Bên cạnh đó, một số giáo trình và sách chuyên khảo khác như: Tác giả Trần Vũ Hải 2010, Giáo trình Luật NH Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam; Trường Đại lọc Luật Hà Nội 2015, Giáo trình Luậ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ DANH KIÊN
HỢP ĐỒNG MUA, BÁN NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ DANH KIÊN
HỢP ĐỒNG MUA, BÁN NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác
Hà Nội, 27 tháng 2 năm 2019
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NGOẠI TỆ 9
1.1 Khái niệm ngoại tệ và mua bán ngoại tệ 9
1.1.1 Ngoại tệ 9
1.1.2 Mua bán ngoại tệ 12
1.2 Hợp đồng mua bán ngoại tệ 13
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng mua bán ngoại tệ 13
1.2.2 Phân loại hợp đồng mua bán ngoại tệ 16
1.2.3 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại 25
1.2.4 Hợp đồng mua bán ngoại tệ vô hiệu 27
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 36
2.1 Thực trạng quản lý hoạt động mua bán ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước đối với các Ngân hàng thương mại 36
2.1.1 Thị trường ngoại tệ Việt Nam trong những năm gần đây 36
2.1.2 Sự điều tiết thị trường ngoại tệ của Ngân hàng nhà nước trong những năm gần đây 38
2.2 Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại 42
2.2.1 Thực trạng pháp luật về chủ thể tham gia hợp đồng mua bán ngoại tệ 42
2.2.2 Thực trạng pháp luật về quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia hợp đồng mua bán ngoại tệ 43
2.2.3 Thực trạng pháp luật về chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng mua bán ngoại tệ 48
2.3 Đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại 50
Trang 52.3.1 Ưu điểm 50
2.3.2 Hạn chế 51
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 55
3.1 Giới thiệu về Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội 55
3.2 Tổng quan hoạt động giao dịch mua bán ngoại tệ của Ngân hành Thương mại cổ phần Quân đội giai đoạn 2015 - 2018 56
3.2.1 Quy trình, thẩm quyền giao kết hợp đồng mua bán ngoại tệ tại Ngân hành Thương mại cổ phần Quân đội 56
3.2.2 Thực trạng triển khai các loại hợp đồng mua bán ngoại tệ của Ngân hành Thương mại cổ phần Quân đội 59
3.3 Những khó khăn vướng mắc và nguyên nhân gây ra trong hoạt động ký kết hợp đồng mua bán ngoại tệ tại Ngân hành Thương mại cổ phần Quân đội 61
3.3.1 Khó khăn, vướng mắc 61
3.3.2 Nguyên nhân 63
3.4 Kiến nghị hoàn thiện hoạt động, hợp đồng mua bán ngoại tệ 66
3.4.1 Định hướng trong hoạt động mua bán ngoại tệ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội 66
3.4.2 Kiến nghị đối với công tác bản hành văn bản, quản lý hoạt động mua bán ngoại tệ đối với Ngân hàng nhà nước 71
3.4.3 Kiến nghị đối với các tổ chức, cá nhân tham gia ký kết giao dịch mua bán ngoại tệ đối với Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội 76
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp GDGN Giao dịch giao ngay
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
TCTD Tổ chức tín dụng
TTNT Thị trường ngoại tệ
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn 20 năm Việt Nam mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế đất nước ta đã có rất nhiều thay đổi tích cực, trong đó đặc biệt có thể kể đến là sự đổi mới trong công tác xây dựng ban hành chính sách, pháp luật quy định đối với hệ thống các NHTM
Sự thay đổi đó đã nâng cao vai trò giá trị của hệ thống tài chính NH rất nhiều trong công tác thu hút đầu tư nước ngoài, luân chuyển nguồn vốn NT một các linh hoạt, ổn định nhằm thúc đẩy kinh tế nội địa.Trong thời gian qua, dưới sự chỉ đạo sát sao của NHNN Việt Nam nhiều quy định về quản lý ngoại hối đã
ra đời tạo ra hành lang pháp lý tương đối đầy đủ để hỗ trợ công tác giám sát của NHNN và hoạt động ngoại hội các NHTM với các tổ chức kinh tế, cá nhân Phổ biến nhất phải kể đến có lẽ đó là hoạt động MBNT của các NHTM
và các tổ chức kinh tế, cá nhân cả trong và ngoài nước Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ngoại hối nói chung và hoạt động MBNT của NHTM nói riêng vẫn còn bộc lộ những điểm bất cập so với thực tế, gây khó khăn trong công tác quản lý NHNN và vướng mắc cho các chủ thể của nền kinh tế khi tham gia giao dịch
Trong bối cảnh nền kinh tế quốc tế đang ngày càng phát triển đa phương, tham gia mạnh mẽ vào hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế Việc phát triển công tác quản lý, giao dịch NT là một nội dung trọng tâm mà NHNN cũng như hệ thống các NHTM phải đặc biệt quan tâm nghiên cứu, thảo luận để hệ thống hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động này sẽ góp phần quan trọng vào việc thu hút nguồn vốn cho nền kinh tế nói chung, cũng như thúc đẩy quá trình đa dạng hóa các gói sản phẩm có tính giá trị gia tăng cao của hệ thống NHTM
Trang 8Đứng trước yêu cầu mang tính cấp thiết, tất yếu khách quan nêu trên,
tác giả mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Hợp đồng mua bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội Quân Đội” làm luận văn thạc
sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về hợp đồng nói chung, trong đó có nội dung liên quan đến hoạt động MBNT của NHTM đã được nghiên cứu và đề cập ở nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau trong một số công trình nghiên cứu khoa học hoặc đăng tải dưới dạng tạp chí pháp luật có liên quan như sau:
- Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo:
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2015), “Giáo trình luật NH”, đã cung cấp các lý luận về pháp luật NH, phân tích các nội dung, các điều luật, các chế định về hoạt động của các NH Đây là những cơ sở quan trọng giúp giảng viên, sinh viên và các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu, đánh giá những thành công, hạn chế của hệ thống pháp luật về NH của Việt Nam hiện nay [90]
Tác giả Lê Thị Bích Thọ (2004), Hợp đồng kinh tế vô hiệu, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu về hợp đồng kinh tế theo pháp luật kinh tế Việt Nam, nội dung được phân tích sâu là các trường hợp vô hiệu của hợp đồng kinh tế Đây là một trong những nghiên cứu có ý nghĩa giúp những nhà làm luật, người được có nền tảng để tiếp tục nghiên cứu các quy định về hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2005, và Luật Thương mại năm 2005 được ban hành sau đó 01 năm [76]
Tác giả Nguyễn Văn Tiến (2003), “Quyền chọn tiền tệ”, Nxb Thống
kê, Hà Nội Trong nghiên cứu của mình tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến tiền tệ và HĐKD tiền tệ của các TCTD Đặc biệt, tác giả đi sâu nghiên cứu các nội dung về quyền chọn tiền tệ, là cơ sở quan trọng để
Trang 9đánh giá, phân tích hoạt động này trong thực tiễn theo pháp luật NH, pháp lệnh ngoại hối [83]
Bên cạnh đó, một số giáo trình và sách chuyên khảo khác như: Tác giả
Trần Vũ Hải (2010), Giáo trình Luật NH Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam; Trường Đại lọc Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật NH Việt Nam, Nxb Công
an nhân dân; Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2005),
Giáo trình Luật Hợp đồng thương mại Quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Tác giả Phan Thị Thu Hà (2006), Giáo trình NH thương mại, Trường đại học Kinh tế Quốc dân, Nxb Thống kê, Hà Nội; Nguyễn Thị Mùi (2006), Quản trị NH thương mại, Nxb Tài chính, Hà Nội; Nguyễn Văn Tiến (2002), Thị trường ngoại hối Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, Nxb Thống kê, Hà Nội; Tác giả Nguyễn Văn Tiến (2004), Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch KD ngoại hối, Nxb Thống kê, Hà Nội…
- Nhóm luận án, luận văn, đề tài khoa học
Tác giả Lê Thị Bích Thọ (2009), với đề tài: “Hợp đồng kinh tế vô hiệu
và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu”,Luận án tiến sĩ luật học,
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Tác giả luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến hợp đồng và hợp đồng vô hiệu Trên cơ sở đó, luận án đã phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý của nó [76]
Tac giả Dương Thị Ngọc Chiến Luận (2011), “Giao kết hợp đồng dân
sự theo Bộ luật dân sự Việt Nam 2005”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật,
Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn chủ yếu làm rõ những vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 Từ đó, có các giải pháp về mặt pháp luật [35]
Tác giả Hoàng Thị Hạnh Nguyên (2011), Giải pháp phát triển HĐKDNT tại NH TMCP quân đội, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học
Trang 10Kinh tế TP Hồ Chí Minh Đề tài luận văn đã trình bày khái quát về những sản phẩm NT, nghiệp vụ KDNT cũng như thực trạng KDNT tại các NHTM Đưa
ra thực trạng HĐKDNT tại NHTMCP Quân đội và những kết quả đã đạt được Từ đó đưa ra những mặt còn hạn chế, nguyên nhân những hạn chế trong việc mở rộng HĐKDNT của NHTMCP Quân đội.Trên cơ sở những hạn chế
và nguyên nhân của những hạn chế, luận văn kiến nghị các giải pháp để mở rộng HĐKDNT tại NHTMCP Quân Đội Các kiến nghị trước hết là đối với
NH Nhà Nước sau đó là đối với MB để HĐKDNT tại MB ngày càng phát triển và đạt hiệu quả cao, góp phần tăng lợi nhuận cho MB [39]
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Linh (2011), Pháp luật về quản lý ngoại hối của NH Nhà nước Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội Tác giả luận văn làm rõ cơ sở lý luận chung về ngoại hối và quản lý ngoại hối Nghiên cứu kinh nghiệm của NH Trung ương một số nước về quản lý ngoại hối mà ngân hành nhà nước Việt Nam có thể học hỏi để vận dụng Hệ thống hoá các quy định về quản lý ngoại hối Thực trạng hoạt động quản lý ngoại hối và pháp luật về quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam Đánh giá hệ thống văn bản pháp lý và những tồn tại trong quản lý ngoại hối
Đề ra định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam [34]
Tác giả Phạm Thị Hoạt (2015), Hiệu quả HĐKDNT tại NH TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Tài chính NH, Trường Đại học
Kinh tế, Đại học Huế Luận văn đã làm rõ khái niệm, đặc điểm và nội dung của HĐKDNT và các tiêu chí đánh giá hiệu quả HĐKDNT của NHTM Đánh giá hiệu quả HĐKDNT của BIDV trong thời gian vừa qua, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến những bất cập và nguyên nhân bất cập Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả HĐKDNT tại NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam [20]
Trang 11Tác giả Lã Hồng Vân (2015), “Pháp luật quản lý NT ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội Để nghiên cứu về các công cụ của chính sách pháp luật quản lý NT
và các hoạt động liên quan đến NT theo quy định của pháp luật Việt Nam, trước hết, tác giả đi từ việc phân tích những vấn đề lý luận chung về NT và các công cụ của chính sách của Nhà nước trong việc quản lý NT, kết hợp với việc xem xét một số kinh nghiệm của một số nước trong việc sử dụng các công cụ chính sách NT, đồng thời trên cơ sở phân tích thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh của Việt Nam hiện nay, qua đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật quản lý NT ở Việt Nam [99]
Mộ số đề tài khác: Trần Huyền Trâm (2011), Nâng cao hiệu quả HĐKDNT tại NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Luận văn
thạc sỹ, Trường Đại học Ngoại Thương; Tac giả Nguyễn Thị Tuyết Lan
(2014), “Lý luận và thực tiễn về sự thống nhất ý chí về giao kết hợp đồng thương mại”, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội; Tác giả Đinh Ngọc Thương (2016), “Hợp đồng mua bán hàng hóa trong KD thương mại vô hiệu theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại
học luật Huế…
- Nhóm bài báo khoa học:
Các vấn đề liên quan còn được đề cập trong một số công trình nghiên cứu như các bài viết khoa học đăng trên các tạp chí của các tác giả như:
Tác giả Nguyễn Thị Minh Phượng (2016), “Những điểm mới của quy
định về giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí tòa án nhân dân số 22, đã phân tích, so sánh các quy định về giao kết hợp đồng trong Bộ luật
Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 Trên cơ sở đó có thể đánh giá
được những thay đổi quan trọng của pháp luật về giao kết hợp đồng [65]
Trang 12Tác giả Phạm Nguyễn Linh (2008), Xử lý hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại, Tạp chí luật học số 11/2008, đã phân tích và làm rõ các trường hợp vô hiệu trọng HĐKD thương mại, đề xuất các hướng xử lý trong trường hợp các hợp đồng bị vô hiệu do vi phạm các điều kiện về hiệu lực của hợp đồng [33]
Tác giả Phạm Hồng Nhật (2016), “Hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp
đồng thương mại điện tử ở Việt Nam”, Tạp chí dân chủ và pháp luật 7/2016;
Tác giả Ngô Huy Cương (2010), “Đề nghị giao kết hợp đồng theo pháp luật
Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 05 (265)/2010;Tác giả Hoàng Quảng Lực (2011), Bàn về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, Tạp chí Tòa
án nhân dân số 21/2011 [40]…
Trên đây là những tài liệu nghiên cứu hết sức hữu ích tập trung phân tích
về vấn đề hợp đồng, hoạt động quản lý ngoại hối, MBNT đối với các NHTM Những nội dung trên đã phần nào giúp tác giảcó được những kiến thức sâu rộng về nội dung đang nghiên cứu, để từ đó tác giả có thể hoàn thiện đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:Trên cơ sở hệ thống lý luận pháp luật về HĐMBNT và thực
tiễn áp dụng các quy định này tại NHTMCP Quân đội, đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về HĐMBNT tại các NHTM
Nhiệm vụ chính đặt ra trong công tác nghiên cứu:
Trang 13- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động MBNT của các NHTM, xây dựng hệ thống hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện hơn về mặt lý luận
và phù hợp hơn khi áp dụng trong thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tập trung ở phương diện lý
luận về hợp đồng nói chung, HĐMBNT nói riêng được ký kết giữa các NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, không bao gồm các giao dịch liên NH; thực tiễn áp dụng triển khai tại NHTMCP Quân đội
Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về HĐMBNT tại NHTMCP Quân Đội từ năm 2015 đến 2018
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu thực tiễn tại NHTMCP Quân đội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn đề tài được sử dụng phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lenin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật làm nền tảng, đồng thời đề tài được nghiên cứu với quan điểm của Đảng về Nhà nước
và Pháp luật trong lĩnh vực kinh tế nói chung, tài chính NH nói riêng làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh, trong đó: Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng ở cả 03 chương để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, cũng như đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐMBNT và thực tiễn áp dụng tạiNHTMCP Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng chủ yếu ở chương 2, nhằm đánh giá đúng và đầy đủ thực trạng thực hiện pháp luật về HĐMBNT cả về những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong hoạt động này
Trang 146 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật quy định về HĐMBNT đối với hệ thống NHTM; phân tích đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động MBNT và thực tiễn triển khai tại NHTMCP Quân Đội; đề xuất kiến nghị các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp lý về HĐMBNT, nâng cao hiệu quả công tác quản lý ngoại hối, hiệu quả KD từ thực tiễn NHTMCP Quân Đội; luận văn có thể sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho các đơn vị, tổ chức cá nhân trong hoạt động xây dựng chính sách, áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tài chính NH
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 03 chương chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về HĐMBNT
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về hoạt động
MBNT của NHTM hiện nay
Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hoạt động MBNT
tại NHTMCP Quân Đội và kiến nghị hoàn thiện
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NGOẠI TỆ
1.1 Khái niệm ngoại tệ và mua bán ngoại tệ
1.1.1 Ngoại tệ
Theo quan điểm chung, NT (foreign currency) được hiểu là đồng tiền nước ngoài (hay nói cách khác, đây là thuật ngữ dùng để chỉ đồng tiền của nước này đối với nước khác, được chi trả trực tiếp hoặc thông qua đồng tiền thứ ba trong thanh toán quốc tế) Tuy nhiên, cần phải thấy rằng trong giao dịch thanh toán và đầu tư quốc tế không phải tất cả các đồng NT đều được chấp nhận, mà chỉ có những NT mạnh, tức là đồng tiền dễ dàng chuyển đổi ra nội tệ của các nước khác mới được chấp nhận rộng rãi Một đồng tiền được xem xét là mạnh thường căn cứ vào các tiêu chuẩn: (1) khả năng chấp nhận của quốc tế đối với đồng tiền đó, (2) nhu cầu thương mại của quốc gia phát hành ra đồng tiền đó và (3) tiềm năng cung ứng hàng hoá trên thị trường thế giới của quốc gia đó [92, tr.42]
Dựa trên đánh giá của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì đồng đôla Mỹ (USD) và đồng tiền của các nước công nghiệp phát triển là những đồng tiền mạnh
Theo pháp luật Việt Nam, tại Điểm a Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối (Pháp lệnh ngoại hối) số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hoạt động ngoại hối giải thích: “NT là đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung Châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực” [73]
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, NT không chỉ là đồng tiền của quốc gia khác mà còn là những đồng tiền chung của nhiều quốc gia,
ví dụ như EUR của Cộng đồng chung Châu Âu (EU) hoặc đồng tiền chung
Trang 16của liên minh khác thỏa mãn điều kiện là phải được sử dụng làm công cụ thanh toán trong khu vực và trong thanh toán quốc tế
Căn cứ vào quy định của Pháp lệnh ngoại hối 2005 thì NT là một trong năm loại ngoại hối, bên cạnh phương tiện thanh toán bằng NT, các loại giấy
tờ có giá bằng NT, vàng (thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài cư trú…) và đồng tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc dùng làm công cụ trong thanh toán quốc tế [73]
Như vậy, ta có thể hiểu NT là một loại ngoại hối nhưng thông thường
nó chiếm tỷ trọng lớn nên hiện nay ở nước ta một số người đồng nhất giữa khái niệm NT và ngoại hối Điều này về bản chất không có gì sai nhưng đó là cách hiểu chưa đầy đủ, bởi lẽ NT luôn là ngoại hối nhưng không phải mọi loại ngoại hối đều là NT
Vai trò của NT
NT có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng Nói đến vai trò của NT chủ yếu là nói đến vai trò tác động của những NT mạnh được các nước chấp nhận rộng rãi mà ở đó NT đóng vai trò là phương tiện mua bán, phương tiện
dự trữ và là phương tiện thanh toán và hạch toán Cụ thể là:
Thứ nhất, NT là phương tiện thanh toán
Thực tế đã chứng minh, trong xu hướng toàn cầu hóa, không một quốc gia nào trên thế giới có thể độc lập về kinh tế, thực hiện chính sách đóng cửa
và xây dựng một nền kinh tế hoàn chỉnh mang tính chất tự cung tự cấp để tránh sự lệ thuộc vào bên ngoài Khi tham gia vào xu hướng hợp tác kinh tế
đa phương hóa, đa dạng hóa, mỗi một nước sẽ có những lợi thế so sánh riêng
và đây chính là lý do thúc đẩy và tạp điều kiện để trao đổi hàng hóa, dịch vụ quốc tế phát triển Khi các hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc
Trang 17gia, tổ chức kinh tế đa quốc gia nảy sinh thì hoạt động thanh toán cũng bắt đầu quá trình vận hành của mình
Thứ hai, NT là phương tiện dự trữ
Dự trữ NT là một bộ phận đặc biệt quan trọng của dự trữ ngoại hối quốc gia Dự trữ ngoại hối là một mục tiêu quan trọng có ý nghĩa chiến lược đối với nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Dự trữ ngoại hối là biểu hiện của sức mạnh và tiềm lực kinh tế của một quốc gia, bởi
lẽ dự trữ ngoại hối có liên quan mật thiết đến nhiều yếu tố kinh tế khác của quốc gia như cán cân thanh toán, tình hình ổn định tỷ giá… Quốc gia nào có được một nguồn dự trữ ngoại hối ổn định đồng nghĩa với việc Chính phủ nước đó đã nắm được trong tay một công cụ quan trọng để phục vụ cho công việc quản lý vĩ mô nền kinh tế, tăng dự trữ ngoại hối quốc gia, giảm thiểu sự phụ thuộc nguồn vốn nước ngoài cũng như sức ép tỷ giá của những đồng NT mạnh như đồng đôla Mỹ USD, đồng tiền chung EUR… góp phần cân đối trong cán cân thanh toán thương mại quốc tế [82, tr 52-54]
Thứ ba, ngoại tệ có tác dụng hỗ trợ cán cân thanh toán quốc gia, là
phương tiện thanh toán, hạch toán
Trong quá trình tiến hành các hoạt động đối ngoại, luôn phát sinh các hoạt động thu, chi NT của các chủ thể (ví dụ, DN, các nhà KD) và các quốc gia với nhau Vì vậy, để theo dõi được tình hình thực hiện và có thể quản lý hữu hiệu các hoạt động thu chi này, cần phải lựa chọn một đồng tiền có giá trị chung để thanh toán, hạch toán Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện quan hệ thu, chi quốc tế của một nước với nước ngoài Cán cân thanh toán phải phản ánh đầy đủ những xu hướng cung, cầu về NT trong các giao dịch quốc tế nên
nó tác động lớn đến tỷ giá hối đoái của đồng tiền Khi cán cân thanh toán bội thu, lượng NT chảy vào trong nước nhiều dẫn đến khả năng cung về NT cao hơn nhu cầu Trường hợp này tỷ giá vận động theo xu hướng giảm Ngược lại,
Trang 18khi cán cân thanh toán quốc tế của một nước ở tình trạng bội chi, đồng nghĩa với việc tăng lượng NT chảy ra nước ngoài dẫn đến nhu cầu về NT cao hơn khả năng cung ứng Trường hợp này tỷ giá vận động theo xu hướng tăng [84, tr.31-32]
Như vậy, trong cả hai trường hợp trên, nếu không có sự can thiệp của
NH Trung ương (NHNN), tỷ giá sẽ tăng hoặc giảm theo cung cầu ngoại hối trên thị trường một cách tự phát, dẫn đến những hệ quả tích cực hoặc tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội Tuy nhiên, ở nhiều nước, NHNN đóng vai trò điều tiết tỷ giá để thực hiện mục tiêu của chính sách kinh tế Nếu NHNN muốn xác lập một tỷ giá ổn định nghĩa là giữ cho tỷ giá không tăng, không giảm, thì NHNN sẽ mua vào số NT từ nước ngoài chuyển vào trong nước làm cho quỹ dự trữ ngoại hối tăng lên tương ứng hoặc NHNN sẽ bán NT
ra để đáp ứng nhu cầu thị trường khi có luồng NT chảy ra nước ngoài, quỹ dự trữ ngoại hối giảm đi tương ứng
1.1.2 Mua bán ngoại tệ
Hoạt động MBNT là việc mua bán các loại NT khác nhau nhằm đảm bảo cân đối các nhu cầu về NT và tìm cách thu lợi nhuận trực tiếp thông qua chênh lệch về tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau.Như vậy NH thực hiện việc MBNT để thu lợi cho NH và cũng là cung cấp một dịch vụ tài chính cho nền kinh tế khi NH đứng ra thu mua hay bán các loại NT
Ngoại tệ ở đây được hiểu theo một nghĩa hẹp không giống như ngoại hối bao gồm tất cả các đồng tiền khác nhau hay các NT, vàng, bạc, đá quí, các phương tiện thanh toán quốc tế như hối phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá mà chỉ là tiền tệ của các nước khác nhau sau đây gọi chung là NT Trong luận văn này, thuật ngữ NT sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp và thuật ngữ thị trường ngoại hối cũng sẽ được hiểu là TTNT
Trang 19Từ khái niệm hoạt động MBNT trên có thể rút ra một số đặc trưng của MBNT như sau [28]:
Thứ nhất, là hoạt động MBNT gắn chặt với các hoạt động thương mại
quốc tế Bởi hoạt động MBNT liên quan đến việc mua bán các NT trên thị trường Mà các loại NT được các DN chủ yếu giao dịch thông qua hoạt động thương mại quốc tế Ngoài ra trong một số trường hợp NT được dùng làm phương tiện cất giữ giá trị hay đầu cơ Tuy nhiên, hoạt động này rất ít và nó chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ trong các giao dịch NT và được thực hiện chủ yếu bởi các cá nhân
Thứ hai, là hoạt động MBNT gắn chặt với tỷ giá Tỷ giá phản ánh biến
động của các loại NT nên để thực hiện thành công hoạt động này cần theo sát các biến động tỷ giá trên TTNT quốc tế
Thứ ba, hoạt động MBNT là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro Một
trong những đặc trưng của họat động KD của NH nói chung và hoạt động MBNT nói riêng đó là có chứa đựng rất nhiều rủi ro Các rủi ro chủ yếu mà hoạt động MBNT phải đối mặt là rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất Ngoài ra còn một số rủi ro khác nhưng có ít tác động đến hoạt động MBNT đó là rủi ro thanh khoản, rủi ro đạo đức, rủi ro tín dụng… Để phòng ngừa rủi ro thị trường các NHTM thường sử dụng các công cụ thị trường phái sinh như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi lãi suất, hơp đồng quyền chọn để làm cân bằng trạng thái luồng tiền và cố định các mức tỷ giá và lãi suất giao dịch
Trang 20Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [67]
Trong Luật thương mại 2005 không có khái niệm Hợp đồng thương mại, nhưng có thể hiểu Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (trong đó, ít nhất một trong các bên phải là thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại Các hoạt động thương mại ở đây được xác định theo Luật thương mại 2005, cụ thể tại Điều 1 Luật Thương mại 2005, theo đó bao gồm: hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Việt Nam; hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật Thương mại hoặc Luật nước ngoài, điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên; hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó áp dụng luật này [70]
Trên cơ sở các khái niệm về hợp đồng và hợp đồng thương mại có thể hiểu khái niệm HĐMBNTđược sử dụng trong luận văn này là sự thỏa thuận giữa một bên là NHTM và một bên là các tổ chức, cá nhân (có đủ điều kiện thực hiện hành vi MBNT) nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bêntrong việc chuyển giao quyền sở hữu NT theo qui định của pháp luật
1.2.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán ngoại tệ
Hợp đồng mua bán ngoại tệ mang đầy đủ các đặc điểm của một hợp đồng thương mại và có những đặc điểm riêng, cụ thể:
Chủ thể của hợp đồng: Thuộc quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối
theo Pháp lệnh 06 năm 2013 nhằm sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Ngoại hối năm
2005, Thông tư 32/2013/TT-NHNN có hiệu lực kể từ ngày 10/02/2014 ban hành bởi NHNN Việt Nam quy định các trường hợp được sử dụng ngoại hối
Trang 21trên lãnh thổ Việt Nam, cụ thể hơn là các trường hợp được phép sử dụng NT làm đồng tiền thanh toán trong hợp đồng [72]
Trong phạm vi KD, cung ứng dịch vụ ngoại hối dưới sự cho phép của NHNN Việt Nam thì NH, TCTD phi NH, chi nhánh NH nước ngoài được phép giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại hối Cá nhân, tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động
ủy thác xuất, nhập khẩu mà việc nhận ủy thác nhập khẩu hay nhận ủy thác xuất khẩu được ghi giá trong hợp đồng ủy thác và nhận thanh toán bằng NT chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng
Doanh nghiệp bảo hiểm được báo giá, định giá, ghi giá dịch vụ bảo hiểm trong hợp đồng bằng NT và nhận thanh toán bằng NT chuyển khoản đối với việc mua tái bảo hiểm cho hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài
Tổ chức cung ứng dịch vụ ở khu cách ly tại các cửa khẩu quốc tế, tổ chức KD kho ngoại quan được niêm yết, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng NT và nhận thanh toán bằng NT chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ được cho phép
Tổ chức làm đại lý cho hãng vận tải nước ngoài được thay mặt cho hãng vận tải nước ngoài báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng NT đối với cước phí vận tải hàng hóa quốc tế Việc thanh toán phải thực hiện bằng đồng Việt Nam; được chi hộ bằng NT tại cảng biển quốc tế, khu cách ly; trả lương, thưởng, phụ cấp do hãng tàu biển nước ngoài ủy quyền
Doanh nghiệp chế xuất được báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng NT và thanh toán, nhận thanh toán bằng NT chuyển khoản đối với DN chế xuất khác
Các tổ chức kinh tế thỏa thuận trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động bằng NT chuyển khoản hoặc tiền mặt đối với lao động là người nước ngoài
Trang 22Người không cư trú được ghi giá trong hợp đồng và thanh toán tiền xuất khẩu bằng NT chuyển khoản vào Việt Nam Cá nhân, tổ chức trong nước được báo giá, định giá bằng NT và nhận thanh toán khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú
Nội dung của hợp đồng: bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ
việc chuyển giao quyền sở hữu NT từ các NHTM sang người mua là các tổ chức và cá nhân khác nhau (Chủ yếu các tổ chức, cá nhân này đều liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế).hoặc ngược lại
Đối tượng của hợp đồng: NT là đối tượng của hợp đồng (đây là một
loại hàng hóa đặc biệt và có những quy định chặt chẽ của pháp luật trong hoạt động mua bán hàng hóa này)
Luật điều chỉnh hợp đồng là Luật quốc gia; các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế khác về thương mại và NT
1.2.2 Phân loại hợp đồng mua bán ngoại tệ
Có nhiều cách phân loại HĐMBNT tương ứng với cách phân loại thị trường ngoại hối như:
Thứ nhất, căn cứ vào tính chất kinh doanh, HĐMBNT được chia ra
thành:
- Thị trường bán buôn (Interbank): Là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán giữa các các ngân hàng thương mại và những nhà môi giới tiền tệ với nhiều mục đích khác nhau như bảo hiểm (hedging), đầu cơ (speculation), kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage),
- Thị trường bán lẻ (còn được gọi là thị trường khách hàng) là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán giữa khách hàng mua bán lẻ và ngân hàng thương mại Trong đó Ngân hàng thương mại là nhà tạo giá, khách hàng mua bán lẻ là người chấp nhận giá Khách hàng mua bán lẻ ngoại tệ để thực hiện các
Trang 23hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư quốc tế, đi vay và trả nợ bằng ngoại tệ, chuyển tiền phí mậu dịch…
Thứ hai, căn cứ vào địa điểm giao dịch, HĐMBNT được chia ra thành:
- Thị trường tập trung trên sở giao dịch (exchange) là thị trường mà nơi
đó các cá nhân, tổ chức giao dịch các hợp đồng được chuẩn hóa bởi sở giao dịch
- Thị trường phi tập trung (OTC): không phải tất cả các giao dịch đều được thực hiện trên thị trường tập trung Thị trường phi tập trung là thị trường quan trọng thay thế cho thị trường tập trung Các nhà đầu tư trên thị trường này không nhất thiết phải gặp nhau, họ liên hệ với nhau thông qua hệ thống kết nối internet và điện thoại Các giao dịch được thực hiện thông qua điện thoại và thường diễn ra giữa hai định chế tài chính hay giữa định chế tài chính và khách hàng của họ Các định chế tài chính thường là người tạo thị trường với các công cụ được giao dịch khá phổ biến Điều này có nghĩa rằng họ luôn sẵn sàng niêm yết cả giá mua và giá bán
Thứ ba, căn cứ vào tính chất pháp lý, HĐMBNT được chia ra thành:
- Thị trường chính thức (thị trường hợp pháp): Đây là loại thị trường hối đoái có tổ chức (Organized market), có quy chế hoạt động của thị trường, có quy định tiêu chuẩn của thành viên, có quy trình giao dịch thanh toán được quy định chặt chẽ an toàn Trong thị trường chính thức, có thể thực hiện giao dịch trong giờ giao dịch (thông thường từ 9h00 đến 15h00 hàng ngày) cũng có thể được thực hiện không qua quầy (Over the counter – OTC) mà giao dịch qua hệ thống vi tính nối mạng, fax, telex,… một cách trực tiếp giữa người mua và người bán – Phương thức giao dịch OTC là diễn ra liên tục khi các dữ liệu điện
tử được kết nối
- Thị trường phi chính thức (chợ đen, thị trường ngầm – Unorganized Market) là nơi mua bán trực tiếp và bằng tiền mặt Một loại thị trường không
Trang 24được thừa nhận về mặt pháp lý Thị trường này giải quyết nhanh chóng các nhu cầu ngoại tệ tiền mặt cho các đối tượng nhưng có độ rủi ro rất cao
Thứ tư, căn cứ vào quy mô thị trường, thị trường ngoại hối được chia ra
thành:
- Thị trường ngoại hối quốc tế là thị trường hối đoái mà phạm vi hoạt động của nó là trên bình diện quốc tế Các thành viên ủa thị trường này bao gồm các thành viên trong nước và các thành viên ở nước ngoài có đủ điều kiện
- Thị trường ngoại hối nội địa: là thị trường chỉ có các thành viên tham gia là các ngân hàng, các công ty,… trong cùng một nước Hoạt động của thị trường này không ảnh hưởng đến các luồng ngoại tệ di chuyển vào hoặc ra khỏi nước đó Những nước chưa có một thị trường tài chính ổn định thì thông thương chỉ có tổ chức thị trường hối đoái nội địa, để tránh sự tác động của nhân
- Thị trường giao dịch qua môi giới: Các giao dịch trên thị trường được thực hiện thông qua các nhà môi giới Các thành viên tham gia trên thị trường đặt lênh cho nhà môi giới, các nhà môi giới dựa vào đó để tìm kiếm các lệnh phù hợp với lệnh của khách hàng Thông qua hoạt động môi giới, nhà môi giới
sẽ thu hoa hồng từ ngân hàng mua và từ ngân hàng bán
Tuy nhiên, đề tài sử dụng cách phân loại theo tính chất nghiệp vụ, cụ thể
có các loại hợp đồng gắn với các giao dịch sau [82, tr.45-47]:
(1) Giao dịch giao ngay (Spot)
- Spot
Trang 25Giao dịch giao ngay là giao dịch mà việc chuyên giao giữa các đồng tiền được thực hiện trong vòng 2 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng Thị trường giao ngay được biết đến như là một thị trường rất lớn và sôi động với khối lượng tiền cực lớn luân chuyển qua thị trường
Thị trường giao ngay bao gồm 2 thị trường là thị trường bán buôn và thị trường bán lẻ Thị trường bán buôn có doanh số lớn hơn rất nhiều so với thị trường bán lẻ do đó thông thường người ta coi thị trường giao ngay là thị trường bán buôn Ngòai ra thị trường bán buôn này cũng được gọi là thị trường liên NH vì thị trường này thực hiện giao dịch giữa các NH với nhau và mỗi một giao dịch với khối lượng rất lớn Còn với thị trường bán lẻ thì giao dịch thực hiện giữa NH với các KH lẻ Tỷ giá được hình thành trên thị trường bán buôn hay thị trường liên NH gọi là tỷ giá bán buôn hay tỷ giá liên NH do các NH trực tiếp giao dịch với nhau và do mức cung cầu trên thị trường mà tạo nên tỷ giá này Dựa trên cơ sở tỷ giá này thì các NH sẽ qui dịnh tỷ giá bán
lẻ áp dụng cho KH lẻ So với tỷ giá bán buôn thì độ rộng (spread) của tỷ giá bán lẻ rộng hơn (khoảng cách giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua của NH) Các NH không nhất thiêt phải tham gia giao dịch liên NH thì mới có được tỷ giá bán lẻ
mà có thể cập nhập số liệu giao dịch trên thị trường liên NH thông qua một mạng máy tính nối mạng với nhau để có thể đưa ra tỷ giá bán lẻ của NH
Ở Mỹ cũng như ở nhiều nước phát triển khác, thị trường ngoại hối giao ngay có hai cấp Cấp thứ nhất đó là thị trường liên NH trực tiếp giữa các NH, đây là thị trường tập trung, liên tuc, đấu giá mở và giao dịch hai chiều Cấp thứ hai là thị trường liên NH gián tiếp thông qua môi giới, đây là thị trường bán tập trung, liên tục đặt lệnh có giới hạn thông qua phương thức đấu giá một chiều.Đối với các GDGN, lãi và lỗ được xác định trên cơ sở tính giá trị luồng tiền ròng cuối ngày ứng với tỷ giá đóng cửa của ngày giao dịch đó
- Arbitrage
Trang 26Nghiệp vụ acbit là một dạng của nghiệp vụ giao ngay Theo nghĩa đơn giản thì hiểu nghiệp vụ acbit là là việc sử dụng chênh lệch tỷ giá giữa các đồng tiền khác nhau để thu lợi thông qua việc mua và bán NT.Nghiệp vụ này được tiến hành thông qua việc MBNT đồng thời trên các thị trường ngoại hối khác nhau theo nguyên tắc mua ở nơi rẻ và bán ở nơi đắt hay mua với tỷ giá thấp và bán với tỷ giá cao Nghiệp vụ này có hai cách thức hiện giao dịch đó là
KD đơn giản và KD phức tạp KD đơn giản được thực hiện thông qua việc mua bán trên 2 thị trường khác nhau trong cùng một thời điểm KD phức tạp thực hiện thông qua nhiều thị trường mà thông thường là 3 thị trường
(2) Giao dịch kỳ hạn (Forward)
Giao dịch kỳ hạn là giao dịch được thảo thuận ngày hôm nay nhưng việc thực hiện giao dịch là vào một ngày trong tương lai với mức tỷ giá đã thỏa thuận trước, thông thường ngày trong tương lai thường là 30, 60, 90, 120 hay 180 ngày
Tỷ giá áp dụng trong giao dịch kỳ hạn khác với tỷ giá giao ngay goi là
tỷ giá kỳ hạn Tỷ giá kỳ hạn trong giao dịch kỳ hạn được thỏa thuận ngay từ ngày hôm nay và sẽ là tỷ giá thực hiện cho giao dịch trong tương lai Công thức để xác định tỷ giá kỳ hạn được xác định như sau:
FR = SR + (-) FM Trong đó: FR: forward rate - tỷ giá kỳ hạn
SR: spot rate - tỷ giá giao ngay
FM: forward point - điểm kỳ hạn
Dấu + khi dự đoán các yếu tố tác động làm cho FM > SR gọi là premium
Dấu - khi dự đoán các yếu tố tác động làm cho FM < SR goi là discount Điểm kỳ hạn FM được tính toán dựa trên chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền theo công thức sau:
Trang 27FM = Tỷ giá giao ngay * số ngày kỳ hạn * chênh lệch lãi suất 2 đồng tiền
360 + số ngày kỳ hạn * lãi suất của đồng tiền đi vay Ngoài ra FM còn được gọi là điểm SWAP
Như vậy căn cứ vào mức lãi suất của các đồng tiền ta sẽ biết được đồng tiền nào lên giá và đồng tiền nào giảm giá kỳ hạn
Sự kỳ vọng (Expectation): sự kỳ vọng với biến chuyển tương lai của 1 đồng tiền cũng làm thay đổi tỷ giá giữa 2 đồng tiền dù yếu tố này mang tính chủ quan
Các giao dịch kỳ hạn được áp dụng khá phổ biến trong các NH NHTM
có thể thực hiện giao dịch kỳ hạn nhằm làm dịch vụ cho KH là các công ty xuất nhập khẩu để họ có thể bảo hiểm cho các khoản thu nhập hoặc các khoản chi nhập khẩu của họ Trên thị trường kỳ hạn các NHTM còn là những nhà
KD chênh lệch giá với mục đích tạo lợi nhuận nhưng không chịu rủi ro trên
cơ sở sự chênh lệch về lãi suất và điểm kỳ hạn
Kết quả KDNT kỳ hạn cũng được xác định vào cuối ngày giao dịch Kết thúc ngày giao dịch, các NH có trạng thái ngoại hối ròng của các hợp đồng còn hiệu lực với những ngày giá trị khác nhau Kết quả KD có thể được tính dựa trên giả định rằng tất cả các hợp đồng kỳ hạn còn hiệu lực đều được thanh lý ngay lập tức và tỷ giá được áp dụng để định giá lại là tỷ giá kỳ hạn lúc đóng cửa của ngày giao dịch hôm đó
Trang 28(3) Giao dịch hoán đổi ngoại tế (SWAP)
Giao dịch hoán đổi NT là việc mua và bán ra một đồng tiền nhất định với cùng một khối lượng nhưng ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau hay nói cách khác giao dịch hoán đổi NT là sự kết hợp của một GDGN và một giao dịch kỳ hạn với cùng một lượng NT nhưng theo 2 chiều trái ngược nhau
Một hợp đồng hoán đổi NT có những đăc điểm sau:
+ Hợp đồng mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định được ký kết đồng thời tại ngày hôm nay và nếu không có thỏa thuận gì khác, thì việc mua một đồng tiền có nghĩa là NH yết giá mua vào đồng tiền yết giá và bán ra một đồng tiền có nghĩa là NH yết giá bán ra đồng tiền yết giá
+ Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền trong hợp đồng hoán đổi là giống nhau Vì thế giao dịch này không tạo ra trạng thái ngoại hối ròng cho
NH nên tránh được rủi ro tỷ giá
+ Ngày giá trị của hợp đồng mua vào và bán ra là khác nhau vì thế mà có
độ lệch về mặt thời gian với luồng tiền khiến cho NH phải chịu rủi ro về lãi suất
Tỷ giá hoán đổi phản ánh điểm kỳ hạn hay điểm hoán đổi mà tại đó NH đồng ý hoán đổi hai đồng tiền nhất định thông qua GDGN và giao dịch kỳ hạn
Do đó: Tỷ giá hoán đổi = Điểm hoán đổi = Điểm kỳ hạn
Tỷ giá hoán đổi chính là điểm kỳ hạn nên có thể viết:
Tỷ giá hoán đổi = tỷ giá giao ngay - tỷ giá kỳ hạn
Trong một cặp tỷ giá hoán đổi, nếu tỷ giá hoán đổi đứng trước lớn hơn
tỷ giá hoán đổi đứng sau thì có nghĩa là NH sẵn sàng mua kỳ hạn tại mức giá giao ngay trừ đi tỷ giá hoán đổi đứng trước và sẵn sàng bán kỳ hạn tỷ giá hoán đổi đứng trước mà nhỏ hơn tỷ gía hoán đổi đứng sau Ngược lại, nếu tỷ giá hoán đổi đứng trước mà nhỏ hơn tỷ giá hoán đổi đứng sau thì NH sẵn sàng
Trang 29mua kỳ hạn tại mức tỷ giá giao ngay cộng với tỷ giá hoán đổi và sẵn sàng bán
kỳ hạn tại mức tỷ giá giao ngay cộng với tỷ giá hoán đổi đứng sau
Giao dịch hoán đổi NT không chỉ được ứng dụng trong MBNT để kiếm lời mà còn được ứng dụng rộng rãi trong bảo hiểm rủi ro tỷ giá và tín dụng quốc tế
(4) Giao dịch hợp đồng tương lai (Future)
Giao dịch hơp đồng tương lai là việc hai NH hoặc giữa NH với KH thỏa thuận về việc MBNT trong tương lai tại một mức tỷ giá cố định thỏa thuận ngày hôm nay
Giao dịch tương lai được thực hiện trên thị trường tập trung, các hợp đồng đều được tiêu chuẩn hóa và chỉ giới hạn trong một số ngày giá trị Trên
sở giao dịch có các nhà thanh toán bù trừ, họ hạch toán các khoản lỗ lãi của các bên mua, bán vào số tiền ký quỹ của các bên Để tránh rủi ro cho nhà thanh toán bù trừ khi giá tăng hoặc giảm qua mức Nhà thanh toán bù trừ sẽ yêu cầu nhà KD ký quỹ bổ sung trong trường hợp số dư trên tài khoản ký quỹ giảm xuống một mức nào đó
Các hợp đồng tương lai thường được dùng vào mục đích phòng ngừa rủi ro Với hợp đồng tương lai MBNT được thỏa thuận giữa các bên mua, bán vào thời điểm hợp đồng đến hạn là cố định do đó các bên có thể tránh được những ảnh hưởng của sự lên xuống của tỷ giá trong tương lai Điểu này rất có
ý nghĩa với nhà KD trong bối cảnh tỷ giá biến động liên tục khó dự báo
Ngoài ra, hợp đồng tương lai cũng được sử dụng vào mục đích đầu cơ kiếm lợi nhuận thông qua sự dự đoán về tỷ giá trong tương lai
(5) Giao dịch hợp đồng quyền chọn (Option)
Giao dịch quyền chọn NT được thực hiện thông qua việc ký kết các hợp đồng quyền chọn Một hợp đồng quyền chọn tiền tệ cho phép người mua hợp đồng có quyền mua hoặc bán một đồng tiền với một đồng tiền khác tại
Trang 30một mức tỷ giá cố định đã thỏa thuận trước trong hợp đồng trong một khoảng thời gian xác định
Như vậy, trong một hợp đồng quyền chọn thì người mua hợp đồng có quyền thực hiện hợp đồng mua hay bán một loại tiền tệ khi đến hạn nếu tỷ giá lúc đó là có lợi cho họ còn nếu tỷ giá bất lợi thì người mua có thể sẽ không thực hiện hợp đồng, nhưng người mua sẽ phải mất phí để mua quyền Còn đối với người bán, anh ta không có bất cứ sự lựa chòn nào khác ngòai việc sẵn sàng tiến hành giao dịch theo ý định của người mua và sẽ thu phí mở quyền từ người bán Ý nghĩa trên chỉ áp dụng cho trường hợp người mua hợp đồng quyền chọn đầu tiên (cũng là người yêu cầu mở hợp đồng) nắm giữ hợp đồng đến khi đáo hạn mà không bán hay chuyển nhượng hợp đồng cho người khác
Giống như bất cứ một hợp đồng kinh tế nào, bào giờ cũng có một bên mua và một bên bán nên sẽ có ngừơi bán hợp đồng và người mua hợp đồng
Vì hợp đồng này luôn có quyền chọn bán và quyền chọn mua nên sẽ có người bán hợp đồng chọn mua hoặc hợp đồng chọn bán và người mua hợp đồng chọn mua hoặc hợp đồng chọn bán
Có 2 loại quyền chọn cơ bản là quyền chọn kiểu Châu Âu và quyền chọn kiểu Mỹ Quyền chọn kiểu Châu Âu thì việc thực hiện quyền chỉ có thể khi hợp đồng đến hạn Còn quyền chọn kiểu Mỹ có thể thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào trong thời gian hợp đồng còn hiệu lức đến lúc đáo hạn
Việc thanh lý hợp đồng quyền chon được gọi là thực hiện quyền chọn Tỷ giá áp dụng khi thực hiện quyền là tỷ giá quyền chọn Tỷ giá này không chỉ phụ thuộc vào cung cầu trên thị trường mà còn phụ thuộc vào mức phí của quyền chọn là cao hay thấp Mức phí của hợp đồng quyền chọn phải là một mức phí phù hợp sao cho đủ bù đắp rủi ro vể tỷ giá xét từ góc độ của người bán và phải phù hợp không quá đắt xét từ góc độ của người mua Nếu khi hợp đồng đáo hạn
mà giao dịch không xảy ra thì chỉ có một khoản phí được thực hiện [97]
Trang 31Các hợp đồng quyền chọn cũng thường được sử dụng để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, vì cũng giống như các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi hay tương lai hợp đồng quyền chọn cho phép thực hiện việc mua bán tại mức giá đã thỏa thuận trước nên các bên tham gia có thể tránh được tổn thất do sự biến động của tỷ giá Ngoài ra giao dịch quyền chọn cũng được sử dụng nhằm mục đích đầu cơ Trong trường hợp này thì hợp đồng quyền chọn có ưu thế hơn so với các hợp đồng khác Vì người mua có quyền tiến hành giao dịch nếu thấy có lợi cho mình và không tiến hành giao dịch nếu thấy tỷ giá biến động bất lợi nếu thực hiện giao dịch
1.2.3 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại
Hợp đồng mua bán ngoại tệ giữa NHTM và KH là tổ chức kinh tế, cá nhân cũng như hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại được xác lập vào thời điểm giao kết khi hai bên đã đạt được ý chí chung thống nhất Ý chí chung thống nhất đó chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ tại thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng
Căn cứ vào khoản 1 Điều 401 BLDS 2015 thì HĐMBNT sẽ phát sinh hiệu lực pháp luật ngay từ thời điểm giao kết Tuy nhiên pháp luật cũng cho phép một số trường hợp ngoại lệ mà theo đó hợp đồng phát sinh hiệu lực tại thời điểm khác sau thời điểm giao kết (khoản 1 Điều 401 Bộ luật dân sự 2015) Như vậy, pháp luật tôn trọng sử thỏa thuận của các bên Các bên có thể thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, có nghĩa là tự thỏa thuận thời điểm ý chí chung của mình được pháp luật công nhận, bảo vệ Điều này
có lợi cho các bên trong những trường hợp khi các bên mong muốn xác lập hợp đồng, nhưng còn do dự vì còn bị lệ thuộc vào một số sự kiện khách quan
có thể xảy đến [67]
Trang 32Hợp đồng mua bán ngoại tệ cũng là giao dịch dân sự vì vậy, căn cứ theo Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 thì HĐMBNT có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
Căn cứ theo điều 117 Bộ luật dân sự 2015:
“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập
b) Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
c) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định” [67]
- Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự Trong HĐMBNT ở đây chúng ta đề cập đến:
+ Ngân hàng thương mại: phải là TCTD đang hoạt động được cấp phép KDNT và đồng thời không trong giai đoạn bị NHNN ngăn chặn, phong tỏa
+ Khách hàng là tổ chức kinh tế (không bao gồm các TCTD) và cá nhân có nhu cầu GDMBNT với NHTM có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và
có đủ điều kiện MBNT hợp pháp
- Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội Điều này được thể hiện rất rõ trong việc các NHTM kiểm soát chặt chẽ mục đích sử dụng NT trong trường hợp NH bán NT cho KH, nhằm tránh trường hợp KH sử dụng NT để xuất nhập khẩu các mặt hàng bị pháp luật cấm, gây ảnh hưởng đến xã hội hoặc có ý định tẩu tán nguồn
NT ra nước ngoài Đồng thời trong quá trình giao dịch với KH, với những giao dịch mua bán lớn, nguồn tiền có dấu hiệu liên quan đến hoạt động rửa tiền thì
Trang 33NHTM cũng cần có biện pháp kiểm tra báo cáo để phối hợp với các cơ quan chức năng có thẩm quyền ngăn chặn những hoạt động phi pháp
- Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện, NHTM với vai trò là đơn vị cung cấp dịch vụ cần đáp ứng các yêu cầu mong muốn tự nguyện đúng pháp luật của KH trong khả năng của mình Đồng thời NH cần phát huy vai trò tư vấn giải pháp tài chính nhằm giúp KH lựa chọn được dịch
vụ tốt nhất, an toàn đảm bảo đúng quy định pháp luật
- Ngoài ra, đối với hoạt động MBNT của NHTM và KH, các bên cần tuân thủ theo các yêu cầu về hình thức và nội dung theo theo định tại Thông
tư 15/2015/TT-NHNN ngày 2/10/2015 về việc hướng dẫn giao dịch NT trên TTNT của các TCTD được phép hoạt động ngoại hối
1.2.4 Hợp đồng mua bán ngoại tệ vô hiệu
1.2.4.1 Khái niệm của hợp đồng mua bán ngoại tệ vô hiệu
Ở mức độ khái quát có thể hiểu hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định nên không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.Qui định về giao dịch dân sự vô hiệu cũng được áp dụng với hợp đồng vô hiệu ( khoản 1 Điều
407 BLDS 2015)
Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2015 , giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự thì vô hiệu Các điều kiện đó bao gồm: (1) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; (2) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; (3) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định [67]
Là một dạng của hợp đồng dân sự nói chung, hợp đồng trong hoạt động thương mại cũng sẽ bị vô hiệu khi không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do
Trang 34pháp luật quy định Tuy nhiên, các điều kiện có hiệu lực ở đây không chỉ được quy định trong pháp luật dân sự mà còn được quy định tại các văn bản pháp luật có liên quan tới HĐKD, thương mại như Luật Thương mại, Luật
DN, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2.4.2 Các trường hợp hợp đồng mua bán ngoại tệ vô hiệu
Như vậy HĐMBNT có thể sẽ bị coi là vô hiệu trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, HĐMBNT vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc
trái đạo đức xã hội Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định trong MBNT Đạo đức xã hội
là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là không bị hạn chế
Thứ hai, hợp đồng vô hiệu do giả tạo Khi NHTM và một bên là cá
nhân, tổ chức xác lập HĐMBNT một cách giả tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng đó là giả tạo và bị tuyên vô hiệu, còn hợp đồng bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng đó cũng bị vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc pháp luật về NH và ngoại hối quy định
Thứ ba, hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn HĐMBNT bị nhầm lẫn là trường
hợp hợp đồng đó được xác lập khi có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập hợp đồng Khi phát hiện HĐMBNT bị nhầm lẫn thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu trừ trường hợp: Mục đích xác lập hợp đồng của các bên
đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập hợp đồng vẫn đạt được
Thứ tư, hợp đồng vô hiệu do lừa dối, đe dọa Khi một bên tham gia hợp
đồng do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án
Trang 35tuyên hợp đồng đó là vô hiệu Lừa dối trong hợp đồng là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập hợp đồng đó Đe dọa, cưỡng ép trong hợp đồng là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình Trường hợp hợp đồng vô hiệu này là vi phạm điều kiện chủ thể tham gia hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện
Thứ năm, HĐMBNT vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm
chủ được hành vi của mình Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập hợp đồng vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu Khi yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì người yêu cầu phải chứng minh
và có chứng cứ chứng minh thời gian xác lập hợp đồng vào đúng thời điểm không nhận thức được hành vi của mình
Thứ sáu, HĐMBNT vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức giao
dịch.Hợp đồng vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây: Hợp đồng đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó Hợp đồng đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực nữa Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường
Trang 36hợp này là 02 năm, kể từ ngày hợp đồng được xác lập trong trường hợp hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức
1.2.4.3 Phân loại hợp đồng mua bán ngoại tệ vô hiệu
Tùy thuộc vào mức độ của sự vô hiệu hợp đồng mà hợp đồng vô hiệu trong các trường hợp nói trên có thể được phân loại thành: Hợp đồng vô hiệu toàn bộ và hợp đồng vô hiệu từng phần, hoặc cũng có thể phân loại thành hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối.Nội dung này đã được nêu rất cụ thể trong Bộ luật dân sự 2015 cụ thể như sau [67]:
(1) Căn cứ vào mức độ của sự vô hiệu, HĐMBNT vô hiệu được chia thành hai loại: hợp đồng vô hiệu toàn bộ và hợp đồng vô hiệu từng phần HĐMBNT vô hiệu toàn bộ là toàn bộ nội dung của hợp đồng đó vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc một trong các bên tham gia giao dịch đó không có quyền xác lập giao dịch.HĐMBNT vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch” [67]
(2) Căn cứ vào tính chất trái pháp luật của giao dịch, HĐMBNT vô hiệu được chia thành hai loại: hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối Đây là cách phân loại mang tính truyền thống và được áp dụng phổ biến
Trang 37Vô hiệu tương đối có các dấu hiệu sau đây: (1) chế tài vô hiệu nhằm bảo vệ quyền lợi tư; (2) sự vô hiệu chỉ có thểkhiếunại ra bởi các đương sự với điều kiện đã có thể gánh chịu thiệt hại và đã hành động thiện chí; (3) Tòa án không thể khiếu nại ra sự vô hiệu; và(4) hợp đồng vô hiệu tương đối có thể xác nhận lại được [67]
(3) Căn cứ vào điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Dựa vào dấu hiệu này có thể chia HĐMBNT thành các trường hợp sau:
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ do người tham gia là cá nhân không có năng lực hành vi dân sự;
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ do vi phạm điều cấm, đạo đức xã hội;
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ do không có sự tự nguyện của chủ thể;
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ do vi phạm hình thức, nếu pháp luật có quy định về hình thức của hợp đồng là điều kiện bắt buộc
(4) Căn cứ vào mức độ vượt quá phạm vi đại diện của người đại diện có:
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ do người đại diện xác lập vượt quá phạm
vi đại diện Thường thì đây là hợp đồng được xác lập bởi người đại diện hợp pháp, nhưng do người đại diện đã xác lập hợp đồng trên thực tế vượt quá phạm vi đại diện Người trực tiếp tham gia hợp đồng tuy có tư cách đại diện hợp pháp nhưng nội dung hợp đồng do họ xác lập có một phần giá trị, mức
độ, phạm vi vượt quá giới hạn được ghi trong hợp đồng ủy quyền hoặc được quy định trong loại đại diện tương ứng
Hợp đồng được xác lập vượt quá phạm vi đại diện thì phần vượt quá phạm vi đại diện đó bị vô hiệu, trừ trường hợp người được đại diện biết mà không phản đối
- Hợp đồng mua bán ngoại tệ do người giao kết không có quyền đại diện Hợp đồng vô hiệu do người trực tiếp giao kết không có tư cách đại diện hoặc tuy có tư cách đại diện nhưng đã giao kết, thực hiện hợp đồng không
Trang 38thuộc công việc mà họ được phép đại diện cũng bị xem là không có tư cách đại diện nếu người đại diện đưa ra những tuyên bố ý chí trái với ý chí của người được đại diện, làm những việc không thuộc đối tượng của quan hệ đại diện
1.2.4.4 Hậu quả pháp lý của hợp đồng mua bán ngoại tệ vô hiệu
Điểm đặc trưng của hợp đồng dân sự vô hiệu là vi phạm các điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự, đương sự có thể yêu cầu hủy hợp đồng nếu các bên vi phạm điều khoản hợp đồng Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp, mấu chốt vẫn là chứng cứ Trong khoa học pháp lý cũng như luật thực định, thuật ngữ hậu quả pháp lý được sử dụng rất rộng rãi Tuy nhiên, định nghĩa của nó thì dường như chưa được làm rõ Khái niệm hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu đã được sử dụng trong Bộ luật dân sự ở nước ta Luật Thương mại lại có cách tiếp cận khác, đó là không sử dụng khái niệm hậu quả pháp lý của hợp đồng thương mại vô hiệu mà quy định cụ thể các phương thức xử lý đối với hợp đồng thương mại vô hiệu Cách tiếp cận như trên của Luật Thương mại dễ đưa đến một nhầm lẫn đó là coi các khái niệm hậu quả pháp lý và xử lí hợp đồng thương mại vô hiệu là một Vì vậy, cách tiếp cận vấn đề này của Bộ luật dân sự là hợp lý hơn cả [65]
Hậu quả pháp lý của hợp đồng thương mại vô hiệu có thể được hiểu là
hệ quả phát sinh theo quy định của pháp luật trong trường hợp hợp đồng thương mại vô hiệu, mà theo đó xác định:
- Tình trạng pháp lý của các bên trong trường hợp này;
- Các chế tài pháp lý có thể được áp dụng;
- Phương thức xử lý giữa các bên và từ phía Nhà nước
Những hệ quả pháp lý này, phát sinh có thể do hành vi lừa dối, đe dọa đối tác, không tuân theo những yêu cầu về hình thức, nội dung vi phạm điều cẩm của pháp luật… Hợp đồng thương mại vô hiệu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các chủ thể tham gia giao kết, ảnh hưởng xấu trực tiếp đến xã hội
Trang 39Căn cứ theo điều 131 Bộ luật dân sự 2015, một hợp đồng vô hiệu sẽ chịu hậu quả pháp lý như sau: “1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; 2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả; 3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó;
4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường; 5 Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định” [67]
Trong trường hợp HĐMBNT giữa NHTM và KH rơi vào tình trạng vô hiệu thì NH và KH cần phải xem xét mức độ vô hiệu của hợp đồng và cùng nhau thỏa thuận để đưa ra hướng giải quyết phù hợp nhất nhằm đảm bảo quy định của pháp luật, quyền lợi của các bên tham gia ký kết hợp đồng Thông thường các bên sẽ hoàn trả lại số tiền NT đã thực hiện mua bán, đồng thời vì
tỷ giá NT là loại giá hàng hóa có tính biến động mạnh, vì vậy nếu có cơ sở chứng minh một trong các bên có lỗi trong việc gây ra hợp đồng vô hiệu thì bên gây ra lỗi phải thanh toán thêm phần giá trị tỷ giá biến động tương ứng với lượng NT các bên trao đổi, và các chi phí phạt khác như lãi chậm thanh toán, lãi phạt… tối đa không cao hơn 8% giá trị hợp đồng (Theo Điều 301 của Luật Thương mại năm 2005 về mức phạt vi phạm hợp đồng) [70]
1.2.4.5 Thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán ngoại tệ vô hiệu Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là 02 năm, kể từ ngày hợp đồng được xác lập trong trường hợp hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức Thông thường, chỉ có một bên có lợi trong việc hủy bỏ GDMBNT, vì vậy, vấn đề giải quyết GDMBNT vô hiệu thường được giải quyết qua con đường tố tụng tại Tòa án Do đó, việc quy
Trang 40định thời hiệu để các bên yêu cầu Tòa án tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận và thực tiễn
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu chia làm hai trường hợp như sau [67]:Thời hiệu yêu cầu không hạn chế: Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội và các giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.Thời hiệu yêu cầu hạn chế (02 năm): Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu trong trường hợp khác, cụ thể như sau:
Căn cứ theo điều 132 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
“1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;d) Người không nhận thức
và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức” [67]
Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.”