựa chọn duy lý

Lý thuyết lựa chọn duy lý có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhânhọc thế kỷ 18-19 Vào năm 1908, Joseph Schumpeter đã đưa ra khái niệm “Phương pháp luận cá nhân” để nhấn mạnh đặc trưng thứ nhất có tính chất xuất phátđiểm của sự lựa chọn duy lý, các cá nhân lựa chọn hành động, sự lựa chọn là hànhđộng của cá nhân Thuyết dựa vào tiền đề cho rằng, con người luôn hành động mộtcách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn, và sử dụng các nguồn lực một cách cóchủ đích có lựa chọn, và sử dụng các nguồn lực để đạt được hiệu quả tối đa và chiphí tối thiểu Thuyết lựa chọn duy lý phải dựa vào sự phân tích hành động và lợiích của cá nhân, nó dựa vào mục đích của cá nhân

Trang 18

Khi thực hiện các chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình thì các cá nhânluôn tính toán lợi ích giữa chi phí bỏ ra, lợi ích thu được cũng như kết quả đạt đượcnhằm bảo vệ lợi ích cao nhất đối với mình Do đó phụ nữ lựa chọn các biện pháptránh thai một cách hiệu quả tối đa và với chi phí hợp lý nhất phù hợp với mục đíchcủa bản thân Đổi lại họ có điều kiện tốt nhất để phát triển kinh tế, xây dựng giađình cũng như tạo thuận lợi cho công việc và thực hiện tốt các chính sách dân số

kế hoạch hóa gia đình của nhà nước

2.2.3 Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber

Lý thuyết hành động xã hội gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội họcPareto, Max Weber, T.Parson Max Weber được xem là nhà Xã hội học có đónggóp lớn nhất với lý thuyết hành động xã hội.Max Weber là nhà kinh tế học, sử học,nhà xã hội học bách khoa toàn thư, sinh năm 1864 tại Đức, mất năm 1920 Mộttrong những khái niệm quan trọng nhất của xã hội học Weber là khái niệm hànhđộng xã hội Theo ông hành động xã hội là hành động được chủ thể gắn cho một ýnghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác và vì vậyđược đình hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó

Hành động xã hội là một trong những phạm trù phương pháp luận trung tâmcủa xã hội học Weber Hành động, cái ý nghĩa mà các tác nhân ám chỉ, có quan hệvới hành động của những người khác và diễn ra do những định hướng của hànhđộng này Như vậy, hành động xã hội đòi hỏi có động cơ chủ quan của cá nhân haynhóm và sự định hướng đến người khác Đây là hai yếu tố mà thiếu nó thì khôngthể nói đến hành động xã hội

Weber đã phác thảo hướng tiếp cận của mình từ góc độ hiểu “tính đơn nhấtđặc thù” của thực tiễn mà chúng ta hoạt động trong đó, một thực tiễn trong đó vôvàn những sự kiện lần lượt đồng thời xuất hiện và biến mất Cái gọi là những quy

Trang 19

luật khách quan, hay các mối quan hệ giữa vô vàn yếu tố bên ngoài cấu thành một

hệ thống xã hội, bản thân nó không sản sinh ý nghĩa Weber nhấn mạnh rằng, phàmtrù ý nghĩa chỉ được sản sinh ra thông qua hành động xã hội, khi chủ thể hành độnggắn một ý nghĩa chủ quan cho hành vi của mình Ông cho rằng hành động của conngười là chủ quan, nó không đi theo một con đường nào và nó không thể đoántrước được Hành động xã hội xoay quanh việc chủ thể lựa chọn phương tiện đểthực hiện những mục tiêu cụ thể

Max Weber phân chia hành động xã hội ra làm 4 loại dưới đây:

- Hành động duy lý công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc ,tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho hiệu quả caonhất Ví dụ hành động thực hiện các chính sách kế hoạch hóa gia đình luônphải tính toán cân nhắc, lựa chọn những phương pháp để đạt được hiệu quảcao nhất có thể đạt được

- Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân hànhđộng ( mục đích tự thân )

- Hành động cảm tính (cảm xúc): là hành động do các trạng thái cảm xúc hoặccảm tình bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc xem xét

- Hành động truyền thống: là loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi

lễ, phong tục, tập quán đã được truyền từ đời này qua đời khác Ví dụ nhưcác quan niệm truyền thống sẽ gây ra những ảnh hưởng đến việc thực hiện

kế hoạch hóa gia đình

Vận dụng lý thuyết hành động xã hội vào đề tài nghiên cứu giúp tìm hiểu đượcviệc thực hiện kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ nhằm thực hiện hành động theođịnh hướng mục tiêu hợp lý trong đó mục tiêu và phương tiện được lựa chọn mộtcách hợp lý Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa

Trang 20

gia đình, các chị em cũng gặp những yếu tố chủ quan và khách quan tác động đếnvấn đề việc thực hiện các chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình

1.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài

2.3.1 Khái niệm dân số

Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lýkinh tế hoặc một đơn vị hành chính (khoản 3, điều 3, pháp lệnh dân số 2003)

2.3.2 Khái niệm kế hoạch hóa gia đình

Kế hoạch hóa gia đình được hiểu là sự nỗ lực của nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân,cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảngcách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dậy con có trách nhiệm, phùhợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình (khoản 9 điều 3 pháplệnh dân số 2003)

2.3.3 Khái niệm gia đình

Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù liên kết xã hội con người lại với nhaunhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái Các mối quan

hệ gia đình còn được gọi là các mối quan hệ họ hàng Đó là sự liên kết ít nhất từhai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân, việc nhận nuôi con Những ngườinày có thể sống cùng hoặc sống khác mái nhà với nhau.( Đặng Cảnh Khanh- LêThị Quý, 2009)

2.3.4 Khái niệm phụ nữ

Phụ nữ là một khái niệm chung dùng để chỉ một một người hay một nhóm ngườihay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặcđiểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể

Trang 21

họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường.(Nguồn: Vi.Wikipedia.org).

Trang 22

3 PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.4 Chọn điểm nghiên cứu

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Xã Phú Thành là một xã nằm ở phía Bắc huyện Lạc Thủy Chạy dọc theotuyến quốc lộ 21A, phía Đông Nam giáp với 2 xã Phú Lão và xã Cố Nghĩa PhíaTây giáp với xã Hưng Thi, phía Bắc giáp với 2 xã Thanh Nông và Thanh Hà Xã

có tổng diện tích tự nhiên là 37,097 ha với tổng số hộ là 1985 hộ với số nhân khẩu

là 7812 người Trong đó có 3459 người là nữ Tổng số phụ nữ từ 15 - 49 có 2122người Tổng số phụ nữ từ 15 - 49 tuổi có chồng là 1424 người Tổng số cặp vợchồng trong độ tuổi sinh đẻ đang áp dụng biện pháp tránh thai có 1326 cặp

Xã có 11 thôn và 2 cơ quan là trung tâm ngô và kho KT788 Xã chia thành

22 địa bàn Có 2 dân tộc sinh sống là dân tộc kinh và dân tộc mường Có 1 nhà thờđạo thiên chúa tại thôn Đồng Danh Có một chợ nằm tại trung tâm xã, có 3 nhàtrường, Trường Mầm Non, Trường Tiểu Học, Trường Trung học cơ sở xã PhúThành

Là một xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn, địa bàn rộng dân số đông nhậnthức của người dân không được đồng đều, công tác giáo dục truyền thông về dân

số KHHGĐ còn gặp nhiều khó khăn nên việc truyền thông lồng ghép vào chươngtrình phát triển kinh tế xã hội chưa được hài hòa Tỷ lệ phụ nữ tiếp cận dịch vụKHHGĐ còn hạn chế Vẫn còn nhiều gia đình phương tiện truyền thông đã bịhỏng, kinh phí mục tiêu bị giảm cắt, không có để hoạt động nên không đảm bảocho tiến độ triển khai các hoạt động về dân số KHHGĐ

Trang 23

Công tác dân số KHHGĐ luôn được Đảng ủy, HĐND, UBND các cấp ủyĐảng chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể quan tâm Cho đó là nhiệm

vụ quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo

Từ những đặc điểm tình hình và những khó khăn thuận lợi và được sự quantâm chỉ đạo của Đảng ủy, UBND xã Phú Thành đã được áp dụng các chính sách kếhoạch hóa gia đình trong nhiều năm Tuy nhiên để tìm hiểu được các yếu tố chủquan và khách quan đã tác động như thế nào thì cần có một đề tài nghiên cứu đểlàm rõ các yếu tố tác động và thực trạng chính sách kế hoạch hóa gia đình tại địaphương

1.5 Phương pháp thu thập thông tin

3.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp:

Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tiến hành thu thập các tài liệu, thông tintin có sẵn từ các phòng ban trong ủy ban nhân dân xã Phú Thành Đặc biệt là cácthông tin và tài liệu từ Hội phụ nữ xã như các báo cáo cuối năm, các số liệu thống

kê, các bài báo cáo tổng kết hàng năm về dân số, kế hoạch hóa gia đình Thu thậpcác số liệu và báo cáo tại phòng dân số thuộc trạm y tế xã Ngoài ra còn tiến hànhtham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan về tình hình kế hoạch hóa giađình Thu thập qua các sách báo tạp chí chuyên nghành, các bài viết về chính sách

kế hoạch hóa gia đình va các sách chuyên khảo, các nghiên cứu về dân số kế hoạchhóa gia đình

3.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp:

- Phương pháp điều tra bảng hỏi:

Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với 60 phụ nữ để thu thập thông tin vềviệc thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình và các yếu tố tác động tới dân số

kế hoạch hóa gia đình tại địa phương

Trang 24

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Nhằm tìm hiểu cụ thể hơn các yếu tố tác động tới dân số kế hoạch hóagia đình tại địa phương, tiến hành 8 phỏng vấn sâu gồm: 1 phỏng vấn sâu chủ tịchhội phụ nữ xã, 1 cán bộ y tế, 3 phụ nữ đã sinh con, 3 người nam giới đã có con

1.6 Khung phân tích

Chính sách kế hoạch hóa gia đình

Thực trạng việc thực hiện KHHGĐ của phụ nữ tại đại phương

Yếu tố khách quan:

 Nghề nghiệp

 Trình độ học vấn

Trang 25

3.4 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

- Phương pháp so sánh: Xem xét sự khác nhau về việc thực hiện kế hoạch hóa gia

đình giữa phụ nữ dân tộc Kinh và phụ nữ dân tộc Mường

- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu sau khi thu thập bằng phiếu điều tra/ bảng hỏi

sẽ được kiểm tra, loại bỏ phiếu kém chất lượng và tiến hành xử lý 60 phiếu bằngphần mềm Excel để đảm bảo độ tin cậy và tính chính xác cao

Trang 26

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng việc thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ tại địa phương.

Đối với công tác Y tế, Dân số kế hoạch hóa gia đình và trẻ em tại địa phương

đã đạt được một số thành công nhờ sự quan tâm của cán bộ trạm được thườngxuyên bồi dưỡng đào tạo nâng cao trình độ về chuyên môn Trú trọng thực hiệnphòng chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Kết quả thămkhám chữa bệnh trong năm đạt gần 8000 lượt người Đối với công tác dân số kếhoạch hóa gia đình và trẻ em thì nhờ sự phối hợp chặt chẽ của ban dân số kế hoạchhóa gia đình và các cộng tác viên dân số ở các khu mở các lớp truyền thông giáodục đến nhân dân pháp lệnh dân số, luật bảo vệ và chăm sóc bà mẹ trẻ em, thựchiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình Để thực hiện tốt công tác dân số kếhoạch hóa gia đình xã Phú Thành luôn tuyên truyền vận động các chị em thực hiệntốt các chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình Cùng với các buổi hội họp các cán

bộ phụ nữ đến tận nhà động viên tư vấn và vận động từng chị em Qua đó đẩy lùi

và giúp các chị em từ bỏ những tập quán sinh đẻ lạc hậu Tư vấn và phổ biến cácbiện pháp tránh thai hiện đại như dùng bao cao su hay đặt vòng…Do đó tỉ lệ cácchị em phụ nữ sinh con thứ ba giảm hẳn Trong năm 2014 vừa qua áp dụng cácbiện pháp tránh thai mới đạt được 1133 ca đạt 100% so với kế hoạch giao Số trẻ

em sinh trong năm 2014 là 238 cháu, trong đó tỷ lệ mất cân bằng giới tính cháu trai

là 131/238 = 54,04%, tỷ lệ cháu gái là 107/238 = 45,96%, tỷ lệ tăng dân số tự

nhiên ở mức 1% ( Báo cáo UBND xã Phú Thành năm 2014).

Bảng 4.1 Những nội dung về dân số kế hoạch hóa gia đình được tuyên truyền tại xã Phú Thành.

Mẫu: 60

Trang 27

Đơn vị tính: lượt chọn

tộc Kinh(30)

Phụ nữ dântộc Mường(30)Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân

trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình

Tuyên truyền, tư vấn về việc thực hiện kế hoạch hóa

gia đình

Truyên truyền tư vấn về các biện pháp phòng tránh

thai và chăm sóc sức khỏe sinh sản

Quy định về số con, khoảng cách giữa các lần sinh 9 5

Tuyên truyên, tư vấn về hậu quả của việc nạo phá thai

và các bệnh lây qua đường tình dục

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2015)

Theo kết quả điều tra, những nội dung về dân số kế hoạch hóa gia đình đượcphổ biến tại xã Phú Thành thì hình thức tuyên truyền tại xã tương đối đa dạng chủyếu nhất vẫn là tuyên truyền tư vấn về việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình Với

23 lượt chọn của phụ nữ dân tộc Mường và 28 lượt chọn đối với phụ nữ dân tộcKinh (Xem bảng 4.1) Nội dung của các buổi tuyên truyền được các cán bộ tư vấntới các chị em phụ nữ với các chủ đề về kế hoạch hóa gia đình, thông báo tới cácchị em về các chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân số kế hoạch hóa giađình, các quy định về số con cũng như tư vấn chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻem…

Bên cạnh đó, ở đây còn được phổ biến nội dung tuyên truyền tư vấn về cácbiện pháp phòng tránh thai và chăm sóc sức khỏe sinh sản với 20 lượt chọn củaphụ nữ người dân tộc Mường và 14 lượt chọn đối với người dân tộc Kinh do trình

Trang 28

độ nhận thức của người phụ nữ dân tộc Mường và khả năng tiếp cận với các chínhsách còn gặp nhiều hạn chế Do đó người phụ nữ dân tộc Mường được tạo điềukiện và phổ biến nhiều hơn so với người phụ nữ dân tộc Kinh Các cán bộ tậpchung vận động tư vấn các cặp vợ chồng sinh con một bề, các hộ sinh nhiều con,các cặp vợ chồng chưa chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai, cũng như các

hộ gia đình theo đạo Thiên chúa trong đó chủ yếu là người dân tộc Mường Họ có

tư tưởng sinh con theo tự nhiên do trực tiếp tiêu diệt sự sống một người vô tội baogiờ cũng là một hành vi xấu từ bản chất Phá thai tự bản chất của nó là xấu, chứkhông phải là xấu bởi vì Giáo Hội cấm đoán Giáo Hội chỉ cấm phá thai bởi vì tựbản chất phá thai là xấu Công đồng Vativcan II đã khẳng định phá thai là tội ácghê tởm chống lại sự sống: “Sự sống ngay từ lúc thụ thai đã phải được giữ gìn hếtsức cẩn thận: phá thai và giết trẻ sơ sinh là những tội ác ghê tởm” Công tác tuyêntruyền giúp chị em hiểu được và khuyến khích cũng như động viên sử dụng hợp lýbiện pháp tránh thai, sinh ít con, thực hiện tốt các chính sách dân số kế hoạch hóagia đình

Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình của địa phương được thực hiện với mụcđích chủ đạo là truyên truyền các biện pháp phòng tránh thai và nuôi dậy con…Được các cán bộ phụ nữ nhấn mạnh và thường xuyên thực hiện giúp chị em nhậnthức tốt để phòng tránh thai và chăm sóc sức khỏe sinh sản một cách tốt nhất Cùngvới đó, việc tuyên truyên, tư vấn về hậu quả của việc nạo phá thai và các bệnh lâyqua đường tình dục được chính quyền địa phương quan tâm, phổ biến tới các chị

em do đó có 13 lượt chọn đối với phụ nữ dân tộc Kinh và 8 lượt chọn của phụ nữdân tộc Mường Nếu như không sử dụng các biện pháp tránh thai sảy ra có thaingoài ý muốn dẫn đến nạo phá thai nhiều lần sẽ để lại hậu quả rất nghiêm trọngnhư ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lao động của phụ nữ hoặc để lại những hậuquả vô cùng nặng nề như vô sinh, mang thai ngoài tử cung, sảy thai, thai chết lưu Tăng nguy cơ nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khácđối với bản thân và những người khác Chưa kể những hậu quả ngoài y tế như: Lyhôn, kì thị, bạo lực gia đình Bên cạnh đó các đợt tuyên truyền còn phổ biến tới

Trang 29

chị em về quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện

kế hoạch hóa gia đình cũng như tuyên truyền các quy định về số con, khoảng cáchcác lần sinh đều với 9 lượt chọn đối với người dân tộc Kinh và 5 lượt chon đối vớiphụ nữ dân tộc Mường Lý do sinh con quá gần của nhiều cặp vợ chồng trẻ cónhiều, có thể do muốn kết thúc sớm chỉ tiêu “2 con”, có thể do lần không thể bỏ lỡ

cơ hội, có thể vì tuổi mẹ đã cao (ngoài 30) nên lo gặp khó khăn cho việc thụ thaisau này… do vỡ kế hoạch, do thiếu hiểu biết hoặc không được tiếp cận với cácphương pháp tránh thai sau đẻ Có nhiều đe dọa cho sức khỏe người mẹ và con –khi sinh con quá gần Nhiều nghiên cứu cũng đã xác nhận những nguy hiểm đếnsức khỏe của việc sinh con quá gần, nhấn mạnh đến nguy cơ sinh con nhẹ cân vàphát triển chậm của những đứa trẻ này

Hộp 4.1: Công tác vận động tuyên truyền thực hiện KHHGĐ tại địa phương

Công tác triển khai và thực hiện công tác dân số kế hoạch hóa gia đình tạiđịa phương mình nói chung đang được thực hiện tốt gia đình nào cũng có 2 con

ít khi nào vượt quá ba con Ở địa phương thì hội phụ nữ thường xuyên họp phụrồi tuyên truyền các phương pháp phòng tránh Bên y tế đưa những kế hoạch vềcho phụ nữ thực hiện nên là các kế hoạch thực hiện dân số kế hoạch hóa gia đìnhdiễn ra rất là tốt

(Phỏng vấn sâu, nữ, 35 tuổi)

Ngay trong những ngày đầu năm ban dân số kế hoạch hóa gia đình đãtriển khai họp và giao chỉ tiêu kế hoạch hoạt động về công tác dân số kế hoạchhóa gia đình cho từng địa bàn thôn do các cộng tác viên quản lý Nắm bắt đốitượng tuyên truyền vận động và phối kết hợp chặt chẽ với các ban nghành đoànthể trong toàn xã thực hiện tốt công tác truyền thông

(Phỏng vấn sâu, nữ, 49 tuổi – cán bộ DS – KHHGĐ)

Trang 30

Có thể nói những quy định và các chính sách dân số kế hoạch hóa gia đìnhđược tuyên truyền phổ biến giúp các gia đình có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và thực hiện kế hoạch hóa gia đình ngày càng tốthơn

Nhìn chung mỗi phụ nữ lại có sự đánh giá khác nhau đối với hiệu quả củacông tác dân số kế hoạch hóa gia đình Vì vậy cách hiểu của mỗi chị em về kếhoạch hóa gia đình lại khác nhau dẫn đến nguy cơ hiểu sai, hiểu không đúng nhữngnội dung mà các cán bộ phụ nữ tuyên truyền tới các chị em

Trang 31

Bảng 4.2: Quan niệm của phụ nữ về kế hoạch hóa gia đình

Mẫu: 60 Đơn vị tính: Lượt chọn

Dân tộcKinh

Dân tộcMườngChủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian

sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh để bảo vệ

sức khỏe và nuôi con có trách nhiệm

Là sự can thiệp của Nhà nước để các gia đình sinh 1

hoặc 2 con theo quy định

Là sự can thiệp của Nhà nước để các gia đình tự

nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và

khoảng cách giữa các lần sinh

Là biện pháp chủ yếu để điều chỉnh mức sinh, góp

phần đảm bảo cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ,

hạnh phúc

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2015)

Số liệu điều tra cho thấy có một sự khác nhau khá rõ giữa cách hiểu của phụ

nữ người dân tộc Kinh và phụ nữ người dân tộc Mường về vấn đề Dân số - Kếhoạch hóa gia đình Đối với phụ nữ người dân tộc Mường đa số cho rằng kế hoạchhóa gia đình là sự can thiệp của Nhà nước để các gia đình sinh 1 hoặc 2 con theo

Trang 32

quy định (26 lượt chọn) Trong khi đó người phụ nữ dân tộc Kinh lại đa số lựachọn cách hiểu kế hoạch hóa gia đình là biện pháp chủ yếu để điều chỉnh mức sinh,góp phần đảm bảo cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc với 24 lượtchọn Xếp ở vị trí thứ 12 với 18 lượt chọn của người dân tộc Kinh là chủ động, tựnguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh đểbảo vệ sức khỏe và nuôi con có trách nhiệm Trong khi đó người phụ nữ dân tộcMường lại chọn phương án là biện pháp chủ yếu để điều chỉnh mức sinh, góp phầnđảm bảo cuộc sống ấm no, bình, tiến bộ, hạnh phúc (10 lượt chọn).

Xếp ở vị trí cuối cùng là lựa chọn sự can sự can thiệp của Nhà nước để các giađình tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lầnsinh Tuy các cách hiểu về kế hoạch hóa gia đình là khác nhau nhưng phụ nữ của

cả hai dân tộc Kinh và Mường đã có cách hiểu cơ bản về nội dung của công tácdân số kế hoạch hóa gia đình Qua đó giúp chị em thực hiện công tác dân số kếhoạch hóa gia đình đạt hiệu quả tốt nhất

4.1.2 Hiện trạng sử dụng biện pháp tránh thai của phụ nữ.

Nhằm duy trì một mức sinh hợp lý, giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên,giảm mức sinh con thứ ba, đảm bảo mức sinh thay thế, từng bước nâng cao chấtlượng dân số kế hoạch hóa gia đình thì việc tuyên truyền, áp dụng các biện pháptránh cho phụ nữ, tư vấn để các chị em trong độ tuổi sinh đẻ chấp nhận sử dụng cácbiện pháp tránh thai cần được chú trọng.Theo thống kê của trạm y tế xã Phú Thànhtổng số phụ nữ trong toàn xã có 3459 người trong đó phụ nữ trong độ tuổi từ 15-

49 tuổi là 2122 người, tổng số phụ nữ từ 15-49 có chồng là 1424 người Tổng sốcặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đang áp dụng các biện pháp tránh thai là 1326

cặp (Báo cáo UBND xã Phú Thành năm 2014)

Trang 33

Bảng 4.3: Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi có chồng đang sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại

Các biện pháp tránh thai Chỉ tiêu Thực hiện Đạt tỷ lệ (%)

(Báo cáo UBND xã Phú Thành năm 2014)

Số liệu được xã Phú Thành cung cấp cho thấy tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránhthai hiện đạt rất cao Kết quả nghiên cứu cũng đưa ra tỷ lệ sử dụng các biện pháptránh thai đối với phụ nữ dân tộc Kinh và phụ nữ dân tộc Mường

Bảng 4.4 Tỷ lệ sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình

Mẫu: 60 Đơn vị tính: %

Chị có sử dụng biện pháp tránh thai nào

không

Phụ nữ dân tộcKinh

Phụ nữ dân tộcMường

Trang 34

Đặt vòng tránh thai 53.57 46.43

Thuốc tránh thai hàng ngày/khẩn cấp 10.72 21.42

Tính chu kì kinh nguyệt của người phụ nữ 10.72 10.72

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2015)

Thông qua số liệu điều tra tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai là khácnhau Biện pháp đặt vòng được sử dụng phổ biến hơn cả, trong đó có 50% của phụ

nữ dân tộc Kinh và 46.43% phụ nữ dân tộc Mường sử dụng biện pháp này vì tính

an toàn và tiện lợi của nó Nếu muốn sinh thêm con chỉ cần tháo vòng ra hơn nữaviệc sử dụng biện pháp đặt vòng không ảnh hưởng tới việc quan hệ vợ chồng, rất ítsảy ra tác dụng phụ Tuy nhiên cũng có một số chị em gặp phải tác dụng phụ củaviệc đặt vòng như đau bụng hoặc tăng cân đột biến, nhức đầu hay các bệnh phụkhoa nên họ không sử dụng biện pháp đặt vòng mà chọn đặt vòng mà pháp tránh

thai khác phù hợp với bản thân hơn “Tôi không hợp với đặt vòng lắm bởi ngày trước đặt vòng xong tôi bị đau bụng, ăn không ngon ngủ không yên nên tôi đi tháo rồi” (PVS, nữ, 45 tuổi).

Ngoài biện pháp đặt vòng thì biện pháp được chị em lựa chọn sử dụng nhiều

là uống thuốc tránh thai hàng ngày/khẩn cấp do biện pháp này cũng mang lại hiệuquả cao trong việc phòng tránh thai Nhưng phương pháp này khá bất tiện do phải

sử dụng thường xuyên, liên tục và phải nhớ thời gian Hơn nữa, một số phụ nữ đãnhận thức được những hạn chế từ việc sử dụng thuốc tránh thai gây ra đồng thờicũng có những tác dụng phụ không mong muốn, đặc biệt là tránh thai khẩn cấp nênchỉ một số phụ nữ lựa chọn cách uống thuốc tránh thai trong đó có 10.72% phụ nữdân tộc Kinh và 21.42% phụ nữ dân tộc Mường lựa chọn do một số phụ nữ dân tộcMường chưa hiểu hết tác dụng phụ của thuốc tránh thai mà chỉ nhận thấy đây là

Trang 35

một phương pháp khá tiện lợi lại không ảnh hưởng gì tới chất lượng sinh hoạt vợchồng,

Trang 36

(Phỏng vấn sâu, nữ, 48 tuổi)

Tôi thì kế hoạch hóa bằng tiêm thuốc tránh thai Yên tâm không phải lo nhớ ngàygiờ như uống thuốc, lại không phải tháo ra tháo vào như đặt vòng

(Phỏng vấn sâu, nữ, 45 tuổi)

Bên cạnh đó còn có những biện pháp tránh thai khác được phụ nữ lựa chọn

sử dụng để tránh thai đó là tính chu kì kinh nguyệt của phụ nữ, nam giới xuất tinhngoài Đây là những biện pháp truyền thống không tốn kém về kinh tế như cácphương pháp tránh thai hiện đại nhưng những biện pháp này tiềm ẩn rất nhiều rủi

ro gây nên sự cố có thai ngoài ý muốn Vì vậy biện pháp tránh thai truyền thống ítđược lựa chọn Việc sử dụng biện pháp tránh thai còn bị ảnh hưởng bởi ngườichồng, tỷ lệ phụ nữ được hỏi sử dụng bao cao su rất thấp do các cặp vợ chồng cótâm lý không thoải mái, một số ông chồng nhất quyết không sử dụng bao cao su

với lý do rằng: “Vợ chứ không phải gái làng chơi nên không sử dụng”.(PVS, nam,

30 tuổi) Cộng thêm tâm lý e ngại khi đi mua bao cao su và ảnh hưởng tới kinh tếgia đình nên phương pháp này chỉ có 3 phụ nữ lựa chọn sử dụng Trong số 56người được hỏi có duy nhất 1 người sử dụng phương pháp triệt sản Nguyên nhân

Trang 37

là do người phụ nữ này bị u cổ tử cung nên phải cắt bỏ nên không thể có con nữa.Trong số 60 người được hỏi có 4 người không sử dụng biện pháp tránh thai nào Sốphụ nữ không sử dụng biện pháp tránh thai thì lý do phụ nữ không sử dụng biệnpháp tránh thai nào là do người theo đạo thiên chúa nên không sử dụng các biện

pháp tránh thai, hoặc gia đình kinh tế đã vững muốn sinh thêm con “Theo đạo thiên chúa thì con cái là do chúa tạo ra nên khi có con bắt buộc phải sinh, không cần sử dụng các biện pháp tránh thai”(Pvs, nữ, 38 tuổi)

Như vậy, với những lý do để phụ nữ không sử dụng các biện pháp tránh thainhưng tỷ lệ phụ nữ không sử dụng các biện pháp tránh thai là không cao Ngoàiyếu tố sử dụng các biện pháp tránh thai để thực hiện kế hoạch hóa gia đình thì còn

có các yếu tố khác tác động gây ra những ảnh hưởng đến việc thực hiện của phụ nữđịa phương như các yếu tố chủ quan và khách quan

4.1.3 Nguồn tiếp nhận thông tin về chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ

Thông qua hoạt động tuyên truyền các cán bộ dân chuyên trách đã triển khainhững nội dung về dân số kế hoạch hóa gia đình tới tận các chị em phụ nữ giúp chị

em hiểu rõ các chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình qua đó tích cực tự giácthực hiện các chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình Tuy nhiên việc tiêp nhậnthông tin không chỉ dừng lại thông qua các hoạt động tuyên truyền của cán bộchuyên trách mà còn thông qua rất nhiều nguồn thông tin khác nhau

Bảng 4.5: Nguồn tiếp nhận thông tin về chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình

Mẫu: 60

Đơn vị tính: Lượt chọn

Ngày đăng: 21/06/2019, 11:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5, Nguyễn Linh Khiếu – Lê Ngọc Văn – Đỗ Thị Bình( 2002) “ Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”- NXB khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình ViệtNam và người phụ nữ trong gia đình thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
7, Đinh Thị Phiến (2013) “Chiến dịch tăng cường truyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ Sức khỏe sinh sản/Kế hoạch hóa gia đình đến vùng đông dân, vùng có mức sinh cao và vùng khó khăn năm 2013 ”. UBND xã Phú Thành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến dịch tăng cường truyên truyền, vận độnglồng ghép dịch vụ Sức khỏe sinh sản/Kế hoạch hóa gia đình đến vùng đông dân,vùng có mức sinh cao và vùng khó khăn năm 2013
9, Đoàn Thị Thủy (2013) “ Báo cáo tổng kết công tác dân số kế hoạch hóa gia đình năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014 ”. UBND xã Phú Thành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác dân số kế hoạch hóagia đình năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014
10, Trương Xuân Trường (1996) “Kế hoạch hóa gia đình – thực trạng và vấn đề truyền thông dân số ở Quảng Ninh”. Tạp chí xã hội học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hóa gia đình – thực trạng và vấnđề truyền thông dân số ở Quảng Ninh
11, Lê Ngọc Văn (2012) “ Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam” – NXB khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam
Nhà XB: NXBkhoa học xã hội
12, Phạm Bích San (1996) “Nhu cầu kế hoạch hóa gia đình không được đáp ứng và không sử dụng tránh thai ở Việt Nam”. Xã hội học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu kế hoạch hóa gia đình không được đápứng và không sử dụng tránh thai ở Việt Nam
13, Phạm Minh Sơn (2011) “Công tác DSKHHGĐ Việt Nam – 50 năm xây dựng và phát triển”.Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác DSKHHGĐ Việt Nam – 50 năm xây dựng và phát triển
1, Tổng cục Thống kê Dân số - kế hoạch hóa gia đình (2014) Khác
2, Tài liệu truyền thông về công tác dân số chăm sóc sức khỏe sinh sản. Ủy ban dân số gia đình và trẻ em tỉnh Hòa Bình (2004) Khác
3, Mai Huy Bích (1991) Xã hội học Gia đình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
4, Võ Thanh Hiền và Cộng sự (2003).Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản Hòa Bình. Sở y tế tỉnh Hòa Bình Khác
6, Mai Quỳnh Nam (1996). Dư luận xã hội về số con. Tạp chí xã hội học số 3 Khác
8, Lê Thị Quý (2011) Xã hội học Gia đình, NXB chính trị-hành chính Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w